1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và bài học trong phát huy quyền dân chủ ơ Việt Nam hiện nay

13 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 44,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Trãi – Người anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng uyên bác, nhà văn, nhà thơ lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất đã làm rạng rỡ non sông đất nước Việt Nam, ông đã đưa tư tưởng “thân dân” đạt

Trang 1

TƯ TƯỞNG “THÂN DÂN” CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ BÀI HỌC TRONG PHÁT HUY QUYỀN DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS Lê Đức Thọ

Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng

(Tạp chí Khoa học Công nghệ, Đại học Phạm Văn Đồng, ISSN 0866-7659 Số 12,

tr.138-146 Năm 2017) TÓM TẮT

Tư tưởng “thân dân” là một dòng chảy liên tục trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Nguyễn Trãi – Người anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng uyên bác, nhà văn, nhà thơ lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất đã làm rạng rỡ non sông đất nước Việt Nam, ông đã đưa tư tưởng

“thân dân” đạt đến tầm cao của thế kỷ XV Tư tưởng đó có nhiều giá trị nhân văn sâu sắc và còn nguyên giá trị đối với công cuộc xây dựng và bảo

vệ đất nước hiện nay Bài viết phân tích một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng “thân dân” của Nguyễn Trãi và những bài học của nó trong phát huy quyền dân chủ ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Nguyễn Trãi; tư tưởng “thân dân”; dân là gốc; phát huy

quyền dân chủ.

1 MỞ ĐẦU

Tư tưởng của Nguyễn Trãi

phản ánh nhiều mặt của đời sống

nước ta trong chế độ phong kiến

đương thời nhưng nội dung cốt lõi,

xuyên suốt vẫn là tư tưởng lấy dân

làm gốc Quan điểm này đã trở

thành phương pháp luận quan

trọng cho dân tộc ta trong công

cuộc dựng nước và giữ nước nhiều

thế kỷ qua Qua nghiên cứu cho

thấy tư tưởng “thân dân” của

Nguyễn Trãi mang đậm tính chất

nhân văn, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc Và qua đó đã để lại cho thế hệ sau một nền tảng tư tưởng đậm

đà bản sắc dân tộc về quyền dân chủ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tư tưởng “thân dân” của Nguyễn Trãi và bài học trong phát huy quyền dân chủ ở Việt Nam hiện

Trang 2

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chung nhất là

phương pháp luận biện chứng duy

vật; kết hợp các phương pháp như:

phương pháp logic, lịch sử, so

sánh, phân tích, tổng hợp …

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU,

BÀN LUẬN

3.1 Kết quả nghiên cứu

3.1.1 Giới thiệu về Nguyễn

Trãi

Nguyễn Trãi (1380 – 1442),

hiệu là Ức Trai, là vị anh hùng dân

tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, là

một nhà chính trị của lịch sử

phong kiến Việt Nam Ông là

người làng Chi Ngại, huyện

Phượng Sơn, trấn Kinh Bắc1, sau

chuyển về làng Ngọc Ổi, huyện

Thượng Phúc, Hà Đông2 Là người

văn võ song toàn, tài năng của ông

bộc lộ rất sớm Năm 1400, thi đỗ

Thái học sinh và được mời ra làm

quan dưới triều Hồ cùng năm

Nguyễn Trãi là cộng sự của

triều đình nhà Lê với tư cách một

nhà chính trị, một nhà mưu lược

Ông đã thi thố tài kinh bang tế thế

trên các mục tiêu chiến lược: đánh

Dương

Nội

đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước, xây dựng triều đại Hậu Lê thành một triều đại hưng thịnh

Chức quan của Nguyễn Trãi

được Toàn thư ghi lại lần đầu tiên

vào năm 1427, qua đoạn văn sau đây:

“Lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ Nguyễn Trãi làm Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ Thượng thư, kiêm hành Khu mật viện sự” [1, tr.263] Như vậy là thời kì đầu đến với khởi nghĩa Lam Sơn (khoảng

1416 – 1418), dâng Bình Ngô sách 3, Nguyễn Trãi đã được phong chức Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ Khi kháng chiến đang tiến dần đến thắng lợi hoàn toàn, Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ Nguyễn Trãi được phong làm

“Triều liệt đại phu, Nhập nội hành khiển, Lại bộ Thượng thư, kiêm hành Khu mật viện sự” [1, tr.263] Sau chiến thắng ban thưởng công danh, năm 1428 Nguyễn Trãi được phong tước “Quan phục hầu”, và các chức danh đầy đủ của ông là “Tuyên phụng đại phu, Nhập nội hành khiển Môn hạ Hữu gián nghị đại phu, Đồng Trung thư lệnh sự, tứ Kim tử ngư đại, Thượng hộ quốc, Quan phục hầu, tứ tính Lê Trãi” [5, tr.25] Với những cương vị mà mình đảm trách, ông đã

này nhằm vào việc đánh thành quân đội Minh, nhưng không phải là “công thành”, mà là đánh vào lòng người, tức là gọi hàng địch Chính kế sách này

đã từng dụ hàng nhiều thành lũy giặc như thành Nghệ An, Thuận Hóa

Trang 3

tham gia đề xuất, bàn luận và soạn

thảo những vấn đề nhằm mục tiêu

tái thiết đất nước sau chiến tranh,

trù hoạch những chính sách an

dân

Nguyễn Trãi đã để lại cho đời

một kho tàng văn học đồ sộ, tác

phẩm của ông chứa đựng một giá

trị bao la như: Quân trung từ mệnh

tập, Chuyện về Băng Hồ Tiên

Sinh, Dư địa chí, Ức Trai thi tập,

Quốc âm thi tập, Bình Ngô đại cáo

các tác phẩm này vừa thể hiện

quan điểm của ông về đường lối

đánh giặc, phương pháp đánh giặc,

tổng kết lịch sử dân tộc; vừa khái

quát về địa chính trị của Đại Việt ở

thế kỷ XV; đồng thời cũng chỉ ra

những góc nhìn về nhân sinh, về

tình yêu đối với đất nước của ông

Với tầm vóc của một nhà tư

tưởng, nhà chiến lược quân sự, vị

quân sư của Lê Lợi, Nguyễn Trãi

đã cống hiến và đặt nền móng tinh

thần, tư tưởng cho cuộc kháng

chiến Đó là tư tưởng “thân

dân” mà ông rút từ học thuyết Nho

giáo nhưng được áp dụng một

cách đầy sinh động và sáng tạo

vào hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ

3.1.2 Nội dung tư tưởng

“thân dân” của Nguyễn Trãi

Là một nhà nho, Nguyễn Trãi

đã tiếp thu tư tưởng “Nhân nghĩa”

của Mạnh Tử không máy móc, giáo điều mà có sự sáng tạo và phát triển, thể hiện lòng yêu nước thương dân sâu sắc, thiết tha của một anh hùng dân tộc Ông đã tạo ra một sức mạnh khá đặc biệt trong lịch sử của các cuộc chiến tranh, đó là sử dụng tư tưởng “Nhân nghĩa” để đánh địch Nguyễn Trãi luôn tâm niệm

“lòng hãy cho bền đạo Khổng môn” [5, tr.433], nhưng khi bàn đến khái niệm “dân” ông không sử dụng những thuật ngữ mà các nhà kinh điển của Nho học đã dùng như “tiểu nhân”, “hạ ngu”, “hạ dân” … mà ở Nguyễn Trãi nhân dân luôn có một ví trí rất quan trọng, quan trọng đến mức trân trọng Mỗi khi nhắc đến nhân dân, ông luôn dành cho họ những tình cảm và ngôn từ thân thiết, gần gũi

Với Nguyễn Trãi, “dân” không chỉ là những người nông dân, mà còn

là tất cả những giai tầng trong xã hội,

là sĩ, nông, công, thương Tuy mỗi người “có cao cùng thấp” song tất thảy “đều hết làm tôi thánh thượng hoàng” [5, tr.438] Những con người bình dị đó khi đất nước thanh bình thì chỉ biết vui thú ruộng vườn, nhưng khi đất nước lâm nguy họ lại chính là lực lượng làm nên sức mạnh vô địch

để giúp triều đình đánh đuổi quân thù, mở nền thái bình cho đất nước Tuy chỉ là “tứ phương manh lệ”

Trang 4

nhưng khi họ tề tựu lại dưới ngọn

cờ chính nghĩa thì những “manh

lệ” ấy lại hợp thành một sức mạnh

to lớn, đập tan mọi kẻ thù hung

tợn Vậy mới biết “lật thuyền mới

rõ dân như nước” [5, tr.281]

Trong quan niệm của Nguyễn

Trãi, nhân dân còn là những người

bị bóc lột nặng nề nhất trong xã

hội nhất là khi triều đình phong

kiến lâm vào khủng hoảng hay khi

đất nước bị xâm lăng Trong bối

cảnh xã hội mà triều đình thì “cậy

mình giầu, mặc dân khốn khổ, chỉ

ham vui chơi, đắm đuối tửu sắc”,

chỉ biết “đánh bạc vây cờ, chọi gà,

thả chim; nào là cá vàng nuôi

chậu, chim rừng nhốt lồng”, mặc

cho dân phải sống trong cảnh lầm

than khốn khó [5, tr.196-197] Vì

thế khi mà chính giáo suy đồi, kỷ

cương rối loạn, Nguyễn Trãi cũng

như nhân dân đều mong muốn một

chính thể mới tốt đẹp hơn, gần dân

hơn

Đối với ông, nhân dân là nỗi

lòng thương xót, niềm tin yêu, là

sức mạnh cuồn cuộn như nước

triều dâng, nhân dân là định hướng

cho toàn bộ tư tưởng của Nguyễn

Trãi, đó phải là “An dân”,”Điếu

dân” Hai vế đầu tiên trong “Bình

ngô đại cáo” viết: Việc nhân

nghĩa cốt ở yên dân - Quân điếu

phạt trước lo trừ bạo 4 đã nói lên tư tưởng vì nước, vì dân của ông

Hết lòng thương dân, Nguyễn Trãi thực sự “Dân vi bản”, đó là sự tiếp thu tư tưởng “Dân vi quý, xã tắc

tứ chi, quân vị khinh” của Mạnh Tử Song quan niệm về “Dân” của Nguyễn Trãi rộng hơn của Mạnh Tử

Nó là toàn thể nhân dân lao động, bao gồm cả “Dân đen”, “Con đỏ” Với lòng thương dân sâu sắc, trong bài

Bình Ngô đại cáo ông đã thể hiển

lòng căm phẫn giặc Minh, kể lên tội

ác tày trời của giặc: “Thui dân đen trên lò bạo ngược, Hãm con đỏ xuống dưới hố tai ương Dối trời lừa người,

kế gian đủ muôn nghìn khóe, Cậy binh gây hấn, ác chứa gần hai chục năm” [5, tr.77]

Không chỉ chăm lo cho dân, Nguyễn Trãi còn thấy được sức mạnh

to lớn của dân “Dân như nước”, dân

có thể chở thuyền, có thể lật thuyền Theo ông, thành hay bại, trị hay loạn, tất cả đều ở ý dân, lòng dân Do vậy, ông luôn thấy mình phải có trách nhiệm “Nuôi dân”, “Chăm dân”,

“Huệ dân” Theo ông, mọi chủ trương, mọi đường lối của triều đình đều phải căn cứ vào lòng thương dân, đều phải căn cứ vào lòng người mà hoạch định

Nếu như ở Mạnh Tử, “Lòng trắc

Trang 5

ẩn là đầu mối của nhân”, thì ở

Nguyễn Trãi “Nhân” không chỉ là

lòng trắc ẩn mà còn vì độc lập của

dân tộc, vì hạnh phúc của nhân

dân, vì hòa bình của đất nước

Lòng nhân ái của ông không chỉ là

để đối xử với người dân của nước

mình, mà ngay cả đối với những

kẻ lầm đường lạc lối, đối với kẻ

thù chủ trương của ông không phải

là trừng phạt mà là giáo hóa họ

Theo Nguyễn Trãi “Nhân

nghĩa” là tiêu chí để phân biệt kẻ

nhân với tiểu nhân, người yêu

nước với kẻ bán nước, người vì

dân với kẻ không chăm lo lợi ích

cho dân Cũng như Mạnh Tử,

Nguyễn Trãi rất ghét chiến tranh,

ông coi chiến tranh là việc ghê

tởm, nguy hiểm, làm tổn hại đến

sinh mạng của nhiều người

Đường lối chính trị của Nguyễn

Trãi mang đậm chủ nghĩa nhân

đạo, như trong chiến tranh, ông lập

luận đanh thép với giặc Minh rằng

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo”5

Trong quan hệ vua tôi,

Nguyễn Trãi hết lòng trung thành

với bậc vua sáng, không tin theo

một cách mù quáng tinh thần quy

định của Hán nho, hay Tống nho

Vì thế ông cùng cha từ bỏ nhà Hồ,

những mong báo đền ơn nước, cứu

muôn dân Khi nhà Hồ chống quân Minh thất bại, ông cũng không chết như những vị “Ngu trung” khác mà đi tìm minh chủ mới là Lê Lợi Ông luôn tâm niệm “Thờ vua một bữa chứa từng khuây” Cho đến cuối đời ông vẫn khẳng định, nữa đời trung nghĩa được tròn, cho dù tài hèn, sức yếu, đầu bạc mà vẫn giữ được tấm lòng son Với ông, trung với vua là phải khuyên vua thực hành nhân nghĩa cùng vua cứu dân giúp nước, thực hành lý tưởng “Lo trước, vui sau”, để dân giàu nước mạnh Nhân cách này còn thể hiện việc trọng dụng người tài của Nguyễn Trãi Trong đối nhân xử thế với tất cả các mối quan

hệ trong xã hội, Nguyễn Trãi luôn là người “Có nhân, có trí, có anh hùng” Trong gia đình ông là người con có hiếu, khi cha bị giặc bắt ra biên ải, rất

đau lòng nhưng nghe lời cha dạy Nếu

có hiếu với cha thì hãy quay về cứu nước, khóc lóc theo cha có ích gì.

Nguyễn Trãi đã làm tròn chữ trung, chữ hiếu như cha dạy Với bạn bè, Nguyễn Trãi luôn quan tâm, giúp đỡ với mọi người, đồng cam cộng khổ với họ

Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của thế giới đã kế thừa được nhiều truyền thống quý báu của dân tộc, tình nghĩa, tương thân tương ái, yêu nước thương dân, bất khuất chống giặc

Trang 6

ngoại xâm trên tinh thần của bậc

đại nho

3.1.3 Bài học rút ra từ việc

nghiên cứu tư tưởng “thân dân”

của Nguyễn Trãi trong quá trình

phát huy quyền dân chủ ở Việt

Nam

Từ những quan điểm của

Nguyễn Trãi về “dân” và vai trò,

sức mạnh của “dân”, có thể khẳng

định rằng ông là người đưa quan

điểm “dân vi bản” – dân là gốc của

nước trong tư tưởng Nho giáo lên

một tầm cao mới “Dân là gốc

nước” không còn là phương tiện

để giai cấp cầm quyền sử dụng

như một chiếc đũa thần trong

chính sách mị dân để dễ bề cai trị,

mà nó thực chất là mục đích để

nhà cầm quyền hướng tới

Tư tưởng “thân dân” của

Nguyễn Trãi luôn được các nhà tư

tưởng sau này của dân tộc kế thừa

và sử dụng một cách có hiệu quả

trong khi luận giải về những giải

pháp nhằm mục tiêu “trị quốc,

bình thiên hạ” Tuy nhiên, trong

suốt chiều dài lịch sử trung đại

Việt Nam, không một nhà tư tưởng

nào từ sau Nguyễn Trãi có thể

nâng quan điểm của ông lên một

tầm cao mới Chỉ đến thời đại Hồ

Chí Minh, những tư tưởng nhân

văn của Nguyễn Trãi về “dân” mới

thực sự được Hồ Chí Minh và Đảng

ta phát triển thêm về “chất” Trong thời đại Hồ Chí Minh, dân không chỉ

là gốc của nước, mà “nhân dân” phải thực sự “là chủ”, “làm chủ” đất nước, được thể hiện ở quan điểm “Nhà nước là của dân, do dân, vì dân” của Người Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải luôn dựa vào dân, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, bởi theo Người: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong” [4, tr.212] Thực hiện theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là đảng cầm quyền, luôn quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, tuyệt đối trung thành với lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc, luôn phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Tuy nhiên, sau khi lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong nội bộ Đảng đã xuất hiện những biểu hiện làm nguy hại đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng

và nhân dân Sự xuất hiện của bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, lời nói không đi đôi với việc làm, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không lắng nghe ý kiến của quần chúng đã

Trang 7

làm suy giảm lòng tin của nhân

dân đối với Đảng Nhận thức được

nguy hiểm của những biểu hiện

tiêu cực nêu trên, trong Báo cáo

chính trị trình Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ VI (12/1986),

Đảng ta đã rút ra bốn bài học kinh

nghiệm cho quá trình lãnh đạo

cách mạng Việt Nam Và bài học

đầu tiên mà Đảng ta nêu ra là phải

quán triệt tư tưởng “lấy dân làm

gốc” trong toàn bộ hoạt động, xây

dựng và phát huy quyền làm chủ

của nhân dân

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng

ta đã có những bước tiến quan

trọng trong nhận thức lý luận về

dân chủ và thực hành dân chủ, đã

đạt được những thành tựu quan

trọng về thực hiện dân chủ hóa đời

sống xã hội, làm cho dân chủ xã

hội chủ nghĩa trở thành động lực

của đổi mới và phát triển đất nước

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản

chất của chế độ ta, "vừa là mục

tiêu, vừa là động lực của sự phát

triển đất nước" Vì vậy, Đảng ta

rất coi trọng xây dựng và từng

bước hoàn thiện nền dân chủ xã

hội chủ nghĩa, đặc biệt, từ khi thực

hiện đường lối đổi mới đất nước

(1986) đến nay, nhận thức về vấn

đề dân chủ của Đảng ngày càng

hoàn thiện, cụ thể hóa thành các

chủ trương, đường lối, chính sách

và thực sự trở thành động lực phát triển đất nước

Qua 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, tuy có lúc, có nơi vẫn còn những khuyết điểm, hạn chế; song, với việc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống, nâng cao trình độ dân trí, mở rộng dân chủ trong xã hội, Đảng ta ngày càng củng cố được niềm tin của nhân dân, khơi dậy được những tiềm năng mới, tạo ra được những xung lực mới cho cách mạng trong giai đoạn mới Quan niệm về dân chủ theo đó cũng ngày càng được

mở rộng Dân chủ được xem xét trên nhiều khía cạnh: Dân chủ là chế độ chính trị; là giá trị; là phương thức và nguyên tắc tổ chức xã hội; dân chủ chung đối với xã hội và dân chủ riêng đối với mỗi cá nhân; dân chủ trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Dân chủ xã hội chủ nghĩa còn phản ánh một bước chuyển từ thể chế chính trị dựa trên áp lực, tuân thủ mệnh lệnh sang thể chế hợp tác, đồng thuận, đầy trách nhiệm Do vậy, với việc đưa dân chủ trở thành một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội càng thể hiện rõ sự phát triển về tư duy lý luận của Đảng ta Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa không những phát huy được tính tích cực, sự chủ động, tự giác của mỗi người trong xã hội, mà còn góp phần quan trọng giải phóng năng lực sáng tạo của con người Bởi

Trang 8

vậy, không phải đơn thuần trong

mục tiêu xây dựng xã hội, Đảng ta

đưa hai từ “dân chủ” lên trước hai

từ “công bằng” Điều này vừa

khẳng định vai trò của dân chủ

trong tiến trình xây dựng xã hội xã

hội chủ nghĩa, vừa thể hiện sự

nhận thức và tư duy mới của

Đảng; phù hợp với sự phát triển

của thời đại

Đại hội XI của Đảng đã

khẳng định mục tiêu: Xã hội xã

hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây

dựng là một xã hội dân giàu, nước

mạnh, dân chủ, công bằng, văn

minh; do nhân dân làm chủ

Trong đó có hai điểm mới quan

trọng được bổ sung và phát triển

so với Nghị quyết Đại hội X của

Đảng:

Một là, sửa lại mục tiêu xã

hội mà nhân dân ta xây dựng trở

thành “Xã hội dân giàu, nước

mạnh, dân chủ, công bằng, văn

minh” [2, tr.70] Ở đây, Đảng ta đã

đưa từ dân chủ lên trước cụm

từ công bằng, văn minh Điều đó

cho thấy Đảng ta đã xác định rõ vị

trí của dân chủ và thực hành dân

chủ trong quá trình phát triển xã

hội Để có xã hội dân giàu, nước

mạnh, trước hết phải bảo đảm

trong xã hội có nền dân chủ xã hội

chủ nghĩa và phải thực hành dân

chủ xã hội chủ nghĩa một cách

thực chất, vì đó là điều kiện tiên quyết, là cơ sở thiết yếu để xây dựng

xã hội công bằng, văn minh

Hai là, khẳng định đặc trưng

quan trọng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng

là xã hội do nhân dân làm chủ, thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay

Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân… Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” [3, tr.169]

Qua các kỳ đại hội Đảng, có thể thấy rằng những đổi mới của Đảng ta trong quá trình hoàn thiện lý luận về Nhà nước của dân, do dân, vì dân đã phản ánh được tính đúng đắn và tính thời sự sâu sắc của tư tưởng “thân dân” của Nguyễn Trãi Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang tiến bước trên con đường xây dựng một

xã hội của dân, do dân, vì dân thì việc nghiên cứu là một dịp để hình dung lại các bước đường tư tưởng không

hề bằng phẳng mà dân tộc ta đã trải qua, và có thêm những bài học quý báu để xây dựng một xã hội thực sự

vì dân

Một là, bài học coi sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân, vì dân

Trang 9

trong thời kỳ Đảng lãnh đạo công

cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Trong toàn bộ quan điểm của

mình, Đảng Cộng sản Việt Nam

luôn khẳng định cách mạng là sự

nghiệp của nhân dân Nhân dân

chính là động lực to lớn của mọi

thắng lợi trong sự nghiệp bảo vệ

và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ

nghĩa Suốt quá trình tồn tại và

phát triển của mình, chính nhờ bắt

rễ sâu rộng trong quần chúng, chủ

trương, đường lối được lòng dân,

được nhân dân đồng tình ủng hộ,

cho nên Đảng và nhân dân ta đã

kết thành một khối vững chắc,

quan hệ máu thịt với nhân dân là

cội nguồn sức mạnh to lớn của

Đảng

Trong xu thế mở cửa và hội

nhập khu vực và thế giới, nước ta

đang có nhiều thuận lợi, nhưng

cũng không ít khó khăn, đặc biệt là

âm mưu diễn biến hòa bình của

các thế lực thù địch chia rẽ khối

đại đoàn kết toàn dân, hòng làm

giảm sức mạnh của lực lượng quần

chúng trong sự nghiệp bảo vệ, xây

dựng và phát triển đất nước Các

cấp ủy Đảng, chính quyền, ban

ngành, đoàn thể cần phải sâu sát

hơn nữa quan điểm của Đảng về

công tác Dân vận; coi trọng việc

giữ gìn, phát huy mối quan hệ

khăng khít giữa Đảng, Nhà nước

với nhân dân, thực hiện tốt phương châm “Ý Đảng – Lòng dân” trong mọi chủ trương, việc làm của mình Mỗi cán bộ đảng viên phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng nhân dân và hướng dẫn nhân dân, tổ chức thành lực lượng, thành phong trào hành động cách mạng trên các lĩnh vực, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân Riêng các tầng lớp của nhân dân cần tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức

Hai là, bài học về tinh thần nhân nghĩa, đoàn kết toàn dân để làm nên những thắng lợi lịch sử.

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi có nội dung rộng lớn đó

là sự biểu hiện cho chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và hòa bình Nhân nghĩa ở tư tưởng Nguyễn Trãi là đường lối chính trị, là chiến lược cứu nước, dựng nước và còn hơn thế nữa là đạt tới một nền tảng của phương pháp luận của tư duy và hành động Giá trị vĩ đại của tư tưởng nhân nghĩa đã được khẳng định: là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội đương thời

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có

cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen Đáng chú ý là,

Trang 10

các thế lực thù địch chống phá

quyết liệt bằng chiến lược “Diễn

biến hòa bình”, với thủ đoạn hết

sức thâm độc, nguy hiểm Chúng

lợi dụng các vấn đề “nhân quyền”,

“dân tộc”, “tôn giáo”, nhằm chia

rẽ khối Đại đoàn kết toàn dân tộc,

chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với

Quân đội và nhân dân; đòi “phi

chính trị hóa” lực lượng vũ trang,

thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự

chuyển hóa”, Điều đó đặt ra

những yêu cầu mới đối với việc

xây dựng khối Đại đoàn kết toàn

dân tộc, phát huy sức mạnh toàn

dân tộc để bảo vệ Tổ quốc; trong

đó, coi trọng ngăn chặn, làm thất

bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống

phá của các thế lực thù địch, giữ

vững môi trường hòa bình cho sự

nghiệp xây dựng, phát triển đất

nước

Để xây dựng khối Đại đoàn

kết toàn dân tộc, một vấn đề hết

sức quan trọng là phải kiện toàn tổ

chức, nâng cao hiệu quả hoạt động

của hệ thống Mặt trận Tổ quốc từ

Trung ương đến địa phương và hệ

thống chính trị; qua đó, không

ngừng tăng cường mối quan hệ

giữa Đảng với nhân dân, lấy đoàn

kết trong Đảng làm cơ sở để xây

dựng khối Đại đoàn kết toàn dân

tộc, tổ chức đảng các cấp là hạt

nhân lãnh đạo, thực hiện Đảng,

Nhà nước lãnh đạo, điều hành việc xây dựng, phát huy sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc bằng các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương và hệ thống chính sách, pháp luật, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Phát huy mạnh

mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong

và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [3, tr.158-159]

Ba là, bài học về phát huy mạnh

mẽ vai trò của quần chúng nhân dân trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay.

Xuất phát từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã nhận

Ngày đăng: 25/10/2019, 05:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w