Bên cạnh đó, một số các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chưa thực sự tạo cho Kiểm sát viên vai trò chủ động, ý thức, trách nhiệm trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ NGỌC DIỆP
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học thực sự
của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ luật học Võ Thị
Kim Oanh Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Hoàng Thị Ngọc Diệp
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 5 1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự 5
1.1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 5
1.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 14 1.3 Thực hành quyền công tố theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới 16
1.3.1 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước theo truyền thống luật lục địa 16
1.3.2 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước theo truyền thống luật án lệ 18
1.3.3 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước Châu Á
19
Kết luận Chương 1 22 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ 23 2.1 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ giai đoạn 1945 đến trước năm 1988 23 2.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 1988 đến trước năm 2003 26 2.3 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 28 2.4 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 32 Kết luận Chương 2 34
Trang 6CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI
ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 35
3.1 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 35
3.1.1 Việc thực hiện các quy định của luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 35
3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 42
3.2 Giải pháp nâng cao hi ệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 54
3.2.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 54
3.2.2 Giải pháp về pháp luật 58
3.2.3 Các giải pháp khác 60
Kết luận Chương 3 65
KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo Một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp là nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó việc nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân các cấp được Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị
về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới xác định: “Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác”
Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát vừa được giao trách nhiệm thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ
án hình sự, nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra có căn cứ và hợp pháp, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
Đến Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và
tố tụng tư pháp… Đổi việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”
Thể chế đường lối của Đảng, Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:
“Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” Với quy định
có tính nguyên tắc như vậy đã xác định Viện kiểm sát có vai trò xuyên suốt và rất
Trang 8quan trọng trong các giai đoạn tố tụng hình sự và góp phần vào hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả của các cơ quan tư pháp
Đến nay, qua hơn 12 năm thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cho thấy chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát nhìn chung được nâng lên từng bước, đã khắc phục được tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, cũng như việc không làm oan người vô tội
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự còn có những hạn chế nhất định trong tất cả các giai đoạn tố tụng trong đó có hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự - hoạt động trung tâm có tính chất quyết định của Viện kiểm sát vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp Một số Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn còn chưa nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm
vụ quyền hạn của mình trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự, do đó còn có tâm lý chủ quan chưa chủ động, tích cực tham gia vào việc xét hỏi, tranh luận làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
Bên cạnh đó, một số các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chưa thực
sự tạo cho Kiểm sát viên vai trò chủ động, ý thức, trách nhiệm trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoan xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát, hàng năm vẫn còn xảy ra các vụ án Viện kiểm sát truy tố, tòa tuyên không phạm tội, án trả điều tra bổ sung, án hủy do bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng…
Trước tình hình đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm cao hiệu quả hoạt động này không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn
và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thực hành quyền công tố trong giải quyết các vụ án hình sự theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Có thể nêu ra một số sách, báo, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như:
- "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" của TS Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005; ''Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp'', của Lê Hữu Thể chủ biên, năm 2008;
Luận án tiến sĩ luật học: “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị Tuyết Hoa năm
Trang 92002; Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2005 “Thực hành quyền công tố theo Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003” của tác giả Phan Vũ Trang; Luận văn thạc sỹ “Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội”, của Nguyễn Duy Hùng, năm 2010; Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, Số chuyên đề; ''Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự'', Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006; Bài viết của Nguyễn Đức Lương năm 2002 "Bàn về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002", Tạp chí Kiểm sát; Bài viết của Đỗ Văn Đương năm 2006 "Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình, bài viết khoa học của các tác giả về vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam Mặc dù vậy, các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những tài liệu tham khảo có giá trị để
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở làm sáng tỏ một cách toàn diện về mặt lý luận những
nội dung cơ bản hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; xác định những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn để đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới
- Nhiệm vụ: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và vai
trò, trách nhiệm, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công
tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Khảo sát, đánh giá hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự và chỉ ra những bất cập vướng mắc trong thực tiễn
Đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
Trang 10sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự theo Luật Tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề này
- Phạm vi nghiên cứu: Là các quy định của pháp luật về thực hành quyền
công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên cơ sở các quy định của pháp luật, luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016 trên phạm vi toàn quốc
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng
và chủ nghĩa Mác – Lênin, các phương pháp được sử dụng là các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể
6 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
- Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu cho việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện thêm các quy định của pháp luật về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ làm công tác thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1 Nhận thức chung về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 Quy định của luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 3 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 11CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNGVỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người
Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế định pháp lý độc
lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự (TTHS) ở đa số các nước văn minh trên thế giới
Theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Viện kiểm sát (VKS) vừa được giao trách nhiệm thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra, xét xử có căn cứ và hợp pháp, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị
và trật tự xã hội
Việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công
tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng; xác định rõ chức năng của VKS, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức VKS các cấp Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đang triển khai thực hiện các nghị quyết lần thứ 8 khoá VII, lần thứ 3 và thứ 7 khóa VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" 1 Như vậy, theo từ điển tiếng
Việt thì công tố được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm: Điều tra, truy tố,
buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án
Ở nước ta, thuật ngữ “quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138) Từ đó đến nay,
1
Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 45
Trang 12có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm và thể hiện quan điểm về quyền công tố với các mức độ khác nhau Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn
đề chung của TTHS, một số bài viết có tính chất chuyên khảo phân tích có hệ thống
về quyền công tố và gần đây một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sỹ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau Nhìn chung, có thể thấy mỗi quan điểm tuy được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta, dù
ít hay nhiều đều có những hạt nhân hợp lí và có những bất cập Có thể kể đến một
số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất, là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát
tuân theo pháp luật của VKS đều là thực hành quyền công tố Với quan điểm này thì công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật2 Đây là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát từ khi thành lập năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND 2002 được ban hành Cơ sở cho những lập luận này chính là quy định của các Điều 137 và 138 Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức VKSND các năm 1981 và
1992 Thể hiện rõ nhất quan điểm này tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND 19923
Quan điểm này có trước khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS Quan điểm này cho rằng các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng
là thực hành quyền công tố: khi VKS ban hành kiến nghị yêu cầu các Cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội bị kiểm sát sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật
của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế cũng là thực hành quyền công tố
Theo Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 thì VKS có hai chức
Điều này tiếp tục được khẳng định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” 5 Việc quy định cụ thể, rành mạch hai chức năng của VKSND đã bác bỏ quan điểm nêu trên Cho dù trong quá trình thực hiện hai chức năng này, chúng tôi thấy rằng có một số nội dung đã đan xen, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, nhưng không vì thế mà phủ nhận tính độc lập của chúng cả về nội dung, hình thức và phạm vi áp dụng
Quan điểm thứ hai, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa
các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà
Trang 13nước, bảo vệ trật tự pháp luật6 Quan điểm này được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, tổng kết các chuyên đề trước đây của
VKSND Quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác 7 Theo quan điểm này, khái niệm quyền công tố được xác định là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện theo luật định Nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm
thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh vực tố tụng dân sự, TTHS và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất 8
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và so sánh với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố dẫn đến sự xoá nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa TTHS
và các lĩnh vực tố tụng khác Đặc trưng của TTHS là phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người tham gia tố tụng; còn tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc đặc trưng là: quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự Ý chí, lợi ích của bản thân đương sự là động lực chủ yếu của hoạt động tố tụng dân sự, nó quyết định sự vận động của hoạt động tố tụng Đồng thời, quan điểm nêu trên đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động
Quan điểm thứ ba, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan
tiến hành tố tụng sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội Hay nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên (KSV) và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định
Trang 14người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội9
Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc của TTHS: tội phạm khi được thực hiện đều xâm phạm đến lợi ích chung, vì vậy người phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự Việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội được
Cơ quan điều tra (CQĐT), VKS, Tòa án nhân dân (TAND) và cơ quan thi hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định Hiểu khái niệm quyền công tố như quan điểm nêu trên, theo chúng tôi là quá rộng đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các chức năng cơ bản trong TTHS: buộc tội, bào chữa và xét xử Mỗi một chức năng cơ bản nêu trên được thực hiện bởi một hoặc nhiều chủ thể, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn của quá trình TTHS Như trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cả CQĐT và VKS đều là cơ quan tiến hành tố tụng và cùng thực hiện chức năng buộc tội đối với một cá nhân cụ thể Nhưng những hoạt động buộc tội của CQĐT không phải là thực hiện quyền công tố mà đó chỉ là những hoạt động nhằm
hỗ trợ cho cơ quan được Nhà nước giao thực hiện quyền công tố là VKS thực hiện
sự buộc tội đối với cá nhân bị khởi tố Ngoài ra, theo quan điểm nêu trên thì không chỉ CQĐT và cơ quan công tố mà cả cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án đều là chủ thể thực hành quyền công tố, tức là các chủ thể này cũng thực hiện sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội
Quan điểm thứ tư, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc
truy cứu TNHS đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKS) để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy
đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà10
Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu TNHS đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm Quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS, quyền này ở nước ta được Nhà nước giao cho VKSND thực hiện mà đến nay không có cơ quan nào có thể thay thế được
Bên cạnh đó còn nhiều quan điểm khác về quyền công tố Tuy nhiên, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các
Trang 15nước trên thế giới, chúng tôi cho rằng, để làm rõ khái niệm quyền công tố, cần khẳng định một số vấn đề sau:
- Quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước, quyền nhân danh Nhà nước
thực hiện nhiệm vụ, chức năng riêng biệt; ở Việt Nam, Nhà nước giao cho VKS thực hiện chức năng này
- Quyền công tố thực chất là quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội
Để làm được điều này, cơ quan được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa
- Quyền công tố mang tính cụ thể, tức là chỉ xuất hiện khi có một hành vi cụ
thể nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm xảy ra và đối với người phạm tội cụ thể, không tồn tại quyền công tố chung chung
Trên cơ sở những khẳng định trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ tư bởi quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật
mà từ cội nguồn lịch sử của nó đã gắn liền không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực TTHS
Xuất phát từ lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung cũng như lịch
sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng, quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước, là một bộ phận cấu thành của quyền lực Nhà nước, đúng như C.Mác nhận định: Quyền công tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với người phạm tội và mối quan hệ ấy do chính hành vi phạm tội làm phát sinh ra Sự trừng phạt
là quyền của Nhà nước không thể chuyển giao cho tư nhân Mọi quyền của Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời cũng là nghĩa vụ của người đó đối với Nhà nước bởi vì bản chất phạm tội của hành vi không phải là việc xâm phạm đến rừng cây với tính cách là thứ vật chất mà là việc xâm phạm đến hệ thần kinh của Nhà nước, đến quyền sở hữu11
Quan điểm thứ tư này phù hợp với quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau khẳng định: THQCT là một chức năng của VKSND và chỉ trong lĩnh vực hình sự Quan điểm của Đảng được thể chế hoá qua các quy định của pháp luật tại: Điều 138 Hiến pháp năm 198012, Điều 1, 3 Luật tổ chức VKSND năm 198113
Trang 16Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 4/2/1991 chỉ đạo việc xây dựng Hiến pháp năm 1992 đã kết luận VKSND thực hiện hai chức năng, đó là: THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật14 Kết luận này đã được thể chế hóa tại Điều 137 Hiến pháp 199215
và Điều 1 Luật tổ chức
Từ đó hai chức năng của VKSND đã được phân định và khác biệt Đặc biệt là chức năng THQCT đã trở nên rõ ràng hơn cả trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
Tại Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật – Quốc hội khóa X về dự án Luật tổ
chức VKSND sửa đổi xác định: “ hoạt động công tố chỉ trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa ”17
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứu TNHS đối với hành vi phạm tội và người phạm tội Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện quyền công tố (ở Việt Nam, Nhà nước giao cho VKSND thực hiện) Cơ quan được giao nhiệm vụ có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ
sở đó truy tố bị can ra trước Toà án và thực hiện sự buộc tội đó tại phiên tòa
- Đối tượng, nội dung và phạm vi quyền công tố
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý về quyền công tố, để chứng minh cho luận điểm của mình, mỗi nhà khoa học đều có những lý luận riêng để đưa ra những luận điểm về đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố Đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố có thể hiểu như sau:
+ Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó, ví dụ như để nhằm buộc được tội của người phạm tội để trừng phạt; để nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại… Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu TNHS) đối với người phạm tội, chúng tôi quan
niệm đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội 18
+ Nội dung của quyền công tố: Có thể nói, có bao nhiêu quan điểm về quyền công tố thì cũng có bấy nhiêu quan niệm về nội dung của quyền công tố Tuy nhiên, trên cơ sở quan điểm của mình về quyền công tố đã được nêu ở trên, chúng tôi đồng
Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa X (2002), Báo cáo thẩm tra của ủy ban Pháp luật về dự án Luật tổ chức
Viện k iểm sát nhân dân (sửa đổi), Hà Nội.
18
Lê Hữu Thể (2008), tlđd, tr.44
Trang 17ý với quan điểm cho rằng, nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người
đã thực hiện hành vi tội phạm 19
Ngoài ra, khi bàn về vấn đề nội dung quyền công tố, có những ý kiến cho rằng, nội dung của quyền công tố được hiểu là tổng hợp tất cả các quyền năng pháp
lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử
lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
vô tội Chúng tôi cho rằng, quan niệm này đã nhầm lẫn nội dung quyền công tố sang nội dung hoạt động thực hành quyền công tố
+ Phạm vi của quyền công tố: Xuất phát từ quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người đã thực hiện hành
vi phạm tội, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS 20 Theo đó, quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án kết tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội đó có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Khi có hành vi phạm tội xảy ra, bổn phận của cơ quan công tố là phải tiến hành ngay các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội, xác định các căn cứ để kết tội họ
1.1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt thì “thực hành” có nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” cũng đồng nghĩa với “thực hiện”21 Để thực hiện quyền công tố thì VKS phải sử dụng các quyền năng thuộc nội dung của quyền công tố trong suốt quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án
Việc xác định rõ quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa không chỉ giúp phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, trong mối quan hệ với các cơ quan bảo
vệ pháp luật nói riêng mà còn giúp cho quá trình nhận thức được thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cải cách tư pháp
Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS; phạm
vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Tòa, tranh tụng tại phiên tòa và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc khi có quyết định đình chỉ trong trường hợp vụ án bị đình chỉ) Để thực hiện được quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng pháp lý khác nhau để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong từng
Trang 18giai đoạn khác nhau của TTHS, đó là thực hành quyền công tố Ở Việt Nam, căn cứ
vào các quy định của Hiến pháp, luật và hoạt động thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất VKS Vậy, chủ thể thực hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố là việc Nhà nước tổ chức và giao cho cơ quan chuyên trách (ở Việt Nam là VKSND) các quyền năng pháp lý để thực hiện trong tất cả giai đoạn của TTHS từ tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội và áp dụng đối với họ các chế tài hình sự cần thiết
- Phạm vi thực hành quyền công tố:
Từ khái niệm trên có thể thấy VKS có trách nhiệm thực hành quyền công tố trong tất cả các giai đoạn của TTHS Quyền công tố là cơ sở của thực hành quyền công tố, quyền công tố có tồn tại thì mới có thực hành quyền công tố cho nên để xem xét phạm vi của thực hành quyền công tố thì trước hết phải xem xét đến phạm
vi của quyền công tố Như đã phân tích ở trên, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án kết tội đối với người phạm tội đó có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Thực hành quyền công tố cũng phát sinh
kể từ thời điểm phát hiện hành vi phạm tội hoặc có thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm thông qua việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố; tiếp đó đến các giai đoạn TTHS Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp mặc dù có hành vi phạm tội xảy ra nhưng vụ án không được khởi tố; điều này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau cho nên cơ quan
tố tụng không áp dụng được bất cứ một biện pháp thực hành quyền công tố nào
Khi CQĐT kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố, VKS xét thấy có đủ căn cứ thì phải truy tố bị can ra trước Tòa bằng bản Cáo trạng, có nghĩa là đã kết thúc hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự và chuyển sang một giai đoạn khác là giai đoạn thực hành quyền công
tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự Như vậy có thể xác định được thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm quyền nhận và thụ lý hồ sơ vụ án kèm theo quyết định truy tố của VKS chuyển đến Giai đoạn này sẽ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét xử của tòa án dưới hình thức phiên tòa xem xét và giải quyết vụ án hình sự, có nghĩa là tòa án trên
cơ sở các chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa đưa ra phán quyết về bị cáo có tội hay không có tội Đây là điểm mấu chốt phân biệt xét xử sơ thẩm với xét xử phúc
Trang 19thẩm Phiên tòa sơ thẩm chỉ có thể tiến hành khi có quyết định truy tố của VKS và
có đủ điều kiện để tiến hành phiên tòa
Giai đoạn xét xử sơ thẩm được chia thành hai giai đoạn nhỏ là giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm Hoạt động TTHS là một tiến trình với nhiều giai đoạn khác nhau Mỗi giai đoạn tố tụng có tính độc lập riêng như tính đặc trưng
về chủ thể, đặc trưng về hành vi tố tụng, hình thức tố tụng, thời hạn tố tụng, văn bản kết thúc giai đoạn tố tụng, nguyên tắc tố tụng… nhưng các giai đoạn tố tụng đều có mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn sau bổ sung, kiểm tra giai đoạn trước tạo thành tiến trình tố tụng thống nhất
Điều 3, Quy chế Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình
sự quy định: Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự bắt đầu từ khi VKS chuyển bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố (đối với vụ án rút gọn) cùng hồ sơ vụ án đến Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo kháng nghị22
Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, VKSND có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Đọc cáo trạng, quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa
Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm
Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án của VKSND tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm23
Trên cơ sở những phân tích, nhận định và đánh giá nêu trên có thể đưa ra
khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố
để buộc tội người phạm tội tại phiên Tòa ở cấp xét xử sơ thẩm, được thực hiện từ khi VKS chuyển bản cáo trạng cùng hồ sơ vụ án hình sự sang tòa và kết thúc khi Tòa án ra quyết định,bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo kháng nghị
22
Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành k èm theo quyết định
23 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
Trang 201.2 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Nhà nước giao cho VKS thay mặt nhà nước thực hành quyền công tố, theo
đó VKS được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công
tố để thực hiện việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Đây là đặc điểm cơ bản nhất của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là một hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tế nhằm truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động này chỉ do VKS tiến hành bởi VKS là cơ quan duy nhất đại diện Nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố Để thực hiện chức năng công tố, Bộ luật LTTHS và Luật tổ chức VKSND quy định cho VKS một hệ thống khá đầy đủ các quyền năng pháp lý, trong đó có những quyền chỉ VKS mới được thực hiện (như quyền quyết định truy tố bị can ra Tòa án để xét xử) Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS phải bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều phải được đánh giá, xem xét, cân nhắc và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời, đúng đắn, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Khi thực quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS phải bảo đảm rằng sự buộc tội là có căn cứ, các chứng cứ được thu thập ở các giai đoạn trước đó phải được kiểm chứng, chứng minh tại tòa có đúng với nội dung bản cáo trạng, các hành vi pham tội phải được phát hiện xử lý, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội KSV kiểm chứng, chứng minh sự buộc tội của mình bằng việc xét hỏi bị cáo, nhân chứng, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người giám định, xem xét, đối chiếu tài liệu của các cơ quan chuyên môn, xem xét vật chứng…
Sau khi xét hỏi nếu xét thấy việc buộc tội bị cáo là không có căn cứ, thì KSV
có quyền rút truy tố Nếu việc buộc tội có căn cứ KSV bảo vệ cáo trạng bằng luận tội
Luận tội phân tích đánh giá chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, viện dẫn các chứng cứ đã được kiểm tại tòa đảm bảo sự buộc tội của VKS (bản cáo trạng) là có căn cứ
Luận tội của VKS làm phát sinh tranh luận giữa KSV và bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Đây được coi là giai đoạn “đấu lý” quan trọng nhất, giai đoạn làm việc vất vả nhất của VKS tại phiên tòa Bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ nội dung vụ án mà VKS đã truy tố trước Tòa án, là cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định trong việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án
Trang 21Thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm của VKS bao gồm các hành vi và các quyết định tố tụng mang tính công khai theo một trình tự, thủ tục, thẩm quyền được pháp luật TTHS quy định Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là nhằm truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do các chế tài pháp luật hình sự đặt ra
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là hoạt động nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với người phạm tội, những hoạt động này chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cùng cấp và chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp, đồng thời chịu sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC VKS cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là VKS kiểm tra, xem xét một cách toàn diện việc thu thập, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án đã được thu thập trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố Quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của VKS là sự đánh giá tổng hợp các chứng cứ chứng minh tội phạm của CQĐT, VKS trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và chứng cứ do VKS thu thập trong giai đoạn truy tố bao gồm chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân người phạm tội… để quyết định truy cứu TNHS đối với người phạm tội dựa trên chứng cứ có thật, liên quan đến vụ án chứ không dựa trên suy luận chủ quan
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm chính là việc VKS thực hiện các hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu TNHS, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề xuất mức hình phạt đối với hành vi phạm tội, các biện pháp tư pháp, các vấn đề khác trong vụ án hình sự
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm Tuy cùng một chủ thể là VKS tiến hành nhưng thực hành quyền công tố nhằm vào việc buộc tội,
gỡ tội, đề xuất mức hình phạt đối với hành vi phạm tội, các biện pháp tư pháp, các vấn đề khác đối với người phạm tội Còn hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hướng đến sự tuân thủ pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng Nếu phát hiện có hành vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị vi phạm
Trang 221.3 Thực hành quyền công tố theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới
1.3.1 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước theo truyền thống luật lục địa
Các nước theo truyền thống luật lục địa nhấn mạnh vai trò của Công tố viên Công tố viên là những người đại diện cho Nhà nước, không chỉ bảo vệ lợi ích của Nhà nước mà còn bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trong vụ án Điều đó có nghĩa Công tố viên không chỉ thực hiện chức năng buộc tội mà còn có chức năng duy trì
sự công bằng và quyền lợi của xã hội
Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức là ví dụ điển hình theo truyền thống pháp luật Châu âu lục địa Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu khi cơ quan công
tố chuyển hồ sơ và bản cáo trạng sang tòa Tòa án có thời gian chuẩn bị xét xử để nghiên cứu trước hồ sơ, nếu không đủ chứng cứ thì trả hồ sơ điều tra bổ sung, đủ căn cứ thì quyết định đưa vụ án ra xét xử Phiên tòa thực chất là sự tiếp nối của một quá trình điều tra liên tục, chứ không phải sự cạnh tranh giữa các bên đối trọng nhau trong vụ án và thời điểm mấu chốt là quá trình xét hỏi Thẩm phán chủ động xét hỏi nhằm kiểm tra xác minh lại các chứng cứ đã thu thập được trong các giai đoạn tố tụng trước đó, làm căn cứ cho việc ra phán quyết bản án do đó hội đồng xét xử (HĐXX) là người hỏi chính Công tố viên tham gia phiên tòa có quyền công bố cáo trạng, tham gia thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng khác sau khi HĐXX đã thẩm vấn xong Công tố viên đề nghị giám định, yêu cầu những vấn đề mang tính thủ tục Sau khi chứng cứ đã được thẩm tra, kết thúc phần xét hỏi, công
tố viên trình bày bản luận tội, trong đó nêu tóm tắt kết quả thẩm vấn, các lập luận qua quá trình xét xử cùng với đề nghị mức hình phạt cụ thể và các biện pháp bổ sung Sau cùng, công tố viên có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa
Trang 23vụ án mà hành vi phạm tội không ảnh hưởng lớn đến những giá trị nền tảng của xã hội và nạn nhân muốn được bồi thường hơn là đòi truy tố bị cáo ra trước Tòa24
Ở Đức, cơ quan cảnh sát không có quyền kết thúc hoạt động tố tụng, không
có quyền ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra Tất cả những vụ án mà
cơ quan cảnh sát đã thụ lý điều tra, sau khi kết thúc việc điều tra phải chuyển hồ sơ
vụ án sang cho Viện công tố để xem xét quyết định việc truy tố hay đình chỉ vụ án Khi có hồ sơ của Cảnh sát chuyển đến, Viện công tố xem xét có truy tố hay không
để đưa ra quyết định xử lý Viện công tố có quyền tự quyết định xử lý vụ án ngay ở trong giai đoạn truy tố mà không cần phải đưa vụ án ra truy tố trước Toà án nếu xét thấy hành vi phạm tội không còn ý nghĩa đối với lợi ích công nữa thì có thể kết thúc quá trình tố tụng bằng một quyết định đình chỉ vụ án Đối với các tội ít nghiêm trọng, Viện công tố có quyền xem xét miễn truy tố nếu thấy tính chất của hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng và lợi ích của xã hội không đòi hỏi phải truy tố Về việc miễn truy tố phải đáp ứng các điều kiện: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nếu được sự đồng ý của Tòa án có thẩm quyền xét xử và của bị can, Viện công tố có thể quyết định miễn truy tố đối với bị can gắn với một trong các điều kiện: Bị can có đóng góp nhất định cho việc khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra; bị can nộp một khoản tiền cho một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cho Bộ Tài chính; bị can thực hiện các hoạt động phi lợi nhuận khác Trong trường hợp truy tố thì quyết định truy tố của Viện công tố xác định ranh giới xét xử của Toà án Toà án chỉ xét xử những hành vi và bị cáo khi được Viện công tố truy tố Toà án không được xét xử những hành vi, những người mà Viện công tố không truy tố25
Ở Liên bang Nga: VKS nước Cộng hoà Liên bang Nga là một cơ quan có vị trí độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung, thống nhất VKS chỉ phục tùng một người lãnh đạo duy nhất là Tổng kiểm sát trưởng Liên bang; Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Dưới quyền Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga có các KSV các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc Liên bang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị, các thành phố quận, huyện và cấp tương đương do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm Mỗi KSV đều có một hệ thống những người giúp việc
Như vậy, truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa đã cho thấy trong giai đoạn xét xử vai trò của Công tố viên và luật sư không nổi bật như ở các nước Anh, Mỹ
24
Lê Thị Tuyết Hoa (2002), “Vài nét về việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới”,
Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr 64-68
25
Nguyễn Thị Thu Quỳ (2013), “Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự cộng hòa liên bang Đức”, Thông tin
k hoa học Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tập 5+6, tr 81-82.
Trang 24Công tố viên gần như thụ động tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò tích cực, không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện cả chức năng điều tra, chức năng buộc tội thẩm vấn và chứng minh tội phạm và một phần nào đó chức năng bào chữa Việc giao trách nhiệm chứng minh cho cả ba CQĐT, công tố, xét xử tuy tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng, bảo đảm khả năng kiểm soát tội phạm nhưng mặt khác rất dễ làm tổn thương đến lợi ích cá nhân, nhất
là bị can, bị cáo, người bị hại và những người thân thích của họ; ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng, công khai của tố tụng
1.3.2 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước theo truyền thống luật án lệ
Quốc gia điển hình theo hệ thống luật án lệ là Anh và Hoa Kỳ Giai đoạn xét
xử sơ thẩm bắt đầu khi cơ quan công tố chuyển bản cáo trạng và bản bào chữa của luật sư chuyển đến tòa Thẩm phán và bồi thẩm đoàn không biết trước về chứng cứ Tại phiên tòa, Công tố viên trình bày cáo trạng, đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo; đối đáp, tranh luận với luật sư và những người tham gia tố tụng về chứng cứ buộc tội, gỡ tội cũng như việc áp dụng pháp luật Quá trình tranh tụng giữa các đại diện thực hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự bình đẳng giữa bị cáo, người bào chữa với công tố viên Thẩm phán và bồi thẩm đoàn không xét hỏi mà chỉ nghe các bên tranh tụng và đóng vai trò như trọng tài điều khiển sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, ra phán quyết về bị cáo
có tội hay vô tội, nếu có tội thì tội gì và áp dụng hình phạt như thế nào Một khi bồi thẩm đoàn tuyên bị cáo vô tội thì cơ quan công tố không bao giờ được truy tố26
Do tính chất khắc nghiệt của tranh tụng, cơ quan công tố rất khó khăn, thậm chí không thể tìm ra đủ chứng cứ để có thể “thắng” tại phiên tòa khi họ muốn truy
tố một bị cáo Do đó, pháp luật khuyến khích bị cáo nhận tội hoặc cho phép họ thỏa thuận để bị cáo nhận tội Đổi lại, bị cáo có thể được miễn truy tố về một hoặc một
số tội hay được giảm hình phạt Cơ chế này tác động tới trình tự tố tụng vì khi bị cáo nhận tội, dù ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào, toàn bộ thủ tục tố tụng đối với bị cáo sẽ được thay đổi theo hướng không còn “tranh tụng” nữa và lúc đó thẩm phán
sẽ chỉ phải thẩm tra lại hồ sơ vụ án để quyết định hình phạt
Ở Anh tồn tại song song hai hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật theo án
lệ là Anh – xứ Wales và hệ thống pháp luật gần giống pháp luật của Pháp và Đức là
xứ Scotland Hệ thống công tố theo truyền thống luật án lệ, đó là hệ thống Công tố Hoàng gia Anh Nhiệm vụ chủ yếu của Công tố Hoàng gia là truy tố tội phạm trên
26Viện Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp (1999), “Chuyên đề Tư pháp hình sự so sánh”, Thông tin khoa pháp lý , tr123
Trang 25cơ sở sử dụng các tài liệu cung cấp bởi Cảnh sát, ngoài ra cơ quan này còn có quyền khởi tố đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp
Ở Hoa Kỳ, hệ thống cơ quan công tố được chia làm hai cấp, cấp bang và liên bang Đứng đầu Viện công tố liên bang là Tổng công tố do Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm và có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ Tổng thống Dưới Viện công tố liên bang là các Viện công tố bang Công tố viên ở Hoa kỳ có thẩm quyền rất rộng trong việc truy tố hay không truy tố và quyết định của Công tố viên không bị xét lại bởi thẩm phán hay viên chức tư pháp hình sự nào khác
Ở các nước theo hệ thống luật án lệ, trong giai đoạn xét xử Công tố viên đóng vai trò là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, chức năng bào chữa thuộc về người bị buộc tội và người bào chữa của họ, Tòa án giữ vai trò trung lập không có trách nhiệm chứng minh sự thật vụ án Quá trình buộc tội và gỡ tội có đối kháng cao nên trở thành công cụ chống oan sai hiệu quả
1.3.3 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước Châu Á
Xem xét việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm ở một
số quốc gia Châu Á có một số điểm tương đồng với Việt Nam về văn hóa, lịch sử, thậm chí cả một số điểm về hệ thống chính trị, chế độ Nhà nước, cơ cấu bộ máy…
đó là Trung Quốc: Cơ quan thực hành quyền công tố ở Trung Quốc hiện nay là VKSND được tổ chức từ Trung ương xuống địa phương
Giai đoạn xét xử được bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng do VKS chuyển đến Tòa Sau đó, một Thẩm phán sẽ được chỉ định để thẩm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Căn cứ vào kết quả thẩm tra, Tòa án ra một trong các quyết định: Quyết định thụ lý vụ án; Quyết định không thụ
lý vụ án; Quyết định trả lại vụ án cho VKS; Yêu cầu VKS bổ sung tài liệu
Theo quy định của luật TTHS Trung Quốc trước năm 1996 thì KSV phải chuyển tất cả chứng cứ thu thập được đến Tòa án và người bào chữa có thể được xem xét các chứng cứ trước khi xét xử Tuy nhiên, quy định này đã dẫn đến tình trạng các Thẩm phán xem xét chứng cứ trước khi xét xử và quyết định hậu quả pháp
lý trước khi mở phiên tòa xét xử Chính vì vậy để đảm bảo sự tập trung của Thẩm phán vào giai đoạn xét xử và để hạn chế hiện tượng “quyết định trước, xét xử sau”, Luật TTHS Trung Quốc năm 1997 không quy định thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và không cho phép KSV chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng các chứng cứ đến phiên tòa trước khi xét xử mà KSV phải nộp danh sách chứng cứ, danh sách các nhân chứng và bản sao hoặc ảnh của các chứng cứ quan trọng đến
Trang 26Tòa án27 Tuy nhiên, quy định này đã hạn chế quyền bào chữa của người bào chữa
vì họ không được xem xét tất cả chứng cứ trước khi xét xử
Phiên tòa bắt đầu bằng việc xét hỏi về căn cước, tình trạng gia đình của bị cáo và tiến trình tố tụng cơ bản của vụ án đó, tiếp theo bị cáo được quyền đề nghị thay đổi Thẩm phán và KSV Sau khi kết thúc phần thủ tục, Tòa án tiến hành việc điều tra Việc điều tra tại phiên tòa giúp Tòa án xem xét, kiểm tra chứng cứ đã thu thập được có đủ giá trị chứng minh cho sự thật vụ án hay không, giúp các bên tìm kiếm, khẳng định, củng cố các chứng cứ có lợi cho mình Chính vì vậy, thẩm vấn (hỏi - đáp) là phương thức chủ yếu được sử dụng tại phiên tòa trong giai đoạn điều tra tại phiên tòa
Tại phiên tòa sơ thẩm KSV thực hành quyền công tố bằng việc công bố cáo trạng, bị cáo hoặc người đại diện tố tụng của họ trong vụ án dân sự kèm theo (nếu
có tố tụng dân sự kèm theo) đọc đơn kiện dân sự Tiếp đó bị cáo, người bị hại có thể trình bày về sự việc phạm tội nêu trong cáo trạng
Khi HĐXX thấy rằng việc điều tra tại phiên tòa đã rõ ràng thì chủ tọa tuyên
bố kết thúc việc điều tra chuyển sang phần tranh luận, tranh luận tại phiên tòa tập trung vào các vấn đề về sự thật, chứng cứ của vụ án và việc áp dụng pháp luật Việc tranh luận tại phiên tòa được thực hiện theo thứ tự: KSV phát biểu ý kiến, sau
đó đến người bị hại và người đại diện tố tụng của họ phát biểu ý kiến, tiếp đến bị cáo tự bào chữa và người bào chữa bào chữa cho bị cáo và cuối cùng các bên tiến hành tranh luận với nhau Trong quá trình tranh luận, nếu có tình tiết mới phát sinh
và thấy rằng cần phải điều tra thì Chủ tọa phiên tòa có thể tuyên bố tạm dừng việc tranh luận để khôi phục việc điều tra tại phiên tòa cho đến khi điều tra làm rõ sự thật thì mới tiếp tục việc tranh luận28 Sau khi kết thúc việc tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng, tiếp đến HĐXX nghị án trong thời gian ngắn, rồi quay trở lại phiên tòa
để tuyên án Bị cáo cũng có thể được tuyên thẳng là có tội hoặc tuyên vô tội nếu xét thấy chứng cứ không đầy đủ và việc truy tố không có cơ sở29
Trong giai đoạn xét xử, ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử cùng xuất hiện với sự tham gia của các chủ thể thực hiện các chức năng này Tòa án không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện một số việc của chức năng buộc tội khi quy định cho Thẩm phán tham gia vào quá trình điều tra, thẩm vấn tại phiên tòa, trực tiếp xét hỏi và kiểm tra nhân chứng, chứng cứ Tuy nhiên, vai trò buộc tội của HĐXX ở mức độ hạn chế hơn vì luật TTHS Trung Quốc không đặt trách nhiệm chứng minh tại tòa thuộc về HĐXX mà đề cao vai trò buộc tội do KSV thực hiện tại
Trang 27phiên tòa Tại phần xét hỏi, KSV xét hỏi trước hành vi phạm tội của bị cáo, sau đó đến người bào chữa và người tham gia tố tụng khác, HĐXX không xét hỏi trước mà chỉ lắng nghe và có thể hỏi ở bất kỳ thời điểm nào về các tình tiết cần làm sáng tỏ nếu thấy cần thiết
Ở Nhật Bản, theo quy định của Hiến pháp thì cơ quan công tố là cơ quan thuộc nhánh quyền lực hành pháp Toàn bộ hệ thống Cơ quan công tố và các Công
tố viên dưới sự chỉ đạo, giám sát chung của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Tuy nhiên, tính độc lập và quyền tự quyết của Viện công tố vẫn được tôn trọng một cách rộng rãi;
Bộ trưởng Bộ Tư pháp không có quyền can thiệp vào công việc của Tổng trưởng công tố và Công tố viên Cơ cấu tổ chức của VKS Nhật Bản được tổ chức theo 4 cấp gồm: VKS tối cao, VKS cấp cao, VKS cấp tỉnh và VKS cấp quận, huyện, mỗi cấp Kiểm sát được tổ chức tương ứng với mỗi cấp Tòa án
Như vậy, cho dù theo truyền thống pháp luật như thế nào đi chăng nữa, cơ quan công tố (VKS) cũng đóng vai trò quan trọng trong tố tụng tư pháp, đó là cơ quan nhân danh Nhà nước buộc tội bị cáo trước Tòa bằng bản cáo trạng và bảo vệ việc buộc tội đó
Tuy theo mỗi truyền thống tố tụng mà vai trò thực hành quyền công tố của Công tố viên (KSV) khác nhau ở các giai đoạn TTHS và sự khác biệt rõ nét nhất thể hiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Những nước theo truyền thống tranh tụng, Công tố viên là chủ thể duy nhất buộc tội bị cáo tại tòa, do đó đóng vai trò là bên tranh tụng đối kháng với luật sư, đưa ra những chứng cứ tại tòa để buộc tội bị cáo, Tòa án đóng vai trò trung lập thụ động giữa bên buộc tội và bên bào chữa Trong khi đó, vai trò của Công tố viên tại phiên tòa của các nước theo truyền thống thẩm vấn lại rất thụ động tại phiên tòa, do HĐXX cũng có vai trò buộc tội, họ thẩm vấn tất cả các chứng cứ của vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra để rút ra quyết định về tội trạng cũng như mức hình phạt đối với bị cáo Cả hai truyền thống
tố tụng trên đều có ưu điểm và hạn chế Do đó, ở một số nước hiện nay có xu hướng giao thoa giữa thẩm vấn và tranh tụng, như ở Trung Quốc đã có sự cải cách mạnh
mẽ theo hướng ở giai đoạn điều tra, truy tố, nền tảng vẫn là thẩm vấn những đến giai đoạn xét xử đã chuyển gần đến tranh tụng30
30
Chuyên đề Tư pháp hình sự so sánh, in trong Thông tin khoa pháp lý của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, 1999, tr123
Trang 28Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn TTHS độc lập Nhiệm
vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án là kiểm tra, đánh giá kết quả thông tin, tài liệu đã thu thập được, trên cơ sở các hoạt động tại phiên tòa sơ thẩm để đề nghị hình thức và mức độ xử lý đối với người phạm tội VKS được giao quyền năng tố tụng ở các giai đoạn tố tụng, trong đó có giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho hoạt động xét xử
và phán quyết của Tòa án Theo đó, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung của quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, được thực hiện từ khi VKS ra bản Cáo trạng truy tố bị can trước Tòa án, kết thúc khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Trang 29CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ giai đoạn 1945 đến trước năm 1988
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, đất nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn thách thức, thù trong, giặc ngoài Để xây dựng một chính quyền dân chủ của nhân dân, thì cùng với việc tổ chức các cơ quan nhà nước khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký các sắc lệnh để bảo vệ quyền quyền tự do, dân chủ của công dân Như Sắc lệnh số: 33c/SL ngày 13/9/1945 thành lập các TA quân sự ở ba miền Bắc, Trung, Nam để xét xử tất cả các những người nào phạm vào tội xâm phạm đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà Đây là lần đầu tiên cơ quan Công tố được xác định bằng một văn bản pháp luật của Nhà nước
Chính quyền mới thành lập đã sử dụng ngay một cách có hiệu quả những biện pháp tổ chức và hoạt động của Tòa án trong công cuộc bảo vệ nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân và trật tự an toàn xã hội Đó là Sắc lệnh số 34/SL ngày 13-9-1945 bãi bỏ ngạch cơ quan hành chính và tư pháp cũ; Sắc lệnh số 47/SL ngày 10-10-1945 cho phép áp dụng luật cũ
để xét xử chung, nhưng không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa Từ đó, hình thành một bộ máy Tòa án mới không ngừng phát triển để phục vụ nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng
Cùng với việc hình thành một bộ máy Tòa án mới, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến tổ chức công tố, sử dụng bộ máy công tố làm công cụ sắc bén và có hiệu quả nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Chẳng hạn, Điều 5 Sắc lệnh số 32/SL ngày 13-9-1945 về thành lập Tòa án quân sự quy định về thành phần HĐXX và đại diện cơ quan Công tố “Ngồi xử có Chánh án và hai Hội thẩm, đứng buộc tội là một ủy viên quân sự (Công cáo viên)”31
Qua các Sắc lệnh nêu trên có thể thấy, từ năm 1945 đến năm 1950, tổ chức Công tố nằm trong ba tổ chức Tòa án, đó là Tòa án thường, Tòa án Quân sự
Điều 31 Sắc lệnh 13 ngày 24-1-1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán quy định: “Sau khi nghe các bị can, các người chứng, cáo trạng của ông biện lý, và sau cùng nghe lời cãi của bị can, Ông Chánh án, hai Hội thẩm và hai phụ thẩm nhân
31
Nguyễn Đức Lương (2002), "Bàn về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002", Kiểm sát, tr 21
Trang 30dân lui về phòng nghị xử để xét xử về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp giảm tội”32
Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1956 quy định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa và Sắc lệnh số 13/SL ngày 20-7-1946 bổ khuyết, sửa đổi Sắc Lệnh số 51 quy định rõ nhiệm vụ công tố và nhiệm vụ Công tố ủy viên thể hiện việc bắt buộc có mặt của Công tố viên tại phiên tòa và nội dung thủ tục xét hỏi, luận tội Điều 22 Sắc lệnh số 131 quy định: “Ông công tố viên Tòa án tỉnh thi hành quyền công tố trước Tòa án tỉnh”; Điều 26 quy định: “Ông Công tố ủy viên Tòa án tỉnh bắt buộc phải có mặt tại các phiên tòa hình và hộ Khi cuộc thẩm vấn ở phiên tòa xong, ông Công tố ủy viên thay mặt xã hội buộc tội bị can…”33
Qua các Sắc lệnh nếu trên có thể thấy, từ năm 1945 đến năm 1950, tổ chức Công tố nằm trong ba tổ chức Tòa án, đó là Tòa án thường, Tòa án Quân sự và Tòa
án binh Tòa án thường trực thuộc Bộ Tư pháp, xét xử các vụ án hình sự; Tòa án quân sự thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và khu, xét xử các vụ án chính trị; Tòa án binh trực thuộc Bộ Quốc phòng xét xử các vụ án trong quân đội Mỗi tổ chức Tòa án, có các chức danh công tố khác nhau: Tòa án thường là Biện lý; Tòa án quân sự là Công tố ủy viên; Tòa án binh là Ủy viên Chính phủ buộc tội34
Để tăng cường pháp chế XHCN, ngày 29/6/1958 Quốc hội có Nghị quyết thành lập Viện công tố, Viện công tố độc lập trực thuộc Chính phủ Đến ngày 01/07/ 1959, Nghị định số: 256 – TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố Theo đó khoản 3 Điều 1 Nghị định nêu rõ nhiệm vụ của Viện công tố
là “Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử của các Toà án”, và thành
lập cơ cấu tổ chức của Viện công tố như thành lập Vụ giám sát xét xử và các vụ,
phòng nghiệp vụ “Theo Nghị định thì nhiệm vụ của Viện công tố là kiểm sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật Nhà nước… bảo vệ lợi ích của công dân… giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử của các Tòa án” 35 Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước và bảo đảm quyền con người, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp mới, thay thế Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp năm 1959 quy định tổ chức lại các cơ quan Nhà nước, trong đó có việc xác định nhiệm vụ của VKSND
Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức VKSND đầu tiên Nội dung Luật này đã thể hiện VKSND không chỉ có chức năng
32
Nguyễn Hải Ninh (2003), Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Luận văn Thạc sỹ Luật
học, Trường Đại học luật Hà Nội
33
Nguyễn Đức Lương (2002), "Bàn về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002", Kiểm sát, tr 22
Trang 31kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội mà thực hiện cả chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Nội dung Luật này đã thể hiện VKSND không chỉ có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội mà thực hiện cả chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Trong giai đoạn này, miền Nam chưa thống nhất nên công tác kiểm sát nói chung, công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói riêng chỉ thực hiện ở miền Bắc Đây
là giai đoạn khai sinh mở đầu nên chỉ hình thành những qui định chung nhất về KSTTPL của VKSND đối với CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền điều tra; quyền truy tố tội phạm trong quá trình điều tra vụ án hình sự Luật này đã qui định và khái quát những nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của VKS khi THQCT và KSĐT tại Điều 13: “Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà
án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; KSTTPL trong việc điều tra của
cơ quan Công an và của CQĐT khác”
Trong giai đoạn này, các quy định của pháp luật TTHS về thực hành quyền công tố trong xét xử vụ án hình sự ở nước ta được thể hiện rõ ràng, cụ thể tại Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 của TAND tối cao)
Việc công bố bản cáo trạng không phải do KSV đọc trước phiên tòa, mà do Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Thư ký đọc bản cáo trạng Nếu trong khi chuẩn bị việc xét xử; TAND thấy có khả năng phải xét xử bị cáo với một tội danh nặng hơn thì phải đọc cả quyết định của TAND đưa vụ án ra xét xử36
Việc xét hỏi được tiến hành theo trình tự: HĐXX hỏi trước, sau đó đến KSV, người bào chữa, nguyên đơn dân sự Việc xét hỏi được bắt đầu từ việc hỏi bị cáo, người bị hại, người làm chứng Tuy nhiên, việc xét hỏi chủ yếu do HĐXX tiến hành
và do chủ tọa phiên tòa hỏi là chính, còn KSV chỉ hỏi khi cần thiết hoặc khi bị cáo chối cãi “sau khi HĐXX hỏi xong một việc, thì Chủ tọa phiên tòa cần hỏi đại diện VKS và người bào chữa có hỏi thêm gì không” Hoặc trường hợp bị cáo khai quanh
co, chối cải “nếu bị cáo vẫn chối cãi thì nên yêu cầu đại diện VKSND phát biểu thêm vấn đề mà bị cáo còn chối cãi”37
Việc tranh luận bị hạn chế bằng việc mỗi bên tham gia tranh luận đã được phát biểu ý kiến, theo đó cho thấy KSV cũng như những người tham gia tranh luận chỉ phải đáp lại ý kiến tranh luận của nhau một lần trong mỗi vấn đề còn có ý kiến khác nhau “ Những người tham gia tranh luận được đáp lại những ý kiến mà mình không
Trang 32đồng ý TAND sẽ kết thúc tranh luận khi các bên được phát biểu ý kiến, mỗi người được trả lời ý kiến của bên kia một lần về mỗi vấn đề còn có ý kiến khác nhau”38
Có thể nói đây là thời kỳ sơ khai, chưa có BLHS, BLTTHS, là thời kỳ khó khăn nhất để hình thành nên hệ thống pháp luật Các nhà làm luật đã xây dựng những qui định ban đầu về THQCT và KSĐT trong điều tra vụ án hình sự Các qui định này phù hợp với điều kiện thực tế, dù chưa đầy đủ, toàn diện nhưng đã tạo ra khuôn mẫu mang tính bắt buộc và được tổ chức thực hiện thống nhất, nghiêm minh trên toàn miền Bắc, góp phần tích cực phòng, chống tội phạm, bảo vệ thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam
2.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 1988 đến trước năm 2003
Ngày 28/6/1988, Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua BLTTHS đầu tiên, trong đó quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự BLTTHS ra đời, đánh dấu một bước tiến đáng kể trong khoa học Luật TTHS ở nước ta, đáp ứng nhu cầu về đổi mới dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội do Đảng ta khởi xướng Trên cơ sở ghi nhận các nguyên tắc tố tụng truyền thống đã được đề cập trong các Bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980, các Luật Tổ chức VKSND và Luật Tổ chức TAND năm 1960, năm
1981, cùng với hoạt động pháp điển hóa một cách khoa học những nội dung của các văn bản pháp luật TTHS trước đó; BLTTHS năm 1988 đã quy định một số nguyên tắc mới thể hiện sự bình đẳng, cũng như bảo đảm các quyền lợi không chỉ của bị can, bị cáo mà cả những người tham gia tố tụng khác Các nguyên tắc cơ bản như: bảo đảm sự tham gia TTHS của các tổ chức xã hội và công dân (Điều 8), không ai
có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án (Điều 10), xác định sự thật của vụ án (Điều 11); bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Điều 12), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 20)… Tại
Điều 23 đã có quy định liên quan đến chức năng của VKS: “VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”
Liên quan tới thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, BLTTHS giành hai Chương XIX và XX để quy định về trình tự xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo cho hoạt động điều tra công khai tại phiên tòa, tranh luận bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa đủ để chứng minh tội phạm
và người phạm tội một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ BLTTHS quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, KSV tiến
38 TAND tối cao (1976), Tập hệ thống hóa về luật lệ tố tụng hình sự, Hà Nội, tr 143
Trang 33hành đọc bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận tại phiên tòa
Về việc công bố bản cáo trạng được quy định tại Điều 180: “Trước khi xét hỏi, KSV đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến bổ sung, nếu có” 39 KSV là người bắt buộc phải có mặt ở tất cả các phiên tòa hình sự Đây là những điểm mới lần đầu tiên được quy định trong BLTTHS, việc quy định KSV đọc bản cáo trạng theo chúng tôi là phù hợp với lý luận và thực tiễn hoạt động TTHS, với vai trò của KSV – người đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa, là chủ thể thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội
Về việc tham gia xét hỏi: Khi thực hành quyền công tố tại phiên tòa, KSV tham gia vào quá trình xét hỏi để làm rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội Cũng như các quy định của pháp luật TTHS trước đây, theo quy định của BLTTHS năm 1988 thì việc xét hỏi cũng vẫn do HĐXX thực hiện là chính
để làm sáng tỏ những vấn đề chưa rõ, những điểm còn mâu thuẫn…; còn KSV chỉ
hỏi bổ sung Điều 181BLTTHS quy định: “khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các hội thẩm nhân dân, sau đó đến KSV, người bào chữa Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ” Chính quy định về trình tự xét hỏi và xét hỏi đối
với những người tham gia phiên tòa như vậy, đã làm giảm đi vai trò của KSV thực hành quyền công tố tại phiên tòa và dường như làm tăng thêm trách nhiệm chứng minh tội phạm, người phạm tội cho HĐXX
Luận tội và tranh luận: Hoạt động tranh luận được bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội Sau đó,
bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến, người bị hại, nguyên đơn dân sự… được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
Tranh luận tại phiên tòa, Điều 192 BLTTHS năm 1988 quy định: “Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án” Quy định này thực chất là sự pháp điển hóa Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm theo thông tư số 16-TATC ngày 27-9-1974 của TAND tối cao) Quy định của Bộ luật đã thể hiện được sự bình đẳng giữa các
39
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988
Trang 34chủ thể tham gia tranh luận tại phiên tòa, nhưng vẫn hạn chế ở chỗ mỗi người tham gia tranh luận chỉ được đáp lại ý kiến của người khác một lần đối với vấn đề mà họ không đồng ý Theo chúng tôi, quy định này là chưa phù hợp với thực tiễn, hạn chế việc làm sáng tỏ những tình tiết khách quan của vụ án và hạn chế quyền bào chữa của bị cáo, quyền tự bảo vệ quyền lợi của đương sự.
2.3 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Thể chế hóa Nghị quyết 08-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và trên cơ sở kế thừa các quy định của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 có những sửa đổi, bổ sung rất quan trọng trong việc dân chủ hóa hoạt động TTHS theo hướng mở rộng tranh tụng; ghi nhận quyền bình đẳng, dân chủ của những người tham gia tố tụng và đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo …
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có phạm vi bắt đầu thực hành quyền công tố trước khi mở phiên tòa(chuẩn bị xét xử)
và thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm
Nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” (Điều 23) đã khẳng định vai trò trọng tâm, xuyên suốt của KSV khi thực hành quyền công tố trong TTHS Bộ luật đã quy định rõ hơn về giới hạn xét xử so với trước đây, qua đó vừa đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, đồng thời còn thể hiện tinh thần tranh tụng dân chủ tại phiên tòa “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”(Điều 196)
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (trước khi mở phiên tòa): Trước khi mở phiên tòa, có hai vấn đề quan trọng nhất liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố của VKS: Đó là việc VKS rút quyết định truy tố
và việc xử lý trường hợp TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung
+ VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa là trường hợp trong khoảng thời gian khi hồ sơ vụ án chuyển sang TA và trước khi TA mở phiên tòa
VKS rút quyết định truy tố khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều
107 của BLHS: 1 -Không có sự kiện phạm tội; 2 - Hành vi không cấu thành tội
Trang 35phạm; 3 - Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4 - Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; 5 - Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6 - Tội phạm đã được đặc xá; 7 - Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
VKS cũng phải rút quyết định truy tố khi có một trong những căn cứ sau: 1 - Khi có căn cứ theo quy định tại Điều 19 BLHS (trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội); 2 - Khi có căn cứ theo quy định tại Điều 25 BLHS (trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự); 3 - Khi có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều
69 BLHS (trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội)
Như vậy, VKS rút quyết định truy tố nhất thiết phải bằng văn bản gửi cho Toà án đang thụ lý vụ án, trong quyết định đó phải nêu rõ lý do rút quyết định truy
tố và đề nghị Toà án đình chỉ vụ án.Thời gian chuẩn bị xét xử có hai giai đoạn: trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, do đó, nếu VKS rút quyết định truy tố trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì việc định chỉ vụ án sẽ do Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà
ra quyết định, nếu việc rút quyết định truy tố sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì việc đình chỉ vụ án phải do HĐXX quyết định Đây cũng là vấn đề về lý luận còn nhiều ý kiến khác nhau, cần được giải thích, hướng dẫn Về nguyên tắc, khi VKS đã rút quyết định truy tố thì Toà án phải chấp nhận và ra quyết định đình chỉ vụ án Nếu không đồng ý với quyết định rút quyết định truy tố của VKS thì có thể báo cáo với VKS cấp trên Tuy nhiên, BLTTHS 2003 chưa có quy đinh nào về vấn đề này
+ Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung
Nếu tài liệu điều tra bổ sung không làm thay đổi nội dung quyết định truy tố trước đây hoặc việc điều tra bổ sung không thể tiến hành theo yêu cầu của TA thì VKS ban hành văn bản trả lời TA và giữ nguyên quan điểm truy tố
Nếu tài liệu điều tra bổ sung làm thay đổi nội dung quyết định truy tố, cụ thể là: Thay đổi về tội danh hoặc xác định có đồng phạm khác, VKS phải yêu cầu CQĐT thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can Sau khi hoàn thành việc điều tra bổ sung, KSV phải lập lại bản cáo trạng cho phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mới thu thập được Đối với trường hợp thay đổi áp dụng điểm, khoản của điều luật thì VKS yêu cầu KSV yêu cầu CQĐT kết luận điều tra bổ sung, sau đó lập cáo trạng truy tố theo điểm, khoản mới
Trang 36Nếu tài liệu điều tra bổ sung dẫn đến việc vụ án bị đình chỉ thì VKS phải thông báo cho TA biết; nếu đình chỉ vụ án đối với một hay một số bị can trong vụ
án, thì phải tiếp tục lập cáo trạng để truy tố các bị can còn lại
Thực hành quyền công tố trước khi mở phiên tòa của VKS với hai vấn đề rút quyết định truy tố và xử lý trường hợp tòa trả điều tra bổ sung Đây là biện pháp để đảm bảo cho việc truy tố của VKS không bị oan, sai, khắc phục những sai lầm của VKS sau khi đã có quyết định truy tố, khắc phục TA tuyên bị cáo không phạm tội hoặc khi có căn cứ mới để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo Do đó, cần phải có điều luật quy định cụ thể về thủ tục rút quyết định truy tố và TA trả điều tra
bổ sung trước khi mở phiên tòa
+ Về giới hạn xét xử Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy định về giới hạn của việc xét xử: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố"
- Thực hành quyền công tố tại phiên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, theo quy định tại các điều 206, 207, 217 BLTTHS năm 2003, KSV có nhiệm vụ: 1 - Đọc cáo trạng, quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án; 2 - Thẩm vấn
để làm rõ những vấn đề có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm chững minh những tài liệu chứng cứ trong việc truy tố của VKS; 3 - Thực hiện việc luận tội; 4
- Tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Khi tranh luận, KSV phải đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, lập luận một cách thuyết phục để bảo vệ quan điểm truy tố của VKS (nếu kết quả kiểm công khai tại phiên tòa xác nhận quan điểm truy tố của VKS theo cáo trạng là đúng) bác bỏ những ý kiến không đúng
do luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đưa ra
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự VKS có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+ Đọc cáo trạng hoặc quyết định truy tố và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa:
Bản cáo trạng có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTHS ở nước ta, thể hiện kết quả của hoạt động thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn điều tra, truy tố, là cơ sở để Toà án tiến hành hoạt động xét xử, là văn bản thể hiện quan điểm của VKS trong việc giải quyết vụ án hình sự
Bản cáo trạng là văn bản pháp lý mang tính quyền lực nhà nước - quyền công tố do VKS lập để truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử, thể hiện quan điểm của VKS đối với tội phạm và người phạm tội
Trang 37+ Tham gia xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm:
Việc thực hiện những hoạt động này là nhằm bảo đảm cho đại diện VKS làm
rõ những cơ sở pháp lý cũng như những căn cứ thực tế của việc truy tố, phát hiện ra những hạn chế, thiếu sót trong quan điểm truy tố của VKS để có biện pháp khắc phục kịp thời, đồng thời bảo vệ quan điểm của VKS, làm cơ sở cho HĐXX cấp sơ thẩm có thông tin để ra bản án hoặc quyết định có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Về trình tự xét hỏi, Điều 207 BLTTHS 2003 quy định KSV tham gia xét hỏi sau khi Chủ toạ phiên toà, các Hội thẩm nhân dân đã hỏi xong Trong khi tham gia xét hỏi, KSV có thể hỏi bất kỳ ai, nếu thấy cần thiết Mục đích của việc xét hỏi là khẳng định lại và kiểm tra lại kết quả điều tra
Xét hỏi tại phiên tòa là phần trọng tâm của hoạt động xét xử Bởi vì, đây là việc điều tra chính thức để Tòa án ra phán quyết về vụ án Xét hỏi tại phiên tòa khác với việc xét hỏi trong giai đoạn điều tra không chỉ về nguyên tắc tố tụng mà cả về hình thức,đặc điểm và các thủ tục đối với từng người tham gia tố tụng
+ Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm:
Đối với phiên toà sơ thẩm, sau khi kết thúc phần xét hỏi, căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên toà, nếu thấy chưa đủ căn cứ để truy tố hoặc quyết định truy tố chưa phù hợp với các tình tiết thực tế của vụ án thì KSV có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn tại phiên tòa theo quy định tại Điều 195 BLTTHS
Về luận tội của KSV thực hiện theo quy định tại Điều 217 BLTTHS Điều
217 BLTTHS năm 2003 quy định sau khi kết thúc việc xét hỏi, KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội
+ Tranh luận với bị cáo, với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm:
Sau lời luận tội của KSV, phiên toà sẽ chuyển sang phần tranh luận, KSV phải
có trách nhiệm bảo vệ quan điểm truy tố của VKS Theo quy định của pháp luật TTHS thì bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình Thời gian tranh luận không bị hạn chế, KSV phải có nghĩa vụ đáp lại tất cả các ý kiến, yêu cầu có liên quan đến vụ án mà người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đưa ra
Về yêu cầu đối với KSV khi tranh luận, trước hết phải khẳng định tranh luận
là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm mà KSV có nghĩa vụ phải