1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật

115 931 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tính chất là một dạng đồng phạm đặc biệt, thể hiện sự nguy hiểm cao bởi một nhóm người có sự câu kết chặt chẽ thông qua chính cơ cấu tổ chức băng, nhóm, tổ chức, liên minh … và sự bà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG CÔNG BÌNH

PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG CÔNG BÌNH

PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC HẢI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trương Công Bình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 9

1.1 Khái niệm và các đặc điểm của phạm tội có tổ chức 9

1.1.1 Khái niệm phạm tội có tổ chức 9

1.1.2 Các đặc điểm của phạm tội có tổ chức 25

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển những quy định về phạm tội có tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam 31

1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 31

1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 33

1.3 Phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới 34

1.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 34

1.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 39

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ 45

2.1 Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội có tổ chức 45

2.1.1 Những quy định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự hiện hành 45

2.1.2 Văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự hiện hành 53

2.2 Thực tiễn xét xử các trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 57

2.2.1 Tình hình công tác xét xử 57

Trang 5

Chương 3: NHỮNG CƠ SỞ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN

THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 76

3.1 Những cơ sở hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự Việt Nam 76

3.1.1 Cơ sở pháp lý 76

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 81

3.1.3 Cơ sở lý luận 87

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự Việt Nam 90

3.2.1 Kiến nghị tại phần chung của Bộ luật hình sự 91

3.2.2 Kiến nghị tại phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 96

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống phạm tội có tổ chức 97

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

Bảng 2.1: Thống kê các mức độ phạm tội (nghiêm trọng, rất nghiêm

trọng, đặc biệt nghiêm trọng) trong các vụ án phạm tội có

Bảng 2.3: Số lượng vụ án có tình tiết “Phạm tội có tổ chức” từ năm

Bảng 2.4: Số lượng bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm tội có

Bảng 2.5: Thống kê các nhóm tội phạm được thực hiện dưới hình

Bảng 2.6: Thống kê về giới tính của các bị cáo trong các vụ án có

Bảng 2.7: Độ tuổi của các bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phần lớn các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam sử dụng luật hình sự như là công cụ hiệu quả để đấu tranh chống tội phạm được thực hiện dưới hình thức “có tổ chức”, tuy rằng cách quy định về dấu hiệu này ở các quốc gia lại có những khác biệt

Với tính chất là một dạng đồng phạm đặc biệt, thể hiện sự nguy hiểm cao bởi một nhóm người có sự câu kết chặt chẽ thông qua chính cơ cấu tổ chức (băng, nhóm, tổ chức, liên minh …) và sự bàn bạc, tính toán, phân công, lên kế hoạch nhằm thực hiện tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức đã xuất hiện từ khá lâu trong lịch

sử lập pháp hình sự của Việt Nam, được đề cập lần đầu tiên trong Thông tư số 442/TTG ngày 19/11/1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm Cho đến nay, phạm tội có tổ chức được ghi nhận trong Bộ luật hình

sự năm 1999 với tính chất là “hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”

Về mặt lý luận luật hình sự, còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản

chất pháp lý của khái niệm phạm tội có tổ chức Còn nhiều luồng quan điểm trái chiều liên quan đến cách hiểu về dạng đồng phạm đặc biệt này – phạm tội có tổ chức

Về mặt lập pháp hình sự, khó khăn gặp phải là hệ thống pháp luật hiện

nay chưa bảo đảm được công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có

tổ chức, thiếu đồng bộ và việc sửa đổi bổ sung còn chậm, chưa bắt kịp với xu thế đang diễn ra Chính vì thế, pháp luật hình sự nước ta chưa có một cơ chế thực sự để điều chỉnh trường hợp này

Trên phương diện thực tiễn, việc áp dụng những quy định về phạm tội

Trang 8

có tổ chức đã gặp phải những vướng mắc như thế nào là sự câu kết chặt chẽ Đối với công tác điều tra, phần lớn các báo cáo của cơ quan công an các tỉnh thành, trong đó có tỉnh Đắk Lắk, thể hiện các trường hợp phạm tội có tổ chức bằng cách diễn đạt khác, đó là tổ chức tội phạm, băng, ổ, phạm tội theo kiểu

“xã hội đen”… gây mất thống nhất với các báo cáo của các cơ quan tiến hành

tố tụng khác như Viện kiểm sát hay Tòa án Về công tác xét xử, do nhận thức

về bản chất pháp lý của khái niệm phạm tội có tổ chức còn chưa thống nhất, nên các Tòa án nói chung và các tòa tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng, đã phạm sai lầm khi kết luận đồng phạm có thông mưu trước thông thường là phạm tội có

tổ chức hoặc ngược lại vụ án có tổ chức lại kết luận là đồng phạm thông thường Hoặc có những bản án tuy không có dấu hiệu sai phạm về mặt áp dụng pháp luật, nhưng việc quy định chưa rõ nghĩa về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự đã cho thấy sự bất hợp lý giữa việc áp dụng pháp luật hình sự vào thực tiễn là chưa phản ánh chính xác được “tính có tổ chức” của

vụ án, chưa rõ ràng của sự “câu kết chặt chẽ” theo tinh thần điều luật quy định

về phạm tội có tổ chức, cũng như trong nhiều trường hợp chưa phân định rõ được vai trò trong các vụ án phạm tội có tổ chức cho nên việc quyết định hình phạt đối với các bị cáo nhiều khi bị đánh đồng, chưa lượng hóa được hình phạt phù hợp với vai trò và các tình tiết của vụ án đối với từng bị cáo

Trên phương diện thực hiện cam kết quốc tế, Việt Nam đã ký tham

gia Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vào tháng 12 năm 2000, phê chuẩn công ước này vào ngày 29 tháng 12 năm

2011 Để bảo đảm cam kết của Việt Nam đối với Công ước, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Công ước vào ngày 18 tháng 4 năm 2013 Những quốc gia tham gia Công ước, trong đó có Việt Nam, có nghĩa vụ tội phạm hoá hành vi tham gia nhóm tội phạm có tổ chức Tuy nhiên trong Bộ luật hình sự Việt Nam chưa quy định về tổ chức tội phạm cũng như

Trang 9

chưa có quy định về hành vi tham gia nhóm tội phạm có tổ chức (tổ chức tội phạm) Vì vậy, để có cơ sở pháp lý đấu tranh chống hình thức phạm tội nguy hiểm này và thực hiện các nghĩa vụ với tư cách là thành viên của Công ước thì việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Bộ luật hình sự, đặc biệt là các quy định về tổ chức tội phạm và hành vi tham gia vào tổ chức này là rất cần thiết

Những luận điểm nêu trên đã chứng tỏ lý do nghiên cứu đề tài “Phạm tội

có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” là quan trọng và cấp thiết trong việc hoàn thiện pháp luật hình

sự để đấu tranh chống và phòng ngừa loại tội phạm nguy hiểm này tại Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Đồng phạm cũng như phạm tội có tổ chức là những vấn đề có nội dung phong phú và phức tạp được các luật gia và các nhà nghiên cứu luật quan tâm chú ý và đề cập đến trong những công trình nghiên cứu của mình dưới góc độ luật hình sự, tội phạm học hoặc xã hội học pháp luật

Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu vấn đề đồng phạm có tổ chức dưới các góc độ khác nhau ở mức chuyên sâu hoặc khái quát hóa đã được công bố trên các sách, tạp chí, luận văn, luận án Nhưng tựu chung lại thì các nghiên cứu chủ yếu theo ba xu hướng đó là: tiếp cận dưới góc độ tội phạm học, luật hình sự và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã hội Dưới góc độ khoa học luật hình sự đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về phạm tội có tổ chức, có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu của

các tác giả như: GS.TSKH Lê Cảm với tập sách “Các nghiên cứu chuyên

khảo về phần chung Bộ luật hình sự” (NXB Công an nhân dân, 2000) đã đề

cập đến chế định đồng phạm trong đó có nói đến phạm tội có tổ chức, sách

“Đồng phạm trong luật Hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp (NXB

Tư Pháp, 2007) với nội dung trình bày về khái niệm đồng phạm, các loại người đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong

Trang 10

đồng phạm Mặt khác, có một số bài viết, đề tài tập trung phân tích trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam, chẳng hạn như bài

“Phạm tội có tổ chức và trách nhiệm hình sự đối với bọn phạm tội có tổ chức” của tác giả Nguyễn Vạn Nguyên, hay đề tài luận văn cao học của

Nguyễn Minh Đức “Hình thức phạm tội có tổ chức trong chế định đồng phạm

theo pháp luật Hình sự Việt Nam” Tiếp cận vấn đề ở góc độ tội phạm học là

một số bài viết của các tác giả nói đến vấn đề đồng phạm có tổ chức với tư cách là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội ở những khía cạnh khác nhau

Đó là các bài viết như: “Vấn đề tội phạm có tổ chức và trách nhiệm hình sự

pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999” của GS.TS Hồ Trọng

Ngũ đăng trên tạp chí Lập pháp số 6/2009, bài nghiên cứu “Đấu tranh phòng,

chống tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS.TS Trần Hữu Ứng đăng trên tạp chí Cộng sản điện tử, hoặc

loạt bài viết của TS Nguyễn Khắc Hải: “Đấu tranh phòng chống tội phạm có

tổ chức theo pháp luật hình sự Liên bang Nga” trong tạp chí Khoa học – Đại

học Quốc gia Hà Nội số 23/2007, “Nhận diện tội phạm có tổ chức” (Kỷ yếu

hội thảo khoa học về sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999) đã tạo ra những nhận thức cơ bản trong việc tìm hiểu về đồng phạm có tổ chức Thêm vào đó, có khá nhiều các nghiên cứu về đồng phạm có tổ chức với tư cách là vấn đề mới

của xã hội Đầu tiên phải kể đến cuốn sách mang tên “Tội phạm có tổ chức –

lịch sử và vấn đề hôm nay” của GS.TS Hồ Trọng Ngũ trả lời cho câu hỏi:

“tội phạm có tổ chức – nhận thức mới hay hiện tượng xã hội mới?”, bài viết

“Tội phạm có tổ chức và việc bổ sung chế định tổ chức tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam” của TS Lê Thị Sơn trong tạp chí Luật học số

12/2012, đề tài luận án của TS Nguyễn Trung Thành “Phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam và việc đấu tranh phòng chống” đề cập chi tiết đến trường hợp đồng phạm có tổ chức ở cả góc độ khoa học luật hình sự và

Trang 11

tội phạm học Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã đề cập trên một

số góc độ về trường hợp phạm tội có tổ chức, nhưng việc giải thích chi tiết trường hợp phạm tội có tổ chức về mặt cơ cấu và hoạt động của nó cũng như một số hình thức thực hiện tội phạm mới liên quan đến đồng phạm có tổ chức vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ Vì thế, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đất nước nói chung và tại Đắk Lắk nói riêng xung quanh phạm tội có tổ chức vẫn đang là điều cần được nghiên cứu để sửa đổi và hoàn thiện

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích cơ bản của đề tài là làm sáng tỏ một cách có hệ thống, đầy đủ

và chi tiết về mặt lý luận hiện tượng tội phạm có tổ chức mà hình thức thể hiện của nó là phạm tội có tổ chức, phân tích một cách khoa học và có căn cứ những vấn đề có liên quan đến phạm tội có tổ chức để qua đó có được cái nhìn thống nhất, toàn diện, đầy đủ và đóng góp về mặt khoa học để góp phần giải quyết những vướng mắc đang được đặt ra trong trường hợp đồng phạm đặc biệt này Từ việc phân tích những vấn đề lý luận, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, thực trạng pháp luật Việt nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự về phạm tội có tổ chức

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:

a Khái niệm, các đặc điểm và lịch sử hình thành và phát triển các quy định về phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam

b Phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự của một số quốc gia trong đấu tranh chống phạm tội có tổ chức

c Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội có tổ chức

d Thực tiễn và những nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong công tác xét

xử các vụ án phạm tội có tổ chức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Trang 12

e Những cơ sở pháp lý và thực tiễn trong nước và quốc tế để hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức, cũng như nâng cao hiệu quả đấu tranh chống loại tội phạm nguy hiểm này

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài nêu trên là thành tựu từ các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử nhà nước và pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội học pháp luật, pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, tội phạm học, lĩnh vực triết học, thành tựu từ các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, sách chuyên khảo cũng như các bài đăng trên tạp chí và các báo của các nhà khoa học – luật gia trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước trong việc giải thích thống nhất các trường hợp cụ thể trong thực tiễn xét xử có liên quan đến trường hợp trên trong các văn bản thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự do các cơ quan bảo vệ pháp luật ban hành ở các mức độ khác nhau

Phương pháp luận được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu là: phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng duy vật chủ nghĩa Mác – Lê Nin Để từ đó xây dựng, đề cập đến những vấn đề tương ứng trong các quan điểm về tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, củng cố pháp chế và bảo vệ các quyền con người

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn đồng thời sử dụng các phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từ vấn đề được đặt ra Các phương pháp tiếp cận được sử dụng đó là: phương pháp phân tích – chứng minh, logic, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử, liệt kê, Đặc biệt trong đó tác giả nhấn mạnh chú ý tới các phương pháp tổng hợp – hệ thống, đối chiếu so sánh, lịch sử phân tích, thống kê, khảo sát thực tiễn,

Trang 13

phương pháp xã hội học, để qua đó đưa ra được những kết luận khoa học mang tính thuyết phục cao, đề xuất các phương án cụ thể sao cho phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự có liên quan đến trường hợp phạm tội có tổ chức

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Kế thừa các nghiên cứu khoa học về phạm tội có tổ chức của các học giả luật học, luật gia trong nước và quốc tế, luận văn có những đóng góp mới trong việc nghiên cứu, cụ thể là:

a Làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện một số vấn đề lý luận về trường hợp đồng phạm có tổ chức, góp phần tiếp cận khái niệm, các đặc điểm của trường hợp phạm tội có tổ chức;

b Nghiên cứu so sánh, đặt pháp luật hình sự Việt Nam trong mối quan

hệ với pháp luật quốc tế mà cụ thể là Công ước quốc tế về chống tội phạm có

tổ chức xuyên quốc gia và pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

và Liên Bang Nga để làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện;

c Làm rõ thực tiễn xét xử các vụ án về phạm tội có tổ chức trên địa bàn thành tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2009-2014;

d Khảo sát thực tiễn các dạng phạm tội có tổ chức của một số quốc gia;

e Đưa ra một số đề xuất hoàn thiện những quy định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành;

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn này gồm có phần mở đầu, các chương nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Cụ thể các chương nội dung bao gồm:

Chương 1: Các vấn đề chung về phạm tội có tổ chức

1.1 Khái niệm và các đặc điểm của phạm tội có tổ chức

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển những quy định về phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam

Trang 14

Chương 2: Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội có

3.1 Những cơ sở hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức trong

Bộ luật hình sự Việt Nam

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự Việt Nam

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống phạm tội

có tổ chức

Trang 15

Chương 1

NHẬN THỨC CHUNG VỀ PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC

1.1 Khái niệm và các đặc điểm của phạm tội có tổ chức

1.1.1 Khái niệm phạm tội có tổ chức

Về mặt lý luận luật hình sự, còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của khái niệm phạm tội có tổ chức Do luật hình sự của các nước trên thế giới quan niệm về vấn đề này khác về chất so với luật hình sự của nước ta ngay ở tên gọi của khái niệm như Bộ luật Hình sự Cộng hòa Pháp gọi là băng

có tổ chức, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga gọi là nhóm có tổ chức mà băng, nhóm là chủ ngữ khác hẳn với phạm tội chỉ đóng vai trò là vị ngữ Vì vậy, ở đây chúng tôi chỉ nêu ra một số quan điểm còn khác nhau xung quanh khái niệm phạm tội có tổ chức ở nước ta[1, tr.168-172]

Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, phạm tội có tổ chức dứt khoát phải

là hình thức đồng phạm phức tạp, tức là phải có sự phân công vai trò giữa những người cùng thực hiện tội phạm Nếu giữa những kẻ phạm tội đều có vai trò thực hiện tội phạm như nhau thì đó là đồng phạm giản đơn chứ không phải phạm tội có tổ chức

Quan điểm này sai lầm ở chỗ, đã tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề được nghiên cứu, đó là vai trò của những người đồng phạm Thực tiễn cũng

đã chỉ ra rằng, sự phân công vai trò khác nhau giữa những người đồng phạm tuy là dấu hiệu phổ biến của hình thức phạm tội có tổ chức nhưng không phải

là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu duy nhất Vì vậy, vẫn có những trường hợp phạm tội có tổ chức, mà trong đó những người đồng phạm không những câu kết chặt chẽ về ý thức phạm tội, mà còn có sự phối kết hợp chặt chẽ với nhau khi thực hiện tội phạm nhưng khi thực hiện tội phạm thì mỗi người đều là người thực hành mà không có người tổ chức, người xúi giục hoặc là người

Trang 16

Loại quan điểm thứ hai cho rằng, ở hình thức phạm tội có tổ chức,

những người đồng phạm phải phạm nhiều tội hoặc phạm một tội, nhưng nhiều lần và có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong một thời gian dài Theo quan điểm này, phạm vi những vụ đồng phạm có được xác định là phạm tội có tổ chức sẽ quá thu hẹp vì chỉ có một số ít các tổ chức chống chính quyền nhân dân, tổ chức phạm tội khác mới thỏa mãn được điều kiện này Nếu thực hiện theo quan điểm này, công tác điều tra, truy tố, xét xử sẽ nương nhẹ nhiều trường hợp phạm tội có đầy đủ căn cứ để xác định là hình thức đồng phạm đặc biệt, có tính chất, mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, vì vậy sẽ giảm hiệu quả công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm nói riêng

Loại quan điểm thứ ba đồng nhất khái niệm phạm tội có tổ chức với

đồng phạm có thông mưu trước Loại quan điểm này sai lầm ở chỗ đã đồng nhất giữa cái chung là đồng phạm có thông mưu trước với cái riêng là hình thức phạm tội có tổ chức Thực ra, đồng phạm có thông mưu trước và hình thức phạm tội có tổ chức là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất: phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có thông mưu trước nhưng kèm theo nó là những dấu hiệu đặc trưng khác Theo logic hình thức thì ngoại diên của khái niệm phạm tội có tổ chức nằm trong ngoại diên của khái niệm đồng phạm có thông mưu trước Xét về mức độ tính nguy hiểm cho xã hội, thì phạm tội có tổ chức có mức độ tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn đồng phạm

có thông mưu trước Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng đã thể hiện quan điểm này khi xác định đồng phạm có thông mưu trước và nhóm có tổ chức đều là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của nhiều điều luật, nhưng nhóm có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt cao hơn

Ví dụ: Điều 203 - Tội bắt cóc con tin, quy định đồng phạm có thông mưu trước là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của khoản 2 với mức

Trang 17

hình phạt từ 5 năm đến 15 năm tù thì nhóm có tổ chức được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của khoản 3 Điều này với mức hình phạt

“câu kết chặt chẽ” Có quan điểm cho rằng phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội đặc biệt có sự câu kết chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của các thành viên cùng một tổ chức tội phạm [2, tr.460-461] Sự câu kết chặt chẽ của những người đồng phạm chính là đặc điểm chủ yếu nhất nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm cho

xã hội cao hơn cả của hình thức đồng phạm này và nó thường có các dấu hiệu đặc trưng riêng về mặt khách quan và chủ quan

Cũng có quan điểm nhận diện phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt – đó chính là đồng phạm có tổ chức Tính “có tổ chức” được thể hiện có sự bàn bạc, phân công vai trò người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện hành vi phạm tội, có kỷ luật, có quy ước hoạt động trước khi thực hiện tội phạm có vạch kế hoạch, có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng, có đề ra các tình huống xấu khi xảy ra … để cùng thống nhất hành động [3, tr 61]

Theo tính chất tồn tại, phạm tội có tổ chức gồm: phạm tội có tổ chức

một lần và phạm tội có tổ chức kéo dài “Phạm tội có tổ chức một lần (hoặc

một số lần) là hình thức phạm tội có tổ chức có sự câu kết chặt chẽ giữa những người phạm tội trong thời gian tương đối ngắn để cùng nhau thực hiện một tội phạm hoặc một số tội phạm” [4, tr.12] Ở trường hợp này, những

Trang 18

người đồng phạm mới chỉ thực hiện tội phạm được một lần hoặc một số lần thì bị phát hiện, bị bắt và bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có thể thời gian câu kết để chuẩn bị phạm tội đã diễn ra trong thời gian tương đối dài Phạm tội có tổ chức dạng này thông thường xuất hiện ở các tội xâm phạm an ninh quốc gia, khủng bố, bạo loạn, phá hoại cơ sở vật chất kĩ thuật, trốn khỏi trại giam, thậm chí xâm hại đến đối tượng được bảo vệ nghiêm ngặt hoặc đặc biệt nghiêm ngặt chẳng hạn như tài sản có giá trị lớn, rất lớn hay những nhân vật giữ vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước

Để tiếp cận khái niệm phạm tội có tổ chức với tính chất là một hình thức phạm tội có tính nguy hiểm cao, trước hết cần làm rõ đến khái niệm tội phạm có tổ chức bởi tội phạm có tổ chức chính là hiện tượng tiêu cực mà trong đó những hoạt động phạm tội có tổ chức (hay còn gọi là đồng phạm có

tổ chức) được thực hiện bởi một nhóm người có cơ cấu nhất định (câu kết với nhau) nhằm mục đích lợi nhuận hay các mục đích khác

Không giống như những người phạm tội ở đường phố hay thậm chí người phạm tội chuyên nghiệp, những người phạm tội có tổ chức làm việc với nhau trên cơ sở có tính liên tục trong các lớp vỏ bọc khá đa dạng với những hoạt động bất hợp pháp Có một nhóm tội phạm nòng cốt và một nhóm lớn hơn nhiều là các cá nhân vệ tinh làm việc với họ, thực hiện nhiệm vụ cụ thể và cung cấp dịch vụ cụ thể, nhưng những cá nhân này chủ yếu là những tác nhân kinh tế

và chính trị hợp pháp Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các chuyên gia máy tính

và tư vấn tài chính là những nhân tố quan trọng đối các nhóm tội phạm có tổ chức không kém những người bán ma túy, môi giới cá cược hay chăn dắt gái mại dâm Những cá nhân này được đưa vào một mạng lưới tội phạm bởi những dịch vụ của họ là cần thiết Sự kết hợp này rất tiện dụng Nó làm cho việc thực thi pháp luật trở nên hết sức khó khăn để theo dõi và truy ngược lại các hoạt động cụ thể của những người nòng cốt của nhóm tội phạm

Trang 19

Một vấn đề dai dẳng và kéo dài liên quan đến cấu trúc của nhóm tội phạm là việc sử dụng cấu trúc tương tự như của công ty để mô tả cấu trúc ra quyết định tổ chức tội phạm Ấn tượng còn lại tương tự như của công ty là tổ chức tội phạm có nhóm điều hành và cấu trúc phân cấp thứ bậc kiểm soát hoạt động và truyền lệnh cho nhân viên cấp dưới Định nghĩa truyền thống này nhấn mạnh vai trò của ông chủ, tương tự như giám đốc điều hành của công ty, một

ủy ban, tương đương với ban giám đốc; các trưởng ban (đội trưởng) là những người quản lý trung gian của bộ máy và những người lính là những công nhân thực sự thực hiện các hoạt động bất hợp pháp Như chúng ta đã thấy, một cái nhìn truyền thống về tổ chức tội phạm như vậy là sai lầm cơ bản

Quan điểm mới về tội phạm có tổ chức đưa ra bởi cơ quan thực thi pháp luật châu Âu bác bỏ hoàn toàn cách nhìn nhận này về tội phạm có tổ chức Cách nhìn mới này giúp chúng ta nhận ra một thực tế là hình thức truyền thống cũ của tội phạm có tổ chức, chẳng hạn như những loại tổ chức Mafia truyền thống trước đây đã từng tồn tại, thì bây giờ không còn lợi hại trong một nền kinh tế thế giới toàn cầu hóa Cũng giống như các công ty hợp pháp, các nhóm tội phạm có tổ chức ngày nay đã mở rộng mạng lưới theo một cách thức linh hoạt và hiệu quả hơn Thời đại của thông tin liên lạc nhanh chóng tiện lợi, các hình thức rườm rà của một tổ chức theo thứ bậc không những không còn cần thiết mà còn cản trở kinh doanh bất hợp pháp Điều này đồng nghĩa với việc là họ dễ bị cảnh sát thâm nhập hơn là là mạng lưới mở rộng với tính năng linh hoạt và năng động Với dịch vụ chuyển tiền nhanh, sự

hỗ trợ của công nghệ như điện thoại di động và mạng internet, bất cứ nhóm nhỏ nào cũng có thể mua và phân phối ma túy bất hợp pháp rất nhanh chóng

và tiện lợi Sự cần thiết của một ông chủ đã qua rồi [12, p.7-8]

Tổ chức vì lợi nhuận Giống như các doanh nghiệp hợp pháp, tội phạm

có tổ chức tồn tại là vì mục đích chính: để tạo ra lợi nhuận Tội phạm có tổ chức

Trang 20

cần và sử dụng sức mạnh kinh tế và chính trị để đạt được mục tiêu này Sự phân biệt truyền thống từ trước tới này của tội phạm có tổ chức và các doanh nghiệp hợp pháp chính ở chỗ tội phạm có tổ chức sử dụng các phương tiện và cách thức bất hợp pháp để nâng cao quyền lực và lợi nhuận Trong khi nhiều học giả cho rằng sự khác biệt này ngày nay ít quan trọng hơn so với trong quá khứ, thì việc

sử dụng các phương thức phạm tội để đạt được mục tiêu lợi nhuận vẫn là một thuộc tính quan trọng của định nghĩa tội phạm có tổ chức Các phương thức phạm tội có thể từ tống tiền và tham nhũng tới các hành vi bạo lực

Doanh nghiệp vì lợi nhuận của tội phạm có tổ chức Kinh tế toàn cầu

đã thay đổi tội phạm có tổ chức sâu sắc nhất ở chỗ nó đã làm tăng rất mạnh số lượng và loại hình doanh nghiệp mà tổ chức tội phạm có thể khai thác lợi nhuận Theo truyền thống, khi nghĩ đến các nhóm tội phạm có tổ chức là hình dung đến việc cung cấp những dịch vụ bất hợp pháp liên quan đến tệ nạn xã hội hay bảo

kê cho nó ở vùng đó Sản xuất và phân phối các ấn phẩm khiêu dâm và ma túy, các cung cấp các dịch vụ mại dâm, cờ bạc, cho vay nặng lãi, và các dịch vụ bảo

vệ truyền thống được xem là cốt lõi của hoạt động phạm tội có tổ chức

Toàn cầu hóa đã thay đổi tất cả Trong một thị trường quốc tế rộng lớn,

tội phạm có tổ chức có thể thẩm thấu vào bất kỳ doanh nghiệp nào Tất nhiên, các tổ chức tội phạm vẫn thống trị ngành công nghiệp tình dục và buôn bán ma túy Dân nhập cư được đưa trái phép qua biên giới để làm việc trong các nhà thổ, câu lạc bộ thoát y và quán massage thuộc sở hữu của đám ma cô, nhưng họ cũng bị buôn bán để làm việc trong các ngành sản xuất, nông nghiệp và công nghiệp Sự đa dạng trong việc buôn bán ma túy đã trở nên dễ dàng hơn với sự

hỗ trợ hiệu quả của giao thông và tài chính Buôn bán vũ khí bất hợp pháp cùng với buôn bán ma túy là nguồn cung tài chính trên diện toàn cầu cho tội phạm có

tổ chức Xe ô tô sang trọng đang bị đánh cắp và vận chuyển trên toàn thế giới

để bán lại Ngà voi, đá quý, thực vật quý hiếm, động vật hoang dã được bán trên thị trường toàn cầu Thậm chí những hình thức doanh nghiệp đơn giản của

Trang 21

tội phạm có tổ chức, chẳng hạn như tống tiền và bảo kê, chiếm một tầm quan trọng mới trong nền kinh tế toàn cầu Thay vì tống tiền các quán bar và nhà hàng của khu phố, tổ chức tội phạm thời nay được thuê bởi các doanh nghiệp hợp pháp để quấy rối đối thủ cạnh tranh, tiến hành các hoạt động gián điệp công nghiệp, đe dọa trả lương thấp những người lao động bất hợp pháp

Tội phạm có tổ chức là một hiện tượng xã hội tiêu cực phản ánh việc các cá nhân liên kết với nhau trong một cơ cấu bền vững hoặc linh hoạt để thực hiện hoạt động phạm tội nhằm đạt được mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo hoặc mục đích khác

Sơ đồ 1.1: Tội phạm có tổ chức

(Nguồn: Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ

Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội)

TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC

SỰ LIÊN KẾT CỦA CÁC CÁ NHÂN

Trang 22

Tội phạm có tổ chức là một hình thức thực hiện các hoạt động phạm tội

có hiệu quả cao với sự tham gia của nhiều cá nhân cho nên khi tội phạm được thực hiện bằng hình thức này thì tính chất nguy hiểm của các tội phạm sẽ tăng

lên đáng kể Sự liên kết - tính có tổ chức - của các cá nhân thể hiện trong một

cơ cấu bền vững hoặc linh hoạt nhằm tiến hành những hoạt động phạm tội để đạt được mục đích của nhóm người đó Như vậy tính có tổ chức liên quan đến không chỉ việc thực hiện những hành vi cụ thể, mà còn ở chính cơ cấu tội phạm, sự tồn tại và những hoạt động phạm tội của nó

Cơ sở xã hội của tội phạm có tổ chức và phạm vi năng lực của nó trong mỗi giai đoạn có sự khác nhau cơ bản Trong nền kinh tế mệnh lệnh hành chính, tội phạm có tổ chức ký sinh vào nền kinh tế kế hoạch hóa, được đơn giản hóa và phụ thuộc bộ máy hành chính Trong giai đoạn đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế, tội phạm có tổ chức trở nên phức tạp và đa dạng hơn, tự chủ hơn Đến giai đoạn hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, với tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như của khoa học và công nghệ, tội phạm có tổ chức đã hình thành những hệ thống phức tạp, tinh vi, linh hoạt và sử dụng thành thạo những thành tựu của khoa học công nghệ Về cấu trúc, tội phạm có tổ chức thậm chí còn phản ánh phạm vi của hoạt động phạm tội, đặc điểm về dân tộc, tôn giáo và truyền thống của nơi sinh sống

Có quan điểm cho rằng cần phải liệt kê các điều luật, có đặc trưng gần nhất với tội phạm có tổ chức như trộm cắp, buôn lậu ma túy, buôn lậu, tống tiền v.v và chính như vậy sẽ loại bỏ việc mở rộng việc giải thích khái niệm

“hoạt động có tổ chức” [7, c.267] Phương pháp tiếp cận này có thể hợp lý khi

sử dụng trong luật hình sự để xác định tội phạm nghiêm trọng, tái phạm đặc biệt nguy hiểm, nhưng lại không thành công khi áp dụng với tội phạm có tổ chức, bởi lẽ nếu vậy thì sẽ liên tục phải bổ sung những tội phạm mới vào danh sách Tội phạm có tổ chức luôn hướng tới những hành vi phạm tội mang lại

Trang 23

lợi nhuận cao với ít rủi ro Do vậy có thể liệt kê hầu hết các hành vi phạm tội, được quy định trong Bộ luật hình sự của các quốc gia khác nhau, thực hiện

“công việc” của những tên tội phạm có tổ chức: một mặt (buôn bán ma túy,

vũ khí…) được coi là những hoạt động chính, mặt khác (giết người, khủng bố…) được coi là cách thức để loại bỏ đối thủ, tiếp đến (đút lót, hối lộ…) là xây dựng hệ thống phòng thủ và bảo vệ, rồi đến (trốn thuế, rửa tiền…) cách thức tích lũy quỹ tội phạm, và rồi (thành lập các doanh nghiệp giả…) hợp pháp hóa những hoạt động của mình

Tất cả những hoạt động phạm tội có tổ chức đều có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội Những tội phạm được thực hiện dưới cách thức có

tổ chức – phạm tội có tổ chức – đều được coi là những tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng tùy theo quy định trong pháp luật của từng quốc gia Trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, những tội phạm được thực hiện bởi nhóm tội phạm có tổ chức đều được coi là tội phạm nghiêm trọng Khoản a Điều 2 của Công ước quy định:

Nhóm tội phạm có tổ chức là một nhóm có cơ cấu gồm từ ba người trở nên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợp nhằm mục đích thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này, nhằm đạt được, trực tiếp hoặc gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác Nhóm cơ cấu nghĩa là một nhóm không phải được hình thành một cách ngẫu nhiên để thực hiện một hành vi phạm tội tức thời và không nhất thiết vai trò của các thành viên trong nhóm phải được xác định một cách rõ ràng, quan hệ giữa các thành viên phải được duy trì hoặc

cơ cấu của nhóm phải được phát triển (khoản c, Điều 2)

Tội phạm nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 2 của Công ước quy định:

Trang 24

“Là một hành vi vi phạm có thể bị trừng phạt theo khung hình phạt tù ít nhất

là 4 năm hoặc theo một hình phạt nặng hơn Bản hành động chung của Hội đồng châu Âu cũng đưa ra một hình phạt tương tự như vậy, tại Điều 1 của Bản hành động chung này, một hành động phạm tội “có thể bị phạt tù giam hoặc tước quyền tự do từ ít nhất 4 năm trở lên”

Những quy định của Công ước về tội phạm có tổ chức là rất cụ thể và chỉ rõ được các đặc điểm tội phạm học của loại tội phạm này Về chủ thể, khoản a Điều 2 đã đưa ra một quan niệm mới về tội phạm có tổ chức, khắc phục sự thiếu thống nhất trong các quy định hiện hành, lượng hoá số lượng thành viên của một nhóm tội phạm có tổ chức là ba người Điều này giúp cho chúng ta có một cách hiểu thống nhất về tội phạm có tổ chức, tạo thuận lợi cho công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp tại các quốc gia thành viên [7]

Về mục đích, các liên kết tội phạm có tổ chức có những hoạt động phạm tội rất đa dạng, phong phú và là cách thức để đạt được mục tiêu đã đề

ra Một trong những mục đích nổi bật của rất nhiều liên kết tội phạm có tổ chức là lợi nhuận (kinh tế) Hiện nay có nhiều liên kết tội phạm có tổ chức đã

có không chỉ một mục đích do yêu cầu khách quan, mà thông thường là mục đích chính trị, tôn giáo xen lẫn với mục đích kinh tế Trước đây các tổ chức khủng bố được tài trợ để hoạt động, tuy nhiên đứng trước rào cản của cộng đồng quốc tế và nhiều quốc gia trong phòng, chống khủng bố và tài trợ khủng

bố bằng các biện pháp khác nhau, trong đó có cả biện pháp pháp lý, các tổ chức khủng bố đã phải tự mình tiến hành các hoạt động phạm tội khác như buôn bán người, buôn bán vũ khí, buôn bán ma túy… để có quỹ xây dựng và duy trì hoạt động của tổ chức Dần dần những hoạt động này đã trở thành một trong những mục đích của những tổ chức này với phương châm đặt vấn đề lợi nhuận lên hàng đầu

Tội phạm có tổ chức là một hiện tượng độc đáo và năng động lan tỏa

Trang 25

hầu như tất cả các tầng lớp xã hội Nó khác với các loại hoạt động tội phạm khác Các loại hành vi phổ biến nhất liên quan đến hoạt động phạm tội có

tổ chức bao gồm việc cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp và hàng hóa bất hợp pháp, âm mưu phạm tội, sự xâm nhập vào kinh doanh hợp pháp, tống

tiền và tham nhũng

Cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp

Việc cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp là một trong những công việc kinh doanh chính của các tổ chức tội phạm Dịch vụ bất hợp pháp là những dịch vụ mà kinh doanh hợp pháp không cung cấp và bị pháp luật cấm Những dịch vụ bất hợp pháp bao gồm: (1) hoạt động cờ bạc được tiến hành ngoài vòng pháp luật, (2) bảo kê - một hình thức tống tiền mà theo đó các thành viên tổ chức tội phạm tiếp cận chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhỏ và đề nghị cung cấp cho họ sự bảo vệ cho các doanh nghiệp trong trường hợp không may mắn “bất ngờ” xảy ra, chẳng hạn như cháy hoặc bị phá hoại, (3) cho vay nặng lãi, cho vay tiền bất hợp pháp ở mức giá lấy lãi cắt cổ, mà việc trả nợ bị

ép thông qua bạo lực và đe dọa, và (4) kinh doanh mại dâm là một trong những dịch vụ mang lại lợi nhuận lớn cho các tổ chức tội phạm

Việc cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp là một dạng hoạt động phạm tội tạo ra tiền để giúp cho tổ chức đạt được mục đích Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các dịch vụ bất hợp pháp được cung cấp cùng với hàng hóa bất hợp pháp

Cung cấp hàng hoá bất hợp pháp

Giống như dịch vụ bất hợp pháp, một dấu hiệu thứ hai của tổ chức tội phạm là việc cung cấp các hàng hóa bất hợp pháp, thứ không có từ các doanh nghiệp hợp pháp Đặc biệt là các loại ma túy bất hợp pháp chính là cho một sản phẩm chính trong nhu cầu đáng kể trên thị trường chợ đen Các loại ma túy bất hợp pháp bao gồm cần sa, cocaine và heroin, các loại ma túy tổng hợp

Trang 26

khác dưới dạng thuốc lắc… đã mang lại hàng tỉ đô la Mỹ miễn thuế cho các tổ chức tội phạm tội phạm mỗi năm Các ấn phẩm khiêu dâm cũng là một loại hàng hóa ở thị trường chợ đen mà tạo ra hàng tỷ đô la mỗi năm Súng không đăng ký và hàng hóa bị đánh cắp là những sản phẩm khác có nhu cầu đáng kể

mà những người buôn bán bất hợp pháp có thể bán với giá thấp hơn và dễ dàng hơn là phân phối một cách hợp pháp

Âm mưu phạm tội

Một loại quan trọng của hành vi phạm tội có tổ chức là âm mưu, một thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người vi phạm pháp luật Trong hầu hết các trường hợp, các thành viên của tổ chức tội phạm làm việc với nhau với mục đích buôn bán ma túy hoặc tài sản bị đánh cắp, cho vay nặng lãi, cờ bạc và các hoạt động khác Rất hiếm khi một hành vi phạm tội được thực hiện mà những người cầm đầu nhóm tội phạm lại không biết hoặc không đồng ý Do

đó, những ông chủ hoặc chỉ huy nhóm, những người cho phép hành vi phạm tội được thực hẹn, cũng bị cáo buộc về âm mưu để thực hiện các hành vi này

Xâm nhập vào kinh doanh hợp pháp

Vì các thành viên tổ chức tội phạm không có cách nào hợp pháp để sử dụng những lợi nhuận bất hợp pháp của họ, họ phải che giấu càng kỹ càng tốt doanh thu của mình Khả năng thâm nhập vào kinh doanh hợp pháp vừa giúp cho các nhóm tội phạm có tổ chức cơ hội để che giấu các khoản thu bất hợp pháp vừa giúp tạo một lớp vỏ hợp pháp trong cộng đồng để tránh sự nghi ngờ của người dân và sự phát hiện của cảnh sát

Tống tiền Tội phạm có tổ chức thường xâm nhập vào kinh doanh hợp

pháp thông qua tống tiền Tống tiền là một hình thức chiếm đoạt thông qua sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực để đạt được mục đích của tội phạm Ví dụ, các thành viên nhóm tội phạm có tổ chức có thể nhấn mạnh rằng một nhà hàng nên sử dụng dịch vụ nào đó của họ và nếu từ chối thì sẽ bị tấn công, mặc

Trang 27

dù giá đắt cắt cổ có thể được áp dụng trong hầu như tất cả các lĩnh vực hoạt động của tội phạm có tổ chức Hoạt động này thường liên quan đến cho vay nặng lãi và mối đe dọa sử dụng bạo lực đối với những người không trả được

nợ cho tổ chức tội phạm một cách kịp thời

Tham nhũng Tham nhũng là một loại hành vi khác của tội phạm có tổ

chức Thật vậy, không có sự trợ giúp lén lút của các cán bộ thực thi pháp luật, thẩm phán, công tố viên, thị trưởng, cán bộ ngân hàng, luật sư, kế toán, và những chính trị gia được bầu và bổ nhiệm ở tất cả các cấp chính quyền, các nhóm tội phạm có tổ chức không thể phát triển được

HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI DÙNG

Người sử dụng ma túy

Người bảo kê mại dâm

Người mua hàng ăn trộm

NHÓM TỘI PHẠM

Những thành viên then chốt

NHỮNG NGƯỜI BẢO VỆ

Luật sư Nhân viên ngân hàng Doanh nhân

TRỢ GIÚP CHUYÊN SÂU

Dịch vụ theo hợp đồng

Trang 28

• Tính liên tục Nhóm nhận mục đích cụ thể trong một khoảng thời

gian và hiểu rằng tổ chức này sẽ tiếp tục hoạt động vượt ra ngoài cuộc sống của các thành viên cá nhân Nhóm này cũng nhận ra rằng lãnh đạo sẽ thay đổi theo thời gian, các thành viên của nhóm làm việc để đảm bảo rằng nhóm tiếp tục, và lợi ích cá nhân của thành viên phụ thuộc vào lợi ích của nhóm

• Cơ cấu Các nhóm tội phạm có cấu trúc như cơ quan phụ thuộc lẫn

nhau phân cấp bố trí dành cho việc hoàn thành một chức năng cụ thể Điều này có nghĩa rằng nhóm có thể có cấu trúc chặt chẽ, như La Cosa Nostra ở

Mỹ, hoặc cực kỳ linh hoạt, như các tập đoàn ma túy Colombia Trong mọi trường hợp, nó được tổ chức phân cấp dựa trên sức mạnh và quyền lực

• Thành viên Các thành viên nhóm tội phạm dựa trên một đặc điểm

chung, chẳng hạn như dân tộc, chủng tộc, bối cảnh phạm tội (ví dụ nhóm những người tù), hoặc lợi ích chung Thành viên tiềm năng của nhóm phải chứng minh lòng trung thành của họ đối với nhóm Trong hầu hết các trường hợp, thành viên được yêu cầu một cam kết suốt đời Quy định thành viên bao gồm bí mật, sẵn sàng có hành động vì nhóm, và ý định để bảo vệ nhóm Đổi lại, các thành viên nhận được lợi ích từ nhóm như sự bảo vệ, uy tín, cơ hội cho các lợi ích kinh tế

• Hoạt động phạm tội Như bất cứ ngành nào, tổ chức tội phạm theo

đuổi mục tiêu lợi nhuận theo các cách thức được xác định rõ Các nhóm tội phạm dựa trên việc tiếp tục hoạt động phạm tội để tạo ra thu nhập Một số hoạt động, chẳng hạn như cung cấp hàng hóa và dịch vụ bất hợp pháp, thu được lợi nhuận trực tiếp, các hoạt động khác như giết người, tống tiền và hối

lộ, được sử dụng để đảm bảo khả năng của nhóm để kiếm tiền và đạt được quyền lực Một số nhóm tham gia vào một số hoạt động kinh doanh bất hợp pháp, chẳng hạn như buôn bán ma túy Nhiều nhóm tội phạm cũng tham gia vào các doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp để rửa tiền

Trang 29

• Bạo lực Bạo lực và đe dọa bạo lực là những công cụ không thể thiếu

của nhiều nhóm tội phạm Cả hai đều được sử dụng như một phương tiện để kiểm soát và bảo vệ các thành viên và phải là thành viên liên quan đến bảo vệ quyền lợi của tổ chức Khi lợi ích của tổ chức đang bị đe dọa, giết người là phương thức phổ biến Bạo lực có thể được sử dụng hoặc để bịt miệng nhân chứng tiềm năng hoặc để trừng phạt những người gây nguy hại cho tổ chức như một lời cảnh báo cho những người khác

• Quyền lực và lợi nhuận Các thành viên của nhóm tội phạm được

thống nhất trong hoạt động cho quyền lực của nhóm, kết quả là lợi nhuận Quyền lực chính trị được thực hiện bằng cách làm hư hỏng các công chức Nhóm có thể duy trì quyền lực của mình thông qua sự kết hợp với bảo vệ hình sự

Nhóm hỗ trợ bảo vệ bao gồm các quan chức tham nhũng, các doanh

nhân, các thẩm phán, luật sư, tư vấn tài chính, và những cá nhân (hoặc tập thể) bảo vệ quyền lợi cho các nhóm tội phạm bằng cách lạm dụng quyền hạn của mình Kết quả trực tiếp của những nỗ lực của nhóm bảo vệ là các nhóm tội phạm được cách ly khỏi các hành động của chính phủ cả về hình sự và dân

sự Thành phần này của tội phạm có tổ chức đại diện cho những gì mà cả cảnh sát và các thành viên của nhóm tội phạm đã được gọi là lợi thế mà tổ chức tội phạm có hơn doanh nghiệp hợp pháp Tham nhũng, công cụ trung tâm của bảo vệ, dựa trên một mạng lưới các quan chức tham nhũng, người bảo vệ nhóm tội phạm từ hệ thống tư pháp hình sự

Một ví dụ về tham nhũng này là một nhân viên thực thi pháp luật cung cấp cho những người buôn bán ma túy về thông tin nội bộ ngành về việc điều tra của cảnh sát Một luật sư là người có thể dàn xếp sự đe dọa của các nhân chứng của chính phủ để họ sẽ thay đổi câu chuyện của họ Kế toán trợ giúp các thành viên nhóm tội phạm bằng cách che giấu thu nhập của họ trong các

tổ chức tài chính, các cơ sở cá độ cũng như các doanh nghiệp khác

Trang 30

Nhóm chuyên gia hỗ trợ

Các nhóm tội phạm và bảo vệ phụ thuộc nhiều vào những người có tay nghề cao được gọi là hỗ trợ chuyên môn Những người này, chẳng hạn như phi công, các nhà hóa học, những kẻ chuyên đốt phá, và không tặc, cung cấp dịch vụ theo hợp đồng để tạo điều kiện cho các hoạt động phạm tội có tổ chức Không giống như các thành viên của nhóm tội phạm và những người bảo vệ, người hỗ trợ chuyên môn không chia sẻ một cam kết mục tiêu của nhóm, nhưng vẫn được coi là một phần của tội phạm có tổ chức

Sự hỗ trợ của khách hàng

Một thành phần quan trọng trong sự thành công của tổ chức tội phạm là

sự hỗ trợ của khách hàng Nhóm này bao gồm những người mua hàng hóa bất hợp pháp và sử dụng các dịch vụ của tổ chức tội phạm, chẳng hạn như người

sử dụng ma túy, nhà cái môi giới cá độ, các nhà thổ, và những người cố tình mua hàng hóa bị đánh cắp

Những người ủng hộ xã hội

Người (tổ chức) thuộc nhóm hỗ trợ xã hội trao cho tổ chức tội phạm quyền lực và nhận thức về tính hợp pháp của tổ chức tội phạm nói chung và cho các thành viên cụ thể của nhóm tội phạm Ví dụ như các chính trị gia thu hút sự hỗ trợ các nhân vật của tội phạm có tổ chức, lãnh đạo doanh nghiệp làm kinh doanh với tổ chức tội phạm, những lãnh đạo xã hội và cộng đồng mời các thành viên của tổ chức tội phạm vào các cuộc tụ họp xã hội

Cũng như các nhóm tội phạm được tạo thành từ các thành viên của tổ chức tội phạm, mỗi một loại người thuộc các danh mục trên cần được xem xét

là thành viên và hoặc là cộng tác viên của tội phạm có tổ chức Đúng là không

có sự tham gia của bất kỳ của những nhóm người hỗ trợ trên thì tội phạm có

tổ chức không thể phát triển thịnh vượng hay thành công trong xã hội

Trang 31

Tóm lại, phạm tội có tổ chức là một dạng đồng phạm đặc biệt, thể hiện sự nguy hiểm cao bởi một nhóm người có sự câu kết chặt chẽ thông qua chính cơ cấu tổ chức (băng, nhóm, tổ chức, liên minh …) và sự bàn bạc, tính toán, phân công, lên kế hoạch nhằm thực hiện tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

1.1.2 Các đặc điểm của phạm tội có tổ chức

Luật hình sự Việt Nam coi “đồng phạm” là một hình thức đặc biệt của việc thực hiện tội phạm do tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn các trường hợp phạm tội thông thường thì “phạm tội có tổ chức” lại là một hình thức đặc biệt của “đồng phạm” do có sự câu kết “chặt chẽ” của những người cùng thực hiện tội phạm Mang tính chất là một dạng đồng phạm đặc biệt, “phạm tội có

tổ chức” mang trong mình những đặc điểm chung của “đồng phạm” với những dấu hiệu pháp lý chung và bắt buộc Khoản 1 Điều 20, Bộ luật hình sự

Việt Nam quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý

cùng thực hiện một tội phạm” Từ khái niệm “đồng phạm” là trường hợp có

hai người trở lên cùng thực hiện tội phạm thì có thể cho rằng đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng là một thể thống nhất, không thể phân tách giữa những yếu tố chủ quan và nhân tố khách quan mà trong đó có các yếu tố quan trọng phản ánh bản chất như: có hai người trở lên tham gia, cùng chung hành động với nhau, cùng cố ý Theo đó, đồng phạm đòi hỏi phải thỏa mãn “ba dấu hiệu khách quan và hai dấu hiệu chủ quan có tính đặc trưng và bắt buộc” [8, tr.137] và theo đó phạm tội có tổ chức cũng phải thỏa mãn các

dấu hiệu này

Dấu hiệu khách quan về số lượng: “có sự tham gia của hai người trở

lên vào việc thực hiện một tội phạm” [10, tr.252] Đây là dấu hiệu bắt buộc,

nếu thiếu dấu hiệu về số lượng người tham gia thực hiện tội phạm (từ 02 người trở lên) thì không cấu thành đồng phạm mà chỉ là trường hợp phạm tội

Trang 32

riêng lẻ và hậu quả phạm tội là do hành động và ý chí độc lập của một cá nhân gây nên Trong đồng phạm yêu cầu mỗi người đều phải có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội bị coi là tội phạm Dấu hiệu khách quan về sự cùng chung hành động của những người đồng phạm: không phải bất kỳ trường hợp có hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện hành vi tội phạm nào cũng được coi là đồng phạm, mà đồng phạm đòi hỏi sự nỗ lực chung của một số người, nghĩa là hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội đáng kể của họ được thực hiện trong mối liên kết thống nhất, qua lại với nhau, hành vi của người này là điều kiện cần thiết cho hoạt động của người khác và hậu quả của hành vi phạm tội chính là kết quả chung của quá trình thực hiện tội phạm giữa những người đồng phạm Hay nói một cách khác, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm với hậu quả nguy hiểm cho xã hội Mối quan hệ nhân quả có thể mang tính chất trực tiếp như cung cấp cho người thục hành công cụ, phương tiện phạm tội,… hoặc biểu hiện gián tiếp thông qua nhận thức của người thực hiện như: xúi giục người thực hành, giúp đỡ họ thực hiện tội phạm [14, tr.45] Có thể khẳng định: nếu không có mối quan hệ nhân quả nêu trên thì không xuất hiện đồng phạm (dấu hiệu khách quan về mối quan hệ nhân quả) Những dấu hiệu chủ quan trong đồng phạm bao gồm: có sự cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm và động cơ - mục đích trong đồng phạm Đồng phạm phải

do cùng thực hiện tội phạm với lỗi cố ý thể hiện trên hai phương diện: lý trí

và ý chí “Sự cùng cố ý phạm tội làm cho ý chí của những người đồng phạm

được thống nhất với nhau và hành động phạm tội của mỗi người đều thống nhất trong sự chi phối chung của sự cùng cố ý phạm tội” [13, tr.149] Về lý

trí: mỗi người thực hiện hành vi phạm tội trong đồng phạm đều ý thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được tính chất nguy hiểm của tội phạm họ tham gia thực hiện và hậu quả nguy hiểm cho xã hội có

Trang 33

thể xảy ra, đồng thời những người đồng phạm đều phải biết và muốn những người đồng phạm khác có cùng hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Nếu chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội như mình thì chưa phải là đồng phạm,

mà cấu thành tội phạm độc lập khi thỏa mãn các yếu tố theo luật định Về ý chí: những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động phạm tội chung, mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra tuy rằng nhận thức được những hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình Dấu hiệu chủ quan về động cơ – mục đích: đối với những tội phạm

mà động cơ và mục đích là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, thì những người phạm tội phải có cùng động cơ, mục đích còn nếu không cùng động cơ mục đích thì sẽ không có đồng phạm và trong trường hợp đó những người tham gia sẽ chịu trách nhiệm hình sự độc lập

Ngoài những dấu hiệu mang tính chất của đồng phạm đã nêu trên, phạm tội có tổ chức còn mang các nét đặc biệt so với đồng phạm nói chung Phạm tội có tổ chức không thể là trường hợp đồng phạm đơn giản, vì nếu không có sự phân công vai trò thì không thể hiện được “tính có tổ chức” của loại đồng phạm đặc biệt này Cũng không thể đánh đồng phạm tội có tổ chức với đồng phạm có thông mưu trước Phạm tội có tổ chức và đồng phạm có thông mưu trước là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất Nội hàm của khái niệm phạm tội có tổ chức chứa đựng những dấu hiệu của đồng phạm có thông mưu và một số yếu tố khác Nếu xét về tính chất cấu kết cũng như mức

độ nguy hiểm cho xã hội thì phạm tội có tổ chức có sự cấu kết chặt chẽ hơn

và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hẳn Điều này cho thấy: phạm tội có

tổ chức luôn là hình thức đồng phạm có thông mưu trước ở mức độ cao Đồng phạm có tổ chức có những đặc điểm cơ bản sau đây [11, tr.180-181]:

- Nhóm tội phạm trước hết phải có thông mưu trước, nhưng ngoài sự

Trang 34

bàn bạc, thỏa thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm, những người đồng phạm thường chuẩn bị thực hiện và che giấu tội phạm một cách kỹ lưỡng với phương pháp, thủ đoạn thường tinh vi, xảo quyệt

- Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững, thường có sự phân công vai trò thực hiện tội phạm khác nhau giữa những người đồng phạm nhằm thực hiện nhiều tội, phạm tội nhiều lần

- Nhóm tội phạm ngoài ý đồ phạm tội thống nhất, phải có sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong nhóm Mỗi thành viên trong nhóm chịu

sự điều hành chung thống nhất, đều thừa nhận và sử dụng nhóm phạm tội như

là một công cụ trong hoạt động phạm tội của mình

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Sự câu kết chặt chẽ này thể hiện ở

“tính có tổ chức chặt chẽ” và tính “có kế hoạch thống nhất” trong hành vi phạm tội Nghĩa là có sự liên kết giữa các cá nhân cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà trong đó có sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ rệt, cụ thể và hoạt động lâu dài, bền vững hoặc linh hoạt với những mục đích nhất định theo kế hoạch đã thống nhất trước Vì thế tính chất, mức độ nguy hiểm của dạng đồng phạm này cao hơn các dạng đồng phạm thông thường khác (đồng phạm đơn giản - đồng phạm phức tạp, hay đồng phạm không có thông mưu trước – đồng phạm có thông mưu trước) Tính chất của sự câu kết chặt chẽ trong hình thức phạm tội có tổ chức thường được đánh giá bởi một số yếu tố như sau:

- Thời gian tồn tại của đồng phạm có tổ chức,

- Mục đích, ý thức chủ quan của sự liên kết giữa các cá nhân,

- Tính chất và mức độ chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm

- Sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ,

Trang 35

- Tính chất chuyên nghiệp,

- Phương pháp, thủ đoạn phạm tội và che giấu tội phạm

Trong phạm tội có tổ chức, những người đồng phạm có sự bàn bạc trước và có sự phân công thực hiện tội phạm, nhưng không phải bất cứ trường hợp nào có sự bàn bạc trước, có sự phân công thực hiện tội phạm đều là phạm tội có tổ chức Giữa những người phạm tội trong việc thực hiện tội phạm phải

có sự câu kết với nhau, có sự phân công vai trò nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán chuẩn bị kĩ càng và chu đáo cho việc thực hiện tội phạm Việc phân công vai trò trong hình thức đồng phạm này là một dấu hiệu phổ biến nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc và duy nhất Các điểm đặc trưng của phạm tội có tổ chức thể hiện cụ thể dưới các dạng trên thực tế

a Hình thức phạm tội có tổ chức được thực hiện bởi những người đồng phạm đã tham gia vào một tổ chức tội phạm được hình thành (hoặc không tham gia vào một tổ chức nào) với “phương thức hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững” [15, tr.267] Khi họ có ý thức câu kết với nhau lâu dài và chặt chẽ thì đã bị coi là phạm tội có tổ chức mặc dù có thể họ mới chỉ thực hiện được một tội phạm hay đã thực hiện nhiều tội phạm Vì thế, số lần phạm tội hay loại tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của hình thức đồng phạm này Trong mỗi tổ chức này có mối quan hệ chỉ huy – phục tùng, có sự phân công vai trò cụ thể của những người đồng phạm Mỗi người đồng phạm đều phục tùng tổ chức, thực hiện kế hoạch chung và chịu sự điều khiển thống nhất của những kẻ cầm đầu, chỉ huy; đều coi và sử dụng tổ chức tội phạm như một công cụ trong hoạt động phạm tội của mình Cũng có thể tổ chức tội phạm không có kẻ chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp, liên kết của nhiều tên tội phạm để cùng thống nhất thực hiện hoạt động phạm tội

b Những người đồng phạm với mục đích cùng nhau phạm tội nhiều lần hoặc liên tục; gây ra những hậu quả nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Trang 36

cho xã hội đồng thời dễ dàng che giấu dấu vết phạm tội hay lẩn tránh sự điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật

c Những người đồng phạm thực hiện tội phạm một theo một kế hoạch thống nhất có tính toán kĩ lưỡng, chu đáo, chuẩn bị về mọi mặt, có kế hoạch nhằm che giấu tội phạm

Nhìn về tổng thể thì phạm tội có tổ chức được chứa đựng tổng hợp những đặc trưng mang tính tương đối nhưng có mối liên hệ lẫn nhau trong cơ cấu, mà rõ ràng là tính có tổ chức được coi là chủ đạo Từ cách nhìn nhận này thì phạm tội có tổ chức có thể là các cá nhân cá mối liên hệ chặt chẽ được hình thành với các dấu hiệu sau:

- Người tổ chức (người lãnh đạo, người đứng đầu, bố già) hoặc nhân tố lãnh đạo;

- Cơ cấu tổ chức theo thứ bậc nhất định, phân tách rõ ràng giữa lãnh đạo với người trực tiếp thực hiện;

- Ở một chừng mực nào đó phân định rõ ràng vai trò (chức năng) thực hiện những nhiệm vụ cụ thể;

- Kỷ luật rất nghiêm khắc với việc tuân lệnh tuyệt đối theo chiều dọc dựa trên những quy định và luật lệ riêng, ví dụ như luật im lặng;

- Hệ thống hình phạt rất nặng, thậm chí trừ khử những người phản bội;

- Có quỹ tài chính để giải quyết những nhiệm vụ chung;

- Thu thập những thông tin trên các lĩnh vực mang lại lợi ích và an toàn của hoạt động phạm tội;

- Vô hiệu hóa bằng cách mua chuộc, hối lộ những cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan nhà nước khác nhằm thu nhận được những thông tin, sự trợ giúp và bảo vệ cần thiết;

- Sử dụng rất chuyên nghiệp những cơ sở kinh tế - xã hội, cũng như các

cơ sở có nền tảng nhà nước hoạt động trong nước cũng như quốc tế với mục

Trang 37

- Lan truyền tin đồn đáng sợ về sức mạnh và quyền lực của mình, điều này mang lại cho tổ chức tội phạm lợi ích nhiều hơn là thiệt hại, vì chúng làm mất tinh thần nhân chứng, nạn nhân, nhân viên của các phương tiện truyền thông, cũng như của các cơ quan bảo vệ pháp luật, cổ vũ tinh thần cho những người thực hành cốt cán;

- Tạo ra cơ cấu quản lý sao cho người cầm đầu không phải trực tiếp tổ chức hoặc thực hiện những tội phạm cụ thể Điều này hoàn toàn có lợi bởi: người đứng đầu thì tránh khỏi trách nhiệm, và sự liên quan của những người thực hành không phá vỡ tổ chức và mang lại sự trợ giúp cần thiết cho những

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển những quy định về phạm tội

có tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Phạm tội có tổ chức được đề cập lần đầu tiên trong Thông tư số 442/TTG ngày 19/11/1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm Trong Thông tư này, phạm tội có chức được gọi là “Cướp đường hay trộm có tổ chức”, “đánh bị thương có tổ chức” Tuy nhiên, trong thông tư này, thế nào là tính “có tổ chức” lại không được giải thích Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm sở hữu riêng của công

Trang 38

dân, trường hợp phạm tội có tổ chức được ghi nhận là một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt và không có một định nghĩa cụ thể, rõ ràng nào Đây là điều gây ra những khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật khi vận dụng hai Pháp lệnh trên vào thực tiễn Với tình hình thực tế như trên, các ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án đã dự thảo Thông tư ngày 16/03/1973 hướng dẫn nhân thức một cách thống nhất về hai Pháp lệnh này Khái niệm phạm tội có

tổ chức được định hướng nhận thức trong thông tư như sau:

Phải xuất phát từ đặc điểm, tình hình phạm tội ở nước ta mà hiểu như thế nào là phạm tội có tổ chức Đây là một hình thức cộng phạm của hai hay nhiều người trong đó có một số tên cầm đầu hoặc đóng vai trò cầm đầu, cùng bàn bạc trước việc thực hiện một hoặc nhiều tội phạm nào đó, thủ đoạn phạm tội thường là tinh vi, xảo quyệt, vai trò của từng tên phân công giữa bọn chúng có thể không dứt khoát rõ ràng hoặc lợi dụng hay nấp dưới danh nghĩa một tổ chức công khai để bàn bạc về việc thực hiện một tội phạm, hoặc có khi chúng không bàn bạc nhau trước nhưng do quan hệ công tác hàng ngày nên hiểu ý đồ nhau rồi cùng hành động phạm tội, mặc nhiên câu kết chặt chẽ Cần chú ý phân biệt hình thức phạm tội có

tổ chức với hình thức cộng phạm thông thường trong đó không có

sự bàn bạc, phân công chặt chẽ trước, không có vai trò cầm đầu chủ chốt, thủ đoạn phạm tội đơn giản

Như vậy, theo dự thảo Thông tư này, phạm tội có tổ chức đã được giải thích theo chiều hướng nhấn mạnh tính câu kết và tính phân công vai trò Theo

đó, phạm tội có tổ chức là một hình thức cộng phạm của hai hay nhiều người, trong đó có sự phân công vai trò giữa những người cộng phạm, có người cầm đầu, chỉ huy, có sự bàn bạc thống nhất trước khi thực hiện một hay nhiều tội phạm và thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội thường tinh vi, xảo quyệt

Trang 39

1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Khác với khái niệm tổ chức tội phạm và khái niệm tội phạm có tổ chức chưa được chính thức ghi nhận về mặt pháp lý, sau nhiều lần pháp điển hóa, khái niệm phạm tội có tổ chức đã được quy định tại khoản 3 Điều 17 Bộ luật

Hình sự năm 1985: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu

kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm” Tình tiết phạm tội

có tổ chức không những được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình

sự tại Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 1985, mà còn được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự năm

1985 Từ khái niệm phạm tội có tổ chức nói trên cho thấy, đây là phương thức phạm tội đặc biệt để phân biệt với phương thức phạm tội riêng lẻ hoặc với các phương thức phạm tội dưới các hình thức đồng phạm khác Việc Bộ luật hình

sự chính thức ghi nhận định nghĩa pháp lý “phạm tội có tổ chức” đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển về kĩ thuật lập pháp Hình sự, thể hiện thái

độ nghiêm khắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc đấu tranh với hình thức đồng phạm đặc biệt nguy hiểm này Tuy nhiên, định nghiã này vẫn chưa làm

rõ được cụm từ “câu kết chặt chẽ” nên mang tính trừu tượng, chung chung dẫn đến những quan điểm, nhận định không thống nhất giữa các cơ quan áp dụng pháp luật Chính vì lý do đó, sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời lần đầu tiên quy định định nghĩa pháp lý về “phạm tội có tổ chức”, ngày 16/11/1988 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ra Nghị quyết hướng dẫn bổ sung Nghị quyết 02/HĐTP ngày 05/01/1986 đã giải thích nội dung của tình tiết “phạm tội có tổ chức” Hiện nay, xung quanh khái niệm này vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về bản chất pháp lý của vấn đề này Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có thêm một văn bản pháp lý nào giải thích về khái niệm này sau Nghị quyết 02/HĐTP (1988)

Trang 40

Bộ luật hình sự năm 1985 khi mới ban hành, chỉ có 29 điều luật quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tàng nặng định khung hình phạt [17, tr.166-167] Lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1989, đã bổ sung Điều 96a, trong đó tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 của Điều này Lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1991, số lượng tình tiết phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt không thay đổi, nhưng đến lần bổ sung, sửa đổi năm 1992, được bổ sung vào

3 điều luật: Điều 174, Điều 221 và Điều 224 Lần sửa đổi, bổ sung năm 1997, phạm tội có tổ chức đã trở thành tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của nhiều tội hơn Ngoài 10 điều luật (Điều 185a, b, c, d, đ, e, g, h, m, n) là các điều thay thế Điều 96a của Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 1989, còn có 7 điều khác quy định phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (Điều 112a, 133, 134a, 137a, 156, 221a, 228a) Như vậy, trong Bộ luật Hình

sự sửa đổi năm 1997, có tổng cộng 49 điều luật quy định phạm tội có tổ chức

là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt Trong một số điều luật cũng có sự sửa đổi về vị trí của tình tiết phạm tội có tổ chức như tình tiết có tổ chức được tách thành một tình tiết riêng quy định ở điểm a khoản 2 Điều 112; tình tiết có

tổ chức từ chỗ được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 224 trong Bộ luật Hình

sự sửa đổi năm 1992, được quy định thành tình tiết đầu tiên (điểm a) của khoản 2 Điều này

1.3 Phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới

1.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga

Trước Bộ luật hình sự hiện hành của Liên bang Nga năm 1996, khái niệm nhóm tội phạm có tổ chức, theo Nghị quyết của Hội đồng Tòa án tối cao Liên bang Nga ban hành ngày 25 tháng 4 năm 1995 “Một số vấn đề áp dụng pháp luật của tòa án về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm xâm phạm

sở hữu”, tại khoản 4 hướng dẫn như sau:

Ngày đăng: 01/09/2015, 16:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Tội phạm có tổ chức - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Sơ đồ 1.1 Tội phạm có tổ chức (Trang 21)
Sơ đồ 1.2: Nhóm tội phạm - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Sơ đồ 1.2 Nhóm tội phạm (Trang 27)
Bảng 2.1: Thống kê các mức độ phạm tội (nghiêm trọng, rất nghiêm  trọng, đặc biệt nghiêm trọng) trong các vụ án phạm tội có tổ chức - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Bảng 2.1 Thống kê các mức độ phạm tội (nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) trong các vụ án phạm tội có tổ chức (Trang 64)
Bảng 2.4: Số lƣợng bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm tội có tổ - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Bảng 2.4 Số lƣợng bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm tội có tổ (Trang 67)
Bảng 2.5: Thống kê các nhóm tội phạm được thực hiện dưới hình thức - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Bảng 2.5 Thống kê các nhóm tội phạm được thực hiện dưới hình thức (Trang 68)
Bảng 2.6: Thống kê về giới tính của các bị cáo trong các vụ án có tình tiết - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Bảng 2.6 Thống kê về giới tính của các bị cáo trong các vụ án có tình tiết (Trang 72)
Bảng 2.7: Độ tuổi của các bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm tội có - Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk)  luận văn ths  luật
Bảng 2.7 Độ tuổi của các bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm tội có (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm