Từ những quy định của luật thực định, chính sách của Đảng trong các Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW về cải cách tư pháp của Bộ chính trị và các chính sách khác của Đảng và Nhà n
Trang 1KHOA LUẬT HÌNH SỰ
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ 1.1 Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố 1.1.1 Những vấn đề lý luận về quyền công tố 1.1.1.1 Các quan điểm về quyền công tố 6
1.1.1.2 Đối tượng quyền công tố 11
1.1.1.3 Phạm vi quyền công tố 12
1.1.1.4 Nội dung quyền công tố 14
1.1.2 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố 1.1.2.1 Các quan điểm thực hành quyền công tố 15
1.1.2.2 Phạm vi thực hành quyền công tố 16
1.1.2.3 Nội dung thực hành quyền công tố 18
1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1.2.1 Xét hỏi tại phiên tòa 1.2.1.1 Vai trò và ý nghĩa của xét hỏi 21
1.2.1.2 Trình tự xét hỏi 21
1.2.1.3 Phạm vi và nội dung xét hỏi 25
1.2.2 Tranh luận tại phiên tòa 1.2.2.1 Vai trò và ý nghĩa của tranh luận 30
1.2.2.2 Thủ tục và nội dung tranh luận 31
Trang 3MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
2.1 Giai đoạn xét xử sơ thẩm
2.1.1 Vị trí, vai trò của giai đoạn xét xử sơ thẩm 39 2.1.2 Phiên tòa sơ thẩm 41
2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới xác định: “VKSND các cấp thực hiện tốt chức năng công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình
tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”
BLTTHS năm 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định
rõ hơn về nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng cũng như về chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của VKS trong tố tụng hình sự Vai trò của VKS có ý nghĩa quan trọng trong các giai đoạn tố tụng hình sự và góp phần vào hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm Trong những năm qua, chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của VKS đã được nâng lên từng bước Với vai trò chủ động, tích cực của đa
số KSV trong quá trình giải quyết vụ án đã khắc phục được tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Đó là những kết quả đạt được bước đầu của VKS nói riêng và của các
cơ quan tư pháp nói chung trong công cuộc cải cách tư pháp của Đảng trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên trong thực tiễn, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự vẫn còn bộc
lộ nhiều hạn chế, bất cập ở các giai đoạn tố tụng, trong đó có hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Một số KSV thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn còn chưa nhận thức đúng đắn
về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết vụ án Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật TTHS hiện hành không thực sự tạo cho KSV vai trò chủ động trong việc chứng minh tội phạm và người phạm
Trang 6tội nên đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác thực hành quyền công tố của VKS
Trước thực trạng trên, Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định các nhiệm vụ “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật…nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”
Việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của VKS trong TTHS nói chung và trong xét xử sơ thẩm VAHS nói riêng góp phần vào quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp cho thấy việc nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một yêu cầu cấp thiết
Hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung, phạm
vi của quyền công tố, trong khi vấn đề này cần được hiểu một cách thống nhất
và rộng rãi trong điều kiện cải cách tư pháp Trong thực tiễn do không hiểu đầy đủ những vấn đề về quyền công tố nên đã có những khuynh hướng khác nhau về việc xác định vị trí, vai trò, chức năng của VKS với tư cách là cơ quan thực hành quyền công tố trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng
Vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu về “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” để làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật cho mình
2 Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả Tuy nhiên có tác giả đi sâu vào nghiên cứu và cũng có tác giả chỉ đề cập đến những vấn đề này một cách khái quát trong phạm vi bài viết của họ Cho đến nay còn ít công trình nào nghiên cứu sâu về hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử
sơ thẩm VAHS nên chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự Một số công trình như:
Trang 7- Luận văn tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lê Thị Tuyết Hoa “Quyền công
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS, thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhằm đưa ra các giải thích đúng đắn về các quy định của pháp luật cũng như các kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Nhiệm vụ nghiên cứu: phân tích những quan điểm lý luận chung về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong TTHS, thông qua đó xây dựng quan điểm khoa học về quyền công tố và thực hành quyền công tố, làm
rõ những hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, đánh giá thực trạng cũng như những bất cập, hạn chế trong thực hành quyền công tố của VKS trong xét xử sơ thẩm VAHS, tìm ra các nguyên nhân của những bất cập và hạn chế đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ những quy định của luật thực định, chính sách của Đảng trong các Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW về cải cách tư pháp của Bộ chính trị và các chính sách khác của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế thế giới, hoạt động thực tiễn của VKS tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm trong những năm gần đây cũng như hoạt động của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng liên quan đến vấn đề thực hành quyền công tố của VKS, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể về nội dung, trình tự thực hành
Trang 8quyền công tố của VKS tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và cách thức hoạt động tại phiên tòa để bảo đảm cho việc thực hành quyền công tố
Từ đó làm rõ bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, vai trò của VKS trong việc thực hành quyền công tố Những hoạt động cụ thể của VKS trong việc thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Cách thức, trình tự tại phiên tòa hình sự sơ thẩm để thực hành quyền công tố cùng với các hoạt động của các đối tượng khác tại phiên tòa
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quy định của Đảng, Nhà nước về cải cách bộ máy Nhà nước và cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh…trên cơ sở khoa học TTHS để tiếp cận và làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm VAHS Trên cơ sở đó, chỉ ra những vướng mắc trong quá trình thực hành quyền công tố của VKS để từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS về thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm hình sự, góp phần khắc phục những hạn chế trong thực tiễn và nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS
Nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận, pháp lý và thực tiễn về quyền công tố của VKS tại phiên tòa hình sự
sơ thẩm, qua đó giúp cho việc nhận thức đúng đắn và thống nhất chức năng, vai trò cũng như xác định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong việc thực hành quyền công tố, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo công bằng, dân chủ trong TTHS
Trang 96 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có hai chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận và pháp lý về quyền công tố và thực hành quyền công tố
Chương II: Thực trạng thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số kiến nghị hoàn thiện
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên trong luận văn không thể tránh được những thiếu sót
Vì vậy tác giả luận văn rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và các bạn học để luận văn được hoàn thiện hơn Qua đây cho phép tác giả trân trọng gửi lời cám ơn tới Quý thầy cô của Trường Đại học Luật đã cung cấp kiến thức trong những năm tác giả học tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 10CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
1.1 Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố
1.1.1 Những vấn đề lý luận về quyền công tố
1.1.1.1 Các quan điểm về quyền công tố
Quyền công tố cũng như thực hành quyền công tố ở Việt Nam là những vấn đề rất quan trọng xét cả góc độ lý luận lẫn thực tiễn, bởi nó không chỉ liên quan đến tổ chức và hoạt động của VKS mà còn liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trước hết và đặc biệt là các cơ quan tư pháp Vấn
đề này càng trở nên quan trọng trong quá trình tiến hành cải cách bộ máy Nhà nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng Nhưng cho đến nay, vẫn chưa đạt được sự thống nhất trong nhận thức về vấn đề này Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố Nhưng khái
quát lại thì có một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất: đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND (trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Có thể thấy rõ tác giả coi quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là thực hành quyền công tố Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật1
Theo ý kiến chúng tôi, hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm như vậy là chưa chính xác, đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật và cũng không phù hợp với các quy định của Hiến
1 Xem: - Võ Quang Nhạn Bàn về quyền công tố Tạp chí công tác kiểm sát số 2-1984
- Giáo trình công tác kiểm sát (phần chung) - Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội, 1984, trang 74
- Giáo trình công tác kiểm sát (phần chung) - Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội NXB Công an nhân dân Hà Nội 1996, tập 1 trang 85-87
Trang 11pháp và các luật Theo quy định của pháp luật hiện hành thì VKS có hai chức năng rất cụ thể: chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng thực hành quyền công tố Trong quá trình thực hiện, giữa hai chức năng này
có một số nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau nhưng không vì thế mà phủ nhận được tính độc lập của chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng Bởi lẽ đó, không thể đồng nhất hai chức năng này của VKS với nhau
Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao
cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố)2 Điều đáng lưu ý của quan điểm này là việc nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện quyền công tố và chỉ thực hiện duy nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức chỉ là việc truy
tố và buộc tội tại phiên tòa)
Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và không phản ánh được bản chất của quyền này Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa chỉ là một số nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố, hay nói chính xác hơn, đó chỉ là một số trong các quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công
tố
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà
nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật3 Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh
2 Xem: - Nguyễn Thái Phúc (1999) Một số vấn đề về quyền công tố của VKS Kỷ yếu đề tài khoa học cấp
Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” VKSND tối cao, Hà Nội, trang 30
- Võ Thọ (1985) Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự NXB Pháp lý, Hà Nội, trang 86-88
3 Xem: - Giáo trình công tác kiểm sát (phần chung) Hà Nội, 1984, trang 69-72
- Giáo trình công tác kiểm sát NXB Công an nhân dân Hà Nội 1996, tập 1, trang 84-87
- Lê Thị Tuyết Hoa Bàn về quyền công tố Nhà nước và pháp luật số 10-2001, trang 65
Trang 12vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng khác
Theo quan điểm này, trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa, khái niệm quyền công tố được xác định trên cơ sở các khái niệm công tố Nhà nước, công tố xã hội và tư tố Quyền công tố là quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa giao cho VKSND thực hiện theo luật định Nội dung quyền công tố
là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành
vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất
Chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, dẫn đến sự xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác Quan điểm nêu trên
đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động
Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu TNHS và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội Nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử các VAHS và thi hành án hình sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được luật quy định có trách nhiệm xác định hành vi và người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội4
Theo ý kiến chúng tôi, quan điểm nêu trên đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới: mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm đến lợi ích chung của
4
Xem: - Thuật ngữ pháp lý phổ thông (tập 1) NXB pháp lý Hà Nội - 1986, trang 94
- Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự NXB chính trị quốc gia Hà Nội - 1995, trang 380
Trang 13toàn xã hội, do đó kẻ phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự Việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố, Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án) Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong TTHS Mỗi một hoạt động trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể của quá trình TTHS Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ Cơ quan điều tra và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành
án đều là chủ thể thực hành quyền công tố
Trên đây là một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố Mỗi quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý riêng của nó Tuy vậy, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm trên đã bộc lộ một số hạn chế và bất cập sau: Hoặc là đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực TTHS sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Hoặc là coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của VKS nhân danh quyền lực công Hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công
tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Có thể thấy rằng, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình nghiên cứu về quyền công tố là chưa phân định rõ khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Đa số các tác giả đều cho rằng hai chức năng của VKS (chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật) như pháp luật trước đây quy định vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có những
Trang 14nội dung hòa nhập vào nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự thống nhất trong chức năng của VKS
Theo ý kiến chúng tôi, để làm rõ khái niệm quyền công tố, phải xuất phát từ lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung cũng như lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng Chúng tôi nhất trí với quan điểm cho rằng, cốt lõi của TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định và xử lý người phạm tội Ngoài
ra, có một số công dân cũng tham gia vào hoạt động tố tụng do có những mối quan hệ khác nhau, nhưng những người này chỉ được tham gia vào hoạt động
tố tụng khi hoạt động này đã xuất hiện trên cơ sở các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong hoạt động TTHS, chúng ta thấy luôn luôn tồn tại ba chức năng tố tụng cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử
Buộc tội, với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội Người buộc tội (cơ quan thực hiện chức năng buộc tội) có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc cụ thể đối với những cá nhân cụ thể và có nhiệm vụ phải đưa ra những bằng chứng cụ thể cho sự cáo buộc đó
Và trong chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực công) giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng Nó được coi là trục chính, thu hút hoạt động của tất cả những ai tham gia tố tụng
Từ những nội dung trình bày trên, chúng tôi cho rằng: quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên
Trang 15cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa5
1.1.1.2 Đối tƣợng của quyền công tố
Đối tượng của quyền công tố được hiểu là cái mà quyền công tố tác động vào nhằm đạt được mục đích cụ thể nào đó (nhằm buộc được tội của người phạm tội để trừng phạt, nhằm khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại…) Hiện nay, do xuất phát từ các quan niệm khác nhau về quyền công tố nên nhận thức về đối tượng của quyền này cũng khác nhau Khái quát có một
số quan điểm sau:
Quan điểm đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS thì quan niệm đối tượng của quyền công tố là sự tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
Quan điểm coi quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật thì quan niệm đối tượng của quyền công tố là các hành vi vi phạm pháp luật
Quan điểm coi quyền công tố là quyền Nhà nước nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành
vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích Nhà nước, lợi ích chung thì quan niệm đối tượng của quyền công tố là tội phạm, người phạm tội và những vụ việc xâm hại đến lợi ích chung trong lĩnh vực dân sự, hành chính, lao động
Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu TNHS) đối với người phạm tội, chúng tôi quan niệm đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội
5 Nguyễn Thái Phúc (1999) Một số vấn đề về quyền công tố của VKS Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ
“Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” VKSND tối cao, Hà Nội
Trang 161.1.1.3 Phạm vi quyền công tố
Phạm vi quyền công tố là vấn đề cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Nhưng khái quát lại, chúng tôi nhận thấy có hai nhóm quan điểm chính:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố không chỉ có trong
lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có trong các lĩnh vực tư pháp khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động6
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực
tố tụng hình sự, không thể có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế và tố tụng lao động
Xuất phát từ quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, chúng tôi cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự
Những ý kiến cho rằng quyền công tố có trong tất cả lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động xuất phát từ các quan điểm coi quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích Nhà nước, lợi ích chung hoặc là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của VKS trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và các lĩnh vực tư pháp khác Những người khẳng định quyền công tố
có trong mọi lĩnh vực đều xuất phát từ hai dấu hiệu hoạt động của VKS:
Một là, trên cơ sở khái niệm quyền công tố, họ cho rằng VKS phải có
nghĩa vụ (nhân danh công quyền) đưa các vụ án (vụ vi phạm pháp luật nói chung) ra Tòa để xét xử và VKS luôn luôn có quyền tham gia vào các hoạt động tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động) khi xét thấy cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước, xã hội và duy trì trật tự xã hội trong vòng pháp luật
6 Xem: - Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội Giáo trình công tác kiểm sát, tập 1 Sđd, trang 84-91
- Phạm Hồng Hải Bàn về quyền công tố Kỷ yếu đề tài cấp Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, trang 89
- Đỗ Văn Đương Sđd, trang 140
Trang 17Hai là, trước khi BLTTHS năm 2003 được ban hành, ngoài các vụ án
hình sự, VKS còn có quyền khởi tố đối với các vụ án dân sự, hành chính, lao động theo quy định của pháp luật Và họ coi việc khởi tố một vụ án, bất luận
đó là loại án gì cũng đều là dấu hiệu khởi động đầu tiên của quyền công tố
Đa số các ý kiến cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự Song, trong phạm vi hẹp này (lĩnh vực tố tụng hình sự) cũng tồn tại rất nhiều quan điểm về phạm vi quyền công tố Khái quát có hai quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, phạm vi quyền công tố được giới hạn từ
sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm, VAHS được chuyển sang VKS để truy
tố người phạm tội ra Tòa và chấm dứt sau khi Tòa án xét xử xong và tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật Như vậy có nghĩa là phạm vi quyền công tố chỉ bao gồm hai giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự: truy tố bị can ra trước Tòa và buộc tội bị can tại phiên tòa7 Nói cách khác, quyền công tố chỉ tồn tại ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã thu hẹp không chỉ nội dung mà cả phạm vi của quyền công tố Theo ý kiến chúng tôi, truy tố người phạm tội ra Tòa và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa chỉ
là một trong số quyền năng cụ thể thuộc nội dung quyền công tố, không thể coi là toàn bộ phạm vi của quyền công tố
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố bắt đầu từ khi cơ quan có
thẩm quyền xác định được tội phạm xảy ra và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án Như vậy có nghĩa là quyền công tố được thực hiện bởi các cơ quan tố tụng trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án8
Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy định có nhiệm vụ phát hiện người phạm tội, xác định căn cứ để kết tội và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
7 Vũ Mộc Về thực hiện quyền công tố của VKSND trong tố tụng hình sự, thực tiễn và kiến nghị Kỷ yếu đề tài cấp Bộ “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam” VKSND tối cao, trang 117
8 Đỗ Văn Đương Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố Kỷ yếu đề tài cập Bộ “Những vấn
đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, trang 142
Trang 18Với quan điểm của mình về quyền công tố đã nêu ở trên, theo ý kiến chúng tôi, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị9
Chúng tôi cho rằng, khi hành vi phạm tội được thực hiện, cơ quan công tố là phải (và có quyền) tiến hành ngay các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội, xác định các căn cứ để kết tội họ Còn trên thực tế, cơ quan công tố có phát hiện, điều tra kịp thời tội phạm và người phạm tội hay không thì đó lại là vấn đề khác Việc đó không ảnh hưởng hoặc ngăn cản việc triển khai các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền thực hành quyền công tố
1.1.1.4 Nội dung quyền công tố
Về nội dung của quyền công tố, hiện nay cũng đang còn nhiều ý kiến khác nhau Có thể nói, có bao nhiêu quan điểm về quyền công tố, về đối tượng và phạm vi quyền công tố thì cũng có bấy nhiêu quan niệm về nội dung của quyền công tố và đối tượng của quyền công tố Trên cơ sở quan niệm của mình về quyền công tố và đối tượng của quyền công tố, theo ý kiến chúng tôi, nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội
Về vấn đề nội dung quyền công tố, có ý kiến cho rằng nội dung của quyền công tố được hiểu là tổng hợp tất cả các quyền năng pháp lý do luật định nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội10 Chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã nhầm lẫn nội dung quyền công tố sang nội dung hoạt động thực hành quyền công tố
9 Xem: - Trần Văn Độ Một số vấn đề về quyền công tố Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” VKSND tối cao, Hà Nội
- Trường Cao đẳng kiểm sát VKSND tối cao Sđd, trang 53
10 Đỗ Văn Đương Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố Kỷ yếu đề tài cập Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, trang 136
Trang 191.1.2 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố
1.1.2.1 Các quan điểm thực hành quyền công tố
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết được rõ ràng những vấn đề trên giúp cho việc nhận thức đầy
đủ, chính xác vị trí, vai trò của VKS trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng, cũng như chức năng, nhiệm vụ của VKS trong TTHS Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta tích cực triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp
Trong các tài liệu pháp lý ở nước ta, khi đề cập đến vấn đề thực hành quyền công tố thì cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Một số tác giả nghiên cứu chuyên đề gần đây ở VKSND tối cao và một số VKSND địa phương khi đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố cũng chỉ mới đưa
ra được các biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án
Một bộ phận khác trong giới luật học khi đề cập đến vấn đề thực hành
quyền công tố lại xảy ra hai khuynh hướng Một là, họ gắn việc thực hành
quyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của KSV trong tố tụng hình sự Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là việc tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố ở nước ngoài, cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các quy định pháp luật hiện hành ở nước ta, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi truy tố hoặc buộc tội của VKS trước Tòa án Một số khác thì lại mở rộng phạm vi quyền công tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm cả điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án11
Hai là, họ chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý
như: lập cáo trạng và luận tội trước phiên tòa sơ thẩm hình sự và coi đó là
11 Phạm Tuấn Khải Vài ý kiến về quyền công tố và thực hành quyền công tố Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ
“Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, 1999, trang 100
Trang 20thực hành quyền công tố, có người còn cho rằng thực hành quyền công tố chỉ
là sự buộc tội trước phiên tòa sơ thẩm12
Xuất phát từ chỗ coi quyền công tố là việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, có quan điểm cho rằng: “Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
để truy cứu TNHS người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án
và bảo vệ sự buộc tội đó”13
Chúng tôi nhận thấy quan điểm trên về thực hành quyền công tố là hợp
lý Tuy nhiên, để làm rõ hơn khái niệm thực hành quyền công tố cần xuất phát
từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Theo đó, việc sử dụng những quyền năng này để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với kẻ phạm tội chính là thực hành quyền công tố
Từ những nội dung được trình bày trên, chúng tôi cho rằng, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội
trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Nội dung này được thể
hiện khá cụ thể tại các Điều 13 và Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002, Điều 112 BLTTHS năm 2003
1.1.2.2 Phạm vi thực hành quyền công tố
Để hiểu được một cách đầy đủ khái niệm thực hành quyền công tố, cần phải phân biệt một cách cụ thể, đầy đủ, chính xác phạm vi quyền công tố với phạm vi thực hành quyền công tố Xét về mặt nguyên tắc thì chúng đồng nhất
về phạm vi, đó là từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Mục đích của tố tụng hình sự đòi hỏi mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện và xử lý theo pháp luật Do đó, về mặt nguyên tắc, có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tố phải được phát
12 Nguyễn Thái Phúc Một số vấn đề về quyền công tố của VKS Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn
đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, 1999, trang 28-38
13 Trần Văn Độ Một số vấn đề về quyền công tố Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”, 1999, trang 48
Trang 21động Song, để có cơ sở phát động quyền công tố phải có một giai đoạn chuẩn
bị nhằm thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm xảy ra như: tiếp nhận, xác minh tin báo, tố giác về tội phạm; tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị tạm giữ…
Theo pháp luật TTHS Việt Nam thì khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm (Điều 100 BLTTHS năm 2003), không nhất thiết phải khi tội phạm đã rõ mới được khởi tố Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự đã cho phép thực hành quyền công tố sớm để tạo điều kiện chủ động và phát hiện có hiệu quả mọi hành vi phạm tội Một số nhà hình pháp học đã có lý khi cho rằng, khởi tố vụ án theo dấu hiệu tội phạm chỉ mang tính dự báo, tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động điều tra do BLTTHS quy định nhằm làm rõ có tội phạm xảy ra, chống bỏ lọt tội phạm và đấu tranh chống tội phạm kịp thời
Nhưng ngược lại, cũng cần khẳng định rằng, việc khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan pháp luật không thể bao trùm hết được số vụ phạm tội đã xảy
ra trên thực tế Những vụ phạm tội còn ẩn trong đời sống xã hội đang chiếm một tỷ lệ đáng kể trong mối tương quan so với số vụ đã được khởi tố Nhiều nhà nghiên cứu tội phạm cho thấy, tình trạng đó là một vấn đề có tính quy luật Yêu cầu phát hiện kịp thời và khởi tố điều tra mọi hành vi phạm tội đương nhiên là vấn đề có tính nguyên tắc Bởi lẽ, Nhà nước có trách nhiệm nhân danh xã hội thực hiện việc truy cứu TNHS đối với mọi người phạm tội
Do đó, quan niệm quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố VAHS đã thu hẹp phạm vi của quyền này và nhầm lẫn quyền công tố với thực hành quyền công
tố bởi vì khởi tố vụ án vốn là một biện pháp thực hành quyền công tố Vì vậy, phạm vi quyền công tố rộng hơn so với phạm vi thực hành quyền công tố
Khi tìm hiểu phạm vi thực hành quyền công tố là không phải trong mọi trường hợp quyền công tố đều kéo dài đến khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mà nó có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Điều đó có nghĩa là, không phải mọi vụ án
Trang 22đều được đưa ra xét xử trước Tòa án Bởi vậy, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì cũng có nghĩa là không còn việc thực hành quyền công tố
Chúng tôi cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố VAHS và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS
1.1.2.3 Nội dung thực hành quyền công tố
Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người không có tội Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao
gồm:
Thứ nhất, những hoạt động phát động công tố: đó là khởi tố vụ án, khởi
tố bị can
Khởi tố vụ án là việc Nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội
có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động thực hành quyền truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện tội phạm đó
Theo quy định tại Điều 104 BLTTHS năm 2003, khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố VAHS Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp quy định tại Điều 111 BLTTHS năm
2003 VKS ra quyết định khởi tố VAHS trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của các cơ quan nêu trên và trong trường hợp HĐXX yêu cầu khởi tố vụ án HĐXX ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố VAHS nếu qua xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới, cần phải điều tra
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chỉ có VKS là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, do đó, mọi quyết định khởi tố VAHS của các cơ quan nói trên chỉ thực sự có hiệu lực sau khi đã được VKS xem xét,
Trang 23quyết định Khoản 3 Điều 104 BLTTHS năm 2003 quy định rõ: “Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố VAHS, VKS phải gửi quyết định
đó đến Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra Quyết định khởi tố kèm theo tài liệu liên quan đến việc khởi tố VAHS của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi tới VKS để kiểm sát việc khởi tố Quyết định khởi tố của HĐXX phải được gửi tới VKS để xem xét, quyết định việc điều tra Yêu cầu khởi tố của HĐXX được gửi cho VKS để xem xét, quyết định việc khởi tố”
Điều đó có nghĩa là, xét đến cùng, việc khởi tố hay không khởi tố vụ án
là do VKS quyết định Nếu các quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ, không có cơ sở để truy cứu TNHS thì VKS với tư cách là cơ quan thực hành quyền công tố, có quyền và có trách nhiệm phải hủy bỏ Trong trường hợp phát hiện có tội phạm mà các cơ quan được quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án thì VKS có quyền và có trách nhiệm hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án Trường hợp quyết định khởi tố vụ án của HĐXX không có căn cứ, VKS có quyền kháng nghị lên Tòa
án cấp trên theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2003 Đối với những trường hợp khác, VKS có quyền yêu cầu khởi tố hoặc tự mình khởi tố vụ án
và chuyển đến Cơ quan điều tra yêu cầu tiến hành điều tra theo quy định tại Điều 36 BLTTHS năm 2003
Ở nước ta chỉ có VKS mới là cơ quan phát động quyền công tố một cách độc lập, có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi tố của cơ quan có thẩm quyền, có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ tội phạm xảy ra cũng như lỗi của người đã thực hiện tội phạm
Khởi tố bị can là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định về mặt pháp lý về một người nào đó thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội và đang bị truy cứu TNHS Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện
Trang 24hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra, VKS đều có quyền khởi tố bị can theo quy định tại Điều 36 và Điều 126 BLTTHS năm 2003
Tóm lại, khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những biện pháp phát động quyền công tố Sau khi quyền công tố được phát động, đòi hỏi Cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra để làm rõ có tội phạm xảy ra hay không
Thứ hai, hoạt động thực hành quyền công tố tiếp tục được thực hiện bởi
VKS trong giai đoạn điều tra VAHS bằng các biện pháp cụ thể: “Yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra Quyết định việc truy tố bị can Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án”
Trong giai đoạn điều tra VAHS, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi VKS quyết định việc truy tố hoặc không truy tố người phạm tội ra tòa hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS
Thứ ba, những hoạt động thực hành quyền công tố của VKS trong giai
đoạn xét xử VAHS (Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002): đọc cáo trạng, quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
Như vậy, những hoạt động trên của VKS hoàn toàn mang tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào Ở đây VKS thực hiện việc buộc tội (truy cứu TNHS) đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm truy tố của mình, không có hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Trang 251.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.2.1 Xét hỏi tại phiên tòa
1.2.1.1 Vai trò và ý nghĩa của xét hỏi
Xét hỏi thực chất là quá trình tiếp tục điều tra nhưng khác với các giai đoạn điều tra trước đó ở chỗ: xét hỏi xem xét lại các kết luận điều tra một cách công khai, làm rõ tất cả những chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án Tòa án không được dựa vào chứng cứ trong giai đoạn điều tra để kết luận nếu chứng cứ đó không được đưa ra xem xét và đánh giá tại phiên tòa trong phần xét hỏi Việc điều tra tại phiên tòa diễn ra với sự có mặt của tất cả các chủ thể có liên quan đến vụ án, bên buộc tội, bên bào chữa, Tòa án giữ vai trò trung lập
Xét hỏi tại phiên tòa rất quan trọng Vấn đề xác định sự thật vụ án là mục đích chính, xuyên suốt trong tất cả giai đoạn tố tụng Chúng ta không thể chỉ căn cứ vào kết quả của giai đoạn điều tra để cho rằng đã xác định sự thật
vụ án, không thể đảm bảo rằng tất cả kết quả điều tra đều chính xác, khách quan, đúng thủ tục tố tụng
Xét hỏi là tiền đề để các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ của mình Về phía HĐXX, xét hỏi giúp xác định chính xác các tình tiết khách quan làm cơ sở tuyên bản án hoặc ra quyết định Về phía VKS, KSV sử dụng kết quả của xét hỏi để thực hiện luận tội, rút quyết định truy tố hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn Người bào chữa có thể đặt câu hỏi mang tính chất gỡ tội, làm
rõ tình tiết giảm nhẹ TNHS Câu trả lời của bị cáo cũng là những lời tự bào chữa cho chính mình, được người bào chữa sử dụng để phục vụ cho việc gỡ tội
Trang 26gia xét hỏi không phải là để thẩm tra lại các tài liệu, chứng cứ mà công việc này đã được KSV thực hiện khi nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi ra quyết định truy tố, KSV tham gia xét hỏi là để khẳng định lại một cách công khai những tình tiết, chứng cứ làm căn cứ cho sự buộc tội của mình KSV tham gia xét hỏi là để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của những chứng cứ, tình tiết mới mà các bên đưa ra tại phiên tòa Bản luận tội của KSV cũng phải dựa trên những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra và đánh giá tại phiên tòa nên việc xét hỏi của KSV là rất quan trọng Khi tham gia xét hỏi, KSV phải chú ý những câu hỏi của HĐXX và những câu trả lời của những người được xét hỏi
để xác định những vấn đề nào đã được hỏi, những vấn đề nào chưa được làm
rõ, trên cơ sở đó đặt những câu hỏi bổ sung làm sáng tỏ những vấn đề còn chưa được làm rõ tại phiên tòa Để bản luận tội có căn cứ, phù hợp với nội dung, diễn biến tại phiên tòa thì việc nâng cao chất lượng xét hỏi của KSV để bảo vệ cho cáo trạng của mình cần được quan tâm và chú trọng Để nâng cao chất lượng tranh luận, đòi hỏi KSV phải nâng cao tính tích cực và chủ động của mình trong khi xét hỏi
Phần xét hỏi được bắt đầu bằng việc KSV đọc bản trạng và trình bày ý kiến bổ sung Ý kiến bổ sung là các phần lập luận về tình tiết của vụ án để làm rõ quyết định truy tố hay KSV được quyền bổ sung về tội danh đã truy tố Nếu bổ sung truy tố thêm tội danh cũng đồng nghĩa với cáo trạng đã bị thay đổi Như vậy, ý kiến bổ sung cần được hiểu là bổ sung về bản cáo trạng, chứ không phải là bổ sung cáo trạng Ý kiến bổ sung của KSV nhằm làm rõ hơn nội dung cáo trạng, không làm thay đổi, bổ sung nội dung bản cáo trạng Mặt khác, BLTTHS lại quy định sau khi kết thúc xét hỏi, KSV được quyền trình bày lời luận tội, nghĩa là có thể trình bày ý kiến mới làm thay đổi cáo trạng ban đầu
Bản cáo trạng của KSV là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của VKS
về vụ án, về hành vi mà bị cáo bị VKS truy tố trước tòa KSV đọc bản cáo trạng là cách thức để KSV thực hành quyền công tố trước phiên tòa, thể hiện
vị trí vai trò của KSV khi tham gia phiên tòa Cáo trạng của KSV là căn cứ pháp lý tạo cơ sở cho các chủ thể thực hiện chức năng tố tụng của mình tại
Trang 27phiên tòa: Tòa án với chức năng xét xử, người bào chữa với chức năng gỡ tội
Vụ án được đưa ra xét xử trước phiên tòa xuất phát từ sự buộc tội của VKS nên KSV phải trình bày bản cáo trạng làm tiền đề cho hoạt động xét hỏi và tranh luận và phải tham gia xét hỏi để kiểm tra công khai tại phiên tòa các tình tiết, chứng cứ mà mình sử dụng để buộc tội bị cáo Theo khoản 2 Điều
207 BLTTHS năm 2003 thì KSV là người xét hỏi sau HĐXX, xét hỏi của KSV tại phiên tòa là quyền đồng thời cũng là trách nhiệm của KSV bởi KSV
là người đã đưa ra sự cáo buộc nên phải xét hỏi để làm rõ các tình tiết liên quan đến sự buộc tội, chứng minh trước Tòa tính có căn cứ và hợp pháp trong buộc tội của mình KSV xét hỏi những người tham gia tố tụng chủ yếu là để chứng minh cho bản cáo trạng của mình nên khi tham gia xét hỏi, KSV thường khai thác những lời khai mâu thuẫn, không thống nhất của người được xét hỏi để bảo vệ cho cáo buộc của mình Trong quá trình xét hỏi có thể kết hợp với việc xem xét vật chứng, tài liệu, xem xét tại chỗ để khẳng định cho quan điểm, lập luận của mình
Tại phiên tòa, KSV là người nhân danh Nhà nước cáo buộc hành vi phạm tội của bị cáo đồng thời cũng là một chủ thể của tranh tụng Vì vậy, KSV cần tham gia xét hỏi để kiểm tra những chứng cứ, tình tiết mà mình làm căn cứ buộc tội bị cáo và thẩm tra những chứng cứ mới xuất hiện tại phiên tòa làm tiền đề cho tranh luận của mình để từ đó đưa ra những quan điểm, lập luận nhằm thuyết phục HĐXX, bảo vệ cho sự buộc tội của mình Hiện nay TTHS còn tồn tại hai quan điểm chính về vấn đề xét hỏi tại phiên tòa:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, để tranh tụng thực sự dân chủ, khách
quan, đáp ứng tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW về việc đổi mới xét xử theo hướng tranh tụng thì KSV phải là người xét hỏi chính, đến người bào chữa và cuối cùng là HĐXX Theo quan điểm này thì trình tự xét hỏi nêu trên chưa thể hiện đúng tinh thần cải cách tư pháp là đề cao vai trò của KSV thực hiện quyền công tố thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo để bảo vệ lợi ích xã hội14
Quan điểm này cho rằng việc quy định KSV xét hỏi sau HĐXX đã hạn chế sự tham gia tích cực của KSV và người bào chữa cho việc xét hỏi khiến
14 Nguyễn Mạnh Kháng Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng Nhà nước và pháp luật số 10/2003, trang 31
Trang 28cho tranh luận tại phiên tòa bị hạn chế Nếu sửa đổi pháp luật theo hướng KSV hỏi trước sẽ tạo sự chủ động cho KSV và người bào chữa trong xét hỏi
để họ bảo vệ cho lập luận, quan điểm của mình HĐXX sẽ là người hướng dẫn việc xét hỏi nhằm thẩm tra chứng cứ và trên cơ sở kết quả xét hỏi của các chủ thể đó, HĐXX tổng hợp đánh giá lại toàn bộ và hỏi thêm những vấn đề chưa được các bên làm sáng tỏ nhằm xác định đầy đủ các tình tiết liên quan đến vụ án làm tiền đề cho việc điều khiển tranh luận đạt hiệu quả
Quan điểm thứ hai cho rằng việc quy định trình tự xét hỏi theo luật tố
tụng hình sự là hợp lý, chủ tọa phiên tòa là người hỏi trước để xác định đầy
đủ các tình tiết liên quan đến vụ án, cần có sự phối hợp giữa KSV và HĐXX trong quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bởi vì tại phiên tòa HĐXX thực hiện chức năng xét xử, còn VKS thực hành quyền công tố HĐXX là người ra phán quyết cuối cùng về vụ án, có trách nhiệm điều khiển phiên tòa, chủ động và tích cực xét hỏi để thực hiện cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra đánh giá các tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội KSV là người theo dõi vụ án ngay từ giai đoạn điều tra có thời gian nghiên cứu hồ sơ trước khi ra quyết định truy tố nên việc xét hỏi của KSV chủ yếu là để bảo vệ cho cáo trạng của mình Việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án là trách nhiệm của KSV khi tham gia tranh luận Vì vậy, tại phiên tòa KSV không nên là người xét hỏi chính và việc nâng cao tính tranh tụng của xét hỏi không phải là việc thay đổi trình tự xét hỏi mà nên đổi mới việc xét hỏi, việc xét hỏi của HĐXX chỉ mang tính gợi mở HĐXX chủ động nêu vấn đề cho các bên tranh luận Ngoài ra cần tránh tình trạng tại phiên tòa trong phần xét hỏi KSV là người chứng kiến HĐXX xét hỏi để làm rõ những chứng cứ buộc tội của mình trong cáo trạng
Quán triệt tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết 08-NQ/TW theo hướng nâng cao chất lượng tranh tụng cần phải có sự phân định trong việc thực hiện các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự KSV khi tham gia tố tụng tại phiên tòa là nhằm thực hiện chức năng buộc tội, Tòa án thực hiện chức năng xét xử Còn bị cáo và người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa Pháp luật hiện hành trong các quy định cụ thể đã có sự phân định tương
Trang 29đối trong việc thực hiện các chức năng tố tụng cơ bản Do đó, mỗi chủ thể tố tụng khi tham gia vào hoạt động tố tụng tại phiên tòa có quyền tham gia xét hỏi để chứng minh cho mục đích tố tụng của mình, góp phần giải quyết vụ án Pháp luật quy định cho phép HĐXX, chủ tọa phiên tòa được quyền hỏi trước, điều này đã làm hạn chế vai trò của KSV trong việc xét hỏi Do đó, cần phải
đề cao hơn nữa vai trò của KSV tại phiên tòa KSV trong vai trò là người buộc tội phải thể hiện được nghĩa vụ chứng minh chủ yếu tại phiên tòa mà trước hết là qua hoạt động xét hỏi, còn Tòa án không tham gia xét hỏi chính
mà chỉ điều khiển phiên tòa Ngoài ra, nhân tố con người mà cụ thể là năng lực của KSV cũng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của KSV trong khi thực hành quyền công tố tại các phiên tòa hình sự Trong hoạt động tố tụng đã có thể hiện sự tranh tụng nhưng chưa rõ ràng, nền tảng chủ yếu của hoạt động tố tụng tại phiên tòa vẫn là xét hỏi Hoạt động xét hỏi như hiện nay chưa làm rõ vai trò của KSV dẫn đến sự thiếu chủ động trong việc tham gia xét hỏi để buộc tội của KSV giữ quyền công tố tại phiên tòa
Theo quy định của BLTTHS, phần lớn thời gian tiến hành xét xử tại phiên tòa là hoạt động của HĐXX, trong đó chủ yếu là hoạt động của chủ tọa phiên tòa KSV khi tham gia phiên tòa cần phải nhận thức đúng và đầy đủ vai trò cũng như trách nhiệm của mình, cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng và toàn diện
hệ thống các chứng cứ, tài liệu được thể hiện trong hồ sơ vụ án Và KSV cần phải xác định được giới hạn chứng minh cũng như các đối tượng chứng minh
cụ thể, từ đó đi sâu nghiên cứu vào những chứng cứ, tình tiết bổ trợ khác có giá trị cho việc giải quyết vụ án Nếu ngay từ việc nghiên cứu hồ sơ vụ án được tiến hành tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của KSV tại phiên tòa
1.2.1.3 Phạm vi và nội dung xét hỏi
KSV xét hỏi bị cáo về những tình tiết có liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội (Khoản 3 Điều 209 BLTTHS), xét hỏi các chủ thể khác có liên quan đến
vụ án về những vấn đề họ trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn (Điều 210, Điều
211 BLTTHS)
Trang 30Trong thủ tục xét hỏi, KSV được tham gia hỏi trước người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự nhưng hỏi sau HĐXX (khoản 2 Điều
207 BLTTHS) KSV được quyền công bố những lời khai tại cơ quan điều tra (Điều 208 BLTTHS) Ngoài ra, BLTTHS còn quy định rõ khi xét hỏi bị cáo, KSV hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội (khoản 3 Điều 209 BLTTHS), tham gia xét hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự Tuy nhiên, các quy định trong Chương XX của BLTTHS năm 2003 chưa thể hiện được tính chủ động, tích cực của KSV trong quá trình xét hỏi để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án
Tại phiên tòa sơ thẩm, KSV muốn khẳng định kết luận của mình là có căn cứ thì phải chứng minh các sự kiện nêu trong cáo trạng là thật, khách quan, các tài liệu chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự pháp luật quy định Đó chính là quá trình làm cho HĐXX nhận thức một cách cơ bản toàn
bộ diễn biến về vụ án Nghĩa là mọi tình tiết của vụ án phải được phản ánh trong phần xét hỏi, còn việc chứng minh cho HĐXX rằng hành vi của bị cáo
đã phạm vào điều, khoản nào của BLHS thì phải đặt trong mối quan hệ giữa các sự kiện, tình tiết và bản chất pháp lý của chúng được thực hiện trong phần tranh luận và nghị án
Trong mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng xét xử thì chức năng buộc tội có trước và là tiền đề cho chức năng xét xử hình thành và hoạt động Do đó, trong mối quan hệ giữa KSV và HĐXX tại phiên tòa thì KSV phải chủ động thực hiện các hoạt động của mình trước bằng việc đóng vai trò chủ động xét hỏi để làm rõ các tình tiết của vụ án Nghĩa là, để chứng minh cho việc buộc tội bị cáo là có căn cứ thì KSV phải có nghĩa vụ xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
Để việc xét hỏi tại phiên tòa đúng với tinh thần cải cách tư pháp, KSV tham gia phiên tòa phải là người kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra của Điều tra viên trong giai đoạn điều tra theo đúng quy định của BLTTHS; dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa vì trong quá trình kiểm sát điều tra, những hạn chế của công tác điều tra, những khiếm khuyết không thể khắc phục trong quá trình điều tra, thái độ khai báo của bị can và những người
Trang 31tham gia tố tụng khác KSV cần có một bản đề cương xét hỏi đối với các vụ
án phức tạp, có nhiều bị cáo bị truy tố về nhiều tội khác nhau; nội dung xét hỏi đối với từng người tham gia tố tụng khác nhau cũng phải được chuẩn bị
và phải chú ý theo dõi HĐXX, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự xét hỏi Trên cơ sở đó, KSV có thể đặt câu hỏi thêm, tránh tình trạng cùng một vấn đề mà HĐXX hoặc người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đã hỏi, người được hỏi đã trả lời đầy đủ, rõ ràng nhưng KSV vẫn hỏi lại
Theo quy định tại khoản 3 Điều 209 BLTTHS năm 2003, KSV xét hỏi
về toàn bộ vụ án, hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội,
gỡ tội đối với bị cáo Việc nhà làm luật quy định KSV không chỉ hỏi về tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội mà còn phải hỏi những tình tiết liên quan đến việc gỡ tội, vì trong lời luận tội của KSV không chỉ nêu các chứng
cứ buộc tội bị cáo mà còn phải nêu các chứng cứ gỡ tội, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nếu sau khi xét hỏi mà chứng minh bị cáo không phạm tội thì KSV còn phải rút quyết định truy tố và đề nghị HĐXX đình chỉ vụ án
Việc xét hỏi những người bị thiệt hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người đó theo quy định tại Điều 210 BLTTHS năm 2003 Để những người này trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ, sau đó KSV hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đủ hoặc có mâu thuẫn Như vậy, tại phiên tòa, những người này trình bày là chính, KSV hỏi khi thấy cần thiết Sau khi họ đã trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan, cần chú ý hỏi nguyên đơn dân sự về bồi thường thiệt hại, đối với người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì cần phải hỏi các tình tiết có liên quan đến TNHS của bị cáo
Khoản 2 Điều 211 BLTTHS năm 2003 quy định khi hỏi người làm chứng, KSV yêu cầu trình bày rõ những tình tiết vụ án mà họ biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ khai chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn Nếu người làm chứng không trả lời hoặc không khai tại phiên tòa thì KSV tự mình hoặc yêu cầu chủ tọa phiên tòa có thể công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra
Trang 32Tuy nhiên, cần giải thích cho họ về quyền và nghĩa vụ trước khi hỏi để người làm chứng thấy được trách nhiệm của mình khi tham gia phiên tòa
Việc tham gia tố tụng của người giám định tại phiên tòa không phải là bắt buộc mà tùy từng trường hợp Việc hỏi người giám định tại phiên tòa chỉ được tiến hành sau khi người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định, giải thích bổ sung trên cơ sở kết luận giám định KSV
có quyền nhận xét về kết luận giám định và hỏi người giám định về những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định (khoản 4 Điều 215 BLTTHS)
Việc xét hỏi tại phiên tòa phải được thực hiện trực tiếp bằng việc hỏi và đáp Tuy nhiên, trong một số trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toà hoặc tuy có mặt nhưng việc khai báo có mâu thuẫn với lời khai của
họ tại Cơ quan điều tra hoặc người được xét hỏi không khai thì theo khoản 2 Điều 208 BLTTHS năm 2003 KSV tự mình hoặc đề nghị HĐXX công bố lời khai tại Cơ quan điều tra Việc công bố lời khai của những người tham gia tố tụng chỉ được thực hiện sau khi đã hỏi nhưng họ không trả lời hoặc nội dung trả lời mâu thuẫn với lời khai của họ tại Cơ quan điều tra KSV không được nhắc hoặc công bố lời khai trước khi họ khai tại phiên tòa
Trường hợp qua việc xét hỏi, KSV thấy việc giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng là không phù hợp thì KSV có quyền thay đổi quyết định truy tố theo quy định tại Điều 181, Điều 195, Điều 221 BLTTHS VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án
“Nếu xét thấy có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của Bộ luật này hoặc có căn cứ để miễn TNHS cho bị can, bị cáo theo quy định tại Điều
19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của BLHS” Đó là các trường hợp:
Một là, VKS rút quyết định truy tố khi có một trong các căn cứ quy
định tại Điều 107 BLTTHS bao gồm: không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu TNHS, người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật, đã hết thời hạn truy cứu
Trang 33TNHS, tội phạm được đại xá, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã chết trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
Hai là, VKS phải rút quyết định truy tố khi có một trong những căn cứ
sau: có đủ căn cứ xác định người thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 BLHS), trong trường hợp chờ xét xử có sự chuyển biến tình hình hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội, pháp luật quy định miễn TNHS đối với người phạm tội (Điều 25 BLHS) và trường hợp miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội (Khoản 2 Điều 69 BLHS)
VKS có chức năng thực hành quyền công tố và thực hiện chức năng đó bằng bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa và tham gia phiên tòa để bảo vệ
sự buộc tội đó Tuy nhiên, là cơ quan thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo, VKS phải thực hiện việc buộc tội đó chính xác, khách quan, không làm oan người vô tội Vì vậy, BLTTHS quy định cho VKS quyền rút hay thay đổi quyết định truy tố, nếu thấy rằng việc truy tố đó là không đúng
Trước khi mở phiên tòa, nếu VKS rút toàn bộ quyết định truy tố thì HĐXX ra quyết định đình chỉ vụ án Nếu VKS rút một phần quyết định truy
tố thì HĐXX chỉ xét xử phần không bị rút truy tố
Tại phiên tòa, chỉ sau khi xét hỏi, trong lời luận tội của mình KSV mới
có thể tuyên bố rút toàn bộ hay một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn, nhưng HĐXX vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án Tùy theo trường hợp mà HĐXX xử lý như sau:
Nếu VKS rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó Khi nghị án nếu HĐXX thấy rằng việc rút quyết định truy tố là đúng đắn thì ra bản án tuyên bị cáo vô tội; nếu thấy rằng bị cáo vẫn có tội và việc rút quyết định truy tố là không đúng thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và báo cáo lên VKS cấp trên VKS cấp trên nếu thấy quyết định của VKS cấp dưới là đúng đắn thì quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án đã xét xử; nếu thấy quyết định của VKS cấp dưới không đúng thì ra quyết định hủy
Trang 34quyết định của VKS cấp dưới và đề nghị Tòa án phục hồi việc xét xử đối với
về nhiều tội; rút việc truy tố đối với một bị cáo trong vụ án có nhiều bị cáo…
Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi nếu VKS thấy rằng bị cáo có thêm hành
vi phạm tội, bị cáo phạm tội nặng hơn, có thêm người đồng phạm…thì không
có quyền kết luận đề nghị HĐXX ra bản án theo hướng đó Vì điều đó vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Trong trường hợp này, KSV đề nghị HĐXX chuyển hồ sơ điều tra bổ sung
Sự tham gia của VKS mà đại diện là KSV trong phần xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm là để thực hành quyền công tố KSV trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của mình trong phần xét hỏi như đọc cáo trạng, tham gia xét hỏi là để chứng minh cho sự buộc tội của mình là có căn cứ và hợp pháp Trong thực tế tố tụng cũng như qua các quy định của pháp luật hiện hành thì KSV thực hành quyền công tố phần lớn ở trong phần xét hỏi Tất cả những hoạt động của KSV trong phần xét hỏi tạo nền tảng, cơ sở cho hoạt động của KSV trong phần tranh luận
1.2.2 Tranh luận tại phiên tòa
1.2.2.1 Vai trò và ý nghĩa của tranh luận
Tranh luận là quá trình tiếp sau thủ tục xét hỏi, KSV, người bị hại và người bào chữa tranh luận làm rõ hành vi của bị cáo, phạm tội gì, hình phạt cần áp dụng như thế nào Với những chứng cứ đã được xác định trong quá trình xét hỏi, bên buộc tội và bên gỡ tội đặt ra những điểm còn nghi vấn, phản bác các chứng cứ ảnh hưởng đến tội danh của bị cáo Người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, người bị hại, những người khác được pháp luật cho phép sẽ tranh luận các vấn đề trong vụ án hình sự
Trang 35Tranh luận là cơ hội lớn cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa Bị cáo tự biện hộ hoặc nhờ người biện hộ cho hành vi của mình Có thể nói ở giai đoạn này, VAHS được xem xét từ hai mặt đối lập với những lập luận của các bên cùng với những chứng cứ được viện dẫn Nếu như thủ tục xét hỏi chỉ xem xét một chiều qua chứng cứ, lời khai có thể dẫn đến sai lầm trong quyết định do ý chí chủ quan thì trong tranh luận phá bỏ hoàn toàn sự chủ quan đó Tranh luận giúp xem xét vấn đề theo nhiều hướng, nhiều ý kiến, chỉ ra những điểm còn mâu thuẫn, nghi ngờ, không hợp lý, đưa ra các quan điểm, hướng giải quyết
cá nhân mang tính chất tham khảo Tranh luận không chỉ xem xét, nhận định lại sự thật đã được xác định trong xét hỏi mà còn gắn liền việc xem xét với áp dụng pháp luật nội dung Tranh luận để tìm ra chân lí, sự thật vụ án và cách giải quyết Tranh luận không triệt để hoặc không tranh luận có thể dẫn đến bản án oan, sai hoặc tính thuyết phục của bản án không cao
Tranh luận là một thủ tục - một phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm, trong đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua trình bày bằng lời nói của mình tổng hợp và đánh giá các chứng cứ của vụ án, đưa ra các đánh giá chính trị - xã hội và đánh giá pháp lý đối với các hành vi của bị cáo, những đề nghị
về hình phạt và mức hình phạt cùng những vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi tuyên án
Việc nhận thức đúng đắn bản chất hoạt động tranh luận của KSV tại phiên tòa hình sự có ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì, chỉ trên cơ sở nhận thức đúng về bản chất của tranh luận mới giúp cho KSV xác định đúng đắn nhiệm
vụ của mình khi tham gia tranh luận, nêu cao trách nhiệm trong việc thực hiện đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định, có thái độ và cách ứng xử phù hợp, tránh tư duy cứng nhắc, bảo thủ, không xem xét, đánh giá đầy đủ kết quả điều tra công khai tại phiên tòa dẫn đến những sai lầm trong việc đưa ra quan điểm giải quyết vụ án
1.2.2.2 Thủ tục và nội dung tranh luận
Quá trình tranh luận bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội tại phiên tòa Lời luận tội của KSV có thể khác hoặc giống nội dung cáo trạng
Trang 36Cần phân biệt giữa cáo trạng và lời luận tội của KSV tại phiên tòa Cáo trạng
là nội dung truy tố của VKS căn cứ trên những chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án nhận thấy rằng bị can đã thực hiện hành vi phạm tội Lời luận tội của KSV tại phiên tòa là buộc tội trên cơ sở những chứng cứ gỡ tội đã xác định được trong phần xét hỏi, nhận định lại các tình tiết, sự kiện và chứng cứ đã được xem xét tại tòa Lời luận tội của KSV tại phiên tòa mang tính chính xác hơn so với nội dung buộc tội trong cáo trạng
Căn cứ vào Chương XX của BLTTHS năm 2003 có thể nói hoạt động của KSV trong thủ tục tranh luận gồm hai phần: trình bày lời luận tội và đối đáp lại ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác
Điều 217 BLTTHS quy định: “Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, KSV trình bày lời luận tội” và quy định cụ thể về bản luận tội của KSV:
“Luận tội của KSV phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa” Nội dung quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa là yêu cầu cụ thể về nội dung bản luận tội của KSV nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải có sự đổi mới, nâng cao chất lượng các hoạt động của KSV khi tham gia phiên tòa hình sự
Luận tội chính là buộc tội nhưng là buộc tội sau khi kết thúc phần xét hỏi Buộc tội tại thời điểm này có những điểm khác so với buộc tội ban đầu (khi KSV công bố cáo trạng) ở chỗ: nếu như cáo trạng là buộc tội dựa trên nền tảng của kết luận điều tra với những chứng cứ có trong hồ sơ tại thời điểm ban hành cáo trạng và chưa được kiểm tra tại phiên tòa thì luận tội là buộc tội dựa trên kết quả của phần xét hỏi, dựa trên sự đánh giá các chứng cứ
đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, bao gồm cả những chứng cứ mới được thu thập, đề xuất được Tòa án chấp nhận đưa vào hồ sơ Có thể nói luận tội là sự buộc tội chính thức cuối cùng của VKS trước khi bị cáo nói lời sau cùng nên có ý nghĩa đối với bên bào chữa cũng như đối với Tòa án Nếu như luận tội có những thay đổi, điều chỉnh so với cáo trạng ban đầu thì bên bào
Trang 37chữa phải căn cứ vào luận tội để chuẩn bị trình bày bào chữa, còn Tòa án căn
cứ vào luận tội để xác định giới hạn xét xử của mình15
Trong lời luận tội, KSV có quyền đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ hoặc một phần nội dung bản cáo trạng do chính mình đã công bố KSV cũng có quyền đề nghị kết tội bị cáo về một tội nhẹ hơn (so với tội đã truy tố ở bản cáo trạng) hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố khi thấy không có căn cứ kết tội Sau lời luận tội của KSV sẽ là lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo (nếu bị cáo có người bào chữa), nếu không có người bào chữa, bị cáo sẽ tự mình trình bày lời bào chữa Ngay cả khi có người bào chữa cho mình, bị cáo vẫn có quyền bổ sung ý kiến để bào chữa cho mình Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ cũng được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Như vậy, đối tượng “tranh luận” của KSV tại phiên tòa là rất rộng, KSV không chỉ tranh luận với luật sư,
mà KSV còn phải có trách nhiệm tranh luận về những ý kiến của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa Khoản 2 Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các VAHS: “…tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”
Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian mới đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” Thể chế hóa quan điểm này, tại chương XXI của BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, nội dung của việc tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của KSV trong việc tranh luận tại phiên tòa Thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 217 đến Điều 221 BLTTHS
Trên cơ sở quy định của Điều 217 BLTTHS năm 2003, Điều 23 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án
15 Nguyễn Thái Phúc Vai trò, trách nhiệm của KSV và thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm TCKS số
9-2003, trang 18
Trang 38hình sự đã nêu rõ các yêu cầu về nội dung của luận tội, đó là: phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả gây ra, vai trò trách nhiệm và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh, bảo đảm tính logic Phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo, phân tích bác bỏ những quan điểm không có căn cứ, không phù hợp với vụ án của những người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ sự thật Khi phân tích, bác
bỏ các quan điểm không phù hợp phải viện dẫn các chứng cứ để chứng minh Xác định rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm KSV phải phân tích những nhận thức sai lệch, sai trái của bị cáo để lên án trước dư luận, đồng thời rút ra những bài học cảnh giác trong nhân dân và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa để khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lí kinh
tế - xã hội Tuy nhiên, nội dung này phải phù hợp với thực tế của vụ án, cần gắn chặt với yêu cầu chính trị chung và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, phục vụ tốt cho việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa loại tội phạm đó nói riêng Đề nghị áp dụng về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại (nếu có), đảm bảo chính xác theo điều, khoản, điểm của BLHS16
Theo chúng tôi có mấy vấn đề quan trọng cần đảm bảo trong luận tội của VKS:
Tính khách quan của luận tội: luận tội phải dựa trên những chứng cứ
đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa Điều này có nghĩa là số lượng chứng
cứ, nguồn chứng cứ có thể có những thay đổi so với thời điểm trước phiên tòa Sự xuất hiện những chứng cứ mới, điều kiện xem xét, kiểm tra chứng cứ công khai có sự tham gia bình đẳng của các bên tranh tụng là những yếu tố
có thể dẫn đến sự thay đổi đánh giá về chứng cứ, nhận định sự tồn tại hoặc không tồn tại của tình tiết cụ thể của vụ án, mối quan hệ giữa chúng với
16 Dương Thanh Biểu Tranh luận của KSV tại phiên tòa hình sự - Những vấn đề lý luận và thưc tiễn TCKS
số 24 (12-2005), trang 11-12
Trang 39nhau Những thay đổi khách quan diễn ra tại phiên tòa ở phần xét hỏi không thể không ảnh hưởng đến lập trường của KSV thực hành quyền công tố Trước khi trình bày lời luận tội, KSV phải đánh giá lại kết quả của phần xét hỏi và xác định đối chiếu với nội dung của cáo trạng và phải có quan điểm dứt khoát rõ ràng về những nội dung của cáo trạng không phù hợp với kết quả xét hỏi BLTTHS đã dự liệu khả năng thay đổi khách quan của vụ án diễn ra tại phiên tòa ảnh hưởng đến lập trường của KSV thông qua sự thừa nhận quyền của KSV có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố của mình hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn (Điều 221 BLTTHS năm 2003) Như vậy khả năng thay đổi quan điểm truy tố, buộc tội của KSV tại phiên tòa là có thể
và là một phần tất yếu khách quan cần được chấp nhận Và việc rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hay kết luận về một tội danh nhẹ hơn trước những thay đổi khách quan tại phiên tòa cần được nhìn nhận như là một trách nhiệm, một nghĩa vụ pháp lý của KSV trong khi tham gia phiên tòa để thực hành quyền công tố
Tính thuyết phục của luận tội: thuyết phục ở đây trước hết là thuyết
phục đối với Tòa án Mặc dù Tòa án không tham gia vào phần tranh luận nhưng Tòa án là cơ quan xét xử ra quyết định cuối cùng về các vấn đề của vụ
án nên trình bày luận tội của KSV trước hết là nhằm thuyết phục Tòa án rằng những yêu cầu buộc tội đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật Tiếp theo là thuyết phục đối với bên bào chữa và đối với tất cả những người
có mặt tại phiên tòa Quá trình nghiên cứu hồ sơ và tham gia tích cực trong phần xét hỏi của KSV là tiền đề quan trọng củng cố niềm tin nội tâm về các tình tiết, sự kiện của vụ án Đây là yếu tố tâm lý cần thiết để VKS vững tin bước vào phần tranh luận17
Đối đáp là một nội dung quan trọng trong tranh luận Mọi quan điểm, cách giải quyết vụ án được xem xét dưới góc nhìn từ hai quan điểm trái ngược nhau Quy định tại Điều 218 BLTTHS năm 2003 cho thấy nghĩa vụ đối đáp của KSV, ngoài nhiệm vụ luận tội đối với bị cáo Từ quy định này có thể
17 Nguyễn Thái Phúc Vai trò, trách nhiệm của KSV và thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm TCKS số
9-2003, trang 19-21
Trang 40thấy, luận tội và đối đáp có mối quan hệ mật thiết với nhau, luận tội là tiền đề cho đối đáp, đối đáp đưa ra những luận chứng, chứng cứ để củng cố, chứng minh cho việc luận tội Theo đó, KSV sẽ tranh luận với những bên tranh luận khác nhằm bảo vệ quan điểm luận tội và đáp lại những yêu cầu của họ là chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu đó, lí do của việc chấp nhận hay không chấp nhận…Đặc biệt là khi có những ý kiến cho rằng lời luận tội của KSV là không hợp lý, thiếu căn cứ hoặc vi phạm nguyên tắc pháp luật trong luận tội thì KSV phải tranh luận lại bằng việc đưa ra những chứng cứ, lập luận mang tính pháp lý phản bác lại những ý kiến đó Có như vậy, KSV mới thuyết phục được HĐXX cũng như những người tham gia tranh luận rằng quan điểm luận tội của mình là đúng đắn và phù hợp pháp luật
Đối đáp của KSV được thực hiện khi trong lời bào chữa đã viện dẫn làm sai lệch các luận điểm, nội dung của luận tội, chấp nhận đối đáp trong trường hợp này chính là làm rõ và bảo vệ các ý kiến của KSV Khi thấy trong phần trình bày luận tội của mình còn có điểm chưa rõ ràng, thiếu sót thì đây là
cơ hội tốt để khắc phục, bổ sung cho phần trình bày lời luận tội Hoặc trong lời bào chữa còn nhiều thiếu sót, hạn chế trong phân tích, đánh giá chứng cứ, giải thích các quy định của pháp luật thì thông qua đối đáp, chỉ ra những hạn chế trong luận điểm của bên bào chữa, KSV đã làm tăng thêm tính thuyết phục cho luận tội của mình
Các quy định của BLTTHS năm 2003 về đối đáp giữa KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa cũng được bổ sung một số nội dung nhằm nâng cao tính dân chủ, bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh luận Điều 218 BLTTHS năm 2003 về đối đáp quy định: "Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày
ý kiến về luận tội của KSV và đưa ra đề nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến"; "Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị KSV phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được KSV tranh luận" Như vậy, việc tranh luận của KSV tại phiên tòa hình sự là một nhiệm vụ mang tính bắt buộc phải thực hiện với yêu cầu rất cụ thể