Tuy nhiên, lĩnh vực bông hiện đang bị khủng hoảng dochưa thanh toán được các khoản nợ cho người sản xuất trong các vụ thu hoạch gầnđây và do tình hình tài chính khó khăn của Công ty bông
Trang 1Hồ sơ thị trường Tô-gô
KINH DOANH VỚI THỊ TRƯỜNG TÔ-GÔ
MỤC LỤC
IV.9 Hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường 12
V Tình hình ngoại thương Tô-gô năm 2004 12
V.5 Quan hệ thương mại Tô-gô và Trung Quốc 16
Chương 2 Quan hệ thương mại Việt Nam – Tô-gô 17
IV.1 Các phương tiện thanh toán tại địa phương 21
VI Quy mô thị trường, cách thức và xu hướng tiêu dùng 22
Trang 2VI.1 Quy mô thị trường Tô-gô 22
VI.2 Mức sống, sức mua, thói quen tiêu dùng 23
I.3 Ngôn ngữ chính thức và thương mại 32
II Khoảng cách và phương tiện đi lại tại Tô-gô 32
VI Danh sách khách sạn tại thủ đô Lomé 34
VII Danh sách các đại lý vận tải tại Lomé 35
VIII Danh sách các ngân hàng địa phương 36
XI Danh sách các DN đăng ký tại Phòng TM và CN Tô-gô 40
Trang 3hương 1 Tìm hiểu nước Cộng hoà Tô-gô
I Giới thiệu chung
Cộng hoà Tô-gô là một nước nhỏ nằm ở Tây Phi, trông ra Vịnh Ghi-nê, có biên giớichung với Burkina Faso ở phía Bắc, Bénin ở phía Đông và Ghana ở phía Tây Tô-gô
có diện tích 56 785km2, thủ đô là Lomé, dân số khoảng 5,8 triệu người (2005) Tăngtrưởng dân số trung bình 2,5% mỗi năm Ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp Cáctiếng Ewé, Kabyè và Mina là những ngôn ngữ quốc gia được người dân sử dụngnhiều nhất Đồng tiền quốc gia là Franc CFA (1 USD = 522,59 FCFA năm 2006)
Các thành phố chính là Lomé (1 triệu dân) - thủ đô đồng thời là trung tâm côngnghiệp và thương mại chính của đất nước, Atakpamé (252.000 dân), Sokodé (88.000dân) Số dân đô thị chiếm 35% Các nhóm dân tộc chính là Ewé (20%), Kabyè(16%), Watchi (8,3%), Tem (4,6%)… Các tôn giáo chủ yếu là Bái vật giáo (50%),Thiên Chúa giáo (26%), đạo Hồi (15%) và đạo Tin Lành (9%) Tuổi thọ trung bìnhcủa người dân là 54,3 tuổi, tỷ lệ biết chữ ở người lớn (trên 15 tuổi) là 53% Chỉ sốphát triển con người là 0,512, xếp hạng 143/177 (theo báo cáo của Chương trình pháttriển LHQ 2005)
Tô-gô thực sự là một « dây rốn kinh tế », một đường giao thông tự nhiên nối vịnhGhinê với những nước nằm cạnh sa mạc Xahara Tô-gô có hệ động thực vật phongphú và đa dạng, những vùng núi xanh tươi và cả những đồng bằng cằn cỗi và bờ biểncát mịn Từ Bắc sang Nam, dãy núi dài Atakora chạy chéo qua Tô-gô đến tận Ghana
và Bénin Dãy núi này có đỉnh Agou cao 986m Những con sông lớn chảy theohướng từ Bắc xuống Nam là Koumongou, Kéran, Kara và Mô
Về tài nguyên thiên nhiên, Tô-gô có dầu lửa ở ngoài khơi và đá cẩm thạch, gan, đá vôi, sắt, than bùn, vàng, uranium và những mỏ phốt phát rất lớn (chiếm trên40% thu xuất khẩu)
măng-Tô-gô đứng thứ tư về sản xuất phốt phát trên thế giới Việc khai thác phốt phát đượctiến hành tại các mỏ lộ thiên ở Hahoté và Akoupané Nhà máy chế biến nằm tạiKpémé gần một bến cảng lớn (dài 1200m) và có công suất 3,4 triệu tấn/năm
Hiện nay, Chính phủ đang thực hiện chính sách đa dạng hoá để không phụ thuộc vàosản phẩm phốt phát nữa Các hoạt động tìm kiếm địa chất đang tiến hành, chủ yếu làthăm dò kim cương và kẽm
Tô-gô có khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam: Gió đại dương
ẩm ướt mang theo mưa, gió khô đôi khi gây ra hạn hán
Trang 4Mật độ dân số cao tại Tô-gô đã dẫn đến nhu cầu về củi đun tăng, gây ra tình trạngphá rừng thuộc loại cao nhất châu Phi.
II Lịch sử
Tên Tô-gô có nguồn gốc từ Togoville Ngày 4-5/7/1884, Vua M’lapa III đã ký vớiGustav Nachtigal, phái viên mật của Đức đồng thời là nhà thám hiểm Hiệp ước bảo
hộ thuộc Đức Tuy nhiên, lịch sử hiện đại của Tô-gô chủ yếu được đánh dấu bởi thời
kỳ hai Vương quốc Dahomey và Vương quốc của người Ashanti kể từ thế kỷ 17 Từthế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 17, dần dần người Ewé và những cư dân sống ở các phá venbiển đã tới đây, tiếp đến là người Kabyé, người Kotokoli…
Vùng ven biển của Tô-gô là nơi sinh sống của người Ewés, sau đó người Bồ ĐàoNha đến thám hiểm vào thế kỷ 15 và kể từ thế kỷ 16, bắt đầu hoạt động buôn nô lệ
da đen tại đây Sau người Bồ Đào Nha là người Hà Lan và mãi đến thế kỷ thứ 19,việc buôn bán nô lệ trên bờ biển Tô-gô mới chấm dứt
Việc khai thác thuộc địa chỉ thực sự bắt đầu khi ký Hiệp ước bảo hộ và người Đứcđến Tô-gô vào cuối thế kỷ 19 Người Đức ở lại nước này đến tận năm 1914 Sauchiến tranh thế giới thứ nhất, lãnh thổ Tô-gô bị chia cắt giữa quân đồng minh Anh vàPháp Theo Hội Quốc Niên (Liên Hiệp quốc khi đó), phần phía Tây của Tô-gô doAnh quản lý và phần phía Đông đặt dưới sự uỷ trị của Pháp Phần phía Bắc của Tô-
gô thuộc Anh sáp nhập với Ghana vào năm 1956 Phần Tô-gô thuộc Pháp đặt dưới sựbảo trợ của Liên Hiệp quốc năm 1946 Tô-gô giành được độc lập từ Pháp ngày27/4/1960
III Chính trị và các thể chế
Ngày 9/4/1961, Sylvanus Olympio trở thành Tổng thống đầu tiên của CH Tô-gô lãnhđạo đất nước trong vòng 2 năm Ngày 13/1/1963, Sylvanus Olympio bị ám sát trongmột cuộc đảo chính quân sự và được thay thế bằng Nicolas Grunitzky Năm 1967,cuộc đảo chính thứ hai đã đưa trung tá Etienne Eyadéma, sau này là đại tướng, lênđứng đầu đất nước Tổng thống Etienne áp dụng một chế độ độc tài trong gần 38năm, bóp nghẹt phe đối lập mặc dù đã có nhiều ý kiến phản đối ở bình diện quốc giacũng như quốc tế
Đầu tháng 10/1990, đất nước đã trải qua những biến động sâu sắc Hoạt động phảnkháng lớn đầu tiên chống lại chế độ của tướng Etienne Eyadéma diễn ra ngày5/10/1990, tiếp đến là cuộc đình công của sinh viên và các cuộc biểu tình do phe đốilập tổ chức Cuối cùng, vào tháng 8/1991, một Hội nghị quốc gia đã được tổ chức vàbầu ra một Hội đồng Cộng hoà cấp cao (HCR), thiết lập một chế độ nửa tổng thống,
bổ nhiệm một thủ tướng quá độ, ông Kokou Koffigoh Nhưng vào tháng 12/1991, xetăng đã nã đạn vào toà nhà đặt trụ sở của thủ tướng và tướng Etienne Eyadéma đãgiành lại quyền lực
Trang 5Các cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức vào năm 1993, 1998 và 2003 dẫn tới việctẩy chay nhiều đảng chính trị của phe đối lập Các đảng phái này cáo buộc việc tổchức bầu cử chỉ là trò lừa bịp và cộng đồng quốc tế cũng nghi ngờ tính hợp pháp củacác cuộc bầu cử này Trong bối cảnh đó, Liên minh châu Âu quyết định ngừng hợptác với Tô-gô Tuy nhiên, năm 2004, sau khi tướng Etienne Eyadéma thông báo vàcam kết tổ chức bầu cử quốc hội tự do và công khai vào năm 2005 và dưới sự thúcđẩy của Pháp, tiến trình bình thường hoá quan hệ hợp tác giữa EU và Tô-gô đã đượcbắt đầu Nhưng đến ngày 5/2/2005, Tổng thống Etienne Eyadéma qua đời, Tô-gômột lần nữa lại rơi vào các cuộc xung đột giữa quân đội và những người theo lựclượng đối lập Tháng 5/2005, Faure Eyadéma, con trai của cựu tổng thống vừa mất
đã trở thành nguyên thủ của Tô-gô
Tô-gô thực hiện chế độ đa đảng với 15 đảng chính trị khác nhau Tuy nhiên từ năm
1967 đến nay, Liên minh đảng nhân dân Tô-gô (RPT) của cố tổng thống Eyademaluôn nắm quyền
Trong hệ thống chính trị, đứng đầu Nhà nước là Tổng thống, đứng đầu Chính phủ làThủ tướng Tổng thống do dân bầu ra nhiệm kỳ 5 năm, Thủ tướng do Tổng thống chỉđịnh Hội đồng Bộ trưởng do Tổng thống và Thủ tướng chỉ định
Quốc hội theo chế độ một viện, gồm 81 ghế Các đại biểu Quốc hội do dân bầu ra,nhiệm kỳ 5 năm
Hệ thống toà án gồm Toà Phúc thẩm, Toà Tối cao (theo mô hình của Pháp)
Về mặt hành chính, Tô-gô được chia làm 5 vùng (gồm 31 tỉnh, thành phố) :
Vùng biển có thủ phủ là Lomé
Vùng cao nguyên, thủ phủ là Atakpamé
Khu vực miền Trung, thủ phủ là Sokodé
Vùng Kara, thủ phủ là Kara
Vùng Savanes (trảng cỏ), thủ phủ là Dapaong
IV Tình hình kinh tế Tô-gô
Từ đầu những năm 90, Tô-gô đã trải qua cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội dẫn đếnviệc nền kinh tế bị suy thoái và có nhiều rối loạn về thể chế, làm nản lòng các nhàđầu tư tiềm năng Trong những điều kiện đó, tỷ lệ tăng trưởng GDP không giúp bùđắp được tỷ lệ tăng trưởng dân số Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính tăng trưởngthu nhập bình quân đầu người trong vòng 25 năm qua của Tô-gô ở mức -1% Còn vềkinh tế, sức mua của các hộ gia đình đã sụt giảm một nửa giai đoạn từ 1983 đến2006
Trang 6Tình hình kinh tế - xã hội của Tô-gô chịu cảnh thiếu vắng những nhà cho vay vốnlớn Việc ngừng viện trợ gần như liên tục của Liên minh châu Âu từ năm 1993 vàtình trạng hỗn loạn sau cái chết của Tổng thống Eyadéma vào tháng 2/2005 đã tácđộng tiêu cực đến nền kinh tế đất nước Kinh tế Tô-gô vẫn chủ yếu dựa vào lĩnh vựcnông nghiệp (nhất là bông, cà phê, cacao và cây lương thực) chiếm 41% GDP và sửdụng trên 75% dân lao động Tuy nhiên, lĩnh vực bông hiện đang bị khủng hoảng dochưa thanh toán được các khoản nợ cho người sản xuất trong các vụ thu hoạch gầnđây và do tình hình tài chính khó khăn của Công ty bông Tô-gô (SOTOGO).
Tô-gô cũng là một trong những trung tâm quá cảnh và dịch vụ của khu vực (lĩnh vựcdịch vụ chiếm 35% GDP) Cảng tự quản Lomé, điểm vào của hàng hoá đi nhữngnước thuộc khu vực Xahara đã được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng tại Côted’Ivoire trong những năm gần đây Cuối cùng, trong lĩnh vực công nghiệp (24%GDP), nếu như xi măng, ngành công nghiệp khai thác hàng đầu của đất nước vàcung cấp mặt hàng xuất khẩu chính hiện đang có sự năng động tích cực (mặc dù có
sự giảm sút sản lượng vào năm 2006 do các địa điểm khai thác bị ngập lụt) thì sảnxuất phốt phát do thiếu đầu tư, đã không ngừng suy thoái những năm qua trong khinăm 2000, đây còn là sản phẩm xuất khẩu chính của Tô-gô Việc phục hồi lĩnh vựcnày đòi hỏi phải giải quyết các tranh chấp pháp lý hiện tại và có sự tham gia của mộtnhà đầu tư chiến lược lâu dài
GDP năm 2006 của Tô-gô là 2,089 tỷ USD, tỷ lệ tăng trưởng là 2% GDP bình quânđầu người là 362 USD Nếu tính theo ngang giá sức mua, GDP bình quân đầu người
là 1400 USD và Tô-gô nằm trong số những nước đang phát triển
Về mặt cải cách cơ cấu, Tô-gô đã có những tiến bộ trong việc tự do hoá nền kinh tế,
cụ thể là lĩnh vực thương mại và hoạt động cảng Tuy nhiên, chương trình tư nhânhoá các lĩnh vực bông, viễn thông và nước dường như vẫn giậm chân tại chỗ Về cảicách chính trị, Tô-gô đã bắt đầu đối thoại với EU về việc bảo đảm các quyền tự do
cơ bản, lập lại Nhà nước pháp quyền và mở rộng quyền lực chính trị sao cho dân chủhơn Trong khuôn khổ đó, một giải pháp thuận lợi có thể giúp Tô-gô thực hiện nhữngcam kết về tài chính của mình Nước này hiện nay đang trong tình trạng nợ nhiều dokhông có sự trợ giúp tài chính từ bên ngoài trong khi Tô-gô có khả năng nằm trongnhóm các nước được hưởng sự giúp đỡ theo Sáng kiến Các nước nghèo nợ nhiều
Những chỉ số kinh tế chính năm 2006
Năm 2006, phần lớn những lĩnh vực của nền kinh tế Tô-gô không đạt kết quả khảquan do bối cảnh chính trị - xã hội không thuận lợi và bộ máy sản xuất tiếp tục suythoái vì thiếu vắng những khoản đầu tư nhất là từ bên ngoài
Tỷ lệ tăng trưởng
Trang 7Với đồ thị tiến triển hình răng cưa, GDP sau khi giảm ở mức 2,1% vào năm 2003 đãphục hồi vào năm 2004 đạt mức tăng 3% trước khi sụt giảm xuống còn +0,8% vàonăm 2005.
Năm 2006, tỷ lệ tăng trưởng GDP ước đạt từ 1,5% (theo Ngân hàng Trung ương cácQuốc gia Tây Phi) đến 2,0% (theo IMF)
Theo IMF, giá trị GDP năm 2006 đạt 1 159 tỷ FCFA (2,2 tỷ USD) Do tăng trưởngdân số được giữ vững, GDP tính theo đầu người đã tiếp tục giảm, từ 187 724 FCFA(359 USD) năm 2005 xuống còn 186 141 FCFA (361 USD) năm 2006 (- 0,8%)
Lạm phát
Trước đây, tỷ lệ lạm phát tại Tô-gô là khá thấp Đến năm 2005, tỷ lệ này đã tăngnhanh (+6,8%) do những rối loạn chính trị - xã hội và do tăng giá các sản phẩm dầulửa trong khi năm 2003 lạm phát là - 0,9% và năm 2004 là 0,4%
Năm 2006, tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống còn 2,23% đáp ứng được tiêu chí thốngnhất của các nước thành viên Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) : lạmphát dưới 3%
Tài chính công
Tình hình tài chính công đã được cải thiện trong năm 2006 do tác động kép từ việcgiảm các khoản chi bất thường và tăng thu của các công ty quản lý tài chính sau khitiến hành các cuộc cải cách trong năm
Tổng các khoản thu của các công ty quản lý tài chính đã tăng 10,8% năm 2006 sovới năm 2005 đạt mức 189,9 tỷ FCFA (363 triệu USD) Theo IMF, các khoản thuchiếm 16,9% GDP năm 2006 (+1,2% so với năm 2005) và các khoản chi thôngthường chiếm 18,0% (+1,8%) giảm nhẹ số dư ban đầu
Nợ
Tính đến cuối năm 2005, nợ nước ngoài lên tới 782,2 tỷ FCFA (1,5 tỷ USD), tức là70% GDP Việc phân chia nợ giữa các nhà cho vay vốn vẫn không thay đổi: Ngânhàng thế giới đứng đầu các tổ chức đa phương (45%) và Thuỵ Sỹ, nhà tài trợ songphương lớn nhất với 9% Pháp là nhà cho vay vốn song phương lớn thứ hai với6,7%, tương đương 53 tỷ FCFA Dịch vụ nợ lên tới 293 tỷ FCFA (25% GDP) Chínhsách của chính quyền Tô-gô đối với vấn đề nợ vẫn là hoàn trả các khoản tài trợ củanhững nhà cho vay đã không cắt đứt hợp tác với Tô-gô (Ngân hàng Phát triển TâyPhi, Ngân hàng A rập về phát triển kinh tế tại châu Phi, Ngân hàng Phát triển Liên
Mỹ, Ngân hàng Trung ương các Quốc gia Tây Phi) và chờ đợi việc thực hiện Sángkiến Những nước nghèo nợ nhiều để được giảm nợ từ các nhà cho vay khác, đặc biệt
là Ngân hàng thế giới và các thành viên của Câu lạc bộ Paris Sau khi Mạng lướicung cấp các dịch vụ kiểm toán (KPMG) tiến hành kiểm toán, nợ trong nước ướctính đến tháng 12/2006 vào khoảng 200 tỷ FCFA trong đó 80 tỷ là nợ Quỹ Bảo hiểm
xã hội quốc gia (CNSS)
Trang 8IV.1 Nông nghiệp
Nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo, chiếm đa số dân lao động và tạo ra 41% sự giàu
có của quốc gia
25% lãnh thổ Tô-gô dành cho trồng trọt (phía Bắc sản xuất kê, phía Nam trồng khoailang và ngô) và nước này có thể tự cấp lương thực gần như hoàn toàn trừ gạo và lúa
mỳ phải nhập khẩu
Nông nghiệp bảo đảm phần lớn an ninh lương thực cho người dân Tô-gô, khu vựcnông thôn nuôi sống khoảng 80% dân số Có nhiều loại cây trồng khác nhau: Kê, lúamiến, ngô, sắn, củ mài, cacao, cà phê, bơ Bông là cây công nghiệp chính và là sảnphẩm nông nghiệp xuất khẩu hàng đầu Cùng với cà phê và cacao, bông mang lạicho Nhà nước gần 27% nguồn thu xuất khẩu (chiếm 10% GDP khu vực nôngnghiệp) Các cơ sở khai thác nông nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ
Tháng 3/2006, Chính phủ tiến hành chính sách công nghiệp hoá nông nghiệp, tiếptục triển khai việc cơ khí hoá ngành này vốn từ lâu do người dân khai thác chủ yếubằng lao động chân tay với các công cụ truyền thống như cuốc, xẻng
Lĩnh vực chăn nuôi đứng vị trí thứ hai Tô-gô có đàn gia súc khoảng 260.000 bò, 2,4triệu gia súc nhỏ (dê, cừu), 248.000 lợn và 5,2 triệu gia cầm Sản xuất thịt hiện naychỉ đáp ứng được 60% nhu cầu trong nước
Hoạt động đánh bắt cá (trên biển và sông, hồ) còn khá hạn chế Đánh bắt cá biển vẫnmang tính thủ công do ngành đánh bắt công nghiệp mới trong giai đoạn phôi thai(khoảng 200 tấn/năm) Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là những loài cá có giá trị kinh
tế cao Sản lượng cá tại các sông, hồ chỉ khoảng 15.000 tấn/năm trong khi tiêu dùngtrong nước ước khoảng 37.000 tấn
IV.2 Công nghiệp
Lĩnh vực công nghiệp đóng góp 24% GDP cả nước Các xí nghiệp công nghiệp tậptrung tại khu vực ven biển Ngoài những doanh nghiệp lớn của Nhà nước ra, mạnglưới công nghiệp của Tô-gô chủ yếu gồm những doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốnđầu tư nước ngoài Một Kế hoạch hành động để phục hồi và phát triển công nghiệp
đã được soạn thảo với sự hỗ trợ của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp quốc
Ngành công nghiệp chế biến chủ yếu gồm các nhà máy chế biến nông sản, nguyênliệu địa phương, các nhà máy dệt, da thuộc, hoá chất, cơ khí, điện, giấy và ấn phẩm.Mặc dù vẫn còn yếu so với hoạt động nông nghiệp nhưng ngành công nghiệp chếbiến cũng đang phát triển, nhất là tại khu chế xuất
IV.3 Dịch vụ
Lĩnh vực dịch vụ đóng góp 35% GDP
Trang 9Ngân hàng
Lĩnh vực ngân hàng được bảo hộ đến năm 1991 Mặc dù những rối loạn xảy ra kể từnăm 1951 đã tác động đến hệ thống ngân hàng, song Tô-gô không bị khủng hoảngnghiêm trọng như những nước khác trong khu vực vào năm 1994 Hiện nay, hệ thốngngân hàng Tô-gô bao gồm 11 cơ sở tín dụng trong đó có 7 ngân hàng thương mại và
4 cơ quan tài chính
Các ngân hàng của Tô-gô hoạt động theo Luật 90.11 ngày 5/11/1990 áp dụng Luậtkhung về Quy định Ngân hàng của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA).Toàn bộ hệ thống ngân hàng được đặt dưới sự giám sát của Ngân hàng Trung ươngcác Quốc gia Tây Phi (BCEAO) do Uỷ ban Ngân hàng kiểm soát Luật áp dụng làluật của Tổ chức Hài hoà hoá Luật Kinh doanh tại châu Phi (OHADA) Tất cả cácngân hàng và cơ sở tín dụng được tập hợp trong « Hiệp hội chuyên nghiệp với chứcchủ tịch luân phiên giữa các Tổng giám đốc của hệ thống » (APBEF)
Du lịch
Do cơ sở hạ tầng vừa được đổi mới và hiện đại hoá, nhất là nhờ các khoản đầu tư củatập đoàn Accord tại hai trong số những khách sạn chính của đất nước, Tô-gô (đặcbiệt là thủ đô Lomé) đã được hưởng lợi từ cuộc khủng hoảng tại Côte d’Ivoire và tỷ
lệ thuê phòng khách sạn đã tăng đáng kể Tuy nhiên, do bối cảnh kinh tế-chính trịchưa thuận lợi nên tiềm năng du lịch vẫn chưa được khai thác hết
Cảng tự quản Lomé (PAL) khánh thành năm 1968 là một nhân tố cơ bản giúp pháttriển kinh tế Tô-gô Đây là cảng nước sâu duy nhất của tiểu vùng (có mớn nước
Trang 1013m) với cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thích ứng với những lưu lượng hàng hoá khácnhau Tháng 3/2006, cảng này đã được trang bị thêm 2 cần cẩu với công suất bốc dỡ
104 tấn
Việc vận chuyển công-ten-nơ qua cảng Lomé đã tăng gấp đôi trong vòng 3 năm đạt
4 240 000 feet năm 2005 (Xem thêm trên trang web của cảng : www.togoport.tg)
Dự án hiện đại hoá cảng sẽ cho phép tiếp nhận những tàu thuyền có trọng tải lớn vàthu hút các luồng hàng hoá chuyển tải nhất là đến từ châu Á
Từ khi bắt đầu cuộc xung đột tại Côte d’Ivoire, Tô-gô đã trở thành một cảng rất quantrọng đối với các doanh nghiệp Tây Phi
Vận tải hàng không
Công ty cảng hàng không Lomé Tokoin (SALT) là công ty liên doanh thành lập ngày20/5/1986 phụ trách việc quản lý các cơ sở hạ tầng thương mại
Công suất của sân bay quốc tế Lomé lên tới 700.000 hành khách mỗi năm trong khi
ga vận chuyển hàng nâng cấp năm 1995 có thể xử lý 11.000 tấn hàng
Ngoài ra, sân bay còn có một khu chế xuất với một khu vực dành cho các hoạt độngcông nghiệp rộng 11 hécta Sân bay Abidjan (Côte d’Ivoire) là đối tác số 1 của Tô-gô
về vận chuyển hàng nhập khẩu vào Tô-gô bằng đường hàng không trên cả sân bayRoissy (Pháp) và Bruxelles (Bỉ) Ba sân bay này chiếm tới 61% các hoạt động vậnchuyển hàng hoá hai chiều
Từ thủ đô của Tô-gô hiện nay mỗi tuần có rất nhiều chuyến bay đi đến các nướctrong tiểu vùng và châu Âu
Hiện Tô-gô có 9 sân bay trong đó có 2 sân bay quốc tế lớn
Mạng lưới đường bộ và đường sắt
Mạng lưới đường bộ là một trong số ít những hệ thống tiếp tục được hưởng viện trợquốc tế vì vai trò quan trọng của Tô-gô trong khu vực Hiện nay mật độ đường bộ tạiTô-gô là 0,13km/km2
Tuyến quốc lộ 1 Bắc-Nam nối thủ đô Lomé với Dapaong và biên giới Burkina Faso
là trục đường chính của Tô-gô phục vụ trao đổi thương mại với các nước khu vựcXahara (đảm bảo 50% lưu lượng giao thông) Trục thứ hai là tuyến đường ven biểnnối Ghana, Tô-gô và Bénin Tô-gô có 7520 km đường bộ trong đó có 2376 km đượctrải nhựa
Hệ thống đường sắt bao gồm 500 km trong đó tuyến chính dài 276km đoạnLomé/Atakpamé/Blitta (về phía Bắc) Sau khi mua lại Công ty đường sắt quốc gia là
Trang 11Togo Rail vào năm 2002, Tập đoàn xi măng Wacem (doanh nghiệp có vốn đầu tư củaNigeria và Ấn Độ) đã giành quyền khai thác mạng lưới đường sắt của Tô-gô.
IV.5 Khu chế xuất
Giống như nhiều nước châu Phi như Sénégal, Maurice, Namibia, Tô-gô có một khuchế xuất ngay từ cuối những năm 80
Những quy định của Tô-gô liên quan đến hoạt động trong khu chế xuất rất linh hoạt
Bên cạnh nhiều lợi thế mà Bộ Luật đầu tư đưa ra, khu chế xuất Tô-gô cũng tạo chocác doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động tại đây một trong những môi trường pháp quy
tốt nhất Tây Phi (xem phần Khu chế xuất ở chương III).
IV.6 Năng lượng
Đập thủy điện Nangbéto trên sông Mono (kết quả hợp tác giữa Bénin và Tô-gô) cungcấp từ 25 đến 30% nhu cầu về điện của hai nước Tô-gô và Bénin phụ thuộc đến70% năng lượng vào Ghana
IV.7 Lĩnh vực xây dựng
Nhờ các chương trình nâng cấp, bảo dưỡng và xây dựng đường sá trong khuôn khổ
Dự án phát triển đô thị (PDU) do Ngân hàng Thế giới tài trợ, ngành xây dựng đang
mở ra nhiều triển vọng cho các doanh nghiệp được Cơ quan thực thi các công trình
đô thị (AGETUR) cấp phép
IV.8 Đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài vào Tô-gô đã tăng nhanh trong những năm qua, chủ yếu tronglĩnh vực công nghiệp Thật vậy, mặc dù có những bất ổn chính trị, vẫn có nhiềudoanh nghiệp đến đầu tư nhất là tại khu chế xuất, trong đó có một số doanh nghiệpcủa Côte d’Ivoire Chương trình tư nhân hoá cũng tạo điều kiện cho đầu tư nướcngoài vào Tô-gô Các lĩnh vực nhận được nhiều vốn đầu tư trong những năm gần đây
là dược phẩm, tách hạt bông, hoạt động cảng, khai thác phốt phát, sản xuất xi măng
và cung cấp điện Ngoài ra, đầu tư nước ngoài còn tập trung vào lĩnh vực du lịch,khách sạn, chế biến nông phẩm, gỗ, chất dẻo và mỹ phẩm Pháp là nước đứng đầutrong số các nhà đầu tư vào Tô-gô, chiếm 10% tổng số vốn FDI với 39 triệu Eurotính đến năm 2002
Các nhà đầu tư nước ngoài đều nhất trí rằng mặc dù có những bất ổn chính trị, môitrường đầu tư vẫn thuận lợi hơn phần lớn những nước láng giềng cả về cơ sở hạ tầnglẫn môi trường kinh doanh Chi phí về năng lượng tại Tô-gô cũng khá hợp lý vàmạng lưới đường bộ chấp nhận được cho dù việc bảo trì vẫn còn chưa thực hiện tốt
từ nhiều năm nay do vắng bóng những nhà cho vay vốn Nguồn nhân công địaphương rẻ và được đào tạo tốt hơn Bénin và những nước nằm cạnh sa mạc Xahara.Cuối cùng Cảng tự quản Lomé (PAL) cung cấp những dịch vụ có chất lượng hơn so
Trang 12với các đối thủ cạnh tranh trong tiểu vùng với những lợi thế về chi phí, thời hạn vậnchuyển và độ an toàn.
Tuy nhiên, giống như các nước láng giềng, tại Tô-gô cũng có tình trạng tham nhũng
và yếu kém trong hệ thống tư pháp mặc dù không phổ biến bằng những nước khác.Chính phủ Tô-gô đang thực hiện chính sách xử phạt nghiêm minh những trường hợp
vi phạm để hệ thống tư pháp hoạt động tốt hơn Mặt khác chính quyền cũng tỏ ra tíchcực trong quan hệ hợp tác với các nhà đầu tư
IV.9 Tình hình hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường
Tô-gô thuộc khu vực đồng franc, là thành viên của Liên Hiệp quốc và của phần lớnnhững tổ chức quốc tế lớn Liên kết với EU theo Hiệp ước Lomé ngày 25/2/1975,Tô-gô còn là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới
Hai tổ chức lớn trong khu vực là :
- Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA)
- Cộng đồng kinh tế các Quốc gia Tây Phi (CEDEAO)
và
- Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
- Liên minh châu Phi (UA)
- Hội nghị Tây Phi – Châu Âu (EWAC)
- Cộng đồng các Quốc gia Xahara và bên cạnh sa mạc Xahara (COMESSA)
- Hội đồng Đồng minh (Conseil de l’Entente)
- Cơ quan An toàn Giao thông đường không tại châu Phi và Madagascar (ASECNA)
Lomé, thủ đô của Tô-gô là nơi đặt trụ sở của hai tổ chức tài chính khu vực :
- Ngân hàng Phát triển Tây Phi (BOAD )- cơ quan tài trợ phát triển chung của các Quốc gia thuộc Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA)
- Ngân hàng Đầu tư Phát triển Cộng đồng kinh tế các Quốc gia Tây Phi (BIDC) BIDC có hai chi nhánh chuyên trách là Ngân hàng Đầu tư khu vực của CEDEAO hướng tới lĩnh vực tư nhân (BRIC) và Quỹ khu vực Phát triển CEDEAO (FRDC) nhằm tài trợ các hoạt động phát triển trong lĩnh vực tư nhân.
Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Khu vực cũng đặt tại Lomé.
V Ngoại thương Tô-gô năm 2004
V.1 Tình hình ngoại thương
Năm 2004, hoạt động ngoại thương Tô-gô đã bị giảm sút, tác động đến xuất khẩu 6,6%) cũng như nhập khẩu (-10,8%) Trong những điều kiện đó, tỷ lệ bù đắp cán cânthương mại đã giảm chỉ còn 68% Mặc dù có sự giảm giá trị xuất khẩu sang Tô-gôsong Pháp vẫn giữ được 20% thị phần, duy trì vị trí là nhà cung cấp số 1 trước TrungQuốc
Trang 13(-Bất chấp cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế từ đầu những năm 90, ngoại thươngTô-gô vẫn có sự tăng trưởng đều đặn của 10 năm trước đó Từ năm 1994 đến 2003,nhập khẩu của nước này đã tăng 145% về giá trị trong khi xuất khẩu tăng 132%.Ngược lại, năm 2004 đã chứng kiến sự giảm mạnh trong trao đổi thương mại của Tô-
gô Theo số liệu của Hải quan nước này, xuất khẩu sụt giảm trên 16% còn nhập khẩugiảm gần 11%
V.2 Xuất khẩu của Tô-gô
Theo số liệu của Hải quan Tô-gô, xuất khẩu của nước này chỉ đạt 200,5 tỷ FCFA(khoảng 306 triệu Euro) năm 2004, giảm 16,6% so với năm 2003
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là nguyên liệu và nông sản, thể hiện sự yếukém của ngành công nghiệp trong nước (lĩnh vực này chỉ đóng góp 24% vào GDPmặc dù đã có sự thành công của khu chế xuất)
7 sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng chiếm tới trên 76% giá trị xuất khẩu củaTô-gô là xi măng (25,9%), bông (15,8%), phốt phát (12,7%), sắt, thép, gang(10,5%), cacao và những sản phẩm từ cacao (6,5%), hải sản (2,7%) và bột mỳ(2,3%) Nếu tính cả những sản phẩm nông nghiệp khác thì 11 chương trong danhmục hải quan đã đóng góp hơn 80% giá trị xuất khẩu của Tô-gô
Theo các nhà cho vay vốn, những sản phẩm xuất khẩu triển vọng khác chỉ đóng góprất nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước: Cà phê, chè, gia vị (0,9%), cây lấydầu và cây công nghiệp (0,8%)
Rất dễ bị ảnh hưởng bởi tác động từ bên ngoài, nguồn thu xuất khẩu của Tô-gô hơnbao giờ hết phụ thuộc vào xi măng (-27% năm 2004) và bông (-22%) Bản thânngành bông cũng phụ thuộc vào sự thất thường của mùa vụ, sự thay đổi giá trên thịtrường thế giới và đang phải đối mặt với những vấn đề tổ chức nội bộ Nguồn thuxuất khẩu cũng gắn liền với sự thành công của những cuộc cải cách cơ cấu bởi cácdoanh nghiệp được tư nhân hoá đóng góp phần lớn vào giá trị xuất khẩu Việc cảicách Cục Phốt phát Tô-gô (OTP) do tiến hành thiếu công khai đã làm lợi cho 1 tậpđoàn của Tuynidi (hiện đã rút khỏi đất nước) gây xáo trộn thêm cho ngành sản xuất
có tính sống còn này Từ vài năm nay, doanh thu xuất khẩu phốt phát, trước đây vốn
là nguồn thu thương mại chính đã sụt giảm 30% năm 2001, -18% năm 2002 và -30%năm 2003 Năm 2004 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này chỉ bằng 20% tổng giá trịxuất khẩu của năm 2000
Ngược lại, việc tư hữu hoá thành công ngành xi măng chuyển sang lĩnh vực xay xátbột và chuyển nhượng lĩnh vực chế biến kim loại cho tập đoàn Sototole đã giúp Tô-
gô phát triển xuất khẩu sang các nước láng giềng
Được xem là một trong những hải cảng được quản lý và có tính cạnh tranh tốt nhấtkhu vực, cảng tự chủ Lomé đã biết tận dụng cuộc khủng hoảng tại Côte d’Ivoire và
Trang 14sự lộn xộn tại một số cảng láng giềng, nhất là cảng Cotonou (Bénin) Cảng Lomé làđiểm nhập khẩu hàng hoá trong đó một phần dùng để tái xuất không chính thức trongtiểu vùng.
Dễ tiếp cận nhờ hệ thống đường bộ trong tình trạng tốt và điều kiện an toàn cao,những nước giáp biên hoặc nằm sâu trong khu vực Tây Phi là các khách hàng số mộtcủa Tô-gô Năm 2004, Tô-gô đã xuất khẩu sang những nước này 106 tỷ FCFA hànghoá (chiếm 53% tổng doanh số bán ra) Do tình hình khủng hoảng tại cảng Cotonou– Bénin (trước đây là điểm vào ưu tiên của hàng hoá đi Burkina Faso - quốc giakhông có biển) nên Burkina Faso giờ đây đã trở thành thị trường tiêu thụ hàng đầucủa Tô-gô (chiếm 13% giá trị xuất khẩu) Tiếp đến là Bénin (13%) do nhiều doanhnghiệp Bénin thích sử dụng cảng Lomé để nhập khẩu hàng hơn vì chi phí thấp Cáckhách hàng châu Phi khác của Tô-gô là Ghana (12%), Mali (11%) và Niger (6%)
Xi măng, sắt thép xây dựng, bột mỳ và những sản phẩm chế biến khác chiếm vị tríquan trọng trong số những mặt hàng xuất khẩu của Tô-gô sang các nước châu Phinói trên
Ngoài những nước giáp biên, khách hàng chính của Tô-gô là Trung Quốc, nước nhậpkhẩu bông nhiều nhất thế giới đã mua 5% tổng khối lượng xuất khẩu của Tôgô trong
đó chủ yếu là bông với tổng giá trị 9 tỷ FCFA năm 2004 Tiếp đến là Ấn Độ chuyênnhập khẩu bông và điều thô của Tô-gô đứng vị trí thứ 6 sau Trung Quốc
Sở dĩ Liên minh châu Âu vẫn chiếm đến 13% kim ngạch xuất khẩu của Tô-gô (tức là
26 tỷ FCFA) chủ yếu là do Pháp và Hà Lan mua nhiều hàng của Tô-gô, lần lượt giữ
vị trí là khách hàng thứ 7 và 8 Tuy nhiên, tổng giá trị nhập khẩu từ Tô-gô của EUvẫn còn khiêm tốn: Mặc dù nhập khẩu đã tăng gấp 4 lần vào năm 2004 nhưng Phápcũng mới chỉ mua 4% hàng xuất khẩu của Tô-gô (tức là 8,2 tỷ FCFA) giống như HàLan (7,9 tỷ FCFA)
V.3 Nhập khẩu của Tô-gô
Mặc dù lên tới 294 tỷ FCFA (tức 448 triệu euro), kim ngạch nhập khẩu của Tô-gôvẫn giảm 10,8% nhưng với biên độ thấp hơn xuất khẩu Thành phần hàng nhập khẩu
đa dạng phản ánh vai trò trung tâm khu vực của Tô-gô, nước chuyên tái xuất phầnlớn sản phẩm công nghiệp nhập khẩu không chỉ bằng đường biển mà còn bằngđường không Những mặt hàng nhập khẩu chính vẫn là sản phẩm dầu lửa (23% tổnggiá trị NK) do Lomé có một trung tâm dự trữ dầu lớn chuyên cung cấp cho tiểuvùng Mặc dù bị giảm sút song những mặt hàng khác vẫn giữ được tỷ trọng tươngđối trong cơ cấu nhập khẩu như xi măng, sắt, ngũ cốc, linh kiện ôtô, sản phẩm dược,hàng thực phẩm, hàng tiêu dùng
Năm 2004, Liên minh châu Âu vẫn đứng vị trí số 1 trong số những nước cung cấpcho Tô-gô mặc dù thị phần đã giảm xuống còn 41% trong khi năm 2003 là 49%.Pháp bán cho Tô-gô 20% tổng số hàng nước này nhập khẩu và vẫn giữ được vị trí
Trang 15truyền thống là nhà cung cấp hàng đầu của Tô-gô mặc dù có sự giảm sút về thị phần(-16%) Năm 2004, Pháp đã củng cố được vị trí là nhà cung cấp chính ở châu Âu choTô-gô, chiếm đến 48% tổng kim ngạch xuất khẩu của EU sang nước này
Với việc xuất khẩu 17 tỷ FCFA, Côte d’Ivoire vẫn nắm thị phần ổn định là 6%, duytrì vị trí nhà cung cấp quan trọng nhất của Tô-gô tại châu Phi
Trung Quốc là đối tác xuất khẩu duy nhất của Tô-gô có doanh số bán ra tăng về giátrị, từ 13 tỷ FCFA năm 2003 lên 24 tỷ FCFA năm 2004 Doanh thu xuất khẩu củanước này sang Tô-gô đã tăng gần 80% chiếm 8% thị phần nhập khẩu của Tô-gô Vớiviệc có mặt rất sớm trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài và là khách hàng quantrọng của Tô-gô, Trung Quốc đã trở thành nhà cung cấp thứ hai của Tô-gô sau Pháp
Sự giảm sút trong trao đổi thương mại của Tô-gô năm 2004 sau mấy năm tiến triểntích cực chứng tỏ cần có sự cải thiện tình hình chính trị đi kèm với việc bình thườnghoá quan hệ với cộng đồng tài chính quốc tế nếu muốn phục hồi nền ngoại thươngmột cách bền vững Ngoài ra, để kích thích trao đổi ngoại thương, nước này cần phảinâng cao mức sống cho người dân tạo điều kiện cho tiêu dùng trong nước, khuyếnkhích sự trở lại của các nhà đầu tư nước ngoài và khởi động lại chương trình tư nhânhoá
V.4 Quan hệ thương mại giữa Tô-gô và Pháp
Từ lâu Pháp luôn là đối tác xuất nhập khẩu hàng đầu của Tô-gô Đứng thứ 93 trong
số các khách hàng của Pháp trên thế giới, Tô-gô giữ vị trí là thị trường tiêu thụ thứ 9trong khu vực đồng franc của Pháp sau những nước đông dân hơn (Côte d’Ivoire,Cameroun, Sénégal) hoặc những nước xuất khẩu dầu lửa (Ghana và Cônggô) thậmchí sau cả Bénin, Mali và Burkina Faso
Tăng từ 65 triệu euro năm 1994 lên 142 triệu euro năm 2004, xuất khẩu của Phápsang Tô-gô đã tăng gấp ba lần trong vòng 10 năm Các mặt hàng xuất khẩu chính làthuốc, ôtô, ngũ cốc, sản phẩm nông hoá, rượu vang và rượu mùi, thiết bị điện, viễnthông và gia cầm
Năm 2004, Tô-gô xuất khẩu sang Pháp 12 triệu Euro, tăng 30% so với năm 2003.Ngoài những sản phẩm thủ công, Tô-gô bán cho Pháp nguyên liệu có nguồn gốc từnông nghiệp như hoa quả, cây trồng, ngũ cốc sử dụng trong công nghiệp, rau, sảnphẩm từ rau quả, chiếm tới 70% tổng giá trị xuất khẩu Sự gia tăng xuất khẩu nàychủ yếu nhờ vào các hoạt động sản xuất do các tập đoàn chế biến nông sản thựcphẩm của Pháp thực hiện tại Tô-gô
Pháp cũng là nhà đầu tư số 1 của Tô-gô, chiếm 10% tổng số vốn FDI (39 triệu eurotính đến năm 2002) Hiện có khoảng 40 chi nhánh của các doanh nghiệp Pháp cũngnhư nhiều công ty của kiều dân Pháp sống tại Tô-gô hoạt động trong các lĩnh vựcdịch vụ cảng, khách sạn, chế biến nông sản (dầu ăn, rau thơm, bia)
Trang 16V.5 Quan hệ thương mại giữa Tô-gô và Trung Quốc
Từ năm 2002-2003, nhập khẩu của Tô-gô từ Trung Quốc đã tăng 67% từ 8,1 tỷFCFA lên 13,6 tỷ FCFA Nếu phân tích những sản phẩm trao đổi có thể thấy nhữngsản phẩm dệt, giày dép và vải chiếm đa số trong cơ cấu hàng nhập khẩu Ngoài racòn có pin, phân bón, gạo, xi măng, xe máy, máy công nghiệp, thuốc chữa bệnh…
Song song với đó, ngày càng có nhiều Hoa kiều đến Tô-gô kinh doanh và đầu tưtrong các lĩnh vực sản xuất đường, chế biến bông, sản xuất dược phẩm hoặc xâydựng
Năm 2002, xuất khẩu của Tô-gô sang Trung Quốc đã có sự bùng nổ khi giá trị bánhàng sang nước này đã tăng 9,5 lần từ 0,18 tỷ FCFA lên 1,76 tỷ FCFA Năm 2003,xuất khẩu đã tăng 3,5 lần đạt 6,13 tỷ FCFA Mặt hàng chủ yếu bán cho Trung Quốc
là bông các loại, chiếm tới 96% tổng giá trị xuất khẩu
Trang 17Chương 2 Quan hệ thương mại Việt Nam-Tô-gô
Việt Nam và Tô-gô đã thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ ngày 8/2/1975
Ta và Tô-gô chưa cử Đại sứ kiêm nhiệm, Đại sứ quán ta tại Marốc phụ trách Tô-gô
và Đại sứ quán Tô-gô tại Trung Quốc phụ trách Việt Nam
Tháng 11/1995, hai bên đã ký Hiệp định khung hợp tác kinh tế, thương mại,văn hoá và khoa học kỹ thuật
Tháng 7/2005, đoàn nông nghiệp Tô-gô sang Việt Nam tìm hiểu để hợp tácvới ta trong 3 lĩnh vực chính: thủy lợi, trồng lúa nước và sản xuất cà phê Bạn mongmuốn được học tập kinh nghiệm và kỹ thuật của Việt Nam trong ba lĩnh vực trên;hợp tác theo mô hình 2+1 với sự tài trợ của FAO
Đại sứ quán Tô-gô tại Trung Quốc
Địa chỉ : 11 Dong Zhi Meu Wai Da Jie, Beijing
Trang 18Chương 3 Thâm nhập thị trường Tô-gô
Những quy định về trao đổi thương mại
I Thuế và phí XNK
I.1 Nhập khẩu
a/ Biểu thuế đối ngoại chung (TEC) áp dụng thống nhất cho các nước thành viên của
Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) Tỷ suất từ 0 đến 20% tuỳ theo loạisản phẩm Cụ thể :
- 0% đối với thuốc chữa bệnh, sách và bao cao su
- 5% đối với hàng thiết yếu, nguyên liệu cơ bản, trang thiết bị và nguyên liệu đầuvào đặc biệt
- 10% đối với một số mặt hàng thiết yếu khác, các sản phẩm trung gian và một sốnguyên liệu đầu vào
- 20% (tỷ suất thuế thông thường) đối với hàng tiêu dùng cuối cùng và tất cả các sảnphẩm khác ngoài những mặt hàng kể trên
b/ Thuế đoàn kết cộng đồng (PCS)
Thuế này bằng 1% giá trị giao dịch hàng hoá áp dụng đối với mọi sản phẩm nhậpkhẩu đến từ những quốc gia không thuộc UEMOA
c/ Thuế VAT
Thuế giá trị gia tăng (VAT) có tỷ suất duy nhất 18% được áp dụng đối với tất cả
hàng tiêu dùng trên cơ sở giá trị hải quan của hàng nhập khẩu + thuế hải quan + thuếđoàn kết cộng đồng
VAT thanh toán theo biểu thuế hải quan chung có thể được khấu từ VAT đã thu Một
số sản phẩm thiết yếu được miễn thuế VAT
d/ Phí thống kê
Bằng 1% giá trị CIF của hàng nhập khẩu
e/ Thuế tạm ứng lợi tức
Khoản tạm ứng là khoản thanh toán trước thuế lợi tức công nghiệp và thương mại
(BIC), bằng 3% giá trị giao dịch hàng nhập khẩu có tính thương mại
f/ Thuế tiêu thụ
Từ 1 đến 10% giá trị CIF + Thuế đoàn kết cộng đồng đối với các sản phẩm đã đượcxác định như lúa mỳ, dầu ăn, thuốc lá và đồ uống có cồn
I.2 Tái xuất
a/ Thuế cầu đường
Bằng 0,3 Euro/tấn
Trang 19b/ Thuế tái xuất đặc biệt
Bằng 1% giá trị CIF của hàng hoá
c/ Tem thuế
Bằng 4% thuế tái xuất đặc biệt
Để biết thêm chi tiết, doanh nghiệp có thể liên hệ với Tổng cục Hải quan Tô-gô
(Direction Générale des Douanes, Tél : (228) 223 00 75/223 00 42)
II Hệ thống phân phối
Cũng giống như nhiều nước khác trong tiểu vùng, các kênh phân phối của Tô-gôhoạt động trên cơ sở hình tháp, bao gồm một số nhà nhập khẩu lớn phân phối hànghoá cho nhiều nhà bán sỉ Không có những dây chuyền phân phối lớn như tại cácnước phát triển Buôn bán trong nước cũng bao gồm 2 loại tác nhân thuộc hai khuvực:
Những thương nhân trong khu vực chính thức gồm các nhà nhập khẩu, những nhà
bán buôn, những người bán lại mặt hàng vải, những đại lý nhượng quyền và nhữngnhà phân phối ôtô và hàng tiêu dùng nhập khẩu
Những thương nhân trong lĩnh vực không chính thức gồm những người bán lại,
những người bán lẻ nhỏ và những người bán hàng rong quản lý các hiệu buôn nhỏ.Kênh phân phối truyền thống bao gồm các chợ Hai chợ lớn nhất ở Tô-gô là ChợLớn (Grand Marché) và chợ Bè
Tuy nhiên, song song tồn tại với các chợ, có một kênh phân phối hiện đại hơn thôngqua các cửa hàng và siêu thị kiểu phương Tây chuyên kinh doanh các sản phẩm nhậpkhẩu Những cơ sở này thuộc sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân và có vốn nướcngoài
- Super A (siêu thị Trung Quốc)
- Horizon IVATO (siêu thị Trung Quốc)
Có thể tìm thấy ở đây tất cả các loại sản phẩm với giá bán cao hơn các chợ địaphương bởi phần lớn là hàng hoá nhập khẩu từ châu Âu và châu Á Tình hình tương
tự đối với các mặt hàng điện gia dụng và hàng tiêu dùng
Trang 20Bên cạnh những cửa hàng lớn và siêu thị nói trên, việc mở các cửa hiệu cũng ngàycàng gia tăng tại thủ đô Lomé cũng như tại các thành phố lớn khác của Tô-gô Đángchú ý là chủ sở hữu thường là người Trung Quốc, Nigeria, Ấn Độ, Libăng, Xiri hayNigiê Gần như ở tất cả các trạm xăng đều có một siêu thị nhỏ.
III Tập quán kinh doanh
Các chợ lớn nhỏ - nơi gặp gỡ và trao đổi thương mại, thường họp theo định kỳ cốđịnh Hình thức phân phối này phát triển mạnh nhất tại Tô-gô, việc trao đổi do cáctác nhân khác nhau thực hiện, bao gồm những người bán lại hoặc bán hàng dong làmnhiệm vụ kết nối với kênh phân phối hiện đại, các nhà nhập khẩu, bán buôn hoặc nửabán buôn vv Đa số người Tô-gô mua hàng tại các chợ này để đáp ứng nhu cầu tiêudùng hàng ngày Tại đây, có thể tìm thấy tất cả các loại hàng hoá từ nông sản thựcphẩm đến trang thiết bị, đồ trang sức và những mặt hàng thời trang Những người
bán hàng ở chợ (thường được gọi là nana-benz) chủ yếu kinh doanh hàng dệt và các
sản phẩm tiêu dùng đại chúng Giá thường không được niêm yết và phải mặc cả
IV Phương thức thanh toán
IV.1 Các phương tiện thanh toán tại địa phương
Các phương tiện thanh toán phổ biến nhất đối với khách tham quan nước ngoài là :
- Tiền mặt, đồng franc CFA, được sử dụng nhiều nhất
- Thẻ tín dụng, ít được sử dụng hơn nhưng cũng được dùng trong các khách sạn lớn,tiệm ăn và một số cửa hàng (Có thể tìm danh sách những thương nhân được cấpphép tại các ngân hàng của Tô-gô)
- Séc do ngân hàng nước Pháp và của Cộng đồng kinh tế các Quốc gia Tây Phi(Cedeao) phát hành
IV.2 Các phương tiện thanh toán xuất nhập khẩu
Đồng tiền ghi hoá đơn tốt nhất là Euro vì không gặp rủi ro về tỷ giá hối đoái (do đồng franc CFA được ấn định ngang giá với Euro) nhưng đồng đôla Mỹ cũng được sử dụng rất phổ biến.
Các doanh nghiệp nên thường xuyên sử dụng hình thức xác nhận tín dụng hoặc bảođảm của ngân hàng để phòng ngừa nguy cơ không thanh toán của người nợ Trênthực tế, tín dụng thư là phương tiện thanh toán phổ biến nhất và an toàn nhất trongxuất khẩu Phương tiện này không chỉ bảm bảo việc thanh toán mà thời hạn cũngnhanh hơn phương thức giao bộ chứng từ (thường mất đến 15 ngày) Luật ngân hàngcủa Tô-gô có nhiều điểm giống với những quy định về ngân hàng của Pháp
Tô-gô là một nước nói tiếng Pháp và tất cả các văn bản được thảo bằng ngôn ngữ này ngay cả trong các tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế có trụ sở tại đây Do vậy, cần lưu ý khi một văn bản hành chính được viết bằng tiếng Anh thì đó có thể là một hành vi lừa đảo.
Trang 21V Các kênh xúc tiến thương mại
Các kênh xúc tiến chính vẫn chủ yếu dựa vào các phương tiện truyền thông như đàitruyền thanh, tivi và các hoạt động sự kiện có mục đích Những hoạt động marketingnày nhìn chung thường dựa nhiều vào những người bán lại và người bán buôn, đikèm các mẫu sản phẩm hoặc giảm giá khuyến mãi trong dịp lễ hội Tại Lomé cókhoảng 10 hãng quảng cáo Đây là một lĩnh vực phát triển rất mạnh trong mấy nămtrở lại đây
V.1 Các phương tiện quảng cáo
Truyền hình là phương tiện bắt buộc sử dụng đối với một nhà đầu tư muốn quảng cáo
ở quy mô quốc gia Nó đem lại kết quả nhiều hơn nhờ tác động đến thị giác cho dù
radio vẫn rất phổ biến Báo viết cũng là một phương tiện không thể bỏ qua Có nhiều
công ty cho đăng rất nhiều hình ảnh và bài viết trong các báo chuyên ngành Tại
Tô-gô có khoảng 20 ấn phẩm (trong đó Togo Presse có nhiều độc giả nhất) Người dân
Tô-gô ngày càng sử dụng kênh này để quảng bá sản phẩm và dịch vụ của mình
Áp phích quảng cáo và tài trợ cũng là một trong những hình thức được dùng nhiều
nhất và là phương pháp tốt nhất để phổ biến thông tin cho người tiêu dùng, đặc biệt
là bằng cách tặng mẫu sản phẩm Các chiến dịch rao hàng bằng loa trên đường phố
nhằm xúc tiến các sản phẩm mới (hình thức rất phổ biến tại châu Phi) cũng tỏ ra cóhiệu quả
V.2 Hội chợ, triển lãm
Có một số hội chợ triển lãm thương mại quy mô quốc gia, khu vực thậm chí quốc tếđược tổ chức định kỳ tại Tô-gô trong các lĩnh vực thủ công và thương mại, trong đó :
- Hội chợ Foire Quinzaine Commerciale (đa lĩnh vực) do Phòng Thương mại và
Công nghiệp Tô-gô tổ chức hàng năm
- Hội chợ Quốc tế về Vải quấn và Dệt may châu Phi (PANCA) tổ chức tại Trung
tâm Togo Global Excel International
- Hội chợ Trường học và Thương mại (FOSCOME) do Mạng lưới Trao đổi và
Xúc tiến kinh doanh (REPAF) tổ chức
VI Quy mô thị trường, cách thức và xu hướng tiêu dùng
VI.1 Quy mô thị trường Tô-gô
GDP 2002 (€) : 1,570 tỷ Euro (theo UEMOA)
Tiêu dùng tư nhân / GDP : 86 %
Tăng trưởng của tiêu dùng tư nhân 1990-2002 : + 3,6 % /năm
Dân số năm 2002 : 4,8 triệu người ( 6,2 triệu năm 2015 )
Tăng trưởng dân số giai đoạn 2002-2015 : + 2,0 %
Số dân dưới 15 tuổi (%) : 43,6 %
Từ 15 đến 65 tuổi: 2,5 triệu (53,3 % dân số)
Dân đô thị: 34 % (48 % năm 2015)
Trang 22Số hộ gia đình có sức tiêu thụ hàng năm theo ngang giá sức mua :
Trên 30.000 euro: 40.000 (chiếm 5 % số hộ gia đình)
Trên 15.000 euro: 73.000 (9 % hộ gia đình)
Dưới 5.000 euro: 400.000 (49 % hộ gia đình)
Mức sống Tô-gô Mức trung bình ở châu Phi
- GDP bình quân đầu người (US$) 270 450
- GDP bình quân đầu người theo
ngang giá sức mua (US$) 1450 1174
- Số đường dây điện thoại 10 15
- Số đường dây điện thoại di động 35 16
- Số lượng xe ôtô (xe tư + xe
- Số máy vi tính 30,8 11,9
Nguồn : Ngân hàng dữ liệu của Crédit Risk International 2003-2004
VI.2 Mức sống, sức mua và thói quen tiêu dùng
Nhìn chung, thu nhập của các hộ gia đình rất thấp Mặc dù phải trải qua cuộc khủnghoảng chưa từng có từ năm 1993 nhưng có thể nhận thấy việc tiêu dùng của các hộgia đình đã có sự phục hồi dần, một phần là do việc chuyển tiền về nước của kiềudân Tô-gô
Tiêu dùng của người dân Tô-gô tập trung vào các sản phẩm địa phương và nhữngsản phẩm cơ bản (gạo, ngô, sắn và củ mài) trong khi người phương Tây sống tạinước này chủ yếu sử dụng hàng nhập khẩu
Trang 23VI.3 Bảo vệ người tiêu dùng
Mặc dù các chủ khách sạn, nhà hàng và quản lý siêu thị rất chú ý tới uy tín và hìnhảnh của họ về bảo vệ người tiêu dùng khi cung cấp hàng hoá và dịch vụ nhưngPhòng Thương mại và Công nghiệp Tô-gô (CCIT) vẫn phối hợp chặt chẽ với ba hiệphội bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực này Những hiệp hội này bao gồm cácgiảng viên đại học, thầy thuốc, luật gia, nhà kinh tế, nhà xã hội học… đang nỗ lựcđấu tranh chống hàng giả và những sản phẩm hết đã hạn sử dụng Ba hiệp hội này là:
Hiệp hội người tiêu dùng Tô-gô (ATC)
Tel : (228) 221 93 84, Email : atctogo@yahoo.fr
Hiệp hội những Người tiêu dùng và Môi trường quốc gia (ANCE)
Tel : (228) 222 29 91, Email : ebeh@globalink.org,
Website : www.ancetogo.globalink.org
Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng Tô-gô (ASTODEC)
Tel : (228) 904 47 78
VII Sở hữu trí tuệ
Tôgô là thành viên của Tổ chức Sở hữu trí tuệ châu Phi (OAPI www.oapi.wipo.net) thành lập trong khuôn khổ Hiệp định Bangui do 16 nước ký kếtnăm 1962, trụ sở đặt tại Cameroun Hiệp định này quy định áp dụng một chế độthống nhất quyền sở hữu trí tuệ và tập trung các hoạt động đăng ký và cấp quyền sởhữu tại cơ quan này Để tạo điều kiện duy trì quan hệ với OAPI, Tô-gô đã thành lậpmột phòng liên lạc là Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia tại Tô-gô để thông tin cho người
-sử dụng về quyền sở hữu trí tuệ và tạo điều kiện cho hoạt động đăng ký Do không
có nhiều quyền nên cơ quan này hoạt động cầm chừng
Ngoài ra, Tô-gô là điểm vào và phân phối hàng giả các loại (đĩa CD, đồ điện giadụng, phụ tùng ôtô, thuốc chữa bệnh, vv), chủ yếu đến từ châu Á Chính quyềnkhông có đủ phương tiện để áp dụng những quy định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệtrong Hiệp định Bangui
Văn phòng Quyền tác giả Tô-gô (BU.TO.DRA)
Tel : (228) 222 18 41/43
Viện Sở hữu Trí tuệ và Công nghệ quốc gia (INPIT)
Tel : (228) 222 10 08
VIII Những cơ hội đầu tư
Với sự phát triển mạnh mẽ của cảng Lomé, những cơ hội đầu tư tại Tô-gô chủ yếu làcác loại hình dịch vụ liên quan đến quá cảnh đường biển và các hoạt động tái xuấtkhẩu hàng Thời gian gần đây, lĩnh vực thủ công (gỗ, kim loại…) cũng có sự tăngtrưởng Chính phủ Tô-gô đang cố gắng thực hiện nhiều dự án phát triển nông nghiệp
Trang 24phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để giảm sự phụ thuộc vào các sản phẩmnông sản (ngũ cốc, gạo, lúa mỳ, vv) Ngoài ra, với việc tiếp tục thực hiện chươngtrình tư nhân hoá, những lĩnh vực như nước (Công ty Nước quốc gia – RégieNationale des Eaux), viễn thông (Togo Telecom), hoạt động vận tải hàng hoá vàhành khách, hiện đại hoá và đảm bảo an toàn cơ sở hạ tầng cảng biển, sân bay cũng
mở ra những cơ hội đầu tư thực sự cho doanh nghiệp
Tô-gô sở hữu nhiều quặng và tài nguyên khoáng sản còn chưa được khai thác(phốtphát, sắt, uranium, bôxít, vàng, đá cẩm thạch, đá granit, quaczit, gơnai) đangcần những khoản đầu tư lớn Trong lĩnh vực du lịch, Chính phủ vừa mới đưa ra một
dự án phát triển cơ sở hạ tầng khách sạn quy mô quốc gia do nước này còn rất thiếukhách sạn, nhất là tại khu vực miền Bắc
IX Lĩnh vực pháp lý và thuế
IX.1 Luật đầu tư nước ngoài
Giống như những nước thuộc khu vực đồng franc khác, từ 1/1/1998, Tô-gô có mộtluật kinh doanh hiện đại sau khi các văn bản thống nhất được thông qua trong khuônkhổ Tổ chức Hài hoà hoá Luật Kinh doanh tại châu Phi (OHADA) có hiệu lực Tô-
gô cho phép đầu tư gần như vào tất cả các lĩnh vực (nông nghiệp, công nghiệp, dịchvụ) với điều kiện dự án phải vượt 25 triệu FCFA và người lao động Tô-gô phải nhậnđược 60% tổng số lương Trong khuôn khổ đó, nhà đầu tư được miễn thuế lợi nhuậnthương mại và công nghiệp (BIC) từ 3 đến 7 năm tuỳ theo loại hình hoạt động vàkhu vực địa lý đặt công ty Tuy nhiên chế độ này đã tỏ ra lạc hậu so với những ưu đãicủa khu chế xuất và hiện đã được thay thế bằng Bộ luật đầu tư do Liên minh Kinh tế
và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) soạn thảo
IX.2 Luật lao động
Giống như luật kinh doanh, luật lao động của Tô-gô lấy lại những nguyên tắc lớn từLuật lao động của Pháp Những doanh nghiệp mới thành lập phải khai báo tại Thanhtra lao động trong khu vực đặt trụ sở công ty (Thanh tra Lao động và Luật Xã hội)
Tỷ lệ đóng góp xã hội như sau :
- Trợ cấp gia đình : 12%
- Tai nạn lao động : 2,5%
- Bảo hiểm tuổi già : 6%
Những khoản đóng góp được phân chia như sau: Phần của chủ doanh nghiệp(16,5%) trên tổng số lương gộp hàng tháng; Phần của công nhân (4%) trên lươnggộp hàng tháng (bảo hiểm tuổi già)
Để tìm hiểu thêm thông tin, xin liên hệ:
Bộ Chức năng công cộng, Lao động và Việc làm
(Ministère de la Fonction publique, du Travail et de l’Emploi)
Tel : (228) 221 41 83
Quỹ Bảo hiểm xã hội quốc gia (CNSS)
Trang 25Ngược lại, chế độ thu thuế đơn giản hoá được áp dụng cho các doanh nghiệp códoanh thu từ 45.735 Euro đến 76.225 Euro (bán hàng) hoặc từ 15.245 Euro đến45.735 Euro (cung ứng dịch vụ) Cuối cùng, tất cả các pháp nhân hoặc thể nhân cóchế độ kế toán đầy đủ và đều đặn được hưởng chế độ thực sự.
Trong khuôn khổ chế độ này, thuế thể nhân được tính toán tuỳ theo thu nhập trongkhi thuế lợi nhuận công ty được xác định tuỳ theo doanh thu và những kết quả thực
tế đã thực hiện
Thuế suất
Tỷ suất thuế thu nhập từ vốn động sản (IRCM) hoặc từ chứng khoán động sản là10% đối với các sản phẩm đầu tư có thu nhập thay đổi (cổ phiếu, vốn cổ phần và thunhập tương tự) Tỷ suất thuế 10% cũng áp dụng đối với các sản phẩm đầu tư có thunhập cố định (thu nhập từ cho vay, tiền gửi, bảo lãnh, tài khoản vãng lai, thu nhập từvốn Nhà nước, thu nhập từ trái phiếu và chứng khoán lưu thông) Còn tỷ suất thuếlợi nhuận là 37% đối với các xí nghiệp công nghiệp và 40% đối với những doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác
Tuy nhiên, những doanh nghiệp mới thành lập phải đóng ít thuế hơn, cụ thể đượcmiễn thuế khoán tối thiểu (IMF) trong 12 tháng đầu tiên hoạt động
Thuế trong lĩnh vực công nghiệp
Tại Tô-gô, Bộ Luật đầu tư quy định những ưu đãi thuế đối với các khoản đầu tưtrong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất, chế biến) Những lợi thế này thay đổi tuỳ theovùng hoặc khu vực địa lý nơi đặt doanh nghiệp mới Những doanh nghiệp được cấpphép sẽ được miễn thuế khoán tối thiểu (IMF) đến năm thứ ba sau năm đầu hoạtđộng Việc miễn thuế khoán tối thiểu (IMF) là 5 năm đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, 7 năm đối với các doanh nghiệp chế biến nguyên liệu địa phương có nguồngốc từ thực vật, động vật hoặc mỏ Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu có phần đónggóp từ xuất khẩu so với tổng doanh thu cao hơn 75% sẽ được giảm thuế lợi tức công
ty (IS)
Mặt khác, các doanh nghiệp được cấp phép trong khu chế xuất được hưởng nhiều ưuđãi về thuế trong đó có việc miễn toàn bộ thuế lợi tức công ty trong 10 năm đầu Tỷ