Tự do hoá thương mại quốc tế Ma-rốc gia nhập WTO ngày 1/1/1995, sửa đổi Bộ luật thương mại năm 1996, tiếnhành loại bỏ những hạn chế về số lượng và sử dụng thuế quan là phương tiện chính
Trang 1Thương vụ VN tại Ma-rốc
Dự thảo cuốn sách Kinh doanh với thị trường Ma-rốc
Chương 1 Giới thiệu về Vương quốc Ma-rốc 3
I Tổng quan về Ma-rốc : 3
I.1 Điều kiện tự nhiên :
3 I.2 Điều kiện chính trị-xã hội : 4
I.3 Vấn đề Tây Xa-ha-ra……… 5
I.4 Tình hình kinh tế : 10
II Thị trường Ma-rốc : 15
II.1 Thực trạng thị trường Ma-rốc thời kỳ 1995-2006 15
II.2 Tình hình hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường 26
Chương 2 Quan hệ thương mại Việt Nam – Ma-rốc 32
I Thực trạng quan hệ TM Việt Nam-Marốc thời kỳ 1995-2005 32 II Nhận định chung về thị trường 36
III Một số kiến nghị 38
IV.Đôi nét về cộng đồng Việt đang sinh sống và làm việc Marốc 40 Chương 3 Những luật lệ thương mại chung tại Ma-rốc 41
I Chính sách thương mại và đầu tư 41
II Chế độ nhập khẩu vào Ma-rốc 42
III Các loại thuế cơ bản của Ma-rốc 46
IV Ma-rốc đẩy nhanh lộ trình cắt giảm thuế quan 51
V Quy định về quản lý hối đoái tại Ma-rốc 53
VI Hoạt động nhượng quyền thương hiệu tại Ma-rốc 55
VII Hoạt động đại lý thương mại tại Ma-rốc 58
VIII Các phương tiện thanh toán và thu hồi nợ tại Ma-rốc 59
IX Toà án và việc giải quyết các tranh chấp 65
X.Thủ tục đầu tư vào thị trường Ma-rốc……… 69
XI Luật lao động của Ma-rốc……… 71
XII Các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ 73
XIII Những rào cản thương mại và kỹ thuật đối với hàng NK 85
Chương 4 Các cơ hội kinh doanh&đầu tư với thị trường Ma-rốc 89 I Thị trường cà phê 89
II Thị trường chè Ma-rốc 91
III Thị trường thuỷ sản 92
IV Thị trường chế biến nông sản 96
Trang 2V Thị trường dệt may 99
VI Thị trường đồ điện tử gia dụng 100
VII.Thị trường gia vị của Ma-rốc 101
VIII.Thị trường sắt thép phế liệu 102
IX.Thị trường phân phốt phát 104
X Khai thác & xuất khẩu đá hoa (đá cẩm thạch) của Ma-rốc… 105
XI Lĩnh vực du lịch 106
Chương 5 Một số thông tin hữu ích khác 109
I Đôi nét về người tiêu dùng Ma-rốc 109
II Tập quán trong giao dịch thương mại tại Ma-rốc 109
III Môi trường sống và làm việc tại Ma-rốc 111
IV Lịch hội chợ triển lãm trong nước & quốc tế dự kiến tổ chức tại TP Casablanca của Ma-rốc năm 2007………… 118
VI Một số địa chỉ thiết thực 120
Trang 3Chương 1 Giới thiệu về Vương quốc Ma-rốc
I Tổng quan về Ma-rốc
I.1 Điều kiện tự nhiên
Vương quốc Ma-rốc nằm ở tây bắc Châu Phi, phía bắc là Địa Trung Hải, phíađông giáp An-giê-ri, phía nam giáp Tây Xa-ha-ra và phía tây là Đại Tây Dương Diệntích Ma-rốc rộng 446.550 km2, dân số 31 triệu người (năm 2005), trong đó 99% làngười Arập Bécbe Rabat là thủ đô hành chính có dân số khoảng 1 triệu người Cácthành phố lớn là Casablanca, Marrakech, Tanger, Fès trong đó Casablanca là thủ đôkinh tế với dân số trên 3 triệu người Tiếng A-rập là ngôn ngữ chính thức, tiếng Pháp
là ngoại ngữ phổ biến trong thương mại và ngoại giao Ngoài ra còn có tiếng Anh,tiếng Tây Ban Nha và tiếng địa phương Béc-be cũng được sử dụng tuỳ vùng địa lý
Đạo Hồi là tôn giáo chính thức chiếm 98,7%, các tôn giáo khác là đạo ThiênChúa, đạo Do Thái
Đơn vị tiền tệ là đồng đi-ham (DH) Tỷ giá 1 USD tương đương 8,6 DH (tháng1/2007)
Quốc khánh được tổ chức vào ngày 3/3 (1961)
Do có hai mặt giáp biển, lại nằm trên eo biển Gibralta là điểm ngắn nhất ngăncách Châu Âu với Châu Phi (cách Tây Ban Nha 15 km) nên Ma-rốc có một vị trí địa
lý, chính trị quan trọng ở khu vực Bắc Phi, là điểm trung chuyển hàng hoá vào châu
Âu và Tây Phi
Ở phía bắc và trong nội địa, địa hình Ma-rốc là núi đồi, với những cao nguyênrộng lớn Xen kẽ giữa các dãy núi là các thung lũng và những dải đồng bằng phìnhiêu Phía nam lãnh thổ Ma-rốc nằm trong sa mạc Xa-ha-ra
Khí hậu của Ma-rốc rất khác nhau tuỳ theo từng vùng: có khí hậu Địa Trung Hải
ở phía Bắc, Đại Tây Dương ở phía Đông và khí hậu sa mạc Xahara ở phía Nam Chỉnhững vùng ven biển mới có khí hậu ôn đới Có thể nhận thấy những chênh lệch vềkhí hậu đáng kể trong cùng một ngày
Vào mùa đông, khí hậu các vùng miền núi phía Nam thường lạnh và ẩm ướt,tuyết rơi nhiều ở vùng núi Atlas
Tuy nhiên ở vùng Agadir, Fès, Marrakech và Ouarzazate thường có nắng 8hmỗi ngày Nhiệt độ trung bình trong những thành phố này là trên 17oC Đôi khi có gióXirôcô loại gió đến từ hướng Đông mang theo không khí khô và nóng làm nhiệt độ
Trang 4tăng cao Bên cạnh sa mạc Xahara luôn có những trận gió khô và nóng bỏng, nhiệt độđôi khi lên đến 45oC vào tháng 8.
Tài nguyên thiên nhiên của Ma-rốc chủ yếu là khoáng sản, quan trọng nhất làphốt-phát Ngoài ra còn có than đá, cobalt, sắt, chì, mangan, dầu mỏ, bạc, thiếc vàkẽm
I.2 Điều kiện chính trị - xã hội
Ma-rốc vốn là xứ sở của người Béc-be Năm 682, người Arập xâm chiếm Ma-rốc.Đến giữa thế kỉ 19, Ma-rốc bị xâu xé bởi nhiều cường quốc phương Tây Từ năm
1912, Pháp và Tây Ban Nha đô hộ Ma-rốc
Đến tháng 3/1956, Pháp thừa nhận nền độc lập của Ma-rốc Tháng 4/1956, TâyBan Nha cũng thừa nhận nền độc lập của vùng đất Ma-rốc thuộc Tây Ban Nha Tháng8/1957, Mohamed V lên ngôi vua, lập ra vương quốc Ma-rốc
Ma-rốc là một nước có nền quân chủ lập hiến, theo chế độ cha truyền con nối Kể
từ khi độc lập, đất nước đã có 5 Hiến pháp Vua hiện nay là Mohamed VI lên ngôi từnăm 1999 Vua là chỉ huy tối cao các lực lượng quân đội và chỉ đạo Hội đồng Bộtrưởng Vua lựa chọn Thủ tướng và bổ nhiệm các Bộ trưởng theo đề xuất của Thủtướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Vua và Nghị viện Ngoài vai trò chính trị caonhất, nhà Vua còn nắm tính hợp pháp tôn giáo với tư cách Chỉ huy các Tín đồ và làcon cháu của nhà tiên tri Do vậy Hoàng Cung vẫn là tác nhân chính trị trung tâm cảtrong lĩnh vực an ninh lẫn chính sách kinh tế
Hiến pháp năm 1996 đã củng cố quyền của Nghị viện và lập ra chế độ hai viện.Nghị viện bao gồm Viện dân biểu (gồm các đại biểu được bầu nhiệm kỳ 5 năm bằngphổ thông đầu phiếu trực tiếp) và Viện cố vấn (được bầu nhiệm kỳ 9 năm bằng phổthông đầu phiếu gián tiếp
Ma.-rốc thông qua chế độ đa đảng chính trị, với khoảng 30 đảng phái hợp pháp.Đảng đối lập trước đây gồm hai đảng kế tục Phong trào độc lập dân tộc Ma-rốc làđảng Istiglal (PI) và Liên minh các lực lượng nhân dân xã hội chủ nghĩa (USFP) Từnăm 1998 đến 2002, đảng đối lập đứng đầu Liên minh Chính phủ, còn gọi là Chínhphủ đan xen Sau cuộc bầu cử tháng 9/2002, một liên minh mới được hình thành baogồm các đảng USFP, PI, RNI (đảng trung hữu), đảng MP và đảng MNP (các đảng củangười Béc-be), đứng đầu là Thủ tướng Driss Jettou, người không thuộc đảng phái nào.Theo công luận, Thủ tướng Jettou có một hình ảnh tốt (liêm khiết, có năng lực) và đã
nỗ lực phát động những cuộc cải cách căn bản (bảo hiểm bệnh tật bắt buộc, lươnghưu, đầu tư cải thiện cơ cấu kinh tế) Các đảng chính của phe đối lập là PJD (ĐảngHồi giáo), UC, PND (đảng cánh hữu) và GSU (đảng cánh tả cấp tiến) Cuộc bầu cử tối
sẽ diễn ra vào tháng 9/2007
Trang 5Về mặt hành chính, lãnh thổ của Ma-rốc được chia thành 17 vùng (wilayas), 13thành phố và 49 tỉnh Năm 2002, phong trào phi tập trung hoá một lần nữa được đưa
ra với việc thông qua Luật mới về công xã Các đơn vị hành chính địa phương (xã,tỉnh, thành phố, vùng) do những người được bầu lãnh đạo có một vị trí ngày càng tăngtrong hoạch định các chính sách phát triển địa phương
Từ vài năm nay, Ma-rốc thực hiện mục tiêu thiết lập một chế độ dân chủ hơn vàxây dựng một Nhà nước pháp quyền (ban hành Bộ luật gia đình mới, Luật về các đảngphái chính trị, Luật chống tra tấn…)
Trong lĩnh vực xã hội, Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc đã xếp Ma-rốcđứng ở vị trí 123 về chỉ số phát triển con người Nghèo đói tác động trước tiên đến cácvùng nông thôn và phụ nữ Vào tháng 5/2005, Đức Vua đã thông báo phát động Sángkiến quốc gia về phát triển con người, đề xuất một chiến lược tổng thể đấu tranhchống đói nghèo bao gồm nhà ở, cơ sở hạ tầng cơ bản, y tế, giáo dục và việc làm.Chính phủ dự kiến sẽ dành 10 tỷ điham (1,2 tỷ USD) từ nay đến 2010 cho sáng kiếnnày
Tình hình chính trị xã hội Ma-rốc hiện nay nhìn chung ổn định Tuy nhiên vấn đềTây Xa-ha-ra vẫn đang là một điểm nóng chính trị của Ma-rốc Giải pháp do Liên hiệpquốc đưa ra từ hơn 10 năm nay nhằm tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân Tây Xa-ha-
ra tự quyết định tương lai của mình vẫn không thực hiện được Trong khi đó chínhquyền ở đây đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Arập Xarauy Dân chủ, tuy chưađược Liên hiệp quốc và nhiều nước trên thế giới công nhận
I.3 Vấn đề Tây Xa-ha-ra
Việc giải quyết xung đột khu vực sa mạc Tây Xa-ha-ra ( gọi tắt là vấn đề TâyXa-ha-ra ) giữa một số quốc gia Bắc phi hiện là vấn đề sống còn đối với việc giữvững ổn định và phát triển trong khu vực Quá trình này cho đến nay vẫn chưa đượcgiải quyết xong
1 Vài nét về Tây Xa-ha-ra
Vùng Tây Xa-ha-ra có diện tích 252.100km2, dân số khoảng 186.000 người, làkhu vực giàu phốt phát (trữ lượng 1 tỷ tấn), sắt, có thể có cả dầu lửa và khí đốt (Ma-rốc là quốc gia cho đến nay chưa tìm ra dầu lửa, hàng năm phải nhập gần như toàn
bộ dầu thô và khí đốt để tinh chế đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu) Tronglịch sử, Tây Xa-ha-ra là một bộ phận của lãnh thổ Ma-rốc bị Tây Ban Nha đô hộ từnăm 1884 Năm 1975, Tây Ban Nha trao trả độc lập cho Tây Xa-ha-ra và năm 1976,
Trang 6Mặt trận Polisario, được sự hỗ trợ của An-giê-ri, đã tuyên bố thành lập nước Cộnghoà A-rập Xa-ra-uy Dân chủ (RASD).
Sau khi tuyên bố thành lập, RASD được trên 70 nước (trong đó có Việt Namnăm 1979), chủ yếu là các nước châu Phi và Mỹ La tinh công nhận (chưa có nướclớn nào công nhận RASD) Nhưng những năm gần đây đã có trên 20 nước rút sựcông nhận RASD trong đó đáng chú ý là Ấn Độ vì RASD thực sự yếu, nội bộ bị cáclực lượng thân Ma-rốc chia rẽ, phân hoá Gần đây nhiều lãnh đạo cao cấp của RASD
đã chạy sang Ma-rốc, ngoài ra RASD lại thiếu sự hỗ trợ mạnh mẽ và hiệu quả củaquốc tế, kể cả Liên hiệp quốc (LHQ) Còn An-giê-ri, nước đỡ đầu của RASD, do tìnhhình trong nước khó khăn, lại chịu nhiều áp lực trong việc ủng hộ RASD nên buộcphải điều chỉnh chính sách, không ủng hộ và giúp RASD mạnh mẽ như trước
2 Về giải pháp cho vấn đề Tây Xa-ha-ra
Năm 1991, LHQ đưa ra Nghị quyết số 690, vạch kế hoạch tổ chức trưng cầudân ý để nhân dân Tây Xa-ha-ra tự quyết định : độc lập hay sáp nhập vào Ma-rốc.Nhưng hơn 10 năm nay, giải pháp này không thực hiện được do Ma-rốc và Mặt trậnPolisario bất đồng về thành phần cử tri và thể thức trưng cầu dân ý
Tháng 7/2002, Tổng Thư ký LHQ đưa ra một số giải pháp :
- Giải pháp Con đường thứ ba, theo đó Tây Xa-ha-ra sẽ được hưởng quyền tựtrị, nhưng vẫn nằm trong Ma-rốc
- Giải pháp chia lãnh thổ Tây Xa-ha-ra giữa Ma-rốc và Polisario
- Trường hợp những giải pháp trên không được chấp nhận, LHQ cảnh báo sẽ rúthoàn toàn sự tham gia của mình khỏi giải pháp Tây Xa-ha-ra
Ngày 31/7/2003, Hội đồng bảo an LHQ đã thông qua Nghị quyết 1495 kêu gọiMa-rốc và Polisario thực hiện kế hoạch hoà bình cho Tây Xa-ha-ra do James Baker,Đặc phái viên của Tổng Thư ký LHQ về Tây Xa-ha-ra soạn thảo và chỉnh sửa, thựcchất dung hoà giải pháp Con đường thứ ba (Ma-rốc ủng hộ) và việc tổ chức trưngcầu dân ý (Polisario ủng hộ) với nội dung chính là thành lập một chính quyền tạmthời quản lý vùng này với một số quyền hạn chế (nắm hành chính địa phương, thuế,
an ninh nội bộ) còn các quyền chủ quyền (ngoại giao, an ninh quốc gia, quốc phòng,nội vụ) do Ma-rốc nắm với mục tiêu xây dựng quy chế vĩnh viễn cho CH Xa-ra-uybằng trưng cầu dân ý sau 5 năm Kế hoạch này được Mặt trận Polisario, An-giê-ri,
Trang 7Anh, Tây Ban Nha ủng hộ, nhưng bị Ma-rốc, Pháp phản đối Mỹ giữ thái độ trunglập, thực tế ủng hộ Ma-rốc.
Cộng hoà A-rập Xa-ra-uy Dân chủ (RASD) hiện đang gặp nhiều khó khăn :Hiện nay RASD chỉ kiểm soát được 35% lãnh thổ, còn Ma-rốc kiểm soát 65%.Tháng 1/2003, Cam-pu-chia tuyên bố không công nhận RASD ; Ngày 26/10/2004,Liên bang Serbie-Monténegro rút sự công nhận RASD (Nam Tư cũ đã chính thứccông nhận RASD năm 1984) Ngày 5/4/2005, Tổng thống Madagascar tuyên
bố ngừng việc công nhận RASD Ngày 17/3/2006, Bộ trưởng Ngoại giao CH Tchadtuyên bố: Chính phủ Tchat đã quyết định rút công nhận RASD Trong khi đó ngày15/9/2004, Nam Phi lại công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với RASD (có thể dotrụ sở Nghị viện Liên minh châu Phi-AU nằm tại Nam Phi trong khi RASD vẫn làthành viên của AU) Kên-ni-a và RASD (ngày 25/6/2005), Dăm-bi-a và RASD (ngày10/7/2005) ra thông cáo chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ Ngày19/10/2006 Kên-ni-a lại ra thông cáo rút sự công nhận RASD
Tháng 6/2004, James Baker, đặc phái viên của Tổng Thư ký LHQ về Tây ha-ra từ chức, ông Alvaro de Soto thay thế, tuy nhiên vào tháng 5/2005, Alvaro được
Xa-cử chức Đặc phái viên TTK/LHQ tại Trung Đông và sau đó vị trí Đặc phái viênTTK/LHQ về Tây Xa-ha-ra bị bỏ lửng cho đến cuối tháng 7/2005 thì TTK/LHQ cửFrancesco Bastagli làm đại biện Ngày 1/10/2005, ông Bastagli, sau khi gặp Ngoạitrưởng An-giê-ri, tuyên bố với giới báo chí : Kế hoạch Baker đã được HĐBA/LHQnhất trí thông qua tháng 7/2003 vẫn là tài liệu cơ bản để giải quyết vấn đề Tây Xa-ha-ra, đồng thời khẳng định: Cuộc xung đột ở Tây Xa-ha-ra là vấn đề phi thực dânhoá và nó thuộc về Uỷ ban phi thực dân hoá của LHQ (thực chất Nghị quyết ủng hộ
kế hoạch Baker) Tháng 10/2005, đặc phái viên mới của TTK/LHQ là ông Peter VanWalsum trong chuyến thăm và làm việc tại Ma-rốc, An-giê-ri và Mô-ri-ta-ni đã nêurõ: Giải pháp cho vấn đề này phải nằm trong chương trình nghị sự của LHQ, nó phụthuộc vào ý chí của TTK/LHQ cũng như sự quan tâm của các nhà lãnh đạo các nướctrong việc đóng góp thiện chí tháo gỡ vấn đề này
Ngày 28/4/2006, HĐBA/LHQ thông qua Nghị quyết 1675 về Tây Xa-ha-rakhẳng định lại lập trường về quyền tự quyết của nhân dân Xa-ra-uy được bày tỏ ýnguyện thông qua tổng tuyển cử có sự giám sát của lực lượng bảo vệ hoà bình LHQ,
Trang 8đề nghị các bên (Ma-rốc và Polisario) và các Nhà nước trong khu vực tiếp tục hợptác chặt chẽ với LHQ để chấm dứt tình trạng bế tắc hiện nay và hướng tới một giảipháp chính trị bền vững, công bằng, được các bên đồng thuận, kéo dài thời gian hoạtđộng của Phái đoàn LHQ về trưng cầu dân ý tại Tây Xa-ha-ra đến ngày 31/10/2006.
3 Thái độ của các bên liên quan
- RASD : Ủng hộ kế hoạch của LHQ và cho rằng Nghị quyết số 1495 của LHQ
về trưng cầu dân ý về quyền tự quyết của nhân dân Tây Xa-ha-ra là cơ sở để giảiquyết cuộc xung đột, kiên quyết bác bỏ giải pháp Con đường thứ ba
- An-giê-ri : Ủng hộ lập trường RASD, cam kết ủng hộ và sẵn sàng đóng gópvào tiến trình hoà bình ở Tây Xa-ha-ra An-giê-ri công khai coi đây là vấn đề phithực dân hoá, cần giải quyết giữa Polisario và Ma-rốc trong khuôn khổ LHQ, khôngthừa nhận vai trò bảo trợ Polisario của mình
- Ma-rốc : Tìm mọi cách không thực hiện kế hoạch của LHQ về trưng cầu dân
ý, ráo riết vận động các nước rút lui công nhận RASD và ủng hộ giải pháp Conđường thứ ba Ma-rốc kiên quyết bác bỏ giải pháp chia lãnh thổ với Polisario
- Mỹ, Pháp và một số nước Tây Âu : Ủng hộ giải pháp Con đường thứ ba, sápnhập Tây Xa-ha-ra vào Ma-rốc với quy chế tự trị Tây Ban Nha ủng hộ một giải phápchính trị trên cơ sở đàm phán giữa Ma-rốc và Polisario và không ủng hộ thực hiệncác nghị quyết của LHQ
4 Vận động của Ma-rốc và RASD với Việt Nam
Những năm gần đây, Ma-rốc tìm mọi cách vận động các nước thay đổi thái độvới vấn đề Tây Xa-ha-ra, trong đó có Việt Nam Ma-rốc đã cử đặc phái viên của Bộtrưởng Ngoại giao (năm 2000) và Tổng Thư ký BNG và Hợp tác (2002) vào ViệtNam Tháng 3/2003, Chủ tịch Hạ viện Ma-rốc thăm nước ta có nhắc đến việc này và
đề nghị Việt Nam giúp đỡ trong việc giải quyết vấn đề này Dịp Đại sứ ta trình thư
uỷ nhiệm (16/9/2004) và Đại sứ Ma-rốc vào VN (10/2004) để chuẩn bị đón Thủtướng ta thăm Ma-rốc (11/2004), Ma-rốc mong muốn Việt Nam có lập trường trunglập và ủng hộ vấn đề này tại LHQ và các diễn đàn quốc tế Trong chuyến thăm Ma-rốc của Thủ tướng Phan Văn Khải, Ma-rốc không đặt vấn đề ra thông cáo chungnhưng nếu ta có thông cáo chung tại An-giê-ri thì đề nghị cũng có ở Ma-rốc Nếuthông cáo chung có đề cập vấn đề Tây Xa-ha-ra thì lấy lời lẽ trong thư của
Trang 9TTK/LHQ ngày 11/6/2004 gửi Chủ tịch HĐBA/LHQ với nội dung ca ngợi JamesBaker và giao cho Đặc phái viên mới Alvaro de Soto nhiệm vụ: Tiếp tục làm việc vớicác bên và các nước láng giềng để tìm kiếm một giải pháp chính trị công bằng, bềnvững và chấp nhận được với tất cả các bên, sẽ đảm bảo quyền tự quyết của nhân dânTây Xa-ha-ra trong khi dàn xếp với phù hợp với các mục tiêu và nguyên tắc củaHiến chương LHQ
Tháng 7/2005, Bộ trưởng đặc trách - Đặc phái viên của Vua Ma-rốc vào ta vậnđộng Việt Nam có lập trường trung lập và tích cực hơn về vấn đề Tây Xa-ha-ra và hyvọng lập trường Việt Nam biến chuyển dần Tháng 3/2006, trong các cuộc gặp Lãnhđạo ta, Đại sứ Ma-rốc đầu tiên thường trú tại Việt Nam đều nêu vấn đề này và vậnđộng ta ủng hộ lập trường Ma-rốc Tháng 8/2006, Bộ trưởng-Đặc phái viên Vua Ma-rốc vào Việt Nam lại vận động ta ủng hộ lập trường và giải pháp của Ma-rốc, thậmchí đề nghị ta rút công nhận RASD
Về phía RASD, tháng 3/2003, Cố vấn ngoại giao của Thủ tướng RASD đã vàogặp lãnh đạo Vụ TAPC-Bộ Ngoại giao để thăm dò ta Tháng 12/2003, phía RASD đãđịnh cử Công sứ toàn quyền phủ Tổng thống làm đặc phái viên mang thông điệp củaTổng thống gửi Chủ tịch nước Trần Đức Lương, sau đó không thấy vào Việt Nam.Ngày 5/10/2004, Cố vấn ngoại giao của Thủ tướng RASD đã vào gặp lãnh đạo VụTACP-BNG, chuyển thư của Tổng thống Xa-ra-uy đến Chủ tịch Trần Đức Lương,bày tỏ dự định xin mở Đại sứ quán tại Việt Nam và đề nghị Việt Nam ủng hộ việcRASD xin gia nhập, làm thành viên chính thức LHQ Ngày 29/6/2005, Cố vấn ngoạigiao của Thủ tướng RASD lại vào Việt Nam nhắc lại vấn đề mở Đại sứ quán tại ViệtNam (ta đã bố trí lãnh đạo Vụ TACP tiếp) Ngày 10/10/2006, Cố vấn ngoại giao củaThủ tướng RASD lại vào Việt Nam vận động ta giữ vững lập trường như cũ và nhắclại vấn đề mở ĐSQ ở ta (lãnh đạo Vụ TACP tiếp)
5 Thái độ của Việt Nam
Chủ trương của ta là không để vấn đề Tây Xa-ha-ra ảnh hưởng đến quan hệgiữa ta với An-giê-ri và Ma-rốc vừa duy trì sự công nhận RASD Trên tinh thần đó,trong dịp thăm hữu nghị chính thức An-giê-ri và Ma-rốc (11/2004), Thủ tướng PhanVăn Khải đã nêu lập trường của ta với vấn đề Tây Xa-ha-ra là :
Trang 10Việt Nam ủng hộ mọi nỗ lực quốc tế và khu vực tìm kiếm giải pháp thương lượng, công bằng và thoả đáng cho vấn đề này, đảm bảo lợi ích và chấp nhận được với các bên liên quan, vì hoà bình, hợp tác và phát triển khu vực.
Lập trường này được cả Ma-rốc và An-giê-ri hoan nghênh
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã nhắc lại lập trường này trong chuyếnthăm Ma-rốc và An-giê-ri vào tháng 12/2005
Tháng 12/2006, trong buổi làm việc với Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Ma-rốc tạitrụ sở Bộ Ngoại giao nước này, khi được hỏi về vấn đề Tây Xa-ha-ra, Thứ trưởng BộThương mại Trần Đức Minh cũng nhắc lại lập trường nêu trên
I.4 Tình hình kinh tế
Hiện nay Ma-rốc đang nằm trong số những nước đang nổi lên giống như Ấn Độ
và Thổ Nhĩ Kỳ, là một trong số ít các quốc gia A-rập (Libăng và Palestin) không cónguồn tài nguyên dầu khí Ngược lại nước này lại có trữ lượng phốt phát là 5,7 tỷ tấn(năm 2005) đứng thứ 2 sau Trung Quốc và là xuất khẩu số 1 trên thế giới về sản phẩmnày
Ma-rốc có nền kinh tế thị trường tự do được luật cung cầu điều tiết mặc dù hiệntại một số lĩnh vực kinh tế vẫn còn do Chính phủ nắm giữ
Trong mấy năm gần đây, kinh tế Ma-rốc cũng đạt được những thành tựu đángkhích lệ: ổn định vĩ mô được giữ vững, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, dự trữ ngoại hốikhá cao, nợ nước ngoài giảm… Cải cách kinh tế mà Chính phủ Ma-rốc đã và đangtiến hành thu được nhiều tiến bộ
Đối với nền kinh tế Ma-rốc, thập kỷ 90 được đánh dấu bằng một sự tăng trưởngkhông cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình chỉ đạt 1,8%/năm giai đoạn 1995-
2000 Giai đoạn 2001-2006 con số này đã khả quan hơn với tốc độ tăng trưởng4,7%/năm Riêng năm 2006, tăng trưởng GDP của Ma-rốc lên tới 8,1% đạt 52,3 tỷUSD, chủ yếu do tăng trưởng nông nghiệp đạt thu nhập bình quân đầu người là 1.730USD/người, thấp hơn mức trung bình của khu vực Bắc Phi (2.241 USD)
Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ 16% năm 1999 xuống còn 9,7% năm 2006 Tuynhiên tỷ lệ này vẫn còn cao và trong những năm tới số lượng người thất nghiệp sẽkhông giảm nếu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dưới mức 6% Tỷ lệ lạm phát được giữ ởmức 1,7% giai đoạn 1996-2000 và 1,4% giai đoạn 2001-2005 nhờ thực hiện chínhsách ngân sách và tiền tệ thích hợp Tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 16,5% năm 1997xuống còn 14% năm 2005 Chênh lệch thu nhập giữa các vùng giảm nhờ thực hiệnSáng kiến quốc gia về phát triển con người
Trang 11Tổng kim ngạch xuất khẩu của Ma-rốc năm 2006 đạt 12,8 tỷ USD tăng 11,2% sovới năm 2005, nhập khẩu đạt 23,7 tỷ USD tăng 11% (nhập siêu 10,9 tỷ USD).
Tỷ lệ thâm hụt ngân sách giảm xuống còn 2,7% GDP năm 2006 trong khi tỷ lệthâm hụt trung bình trong 7 năm gần đây là 3,2% GDP
Dự trữ ngoại hối khoảng 21 tỷ USD Nợ nước ngoài giảm từ 20 tỷ USD năm
1997 xuống còn 11 tỷ USD năm 2006
Những kết quả đó có được phần lớn nhờ vào việc Ma-rốc tiến hành những cuộccải cách trong nhiều lĩnh vực và thông qua chính sách tự do hoá nền kinh tế dựa trên
sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân, sự minh bạch hoá, tôn trọng Nhà nướcpháp quyền và mở cửa ra thế giới bên ngoài
Tài chính: Ma-rốc đã thiết lập một khung kế toán mới cho các tổ chức tín dụng,
tự do hoá lãi suất, dỡ bỏ những hạn chế về tín dụng, loại bỏ những khoản đầu tư bắtbuộc (từ năm 1993 đến 1999)
Củng cố lĩnh vực bảo hiểm với việc ban hành Bộ luật bảo hiểm năm 2002
Cơ cấu lại các ngân hàng quốc doanh
Bán 20% ngân hàng quốc doanh lớn nhất (BCP) cho tư nhân với giá trị 70,5 triệueuro (2004)
Sửa đổi lại Luật ngân hàng và ban hành quy chế mới cho Ngân hàng Trung ươngBank Al Maghrib (2004-2005)…
Tự do hoá giá cả
Năm 2000, Ma-rốc đã tiến hành tự do hoá kinh doanh các mặt hàng nông sản(ngũ cốc, đường, hạt cây có dầu) giúp giảm giá sản phẩm và nâng cao chất lượng.Thực hiện tự do định giá và ban hành Luật cạnh tranh năm 2001: Giá cả được tự
do ấn định trừ trường hợp thiên tai quy mô lớn, thị trường biến động không bìnhthường và trừ 3 mặt hàng là bột lúa mỳ, đường và thuốc là phải chờ đến năm 2006
Tự do hoá việc chuyển chở hàng hoá bằng đường bộ
Tư hữu hoá
Lĩnh vực viễn thông đã được hoàn toàn tư hữu hoá với việc cấp giấy phép thứ hai
về kinh doanh điện thoại di động cho cty Meditel, nhờ đó giá cước viễn thông đãgiảm
Xoá bỏ sự độc quyền về sản xuất năng lượng (1997), các doanh nghiệp tư nhânđược sản xuất điện trong khuôn khổ các thoả thuận nhượng quyền Vì vậy người tiêudùng được hưởng giá điện thấp
Việc sửa đổi luật Tư hữu hoá năm 1999 đã tạo tính linh hoạt trong quá trình tưhữu hoá và bán các doanh nghiệp quốc doanh trên thị trường chứng khoán trong vàngoài nước và trong khuôn khổ mời thầu
Trang 12Các thoả thuận nhượng quyền cung ứng dịch vụ tư nhân (2000) cho phép nângcao chất lượng dịch vụ điện, nước, thu gom chất thải.
Trong lĩnh vực hàng không, việc mở cửa thị trường cho tự do cạnh tranh 2004) đã tạo điều kiện có thêm nhiều hãng hàng không đến khai thác, tăng chuyến bay
(2001-và giảm giá vé, giúp tăng lượng khách du lịch đến Ma-rốc
Cải cách môi trường thương mại và đầu tư
Luật đầu tư năm 1995 đã giúp cải thiện khung pháp lý về đầu tư, loại bỏ nhữngchồng chéo trong các lĩnh vực
Luật Toà án thương mại năm 1998 đã đơn giản hoá quá trình thẩm tra các tranhchấp thương mại và quyền sở hữu trí tuệ
Việc thành lập 16 trung tâm đầu tư khu vực năm 2003 với chế độ một cửa chủtrương phi tập trung hoá cấp quyết định tạo điều kiện thành lập doanh nghiệp ở cáckhu vực khác nhau
Cải cách hành chính công
Việc ban hành Quy định về ký kết hợp đồng công năm 1999 đã giúp công khaiviệc đấu thầu Nhà nước, đảm bảo tự do cạnh tranh, bảo vệ quyền của những người dựthầu và đơn giản hoá các thủ tục
Nâng cao hiệu quả và chất lượng của đội ngũ công chức bằng chương trình tuyểnchọn lại và về hưu sớm
Tự do hoá thương mại quốc tế
Ma-rốc gia nhập WTO ngày 1/1/1995, sửa đổi Bộ luật thương mại năm 1996, tiếnhành loại bỏ những hạn chế về số lượng và sử dụng thuế quan là phương tiện chính đểbảo vệ sản xuất trong nước
Xoá bỏ sự độc quyền về nhập khẩu (năm 1996) những sản phẩm cơ bản trừ lúa
mỳ để sản xuất bột mỳ trong nước
Năm 1997, Ma-rốc đã tiến hành cải cách thuế quan, thời gian làm thủ tục thôngquan đã giảm từ trên 5 ngày trước năm 1997 xuống còn dưới 1h Thủ tục hải quan rõràng, công khai và dễ nhận thấy
Ma-rốc đã ký một loạt hiệp định tự do mậu dịch với EU, các nước A-rập, Mỹ,Thổ Nhĩ Kỳ…
Công tác điều hành vĩ mô và hệ thống pháp lý ngày càng hiệu quả và minh bạch
Trong cơ cấu kinh tế, lĩnh vực nông nghiệp của Ma-rốc sử dụng 40% lực lượng
lao động, nhưng trình độ kỹ thuật chưa cao, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Trongthập kỷ 1995-2005, do thời tiết không thuận, nông nghiệp Ma-rốc đã sụt giảm với tốc
độ tăng trưởng chỉ đạt 3,4%/năm Riêng năm 2005, do hạn hán nên tỷ lệ tăng trưởngnông nghiệp giảm 15,2% Đến năm 2006, tăng trưởng nông nghiệp đạt 21% do có
Trang 13mưa vào đầu năm Một số nông sản chính là ngũ cốc (lúa mỳ, đại mạch và ngô), củcải đường, cam quýt, nho, rau, cà chua, ôliu và chăn nuôi Ma-rốc đứng thứ 3 trên thếgiới về sản xuất ô-liu và đứng thứ 2 về xuất khẩu dầu ô-liu Nước này cũng xếp thứ 2trên thế giới về xuất khẩu cam quýt và đứng thứ 7 về xuất khẩu rau.
Ma-rốc đang cố gắng giảm sự phụ thuộc vào lượng mưa bằng cách xây dựngnhững con đập và hồ chứa nước Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp và đánh bắt thuỷsản chiếm 13,3% GDP năm 2005
Trong lĩnh vực đánh bắt hải sản, Ma-rốc là một trong những nhà sản xuất cá lớnnhất trên thế giới với 17 cảng đánh bắt cá, sản lượng đạt 593.966 tấn năm 2004 trong
đó xuất khẩu đạt 267 336 tấn Năm 2005, xuất khẩu hải sản của Ma-rốc đạt 333 174tấn mang lại nguồn thu 937 triệu ơ-rô Ma-rốc nổi tiếng về xuất khẩu cá xác-đin, cámực, bạch tuộc… Lĩnh vực này hiện sử dụng 400.000 lao động và đảm bảo 16% xuấtkhẩu cả nước
Hiệp ước mới về đánh bắt cá ký giữa Ma-rốc và Liên minh châu Âu thay choHiệp ước hết hạn vào tháng 11/1999 đã có hiệu lực vào tháng 3/2006 Theo đó, Ma-rốc sẽ cho phép tàu có lưới rê của EU vào đánh bắt trên lãnh hải Ma-rốc vùng bờ biểnĐại Tây Dương với thời gian 4 năm Đổi lại EU sẽ phải trả cho Ma-rốc mỗi năm 36triệu Euro Mỗi năm sẽ có 14 triệu euro dành cho việc đầu tư hiện đại hoá và tổ chứclại lĩnh vực đánh bắt của Ma-rốc
Công nghiệp của Ma-rốc tăng trưởng với tốc độ trung bình 3,5%/năm giai đoạn
1995-2005, chiếm 31,2% GDP năm 2005 Năm 2005 tỷ lệ tăng tưởng công nghiệp đạt3,9% Là một nước nghèo tài nguyên năng lượng, Ma-rốc chỉ có thế mạnh là phốtphát.Ma-rốc đứng thứ 3 thế giới về sản xuất phốtphát và đứng đầu thế giới về xuất khẩumặt hàng này Ma-rốc cũng là nước sản xuất kim loại màu quan trọng trong khu vựcBắc Phi Do vậy, ngay từ khi độc lập, Ma-rốc đã dành những khoản đầu tư lớn để pháttriển cơ sở hạ tầng công nghiệp cơ bản Công nghiệp chế tạo chiếm tỷ trọng khoảng16,4% trong kinh tế Ma-rốc Các ngành công nghiệp chính là vật liệu xây dựng, hóachất, dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm, hóa dầu, hàng không Riêng về dệt may,phần lớn sản xuất được thực hiện theo hợp đồng với các công ty Châu Âu Kể từ đầunăm 2005, sau khi xoá bỏ Hiệp định đa sợi, ngành dệt may của Ma-rốc đã phải đốimặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các nước sản xuất dệt may như Trung Quốc,Pakistan, Ba Lan
Lĩnh vực dịch vụ của Ma-rốc tăng trưởng với tốc độ 3,7% thời kỳ 1995-2005 và
5% năm 2005, đóng góp 55,5% vào GDP cả nước, là một trong những nước có khuvực dịch vụ phát triển nhất Bắc Phi Một số ngành quan trọng là du lịch, giao thôngvận tải, viễn thông, ngân hàng, tài chính…
Trang 14Về du lịch, sau một thời gian dài (1990-1997) tăng trưởng chậm, từ năm 1998, du
lịch Ma-rốc đã đạt tốc độ tăng trưởng trung bình trên 10%/năm Năm 2005, tổngdoanh thu du lịch của Ma-rốc đã đạt 5 tỷ USD Năm 2006, Ma-rốc thu hút được 6,2triệu lượt du khách, mang lại doanh thu khoảng 6,1 tỷ USD Ma-rốc phấn đấu đón 10triệu khách năm 2010 Trong số khách du lịch nước ngoài có một nửa là kiều dân Ma-rốc
Ma-rốc cũng có một hệ thống giao thông vận tải thuộc diện phát triển nhất khu
vực Bắc Phi Năm 2005 lĩnh vực giao thông và vận tải đã đạt mức tăng trưởng là 4,9
và 5,3%
Sau khi tự do hoá ngành vận tải hàng không, Hãng hàng không hoàng gia RoyalAir Ma-rốc đã quyết định tăng quy mô đội bay và tháng 6/2005 đã tiến hành gọi thầuđối với 4 máy bay đường dài Hiện nay Ma-rốc có 19 sân bay quốc tế trong đó lớnnhất là sân bay Casablanca Đây cũng là một trong những cảng hàng không lớn nhấtchâu Phi
Về đường bộ, từ năm 2000 đến 2006 Ma-rốc đã tăng xây dựng thêm 160kmđường cao tốc Hiện nay Ma-rốc có 65.000 km đường có chất lượng khá tốt Nướcnày cũng có hệ thống đường cao tốc lớn nhất khối Maghreb và đứng thứ hai châu Phisau Nam Phi
Mạng lưới đường sắt của Ma-rốc cũng nằm trong số những hệ thống đường sắtphát triển nhất châu Phi, nối liền tất cả các thành phố chính của Vương quốc
Năm 2005, số khách du lịch bằng đường đường sắt cũng lên tới 21 triệu người
Về thông tin liên lạc, bước khởi đầu quá trình tự do hoá ngành viễn thông đượcđánh dấu bằng việc Nhà nước cấp phép lần thứ hai cho công ty điện thoại di động
Méditel trong đó 61% vốn do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ (Telefonica và Portugal Telecom) Nhiều giấy phép đầu tư khác cũng đã được cấp trong thời gian từ
năm 2000-2003, trong đó có 7 dự án đầu tư xây dựng và khai thác hệ thống viễn thôngcông cộng qua vệ tinh (satellites)
Các trung tâm gọi điện thoại quốc tế đặt tại Ma-rốc đã thực hiện doanh thu xuấtkhẩu trên 81,4 triệu USD, đem lại công ăn việc làm cho hơn 4000 người Đây là hoạtđộng xuất khẩu dịch vụ góp phần tạo công ăn việc làm chất lượng cao với đòi hỏi tỷ lệđầu tư và nhân công thấp
Ngày nay, TP Casablanca là trung tâm tài chính và công nghiệp lớn nhất Ma-rốc
và khối Maghreb (Tuy-ni-di, An-giê-ri, Ma-rốc, Libi và Mô-ri-ta-ni) Nhiều công ty đaquốc gia có trụ sở tại đây Thị trường chứng khoán Casablanca được xem là lớn thứ 4
ở châu Phi sau Johannesburg (Nam Phi), Cai-rô (Ai Cập) và Ga-bô-rôn (Bôt-xoa-na)
Trang 15Ngoại hối do kiều dân Ma-rốc gửi về, tính đến cuối tháng 12/2006, lượng kiều
hối do người Ma-rốc ở nước ngoài gửi về nước đã đạt gần 5,5 tỷ USD tăng 17,2% sovới cùng kỳ năm trước (4,1 tỷ USD) So với mức trung bình từ 2001 đến 2005, cáckhoản thu kiều hối đã tăng 31,7% năm 2006 Cùng với du lịch, ngoại hối do kiều dânMa-rốc gửi về là nguồn thu ngoại tệ thứ hai của nước này Ma-rốc là nước lớn thứ tưtrong số các nước đang phát triển nhận được nhiều kiều hối nhất (sau Ấn Độ, Mêhicô
và Pakistan) Ước tính có khoảng 2,5 triệu người Ma-rốc sống ở nước ngoài, chiếm8% dân số Có đến 50% gia đình ở Ma-rốc có người thân sống ở nước ngoài, chủ yếu
ở châu Âu và Mỹ
Về đầu tư và cho vay của nước ngoài, theo Bộ Kinh tế Ma-rốc, đầu tư nước
ngoài vào Ma-rốc đã đạt 3,2 tỷ USD năm 2006 So với mức trung bình từ năm 2001đến 2005 tổng số vốn đầu tư năm 2006 đã tăng 30,1% Năm 2005 tổng số FDI vàoMa-rốc đạt 2,9 tỷ USD đưa nước này đứng vị trí thứ 4 tại châu Phi về thu hút đầu tưsau Nam Phi, Ai Cập và Nigêria
Năm lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất là viễn thông (59%) sau khi tập đoànVivendi mua 16% công ty viễn thông quốc gia Ma-rốc Telecom, du lịch (11,7%), bấtđộng sản (9,1%), công nghiệp (8,7%) và bả hiểm (4,4%) Các nhà đầu tư chính vẫn làPháp, Tây Ban Nha, Đức và Thuỵ Sĩ Kết quả này phản ánh chính sách hiện nay củaMa-rốc Nước này đã cam kết tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và đặt việc thuhút nguồn vốn nước ngoài vào trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế, biến các nhàđầu tư nước ngoài thành các đối tác ưu tiên thực sự phục vụ phát triển đất nước
Với những tiềm năng và với vị trí địa lý được thiên nhiên ưu đãi, Ma-rốc có thểtrở thành sân sau để các nước đầu tư, sản xuất xuất khẩu bởi Ma-rốc đã ký các Hiệpđịnh tự do mậu dịch với những đối tác thương mại chính, điều này cho phép hàng hoásản xuất tại Ma-rốc có thể thâm nhập những thị trường lớn như Liên minh châu Âu,
Mỹ và các nước A-rập
Mặc dù có những kết quả đáng khích lệ như trên nhưng Chính phủ Ma-rốc vẫncòn nhiều việc phải làm để phát triển nền kinh tế một cách bền vững Hiện tại nướcnày đang phải đối phó với nhiều thách thức nhất là vấn đề dân số, thất nghiệp, tìnhtrạng mù chữ (vẫn chiếm 20% năm 2005), chăm sóc y tế, nước sạch và điện cho ngườidân nông thôn
II Thị trường Ma-rốc
II.1 Thực trạng thị trường Ma-rốc thời kỳ 1995-2006
Ngoại thương Ma-rốc khá phát triển so với các nước Châu Phi khác và tăngtrưởng đáng kể trong thập kỷ 1995-2005, bình quân 6%/năm (xuất khẩu tăng
Trang 16USD, nhập khẩu là 23,7 tỷ USD Như vậy cán cân thương mại của Ma-rốc tiếp tụcthâm hụt, với tỷ lệ tăng 10,7% Tỷ lệ bù đắp xuất nhập khẩu là 54% trong khi năm
2005 con số này là 53,8%
Đáng lưu ý là cán cân thương mại hàng hóa của Ma-rốc luôn bị thâm hụt kinhniên, kim ngạch xuất khẩu nhìn chung chỉ bằng 65-70% kim ngạch nhập khẩu
Bảng 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ma-rốc thời kỳ 1995-2006
Đơn vị: triệu USD
Kim ngạch
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Thâm hụt
Nguồn: H ải quan Ma-rốc
Nguyên nhân thâm hụt thương mại:
Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ở Ma-rốc có tính thâm niên Từ lâu,kim ngạch xuất khẩu nhìn chung chỉ bằng 60-70% kim ngạch nhập khẩu Hai nguyên
nhân cơ bản là sự sụt giảm xuất khẩu và sự tăng giá dầu thô trên thị trường thế giới.
Việc giảm xuất khẩu các sản phẩm dệt may và lương thực thực phẩm trong khi tăngnhập khẩu các sản phẩm năng lượng, đặc biệt khi giá dầu thế giới leo thang đã làmcho cán cân thương mại của Ma-rốc ngày càng trầm trọng Ma-rốc là quốc gia cho đếnnay chưa tìm ra dầu lửa, hàng năm phải nhập gần như toàn bộ dầu thô và khí đốt đểtinh chế đáp ứng nhu cầu trong nước Năm 2005 nước này phải nhập 5,1 tỷ USD nănglượng và dầu nhờn chiếm 21,6% tổng kim ngạch nhập khẩu
Một nguyên nhân sâu sa nữa là do nền kinh tế Ma-rốc thiếu tính cạnh tranh.
Mặc dù được bảo hộ ở mức thuế nhập khẩu cao trung bình 50% nhưng những mặt
Trang 17hàng xuất khẩu của Ma-rốc đang chịu sức ép cạnh tranh quyết liệt nhất là từ phía cácsản phẩm châu Á Tình trạng buôn lậu qua biên giới và ghi hoá đơn dưới mức giá thậtdiễn ra rất phổ biến Ngoài ra, là một nước đang phát triển, Ma-rốc cũng phải nhậpkhẩu nhiều máy móc trang thiết bị nên kim ngạch nhập khẩu thường xuyên vượt xakim ngạch xuất khẩu Tình trạng này sẽ còn trầm trọng hơn khi Ma-rốc đang phảigiảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết với WTO và với các nước và khu vực đã kýhiệp định tự do mậu dịch.
Trong cơ cấu trao đổi thương mại, hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng cao trong traođổi thương mại của Ma-rốc (31,7% xuất khẩu và 19,8% nhập khẩu năm 2006) Tiếptheo là bán thành phẩm (28,9% xuất khẩu và 23,5% nhập khẩu), nông sản và lươngthực thực phẩm (20% xuất khẩu và 8,5% nhập khẩu)
Xét về mặt hàng, trong nhóm bán thành phẩm, Ma-rốc nhập khẩu chủ yếu cácloại hóa chất, chất dẻo nhân tạo… và xuất khẩu các sản phẩm từ phốt-phát, phânbón… Trong nhóm hàng tiêu dùng, Ma-rốc nhập khẩu chủ yếu xe con và phụ kiện,dược phẩm, vải, hàng điện tử… và xuất khẩu quần áo may sẵn, giày dép, thảm… Đốivới hàng nông sản và lương thực thực phẩm, Ma-rốc chủ yếu nhập khẩu lúa mì,đường, sữa, cà phê, chè, thuốc lá và xuất khẩu các loại quả họ cam quýt, rau tươi, thủysản… Ngoài ra, hàng năm Ma-rốc phải nhập hầu như toàn bộ nhu cầu trong nước vềdầu mỏ và khí đốt
Những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chính là cá, rau và trái cây (cam, quýt,
cà chua) nhưng đồng thời khối lượng ngũ cốc nhập khẩu cũng rất lớn Ma-rốc là mộttrong những nước xuất khẩu phốt phát lớn trên thế giới nhưng những khoản thu từxuất khẩu không đủ để trang trải tiền nhập khẩu dầu lửa và khoáng sản Trong lĩnhvực công nghiệp chế biến xuất khẩu tập trung vào ngành dệt may còn nhập khẩu chủyếu là trang thiết bị
CHI TIẾT MẶT HÀNG NHẬP KHẨU CỦA MA-RỐC
TRONG NĂM 2004 - 2005 Năm 2005, Ma-rốc nhập khẩu khoảng 20 tỷ USD trong đó nhóm hàng:
1 Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá: 1,7 tỷ USD,
2 Năng lượng và dầu nhờn: 4,4 tỷ USD,
3 Sản phẩm thô có nguồn gốc từ động thực vật: 904 triệu USD
Trang 185 Bán thành phẩm: 4,4 tỷ USD
6 Thành phẩm là trang thiết bị nông nghiệp: 148 triệu USD
7 Thành phẩm là trang thiết bị công nghiệp: 3,8 tỷ USD
8 Hàng tiêu dùng thành phẩm: 4,1 tỷ USD
Bảng 2: Chi tiết mặt hàng nhập khẩu của Ma-rốc 2004-2005
Cà phê 32 560 28 957,78 29 260 34 360,33 Chè 45 670 71 891,56 50 081 83 382,67 Gia vị 9 117 9 723,56 11 949 13 651,33 Lúa mỳ 2 643 903 548 963,33 2 631 734 460 794,33 Bột lúa mỳ 18 11,00 1 1,67 Đường 600 555 121 489,11 614 473 147 831,56 Ngô 1 223 015 198 788,33 1 620 314 229 790,33 Nước khoáng 1 762 580,89 1 921 580,22 Lúa mạch 200 351 30 536,89 767 016 122 458,00 Rượu vang, rượu mùi, rượu nho nhiều bọt 8 386 21 261,56 11 489 26 281,78 Thuốc lá 10 585 70 596,56 10 021 82 113,44 Chà là 30 392 14 911,44 37 524 23 101,00 Thịt tươi, thịt đông lạnh vv 2 377 3 434,67 2 888 4 510,78 Thực phẩm khác 589 255 265 618,89 778 954 341 652,56
Năng lượng và dầu nhờn 14 135 656 2 912 703,33 15 644 361 4 363 237,78 Than đá các loại và than cốc 5 541 479 351 439,67 5 777 053 423 754,56 Dầu thô 6 098 234 1 615 446,44 7 055 564 2 660 768,00 Xăng dầu 127 617 52 859,89 3 683 2 822,11 Dầu gazoan và dầu mazút 949 654 355 613,89 1 032 226 543 751,78 Dầu lửa và dầu nhờn 188 901 84 830,33 139 788 84 745,78 Gaz và các khí hydrocacbua khác 1 163 160 433 460,56 1 598 679 633 328,44 Paraphin 13 313 8 085,56 9 120 6 612,78 Năng lượng điện - - Các sản phẩm năng lượng khác 53 298 10 967,00 28 248 7 454,33
Các sản phẩm thô có nguồn gốc từ động 1 876 909 847 140,78 2 143 450 904 470,22
Trang 19thực vật
Quả và hạt có dầu 456 057 148 027,22 608 591 180 320,89 Quả, hạt, bào tử để gieo 2 344 35 505,67 3 556 45 581,33
Mỡ trừ loại mỡ thô 4 905 2 130,00 6 5,11 Dầu thực vật thô 346 563 204 474,56 373 429 200 020,33 Dầu thực vật tinh luyện 17 945 10 270,56 2 766 3 920,67
Da thô 691 290,00 165 116,56 Cao su tự nhiên 4 135 5 828,78 2 623 3 993,00
Gỗ thô, đẽo vuông hoặc cưa 769 735 226 863,11 817 144 255 210,11 Bột giấy 13 855 8 428,22 22 997 12 909,00 Giấy cũ 27 988 6 321,44 33 917 8 124,89 Len và lông 2 079 11 537,44 1 739 9 385,44 Bông 31 171 47 023,22 34 503 41 136,67 Sợi nhân tạo 4 086 7 793,33 4 287 8 133,22 Đay thô 11 7,11 - Sợi cây thùa sợi 3 215 2 531,33 3 356 2 944,56 Những sản phẩm khác có nguồn gốc từ
động thực vật 192 129 130 108,78 234 371 132 668,44
Những sản phẩm thô có nguồn gốc từ
khoáng sản 3 382 760 352 148,56 3 490 783 366 271,11 Lưu huỳnh thô và chưa tinh chế 3 011 934 215 701,89 3 084 739 203 427,67 Cao su tổng hợp 7 207 10 535,33 6 458 11 257,33 Sợi tổng hợp 45 672 73 824,00 46 004 79 117,00 Những sản phẩm thô có nguồn gốc từ
khoáng chất khác 317 947 52 087,33 353 582 72 469,11
Bán thành phẩm 5 092 475 4 075 819,33 5 290 456 4 422 337,89 Chất gắn kết và xi măng dùng trong thuỷ lợi 105 283 11 167,44 97 840 10 711,78 Hoá chất 822 393 529 731,78 890 960 564 087,33 Phân tự nhiên và phân hoá học 728 669 141 889,22 502 870 119 980,22 Chất nhuộm màu 20 139 54 834,33 18 858 55 045,00 Chất tẩy trùng 22 791 99 179,56 22 432 86 606,22 Chất dẻo nhân tạo 358 565 461 602,00 377 097 544 236,22 Giấy và bìa 277 385 250 547,44 288 602 269 881,67
Gỗ công nghiệp 50 561 30 101,44 85 451 46 305,22 Chỉ, sợi tổng hợp và nhân tạo phục
vụ ngành dệt 30 236 86 553,67 32 170 91 552,89 Sợi bông phục vụ ngành dệt 13 381 51 003,00 11 109 36 931,11 Sản phẩm gốm 133 485 44 061,67 115 065 43 072,89 Thuỷ tinh thô và các tác phẩm bằng
thuỷ tinh chưa thành phẩm 80 188 46 080,00 92 566 50 373,78 Ống bằng gang, sắt, thép 19 409 26 128,22 27 098 39 582,67 Thiết bị đường ống và lắp ráp kim loại 23 475 58 883,67 24 058 74 265,67 Dây kim loại trừ dây điện 3 958 10 809,33 4 904 9 776,78
Đồ ngũ kim trừ đồ gia dụng 8 326 19 620,11 11 620 24 991,56 Đĩa, tôn, lá bằng sắt thép 138 007 113 067,67 135 472 132 657,67 Sợi, thanh, ván cừ bằng sắt, thép, thép hình 260 000 153 026,22 299 060 177 524,89 Đồng 26 723 90 164,78 28 056 108 007,33 Dây và cáp điện 15 026 58 623,11 14 791 62 729,33 Thanh, tôn, lá và ống bằng nhôm 30 129 80 943,44 35 917 101 269,22 Chì thô 337 526,89 150 261,11 Kẽm thô 16 077 19 177,56 14 635 22 417,89 Lưu huỳnh tinh chế 353 550 17 743,56 487 313 23 020,44 Dầu dễ bay hơi và tinh chất 2 131 24 465,33 2 306 27 358,44 Cao su và sản phẩm làm bằng cao su 5 767 12 330,00 5 321 14 865,89
Da thuộc và da 3 737 77 094,11 3 880 83 758,44 Sợi len 174 2 029,00 230 2 676,78
Trang 20Sắt thép dạng phôi và mầm 1 328 237 563 409,78 1 411 038 593 305,33 Bán dẫn 2 817 282 288,33 3 312 312 472,44 Các bán thành phẩm khác 211 519 658 736,67 246 275 692 611,67
Thành phẩm là trang thiết bị nông nghiệp 32 548 136 590,11 29 930 148 511,33 Máy và thiết bị nông nghiệp 15 088 56 577,89 13 487 61 171,78 Máy gặt đập - - Máy kéo nông nghiệp 17 449 79 927,33 16 427 87 272,67 Các trang thiết bị nông nghiệp khác 11 84,89 16 66,89
Thành phẩm là trang thiết bị công nghiệp 433 051 3 742 006,44 523 835 3 938 626,89 Dây cua-roa bằng cao su 3 113 15 967,44 4 684 22 555,00 Săm lốp xe ôtô 17 367 51 469,33 20 366 62 473,56
Đồ nghề 4 338 26 937,33 4 997 30 452,78 Thiết bị đường sắt 3 220 6 607,33 42 731 38 817,44 Bình chứa, chai và thùng phuy kim loại 28 584 94 565,44 27 504 98 809,67 Máy công cụ 7 663 46 010,33 7 225 41 482,89 Nồi hơi 1 196 10 328,00 654 1 946,67 Các bộ phận và linh kiện máy 2 134 20 241,89 1 816 18 279,33 Động cơ pít tông và các động cơ khác 17 277 71 309,89 17 452 90 996,33 Bơm và máy nén 9 112 87 990,00 11 719 103 052,44
Tổ hợp điều hoà không khí 6 074 37 197,78 9 141 59 339,33
Lò công nghiệp 4 107 18 194,67 2 493 17 664,22 Máy móc phục vụ ngành công nghiệp thực
phẩm 5 898 68 360,00 4 585 55 207,78 Máy móc khác 48 712 694 191,33 60 607 797 944,56 Máy nghiền và máy kết tụ 26 415 125 215,78 29 057 160 760,33 Cầu thang máy, máy nâng và chuyển hàng 16 982 84 041,78 16 819 75 325,67 Máy dệt 4 446 51 699,11 6 755 73 750,00 Con lăn 1 617 19 698,89 1 705 20 285,44 Trục truyền, tay quay và trục khuỷu 1 900 33 324,22 2 177 38 966,11 Máy phát điện và động cơ điện 5 239 35 652,33 5 820 36 404,89 Pin điện 871 2 034,89 906 2 200,89 Máy móc phục vụ hệ thống điện thoại và
điện báo 2 283 125 130,33 2 763 131 035,33 Máy phát radio 773 58 767,67 757 63 394,67 Máy ngắt điện 8 555 180 189,78 8 018 169 371,89 Tàu hoả 1 261 2 805,33 1 458 2 846,33 Máy kéo trừ máy kéo nông nghiệp 1 889 6 992,11 1 499 5 448,89
Xe công nghiệp 44 688 279 405,56 58 148 372 411,78
Bộ phận và linh kiện xe công nghiệp 3 072 9 271,78 4 204 13 818,00
Xe chở hàng 5 169 17 687,78 6 068 22 924,11 Thiết bị khai thác mỏ 24 333 93 131,56 31 285 126 048,44 Tàu biển 30 143 45 128,78 41 008 43 591,56 Máy bay 101 123 641,11 103 132 198,89 Ống hai cực 30 1 408,56 79 2 202,78 Dây và cáp điện 21 593 205 079,78 24 286 228 740,00
Hệ thống điện tử phụ 132 5 286,44 1 060 108 751,56 Các trang thiết bị công nghiệp khác 72 764 987 042,11 63 886 669 127,33
Hàng tiêu dùng thành phẩm 624 612 3 933 377,33 659 665 4 137 965,00 Thuốc 4 529 240 902,00 4 655 264 465,56 Nước hoa 16 660 51 023,56 18 171 56 913,22 Sản phẩm làm bằng chất dẻo 40 755 189 512,00 40 691 188 211,67 Săm lốp xe trừ xe công nghiệp 1 260 2 460,56 1 664 3 144,00 Giấy thành phẩm và các sản phẩm bằng giấy 35 321 122 932,11 38 412 129 845,78 Sợi tổng hợp và sợi nhân tạo 45 878 371 691,78 43 494 327 022,00 Sợi len, lông và cước 2 569 65 919,89 2 535 61 891,00 Vải bông 42 958 471 128,89 42 135 463 588,22
Trang 21Hàng dệt kim 19 009 163 663,56 19 900 152 821,78 Quần áo may sẵn 2 823 59 233,56 3 207 62 043,22 Quần áo đi trong nhà 1 954 10 876,33 2 305 10 992,44 Giày dép 9 155 21 489,11 8 604 26 621,56 Bát đũa và đồ gốm 26 597 21 604,22 23 179 19 762,67 Tác phẩm bằng thuỷ tinh thành phẩm 21 042 17 681,44 22 315 20 724,44
Đồ ngũ kim gia đình 18 612 35 813,33 15 061 40 623,33
Lò nấu và thiết bị sưởi 9 716 25 600,22 11 345 32 155,78 Thành phẩm làm bằng gang, sắt, thép 13 069 56 334,11 12 871 45 211,89
Tủ lạnh gia đình 11 032 41 893,00 13 907 53 551,33 Máy thu tivi, đài 27 427 394 418,67 27 357 428 331,56 Đèn điện các loại 3 099 16 685,22 3 506 19 842,78
Xe du lịch 51 004 433 753,89 64 605 558 636,11
Bộ phận và linh kiện xe du lịch 26 294 92 721,00 29 361 107 168,00
Bộ phận thùng xe 4 497 20 141,11 4 891 22 341,44
Xe đạp xe máy 5 264 20 768,11 7 567 28 852,22 Nhung 3 863 39 893,33 4 223 39 368,33 Các thành phẩm khác 180 225 945 236,33 193 704 973 834,67 Vàng công nghiệp 9 35 278,11 12 31 360,00
Tổng cộng: 31 073 716 17 546 797,22 34 460 223 20 032 679,33
Nguồn : Hải quan Ma-rốc
Chi tiết mặt hàng xuất khẩu của Ma-rốc 2004-2005
Năm 2005, xuất khẩu của Ma-rốc đạt khoảng 10,5 tỷ USD trong đó nhóm hàng
:
1 Thực phẩm, đồ uống, thuốc lá: 2,1 tỷ USD,
2 Năng lượng và dầu nhờn: 257 triệu USD,
3 Sản phẩm thô có nguồn gốc từ động thực vật: 371 triệu USD
4 Sản phẩm thô có nguồn gốc từ khoáng sản: 790 triệu USD
6 Thành phẩm là trang thiết bị nông nghiệp: 3,1 triệu USD
7 Thành phẩm là trang thiết bị công nghiệp: 674 triệu USD
8 Hàng tiêu dùng thành phẩm: 3,4 tỷ USD
Bảng 3: Bảng chi tiết mặt hàng xuất khẩu của Ma-rốc 2004-2005
Trang 22Cá tươi, ướp muối, cá khô hoặc cá hun khói 60 338 149 958,00 63 566 173 960,56 Giáp xác, nhuyễn thuể và sò ốc 48 887 295 243,56 78 199 420 074,00 Rau tươi, rau đông lạnh hoặc muối 176 805 136 495,33 154 860 125 892,00
Cà chua tươi 209 365 111 170,89 166 571 113 878,67 Khoai tây trừ khoai tây giống 49 005 18 872,22 42 072 15 166,00 Rau và cây rau khô 664 1 302,00 453 1 133,33 Rau vỏ đậu khô 16 115 7 054,67 5 843 2 478,78 Cam quýt 426 430 248 183,67 559 587 332 795,67 Trái cây khô 2 529 8 518,44 2 735 12 053,11 Gia vị 4 796 6 064,11 5 168 6 771,44 Đại mạch 0,33 0,11
Cá hộp 120 092 349 827,67 133 843 402 373,00 Nước rau quả 1 097 1 162,22 203 291,89 Rau đóng hộp 86 922 128 455,67 71 814 119 574,00 Trái cây đóng hộp, mứt 13 950 18 758,89 14 185 17 615,22 Trái cây tươi, đông lạnh và muối 84 844 85 972,22 118 902 107 493,11 Rượu vang, rượu mùi, rượu vang nhiều bọt,
rượu vecmut 8 174 11 497,33 6 765 9 315,33 Khô dầu và bã rượu bia 6 186 409,78 16 11,67 Bột cá 23 768 16 437,56 55 389 34 532,67 Các thực phẩm khác 244 861 135 906,00 211 120 178 892,67
Năng lượng và dầu nhờn 958 327 195 760,56 903 456 257 276,89 Than đá - 3 3,44 Dầu lửa và dầu nhờn 157 176 68 234,44 160 574 95 339,78 Các sản phẩm năng lượng khác 801 151 127 526,11 742 879 161 933,67
Các sản phẩm thô có nguồn gốc từđộng thực
vật 245 330 286 588,67 246 717 370 701,22 Ruột động vật tươi, muối hoặc sấy 4 427 34 424,33 4 624 40 362,22
Mỡ và dầu cá 27 771 17 713,33 21 614 12 888,00 Quả, hạt và bào tủ dùng để làm giống 706 1 997,00 16 2 086,89 Cây con và các bộ phận của cây 10 288 17 465,00 12 273 22 884,00 Thạch trắng 1 238 19 550,44 1 137 19 207,33 Cước thực vật 881 322,11 750 285,89
Cỏ an pha 28 11,33 1,11 Dầu ô liu thô và tinh chế 23 884 53 605,11 31 537 112 954,00 Hoa và nụ hoa 467 1 792,22 948 3 651,33
Da thô 12 20,78 5 42,33
Li e thô, li e luyện và bán gia công 11 455 12 433,11 9 460 7 823,89 Bột giấy 97 113 39 840,78 121 290 55 325,22 Len và lông 332 605,56 807 644,00 Bông 1 574 1 519,00 610 527,44 San hô 7 852,78 2 448,89 Tảo 5 611 6 994,44 8 462 13 485,67 Các sản phẩm thô có nguồn gốc từ động thực
vật khác 59 536 77 441,33 33 182 78 083,00
Các sản phẩm thô có nguồn gốc từ khoáng sản 14 737 148 672 576,78 18 625 662 790 087,33 Phốt phát 11 828 265 414 333,44 13 306 908 505 884,44 Sunfat bari 312 593 15 550,56 330 906 16 679,89
Trang 23Quặng sắt 24 7,22 11 012 360,67 Quặng măng-gan 36 9,67 7 815 1 348,44 Quặng đồng 12 439 7 635,00 14 790 10 316,44 Quặng chì 33 030 16 842,44 30 637 14 488,33 Quặng thiếc 179 828 38 083,44 220 603 60 495,56 Quặng antimôn - 46 17,22 Sắt vụn, chất thải, mảnh vụn gang, sắt, thép 407 109 83 951,33 306 110 62 601,56 Chất thải và mảnh vụn đồng, hợp kim hoặc
không hợp kim 13 180 26 506,22 15 032 39 877,89 Flo spat 103 143 13 465,56 79 742 12 907,78 Các sản phẩm thô khác có nguồn gốc từ
khoáng chất 1 847 501 56 191,89 4 302 061 65 109,11
Bán thành phẩm 5 416 841 2 571 245,44 5 440 533 2 900 255,00 Phân tự nhiên và phân hoá học 2 031 975 424 720,44 1 910 737 438 109,00 Dầu dễ bay hơi và tinh dầu 354 13 252,78 335 8 575,78
Da thuộc và da 447 13 901,67 153 5 567,67
Li - e gia công và nén 1 387 12 985,44 1 001 11 479,67 Bạc thô 181 36 998,33 223 50 143,89 Chì thô 21 457 17 240,44 49 624 46 785,89
A xít phốt pho rích 2 169 676 702 222,11 2 181 089 846 639,44
Gỗ 24 740 39 788,56 17 035 27 020,33 Sợi tổng hợp và sợi nhân tạo dùng cho ngành
dệt 2 354 13 847,22 2 518 14 928,44 Sợi bông 2 851 11 481,78 1 702 5 704,22
Xi măng 121 851 6 100,44 103 008 4 372,22 Tôn 133 885 92 649,78 130 493 97 677,11 Thành phần điện tử (bán dẫn) 7 112 612 339,00 2 031 610 232,33 Các bán thành phẩm khác 898 571 573 717,44 1 040 584 733 019,00
Thành phẩm là trang thiết bị nông nghiệp 187 2 299,56 157 3 149,44
Thành phẩm là trang thiết bị công nghiệp 87 112 736 498,44 57 213 674 428,00
Bộ phận và linh kiện cho xe công nghiệp 11 47,56 36 209,11
Xe công nghiệp 609 6 509,89 802 3 949,00 Săm lốp 5 453 15 574,44 1 921 6 689,33 Tàu biển 15 586 7 621,00 1 3,89 Ống hai cực 1 815,11 426,78 Dây và cáp điện 29 711 405 479,00 30 381 368 279,56 Các hệ thống điện tử phụ 233 11 959,22 31 14 728,44 Các thành phẩm là trang thiết bị công nghiệp
khác 35 508 288 492,22 24 041 280 141,89
Hàng tiêu dùng thành phẩm 237 378 3 553 868,22 225 965 3 395 434,56
Đồ da, túi xách và hàng phục vụ du lịch 1 307 24 924,89 1 031 25 499,00 Vải sợi tổng hợp và nhân tạo 1 832 16 924,11 2 431 23 711,00 Vải bông 3 136 24 078,22 2 223 16 298,78 Thảm 2 034 15 887,11 1 859 15 356,56 Hàng dệt kim 50 707 849 038,67 47 571 754 991,44 Quần áo may sẵn 77 096 2 075 092,78 70 287 1 959 672,00 Chăn 764 8 294,00 706 8 497,56 Mặt hàng may bằng vải 439 18 129,33 643 26 801,22 Giày dép 9 943 163 280,33 10 630 185 606,22
Đồ ngũ kim trong nhà 2 747 10 416,11 2 718 10 263,67 Quần áo trong nhà 2 379 21 030,00 1 743 15 931,78 Thuốc 1 429 22 144,11 1 618 26 699,11 Nước hoa 2 406 5 424,89 2 601 7 034,00 Quần áo da 493 22 863,33 593 24 219,22
Đồ dùng vệ sinh 22 204 27 057,33 21 939 27 689,33 Linh kiện cho xe du lịch 5 004 42 164,67 4 785 41 515,22
Trang 24Nhung 76 762,11 37 428,56 Hàng tiêu dùng thành phẩm khác 53 382 206 356,22 52 550 225 219,89
Vàng công nghiệp 2 16 060,89 2 18 517,89
TỔNG 23 267 217 9 766 276,67 27 191 016 10 484 214,89
Nguồn : Hải quan Ma-rốc
Các đối tác thương mại chính của Ma-rốc:
Bạn hàng lớn nhất của Ma-rốc là các nước EU, thường xuyên chiếm đến trên 2/3tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Ma-rốc, trong đó riêng buôn bán với Pháp đãchiếm tỷ trọng trên 30% Ma-rốc nhập từ EU các mặt hàng máy móc thiết bị, vải,phương tiện giao thông, hóa chất và xuất khẩu sang EU hàng dệt may, nông sản
Tăng trưởng GDP phi nông nghiệp của Ma-rốc phụ thuộc rất nhiều vào tăngtrưởng kinh tế dài hạn của Pháp và Tây Ban Nha, hai đối tác chính trong EU Nếukinh tế hai nước này tăng trưởng cao thì xuất khẩu của Ma-rốc vào hai thị trường Pháp
và Tây Ban Nha càng lớn
Mỹ cũng là một bạn hàng quan trọng, hàng năm chiếm khoảng 5% kim ngạchxuất nhập khẩu Hiệp định tự do mậu dịch giữa Ma-rốc và Mỹ có hiệu lực tháng1/2006 tạo điều kiện cho hàng hoá, nhất là dệt may Ma-rốc có khả năng thâm nhập thịtrường này Ma-rốc trở thành nước đầu tiên trong khối Magrheb ký FTA với Hoa Kỳ Trong các nước Arập, bạn hàng lớn nhất của Ma-rốc là Arập Xêút, còn ở ChâuPhi, đối tác chính là Libi
Hiện nay Châu Á đứng thứ hai trong cơ cấu bạn hàng của Ma-rốc (sau Châu Âu),với tỷ trọng 10,8% xuất khẩu và 19,2% nhập khẩu của Ma-rốc năm 2005 Hai bạnhàng Châu Á lớn nhất của Ma-rốc là Nhật Bản và Trung Quốc
Ma-rốc có lĩnh vực thương mại dịch vụ khá phát triển và đạt thặng dư cao Xuấtkhẩu dịch vụ tăng từ 3,2 tỷ USD năm 2003 lên 7,8 tỷ USD năm 2005, bình quân tăng5,5%/năm
II.2 Tình hình hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường
Ma-rốc là thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế trên thế giới, là một trongnhững thành viên sáng lập WTO Chính tại TP Marrakech mà ngày 15/4/1994, 123nước đã ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại lớn nhất thế giới này Trong hợptác quốc tế, Ma-rốc chủ yếu hướng về các nước EU do có vị trí địa lý thuận lợi và mốiquan hệ lịch sử sẵn có Hai bên đã ký Hiệp định Liên kết Ma-rốc – EU, có hiệu lực từ1/3/2000 Hiệp định này nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác Châu Âu - ĐịaTrung Hải, dự kiến tự do hóa từng bước quan hệ thương mại song phương trong giai
Trang 25đoạn 12 năm Theo một hiệp định ký năm 1976, tất cả các sản phẩm công nghiệp củaMa-rốc đã hoàn toàn được tự do vào EU Với hiệp định mới này, các mặt hàng thủysản của Ma-rốc cũng được tự do vào EU không chịu thuế và hạn ngạch Còn các mặthàng nông sản vẫn chịu khống chế bằng hạn ngạch Đối với EU, tác động lớn nhất củahiệp định này là việc Ma-rốc từng bước loại bỏ thuế quan đối với hàng hóa EU trongthời hạn 12 năm Có thể nóiMa-rốc là một đối tác được ưu tiên của Liên minh châu
Âu và đóng vai trò động lực trong tiến trình Euromed (Hai hiệp định về đánh bắt và tự
do hoá vận tải hàng không đã lần lượt được ký kết vào năm 2005 và 2006) Ma-rốc lànước đầu tiên được hưởng lợi từ các quỹ của châu Âu Nước này cũng đã nộp đơn xinđược hưởng quy chế sớm phát triển - quy chế trung gian giữa liên kết và gia nhập EU.Trong EU, Pháp là đối tác số một gần như trong tất cả các lĩnh vực, là quốc gia đốithoại đáng tin cậy luôn ủng hộ Ma-rốc
Bên cạnh những mối quan hệ truyền thống này Ma-rốc còn có quan hệ ưu tiênvới Mỹ Ma-rốc và Mỹ có quan hệ song phương khá phát triển Ma-rốc chú trọng thuhút các công ty Mỹ vào đầu tư kinh doanh Hiệp định thương mại và đầu tư ký năm
1995 giữa Mỹ và Ma-rốc quy định các bên sẽ áp dụng những biện pháp khuyến khíchthương mại hàng hóa và dịch vụ, và thiết lập các điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển quan hệ thương mại và đầu tư dài hạn Các nhóm công tác hỗn hợp gồm các quanchức Mỹ, Ma-rốc và các đại diện khu vực tư nhân đã được lập để xác định các giảipháp cụ thể cho những mục tiêu trên Tháng 3/2004, một hiệp định tự do mậu dịch đãđược ký với Hoa Kỳ sau những cuộc đàm phán khó khăn Hiệp định này đã có hiệulực ngày 1/1/2006
Song song với đó, Ma-rốc đã ký một hiệp định tự do mậu dịch với Thổ Nhĩ Kỳ(cũng có hiệu lực ngày 1/1/2006)
Ma-rốc đóng một vai trò tích cực trong các sáng kiến hội nhập khu vực Tháng5/2001, Ma-rốc đã ký Tuyên bố Agadir cùng với Tuynidi, Ai Cập và Jordani hướng tớimục tiêu thành lập một khu thương mại tự do giữa các nước phía nam Địa Trung Hảitrước đó đã ký Hiệp định hợp tác với EU Ma-rốc cũng là thành viên tích cực trongLiên minh Arập Maghreb (UMA)
Ma-rốc ngày càng quan tâm phát triển quan hệ kinh tế thương mại với các nướcChâu Á Với Trung Quốc, Ma-rốc đã ký nhiều hiệp định và thỏa thuận về thương mại,khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật, vận tải hàng không, vận tảiđường biển, thanh toán Với Nhật Bản, Ma-rốc cố gắng tranh thủ vốn vay và đầu tư.Hiệp định thương mại song phương được ký từ năm 1961, với nhiều lần điều chỉnh bổsung Ngoài ra hai nước còn ký nhiều thỏa thuận qua đó Nhật Bản cho Ma-rốc vayvốn để phát triển kinh tế xã hội
Trang 26Về mở cửa thị trường, phù hợp với các cam kết trong khuôn khổ WTO, Chínhphủ Ma-rốc đã từng bước giảm bớt các rào cản thương mại trong thập kỉ qua, tuynhiên nhìn chung mức độ bảo hộ vẫn còn cao Mức thuế nhập khẩu trung bình hiệnnay là 35% Thuế nhập khẩu dao động từ 2,5% đối với nguyên liệu thô, máy móc thiết
bị lên đến 349% đối với một số mặt hàng thực phẩm Hàng nhập khẩu còn phải chịuthuế giá trị gia tăng ở mức 0-20%, trong khi hàng sản xuất trong nước thường khôngphải chịu loại thuế này Nói chung, hạn chế định lượng đối với các mặt hàng nông sản
và thực phẩm đã được thay bằng thuế nhập khẩu ở mức cao, bình quân các loại phí vàthuế nhập khẩu gộp lại khoảng 80%
Hiện nay, 95% các mặt hàng được tự do nhập khẩu vào Ma-rốc Hầu hết các quyđịnh cấm nhập khẩu hoặc giấy phép nhập khẩu đã được loại bỏ, ngoại trừ vũ khí, chất
nổ, quần áo và lốp xe đã qua sử dụng Như vậy thuế quan là cơ sở duy nhất để điềuchỉnh các hoạt động ngoại thương Tuy nhiên thuế nhập khẩu ở mức cao được coi làcản trở chính đối với hàng hóa nhập khẩu vào Ma-rốc
Về xuất khẩu, hầu hết các mặt hàng đều được xuất khẩu tự do, trừ các mặt hàngsau phải có giấy phép của Bộ Ngoại thương Ma-rốc: đồ cổ hơn 100 năm tuổi, các sảnphẩm khảo cổ, lịch sử, cổ sinh vật học, những mẫu vật về giải phẫu, thực vật, khoángchất và động vật học, than củi và bột ngũ cốc, ngoại trừ bột gạo
Ma-rốc dự kiến sẽ giảm thuế nhập khẩu từ mức trung bình 50% hiện nay xuốngcòn 45% vào năm 2007
Cho đến nay, Ma-rốc đã ký 11 hiệp định tự do mậu dịch và 7 hiệp định thuế quan
có điều kiện
11 hiệp định tự do mậu dịch Ma-rốc đã ký với các đối tác là:
1 Đại khu vực tự do mậu dịch A-rập (GAFTA) bao gồm 22 thành viên của
Liên đoàn A-rập trong đó mới chỉ có 15 nước phát triển nhất (An-giê-ri, Ba-ranh, AiCập, I-rắc, Gioóc-đa-ni, Cô-oét, Li-băng, Li-bi, Ma-rốc, Ô-man, Qua-ta, A-rập Xê-út,Xi-ri, Tuy-ni-di và Các tiểu vương quốc A-rập thống nhất) thực hiện Hiệp định, 7nước kém phát triển (Cô-mo, Di-bu-ti, Mô-ri-ta-ni, Nhà nước Palextin, Xô-ma-li, Xu-đăng và Yêmen) chưa áp dụng
Hiệp định này ký năm 1981 có hiệu lực năm 1998 Giai đoạn chuyển tiếp vàotháng 1/2005
Nội dung: Giảm 10% thuế mỗi năm giai đoạn 1998-2002 và 20% mỗi năm giaiđoạn 2002-2005 Loại bỏ hoàn toàn hàng rào phi thuế nhưng vẫn duy trì giấy phép.Quy định xuất xứ: Mang tính khu vực: 40%
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp
Trang 272 Li ên minh A-rập Mghreb (UMA) bao gồm 4 nước là Angiêri, Tuynidi, Li-bi
và Mô-ri-ta-ni
Hiệp định này ký năm 1991 vẫn chưa có hiệu lực
Nội dung: Thuế xuất bằng 0 nhưng thuế nhập khẩu bù trừ thống nhất là 17,5%.Quy định xuất xứ: Xuất xứ khu vực: 60%
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp
3 Li ên minh ch âu Âu (EU)
Hiệp định này ký năm 1996 có hiệu lực năm 2000 Giai đoạn chuyển tiếp 12năm
Nội dung: 3 chương trình giảm thuế: giảm thuế ngay lập tức ; giảm dần trong thờigian 4 năm đối với các sản phẩm không sản xuất trong nước ; giảm thuế trong thờigian 10 năm kể từ năm 2003 đối với các sản phẩm sản xuất trong nước
Quy định xuất xứ: Song phương, có thay đổi trong hệ số HS ;
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp
Đang đàm phán: Dịch vụ
4 Khu vực tự do châu Âu (ZELE)
Hiệp định này ký năm 1997 có hiệu lực năm 2000 Giai đoạn chuyển tiếp 12năm
Nội dung: 3 chương trình: giảm thuế ngay lập tức; giảm dần trong thời gian 4năm đối với các sản phẩm không sản xuất trong nước; giảm dần trong thời gian 10năm kể từ năm 2003 đối với các sản phẩm sản xuất trong nước
Quy định xuất xứ: Song phương, có thay đổi trong hệ số HS ; Có tính gộp vớiAn-giê-ri và Tuy-ni-di
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp (theo hiệp định song phương)
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
6 Gioóc-đa-ni
Hiệp định này ký năm 1998 có hiệu lực năm 1999 Giai đoạn chuyển tiếp 12năm
Trang 28Nội dung: Danh sách ưu đãi loại bỏ thuế ngay lập tức; loại bỏ dần trong vòng 5năm nếu thuế thấp hơn 25% ; ở mức 25% nếu hiện nay thuế suất cao hơn 25% ; sau đóloại bỏ thuế trong thời gian 7 năm
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
8 Các tiểu vương quốc A-rập thống nhất
Hiệp định này ký năm 2001 có hiệu lực năm 2003 Giai đoạn chuyển tiếp 10năm
Nội dung: 2 danh sách sản phẩm; loại bỏ thuế của Liên đoàn A-rập 10% mỗinăm
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp
9 Hiệp định Agadir bao gồm 3 nước Tuy-ni-di, Ai Cập và Gioóc-đa-ni
Hiệp định này ký năm 2004 và chưa có hiệu lực
Nội dung: Thuế suất bằng 0 khi hiệp định có hiệu lực Hiệp định này có giá trịhơn các hiệp định song phương đã ký trước đây
Quy định xuất xứ: Châu Âu
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp
10 Mỹ
Hiệp định này ký năm 2004 và có hiệu lực năm 2006, giai đoạn chuyển tiếp 12năm
Nội dung: Có 21 lịch trình cắt giảm thuế
Quy định xuất xứ: Song phương
Lĩnh vực liên quan: Nông nghiệp, dịch vụ
11 Thổ Nhĩ Kỳ
Hiệp định này ký năm 2004 và có hiệu lực năm 2006, giai đoạn chuyển tiếp 10năm
Nội dung: Có 3 lịch trình cắt giảm thuế
Quy định xuất xứ: gộp cả An-giê-ri và Tuy-ni-di
7 hiệp định thuế quan có điều kiện Ma-rốc đã ký với các nước:
Trang 291 Xê-nê-gan
Hiệp định này ký năm 1963 và có hiệu lực năm 1972
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép, mỗi nước có 1 danh sách
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
2 A-rập Xê-út
Hiệp định này ký năm 1966 và có hiệu lực năm 1988
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép
Quy định xuất xứ: Không tính gộp, 40%
3 I-rắc
Hiệp định này ký năm 1976 và có hiệu lực năm 1983
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép
Quy định xuất xứ: Không tính gộp, 40%
4 Mô-ri-ta-ni
Hiệp định này ký năm 1986 và có hiệu lực năm 1986
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép, mỗi nước có một danh sách
Quy định xuất xứ: Không tính gộp, 40%
5 An-giê-ri
Hiệp định này ký năm 1989 và có hiệu lực năm 1990
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
6 Li-bi
Hiệp định này ký năm 1990 và có hiệu lực năm 1990
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
7 Ghi-nê
Hiệp định này ký năm 1997 và có hiệu lực năm 2000
Nội dung: Miễn thuế với giấy phép, mỗi nước có 1 danh sách
Quy định xuất xứ: Song phương, 40%
Ma-rốc dự kiến sẽ ký thêm các Hiệp định thương mại tự do với 6 đối tác thươngmại khác là Băng-la-đét, Bra-xin, Ga-bông, I-ran, Pakixtan và Pê-ru Những tiêu chí
về kinh tế và địa lý để lựa chọn nhóm đối tác này không rõ ràng nhất là khi trao đổithương mại của Ma-rốc với 6 nước tập trung vào một số ít sản phẩm với khối lượngtương đối thấp Tổng cộng, 6 nước này chỉ chiếm 2,6% giá trị xuất nhập khẩu của Ma-
Trang 30rốc năm 2004 Mặt khác, cơ cấu sản xuất và thương mại của Ma-rốc và các đối tác nàykhông mang tính bổ sung cho nhau trừ với Băng-la-đét.
Về đầu tư, Chính phủ Ma-rốc đã có nhiều biện pháp cải thiện môi trường đầu tưtrong những năm gần đây, như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài thamgia chương trình tư nhân hóa, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài
và trong nước…
Trang 31Chương 2 Quan hệ thương mại Việt Nam - Ma-rốc
I Thực trạng quan hệ thương mại thời kỳ 1995-2006
Việt Nam và Ma-rốc thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 27/03/1961 Từ đó, quan
hệ chính trị ngoại giao phát triển tốt đẹp Hai nước đã trao đổi nhiều đoàn viếng thămcấp cao trong đó có chuyến thăm chính thức Ma-rốc của Thủ tướng Phan Văn Khảivào cuối năm 2004 và của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cuối năm 2005 Tháptùng Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội có đông đảo các quan chức và doanh nghiệpViệt Nam Về phần mình, Ma-rốc cũng đã có một số đoàn sang thăm Việt Nam trong
đó có đoàn của Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác Ma-rốc Taib Fassi Fihri vào đầu năm
2006 Đến tháng 7/2005 Đại sứ quán và Thương vụ Việt Nam đã chính thức đượcthành lập tại Ma-rốc Tháng 4/2006, Ma-rốc cũng đã mở Đại sứ quán tại Hà Nội
Hai nước cũng đã ký một số văn bản pháp lý quan trọng Đó là Hiệp địnhThương mại Việt Nam – Ma-rốc ký tháng 6/2001 nhân chuyến thăm và làm việc củaThứ trưởng thương mại Đỗ Như Đính tại Ma-rốc Năm 2004, Bộ Thuỷ sản hai nướccũng đã ký Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, Bộ Ngoại giao hainước đã ký Thoả thuận miễn hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu đặc biệt và hộ chiếu công
vụ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng đã ký Biên bản hợptác với Liên đoàn các Phòng Thương mại và Công nghiệp Ma-rốc, Liên đoàn Giới chủMa-rốc (CGEM) Hiện nay hai nước đang đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp địnhchống đánh thuế hai lần và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
Trong lĩnh vực ngoại thương, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Ma-rốc còn
ở mức thấp chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước Thống kê trong giai đoạn1991-2001 cho thấy trước năm 1995, buôn bán giữa hai nước chưa có gì Năm 1995,Việt Nam bắt đầu xuất khẩu sang Ma-rốc và năm 1996 thì bắt đầu nhập khẩu từ Ma-rốc Từ năm 2000-2003, tổng kim ngạch XNK giữa hai nước dao động trong khoảng
từ 3-6 triệu USD/năm Đến năm 2004, 2005 kim ngạch xuất khẩu của ta đạt trung bình8,2 triệu USD/năm Sau khi thành lập Thương vụ vào tháng 7/2005, giá trị xuất khẩuhàng VN sang Marốc tăng lên 11,1 triệu USD năm 2006, tăng 36% Nhập khẩu từ thịtrường này chỉ ở mức 1 triệu USD chủ yếu là mặt hàng sắt vụn và đá xây dựng Nhưvậy trong cán cân thương mại song phương, ta xuất siêu gần như tuyệt đối
Trang 32Theo kế hoạch Bộ giao, năm 2007, tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thịtrường Ma-rốc phải đạt 14 triệu USD, tăng khoảng 27% Trong 3 tháng đầu năm 2007,
ta đã xuất được 8 triệu USD vào thị trường này
Bảng 4: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Ma-rốc (2002-2006)
Nguồn: Hải quan Việt Nam
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường Ma-rốc là càphê, hàng điện tử, săm lốp cao su, hải sản, dệt may, hạt tiêu, giày dép Mặt hàng nhậpkhẩu từ Ma-rốc là đá xây dựng, thép phế liệu, sản phẩm gỗ, phân bón (xem bảng 5) Tuy nhiên số lượng và giá trị hàng Việt Nam xuất khẩu sang Ma-rốc trongnhững năm qua còn thấp và thay đổi thất thường, chưa đa dạng Việt Nam chủ yếuxuất khẩu cho Ma-rốc các mặt hàng nông sản (cà phê, hạt tiêu, hải sản), hàng tiêudùng (đồ điện tử, dệt may, giày dép ) Số lượng hàng Việt Nam nhập khẩu từ thịtrường Ma-rốc còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 5-6% so với lượng hàng xuất khẩu
Bảng 5: Mặt hàng XNK chính giữa Việt Nam và Ma-rốc (2002-2006):
Trang 33Nguồn: Hải quan Việt Nam
* Một điều đáng chú ý là so với thống kê của Hải quan Ma-rốc, kim ngạch xuất khẩu của ta vào thị trường này chỉ bằng một nửa Cụ thể là:
Bảng 6: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Ma-rốc (2004-2006)
Nguồn: Hải quan Ma-rốc
Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Ma-rốc khoảng 25%mỗi năm
Bảng 7 Số liệu XK của Việt Nam sang Ma-rốc năm 2006
Nguồn: Hải quan Ma-rốc
1 M ặt hàng cà phê ( loại Robusta ): Nhu cầu nhập khẩu của thị trường Ma-rốc
khoảng 28.000 tấn / năm Theo số liệu thống kê của HQ Ma-rốc, năm 2006 Việt Nam
Trang 34đã XK sang Ma-rốc hơn 9400 tấn (chiếm 1/3 nhu cầu nhập khẩu ) với tổng trị giá là10,154 triệu USD Tuy nhiên việc XK chủ yếu phải thông qua nước thứ 3 (Italia) donhà NK Ma-rốc thường có khó khăn về khả năng thanh toán ( phải thanh toán trảchậm) Mặt hàng cà phê nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là cà phê nhân chưa rang xay.
2 Tivi màu: Mỗi năm Ma-rốc nhập khoảng 428 triệu USD ti vi và máy thu phát.
Trong năm 2006, Việt Nam xuất vào thị trường này 3,3 triệu USD chiếm 0,7%
3 Cao su, săm lốp xe đạp xe máy: Nhu cầu của thị trường Ma-rốc khoảng 18
triệu USD các loại mặt hàng này Năm 2006, ta xuất được 1,5 triệu USD chiếm 8,3%thị phần
4 Giày dép: Kim ngạch nhập khẩu giày dép của Ma-rốc năm 2006 khoảng 26,6
triệu USD trong đó Việt Nam xuất khẩu 1,3 triệu USD chiếm 4,8%
5 Quần áo: Năm 2006, Việt Nam xuất sang khoảng 741.000 USD tiền quần
áo, chiếm 0,3% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Ma-rốc (226 triệu USD)
…
Những mặt hàng nhập khẩu tiềm năng khác của Ma-rốc mà ta có thể khai tháctrong những năm tới là:
6 Chè xanh: Năm 2005, Ma-rốc nhập 50.000 tấn chè xanh (chủ yếu từ Trung
Quốc) với tổng trị giá 83 triệu USD Chè của ta chưa thâm nhập được vào thị trườngnày
7 Gia vị (quế, hồi, hà tiêu): Năm 2005, kim ngạch nhập khẩu gia vị của Ma-rốc
đạt 13,6 triệu USD Việt Nam đã xuất được 284.500 USD hạt tiêu sang thị trường rốc năm 2006
Ma-8 Thuốc lá: Năm 2005, Ma-rốc phải nhập 82 triệu USD thuốc lá Việt Nam chưa
xuất được mặt hàng này vào Ma-rốc
9 Dầu thực vật thô: Năm 2005, nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này của Ma-rốc
lên tới 200 triệu USD Việt Nam chưa xuất được dầu thực vật thô vào Ma-rốc
10 Đồ gốm: Mặc dù Ma-rốc là nước có truyền thống sản xuất gốm song năm
2005 nước này vẫn phải nhập 43 triệu USD mặt hàng gốm trang trí
11 Chất bán dẫn: Năm 2005, Ma-rốc phải nhập 312 triệu USD chất bán dẫn.
12 Trang thiết bị nông nghiệp thành phẩm: Năm 2005, Ma-rốc nhập 148 triệu
USD các loại máy nông nghiệp, máy gặt đập, máy kéo nông nghiệp…
13 Săm lốp xe ôtô: Năm 2005, Ma-rốc đã nhập 62 triệu USD săm lốp ôtô.
Trang 3514 Máy bơm và máy nén: Năm 2005, Ma-rốc đã mua 103 triệu USD sản phẩm
này
15 Máy phát điện và động cơ điện: Năm 2005, Ma-rốc đã nhập khẩu 36 triệu
USD mặt hàng này
16 Xe đạp xe máy: Năm 2005, Ma-rốc đã nhập khẩu 28,8 triệu USD mặt hàng
xe đạp, xe máy Năm 2004 ta đã từng xuất được mặt hàng này vào Ma-rốc
17 Dây và cáp điện: Năm 2005, Ma-rốc đã nhập khẩu 229 triệu USD dây cáp
điện Mặt hàng này của ta chưa thâm nhập được vào thị trường Ma-rốc…
Bảng 8: Số liệu NK của Việt Nam từ Ma-rốc năm 2006
2 Chỉ khâu khử trùng cho phẩu thuật 10.107
Nguồn: Hải quan Ma-rốc
II Nhận định chung về thị trường
+Thuận lợi:
Ma-rốc là nước Bắc Phi có tình hình chính trị - xã hội khá ổn định, đang đẩymạnh quá trình mở cửa thị trường, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế… Ma-rốcđang tiến hành cắt giảm thuế quan theo cam kết với WTO Với vị trí chiến lược, Ma-rốc còn là cửa ngõ để hàng của ta thâm nhập thị trường Châu Âu và Tây Phi
Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam và Ma-rốc đã có bước phát triểnđáng kể, đặc biệt là sau các chuyến thăm chính thức Vương quốc Ma-rốc của Thủtướng Phan Văn Khải cuối năm 2004 và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cuối năm
Trang 36Ngoài Hiệp định Thương mại giữa hai nước được ký kết tháng 6/2001, việcViệt Nam và Ma-rốc đang tiến hành đàm phán để ký tiếp các Hiệp định song phương
về tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư v.v sẽ tạo điềukiện thuận lợi thúc đẩy kim ngạch XNK giữa Việt Nam và Ma-rốc trong thời gian tới
Dự kiến trong những năm tới tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tại thị trường Ma-rốc
- Về mặt địa lý, Ma-rốc là thị trường ở khá xa nên chi phí vận chuyển hàng hoátăng cao, thêm vào đó môi trường kinh doanh còn nhiều rủi ro phức tạp (thủ tục hànhchính khá nặng nề, tệ quan liêu, hối lộ, lừa đảo kinh doanh, chung chi còn khá phổbiến), cơ chế thanh toán còn nhiều bất cập (phải thanh toán trực tiếp bằng tiền mặthoặc phải có bảo lãnh của ngân hàng)
- Ngoài ra Ma-rốc đang còn là thị trường mới và xa lạ đối với đa số các doanhnghiệp Việt Nam Bản thân các DN Việt Nam chưa dám mạo hiểm và chưa thực sựquan tâm đầu tư vào thị trường này Bên cạnh đó các hoạt động xúc tiến thương mạinhư quảng bá sản phẩm, tham dự Hội chợ triển lãm, khảo sát thị trường chưa đượchai bên quan tâm và đầu tư thích đáng
- Khả năng cạnh tranh cao của hàng hoá Trung Quốc tại thị trường Ma-rốc hiệnnay (đặc biệt là cạnh tranh về giá cả) cũng là một trở ngại cho việc xâm nhập hàng hoánói chung của các nước vào thị trường Ma-rốc
- Giữa Việt Nam và Ma-rốc chưa phát triển thương mại dịch vụ cũng như hoạtđộng đầu tư Hai nước chưa có hợp tác song phương về sở hữu trí tuệ Nước ta và Ma-rốc đều là thành viên của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), cùng ký kết Công
Trang 37ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Thỏa ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hànghóa quốc tế và Hiệp ước hợp tác sáng chế (PCT).
III Một số kiến nghị
Ở cấp Chính phủ
Để tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế thươngmại và đầu tư giữa Việt Nam và Ma-rốc trong những năm tới, Thương vụ xin nêu một
số đề xuất và kiến nghị như sau:
- Trước mắt cần khẩn trương hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo môi trường kinhdoanh và đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp 2 nước Chính phủ hai bên cần sớm kýkết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (đã đàm phán xong), Hiệp định khuyến khích vàbảo hộ đầu tư, Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng v.v Bên cạnh đó, CụcXTTM (VIETRADE) và Hiệp hội các nhà xuất khẩu Ma-rốc (ASMEX) cần ký Thoảthuận hợp tác nhằm tăng đổi thông tin thương mại, đối tác giữa hai nước (trong cáccuộc tiếp xúc phía Ma-rốc luôn thể hiện mong muốn cân bằng cán cân thương mại vớiViệt Nam khi đưa ra các sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của mình như phân phốtphát,dầu ôliu, cam quýt, đồng, sắt vụn, đá xây dựng…)
- Về lâu dài, có thể xem xét khả năng đặt vấn đề đàm phán và ký Hiệp định tự domậu dịch (FTA) giữa Việt Nam và Ma-rốc vì thuế nhập khẩu vào nước này rất cao,trung bình là 45% Hiện nay Marốc đã có FTA với rất nhiều nước và khu vực trên thếgiới và đang dự kiến sẽ ký thêm các Hiệp định thương mại tự do với 6 đối tác thươngmại khác là Băng-la-đét, Bra-xin, Ga-bông, I-ran, Pakixtan và Pê-ru mặc dù trao đổithương mại của Marốc với những nước này tập trung vào một số ít sản phẩm với khốilượng tương đối thấp Tổng cộng, 6 nước này chỉ chiếm 2,6% giá trị xuất nhập khẩucủa Marốc năm 2004 Mặt khác, cơ cấu sản xuất và thương mại của Marốc và cácnước này không mang tính bổ sung cho nhau trừ với Băng-la-đét
- Hai bên cần đẩy nhanh việc hoàn tất các thủ tục thành lập Uỷ ban hợp tác liênChính phủ nhằm hỗ trợ và thúc đẩy các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế,thương mại, khoa học kỹ thuật, văn hoá (Ngày 19/4/2007, Thủ tướng Nguyễn TấnDũng đã đồng ý thành lập Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác song phương giữa Chính phủViệt Nam và Chính phủ Marốc và giao cho 1 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao làm Chủ tịchphân ban)
- Tăng cường các chuyến thăm chính thức cấp cao Thực tế cho thấy sau chuyếnthăm Ma-rốc của Thủ tướng Phan Văn Khải (năm 2004), kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam đã tăng từ 3,3 triệu USD năm 2003 lên 8,2 triệu USD năm 2004 Ngoài ra,trong khuôn khổ chương trình XTTM trọng điểm quốc gia, ta nên thường xuyên tổchức các đoàn khảo sát do 1 Thứ trưởng làm trưởng đoàn, có các doanh nghiệp đi
Trang 38cùng, tổ chức hội thảo, tiếp xúc doanh nghiệp, tham dự triển lãm góp phần tìm hiểu thịtrường, thiết lập quan hệ đối tác trực tiếp.
- Chính phủ cần đầu tư tổ chức các hoạt động xúc tiến có qui mô quốc gia trênnhiều lĩnh vực khác nhau tại địa bàn như tổ chức các lễ hội hoặc các chương trìnhgiao lưu thương mại, du lịch, văn hoá, ẩm thực của Việt Nam tại Maroc nhằm tiếp thịrộng rãi hình ảnh và sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường mới mẻ này
Ở cấp doanh nghiệp
Thực tế cho thấy từ vài năm nay, số doanh nghiệp VN thường xuyên có mặt tạithị trường Ma-rốc còn rất nhỏ bé (8-10 người), chủ yếu tham gia bán hàng Việt Nam(nông sản, thủ công mỹ nghệ, may mặc) tại các dịp có Hội chợ triển lãm tại Ma-rốc,với lượng hàng hoá trao đổi còn nhỏ bé, trị giá không cao Bản thân các doanh nghiệptrong nước đã sang khảo sát thị trường Ma-rốc trong năm gần đây cũng đang thăm dò,
tính toán, chưa mạnh dạn triển khai các hoạt động thương mại và đầu tư tại thị trườngnày
- Để thâm nhập thị trường, ngoài việc hiểu rõ các mặt thuận lợi và khó khăn khilàm ăn tại Châu Phi nói chung và thị trường Ma-rốc nói riêng, doanh nghiệp VN cầnphải quan tâm tìm hiểu kỹ về đặc điểm thị trường, tiềm năng, mặt mạnh mặt yếu,chính sách thương mại và đầu tư, chế độ XNK, các qui định về thuế hải quan, tậpquán thương mại v.v đặc biệt doanh nghiệp cần có tính kiên trì, cởi mở, xây dựnglòng tin và sự hợp tác lâu dài trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi
- Cần tăng cường các chuyến thăm dò trị trường, tham dự các hội chợ triển lãmquốc tế tại mỗi nước Đối với các đối tác Ma-rốc, việc trao đổi thư từ qua emailthường không đem lại nhiều kết quả
- Bên cạnh việc tìm thị trường xuất khẩu hàng hoá, doanh nghiệp VN cũng cầnquan tâm đến việc hợp tác đầu tư tại chỗ (trên một số lĩnh vực chế biến thực phẩm,đánh bắt hải sản, sx đồ gỗ nội thất ) để khai thác nguồn nguyên liệu và nhân công dồidào tại thị trường Ma-rốc, trên cơ sở đó phát triển hàng XK sang các nước thứ ba
- Doanh nghiệp nên thiết lập quan hệ đại lý, sử dụng người bản địa để tận dụngnhững kiến thức thị trường, phong tục tập quán và ngôn ngữ bản địa (tiếng Arập, tiếngPháp)
IV Đôi nét về cộng đồng Việt kiều đang sinh sống và làm việc tại Marốc
Những người Việt đầu tiên đến Marốc làm ăn sinh sống là đồng bào di cư từPháp trong thời kỳ chiến tranh thế giói lần thứ II Hiện số này còn dưới 10 người, tuổi
Trang 39đã ngoài 70, đang sinh sống tại các thành phố lớn ở Marốc như Rabat, Casablanca,Marrakech
Lớp người Việt sang Marốc sau năm 1970 phần đông là những chị em lấy chồng
là tù/hàng binh người Marốc trong kháng chiến chống Pháp, được chính phủ hai nướccho phép theo chồng về Marốc sinh sống từ những năm đầu của thập niên 70
Theo thông kê sơ bộ, hiện có trên 60 chị em sinh sống và làm ăn cùng gia đìnhtại các thành phố Rabat, Casablanca, Marrakech, Meknès, Kénitra v.v Đa số bà conlàm nghề nông tại các nông trại hoặc buôn bán nhỏ Số sống ở thành phố có điều kiện
mở nhà hàng ăn uống hoặc kinh doanh buôn bán, dịch vụ … thì cuộc sống khá giả hơnnhững chị ở vùng nông thôn
Đa số Việt kiều tại Marốc có đời sống ổn định, dễ chịu nhưng ít người giầu có.Đông con, trình độ văn hoá có hạn, sống cởi mở, hoà nhập, tuân thủ luật pháp và tậpquán địa phương, được sở tại nể trọng, luôn hướng về quê hương-đất nước, đó là nétđặc thù của cộng đồng người Việt Nam tại Maroc
Đại sứ quán Việt Nam tại Marốc đang thăm dò khả năng và thủ tục thành lậpHội người Việt Nam tại Marốc và vận động thành lập Hội hữu nghị Marốc-Việt Nam
Trang 40Chương 3 Luật lệ thương mại chung tại Ma-rốc
I Chính sách thương mại và đầu tư
Để hội nhập tốt hơn vào nền kinh tế thế giới, Ma-rốc đã thông qua chính sách
tự do hoá nền kinh tế dựa trên sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân, sự minhbạch hoá, tôn trọng Nhà nước pháp quyền và mở cửa ra thế giới bên ngoài
Các cuộc cải cách tiến hành theo chiếu hướng đó đã giúp Ma-rốc có được sự ổnđịnh kinh tế vĩ mô, bước vào con đường phát triển bền vững theo hướng tự do hoákinh tế và thương mại
Bắt đầu tiến hành từ đầu những năm 80, tiến trình tự do hoá vẫn tiếp tục đượcthực hiện thông qua việc:
- Điều hoà nhập khẩu bằng cách loại bỏ hàng rào phi thuế
- Đẩy mạnh xuất khẩu
- Tự do hoá và đơn giản hoá các thủ tục ngoại thương
- Đa dạng hoá các đối tác thương mại thông qua việc ký kết một loạt các hiệpđịnh tự do mậu dịch, nhất là với Liên minh châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước A-rập (Tuy-ni-di, Ai Cập, Gioóc-đa-ni) và mới đây là Mỹ
Song song với những cố gắng mở cửa và đa dạng hoá thị trường thương mại, rốc đã tiến hành đổi mới thực sự khung pháp lý liên quan đến thương mại và đầu tư,nhất là thực hiện một loạt các cuộc cải cách cơ cấu và khu vực trong đó phải kể đếnviệc:
Ma Hiện đại hoá luật kinh doanh
- Khuyến khích và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và công nghiệp
- Cải cách tư pháp, thông qua chế độ chuyển đổi hoàn toàn đồng tiền tạo điềukiện cho đầu tư nước ngoài và tự do hoá các giao dịch về vốn
- Thông qua Bộ luật đầu tư và Bộ luật doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thành lập 16 trung tâm đầu tư khu vực
- Xây dựng các cơ sở hạ tầng tiếp nhận, nhất là các khu công nghiệp theo tiêuchuẩn quốc tế, có đầy đủ các dịch vụ cần thiết
Nhờ những cố gắng hiện đại hoá và cải thiện môi trường kinh doanh mà giờ đâyMa-rốc mở ra nhiều cơ hội đầu tư không chỉ trong các lĩnh vực truyền thống như côngnghiệp mỏ, đánh bắt hải sản, dệt may, chế biến nông sản và du lịch mà còn trong cáclĩnh vực mũi nhọn có tiềm năng phát triển mạnh như viễn thông, công nghệ thông tin,thành phần điện tử, ôtô, hàng không