1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU THEO PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

71 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Phương Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Trung Tín
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài tất cả hoặc một số tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên trong quan h

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHƯƠNG LINH

THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU THEO PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trung Tín

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Phương Linh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

VÔ HIỆU 5 1.1 Khái quát về thỏa thuận trọng tài 5 1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài vô hiệu 12 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

VÔ HIỆU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU TẠI VIỆT NAM 24 2.1 Thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam 24 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam 33 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU TẠI VIỆT NAM 47 3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài

vô hiệu 47 3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài

vô hiệu tại Việt Nam 50 KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời kỳ toàn cầu hóa kinh tế diễn ra vô cùng mạnh mẽ như hiện nay, các hoạt động thương mại diễn ra rất đa dạng về hình thức và nhanh chóng về tốc độ Sự đa dạng đó cũng dẫn tới những tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại ngày một nhiều và phức tạp Vì vậy đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng nhưng hiệu quả Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài chính là một phương thức giải quyết tranh chấp có nhiều ưu điểm như nhanh gọn, không công khai, hiệu quả nên ngày càng trở nên phổ biến

Để một tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng trọng tài, điều kiện đầu tiên cần có là phải có thỏa thuận trọng tài Nếu không có thỏa thuận trọng tài thì tranh chấp thương mại không thể được giải quyết bằng trọng tài Trong quy định về thỏa thuận trọng tài còn nhiều điểm chưa được giải thích rõ ràng trong Luật Trọng tài Thương mại 2010, gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng pháp luật đối với những tổ chức, cơ quan trực tiếp áp dụng đó là các tổ chức Trọng tài Thương mại, Tòa án và đặc biệt là các doanh nghiệp có tranh chấp yêu cầu trọng tài giải quyết Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của thỏa thuận trọng tài cũng như chưa có được kiến thức đầy đủ về thỏa thuận trọng tài nên việc soạn thảo thỏa thuận trọng tài còn một số hạn chế dẫn tới thỏa thuận trọng tài vô hiệu Thỏa thuận trọng tài vô hiệu khiến cho thẩm quyền giải quyết tranh chấp không còn thuộc thẩm quyền của trọng tài, khiến việc giải quyết tranh chấp bị kéo dài hơn và trong nhiều trường hợp dẫn tới những thiệt hại về kinh tế cho các bên tranh chấp

Vì vậy việc nghiên cứu những quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật trọng tài thương mại thông qua một số vụ việc liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu, từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả

Trang 5

của việc áp dụng pháp luật trọng tài thương mại về thỏa thuận trọng tài vô

hiệu là rất cần thiết Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay” làm

luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề thỏa thuận trọng tài và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đã được khá nhiều tác giả phân tích từ nhiều góc độ khác nhau Có nhiều công trình nghiên cứu khá công phu, có tính hệ thống những vấn đề pháp lý về trọng tài, trong từng nội dung cụ thể, cùng với việc phân tích các quy phạm pháp luật của Việt Nam (Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và Luật trọng tài thương mại 2010), so sánh với những quy định tương ứng trong các công ước quốc tế, luật mẫu về trọng tài, pháp luật ở các quốc gia khác, các tác giả cũng đã minh họa, bình luận các vụ việc thực tiễn liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều khóa luận cử nhân và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài như:

-Khóa luận cử nhân Luật: “Các vấn đề pháp lý về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài” của tác giả Nguyễn Thị Ly Na năm 2010

- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thươngmại” của tác giả Tống Thị Lan Hương năm 2011

- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam” của tác giả Đặng Thu Hằng năm 2014

Những nghiên cứu của các tác giả kể trên nói chung và những đề tài khóa luận, luận văn tốt nghiệp nói riêng chủ yếu nghiên cứu chung các phương diện về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, và những điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực Vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu chỉ được đề cập ở mức độ hết sức khái quát, chiếm một phần nhỏ trong những công trình nghiên cứu nói trên

Trang 6

Vì vậy việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Những giải pháp của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

về thỏa thuận trọng tài vô hiệu ở Việt Nam

Luận văn tìm hiểu về trọng tài thương mại, hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu, từ đó đánh giá ý nghĩa của việc nghiên cứu về thỏa thuận trọng tài vô hiệu đối với việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Phân tích, đánh giá thực trạng thỏa thuận trọng tài vô hiệu, nghiên cứu, nhận xét một số vụ tranh chấp điển hình trên thế giới và Việt Nam làm cơ sở rút ra những điều cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được những mục đích trên, tác giả đặt ra việc giải quyết các nhiệm vụ sau:

+ Phân tích những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài vô hiệu

+ Đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam

+ Xây dựng các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ liên quan thỏa thuận trọng tài

Trang 7

- Phạm vi nghiên cứu: Các quan hệ liên quan đến thỏa thuận trọng tài

vô hiệu ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chung là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp luận chung đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa học trên những khía cạnh chủ yếu sau:

- Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây

dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu ở Việt Nam;

- Thứ hai: Luận văn phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về thỏa

thuận trọng tài vô hiệu thông qua một số ví dụ cụ thể;

- Thứ ba: Đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật

và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài vô hiệu

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và

thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận

trọng tài vô hiệu và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN

TRỌNG TÀI VÔ HIỆU 1.1 Khái quát về thỏa thuận trọng tài

1.1.1 Khái niệm thỏa thuận trọng tài

- Định nghĩa thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài là nền móng của tố tụng trọng tài thương mại Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài sẽ không có tố tụng trọng tài” Vì vậy, thỏa thuận trọng tài được định nghĩa rõ ràng trong các đạo luật quốc gia cũng như trong các văn bản luật quốc tế về trọng tài thương mại

Theo Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài tất cả hoặc một số tranh chấp phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên trong quan hệ pháp lý xác định cho

dù đó có là quan hệ hợp đồng hay không Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng”

Điều 2 Công ước New York 1958 thể hiện khái niệm về thỏa thuận

trọng tài như sau: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp

đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài”

Khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 định nghĩa: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”

Trang 9

Từ những định nghĩa trên có thể rút ra một cách hiểu chung về thỏa thuận trọng tài như sau: thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại mà pháp luật cho phép giải quyết bằng thể thức trọng tài

- Bản chất của thỏa thuận trọng tài

Bản chất của thỏa thuận trọng tài là sự thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Điều này khác với việc các bên tranh chấp yêu cầu giải quyết tại Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xét xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào (trừ khi các bên có thỏa thuận khác).Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên tranh chấp có thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp Có thể nói thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết để tiến hành tố tụng trọng tài

- Nội dung của thỏa thuận trọng tài

Nội dung của thỏa thuận trọng tài là việc xác định cách thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng chính Việc xác lập nội dung các điều khoản trong thỏa thuận trọng tài phụ thuộc vào sự tự nguyện thỏa thuận của các bên mà không chịu sự can thiệp của pháp luật Tuy nhiên,

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, pháp luật quy định một số điều khoản cơ bản của thỏa thuận trọng tài như: phương thức trọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ, luật áp dụng, địa điểm trọng tài, chi phí, cam kết thi hành quyết định trọng tài Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật

về nội dung

- Hình thức của thỏa thuận trọng tài

Pháp luật hầu hết các nước quy định thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản Thông thường có hai cách thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng

Trang 10

trọng tài dựa vào thời điểm hình thành thỏa thuận trọng tài: Điều khoản trọng tài và Thỏa thuận trọng tài riêng biệt

+ Điều khoản trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp đồng chính giữa các bên và thường liên quan đến các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai Điều khoản trọng tài thường chỉ mang tính dự liệu vì vào thời điểm

ký kết hợp đồng các bên chưa lường được những loại tranh chấp nào sẽ phát sinh, do đó các điều khoản này thường rất ngắn gọn, không đi vào chi tiết Trên thực tế, các bên thường lấy một điều khoản mẫu ngắn gọn của một tổ chức trọng tài

+ Thỏa thuận trọng tài riêng biệt liên quan đến tranh chấp đã phát sinh trên thực tế Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính Vì thỏa thuận này được lập khi tranh chấp đã phát sinh, các bên đã biết rõ về loại tranh chấp, tính chất

và mức độ của tranh chấp nên nội dung của thỏa thuận khá chi tiết, có tính khả thi cao Tuy nhiên, khi tranh chấp đã xảy ra thì việc các bên ngồi lại đàm phán cho thỏa thuận trọng tài riêng biệt sẽ phức tạp hơn nhiều so với đàm phán về điều khoản trọng tài trong hợp đồng

1.1.2 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài là điều kiện đầu tiên và quan trọng của tố tụng trọng tài

Thỏa thuận trọng tài được xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của các bên, bởi vậy nó có vai trò ràng buộc các bên phải tiến hành giải quyết tranh chấp tại trọng tài đúng như thỏa thuận đã được xác lập

Thỏa thuận trọng tài là bằng chứng cho thấy các bên lựa chọn trọng tài chứ không phải tòa án để giải quyết tranh chấp Thông qua thảo thuận trọng tài, các bên gián tiếp khước từ thẩm quyền xét xử của tòa án Tòa án phải từ chối thụ lý khi thỏa thuận trọng tài giữa hai bên có hiệu lực Tuy nhiên thỏa

Trang 11

thuận trọng tài không loại trừ sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp trong trường hợp có khiếu nại liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và khi có căn cứ pháp luật để đề nghị Tòa án hủy quyết định trọng tài

Như vậy, yếu tố cơ bản nhất trong phương thức trọng tài là yếu tố thỏa thuận Thỏa thuận trọng tài có vai trò quyết định trong việc sử dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Không có thỏa thuận trọng tài sẽ không có giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.Tuy nhiên để thỏa thuận trọng tài thực sự có ý nghĩa thì nó phải có hiệu lực

1.1.3 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài là cơ sở để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài Chính vì vậy, giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài là vô cùng quan trọng

Thỏa thuận trọng tài thực chất là một hợp đồng dân sự Điều 385 Bộ

luật dân sự 2015 quy định “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Thỏa thuận trọng

tài là sự thỏa thuận giữa các bên, bên cạnh đó khi giữa các bên đã có thỏa thuận trọng tài thì một bên không thể đơn phương yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án nếu bên kia không đồng ý, nói cách khác giữa các bên tồn tại quan hệ nghĩa vụ dân sự Như vậy thỏa thuận trọng tài có đầy đủ các đặc điểm

để được coi như một hợp đồng dân sự

Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng dân sự, cần quan tâm đến các yếu tố: Chủ thể, hình thức và nội dung của hợp đồng Tương tự như vậy, điều kiện hiệu lực của thỏa thuận trọng tài cũng có thể được xem xét dưới 3 điều kiện:

- Điều kiện về chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài

Người tham gia ký kết thỏa thuận trọng tài phải có năng lực hành vi dân sự, nói cách khác, chủ thể ký kết thỏa thuận trọng tài phải là người có khả

Trang 12

năng xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự bằng hành vi của mình theo quy định của pháp luật Ngoài ra người tham gia ký kết thỏa thuận trọng tài phải hoàn toàn tự nguyện về mặt lý trí, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Đối tượng ký thỏa thuận trọng tài có thể là cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước… nhưng các đối tượng này phải đủ năng lực hành vi dân sự, đủ thẩm quyền theo pháp luật hoặc thẩm quyền theo ủy quyền thì thỏa thuận trọng tài mới có hiệu lực

- Điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài

Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí giữa các bên Theo pháp luật của hầu hết quốc gia, hình thức của thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản với mục đích dựa vào hình thức của thỏa thuận trọng tài để làm căn cứ xác nhận rằng thỏa thuận giữa các bên đã đạt được Yêu cầu hình thức văn bản đối với thỏa thuận trọng tài là nhằm đảm bảo khả năng chứng minh một cách dễ dàng hơn về sự tồn tại của một thỏa thuận trọng tài cũng như các nội dung chứa đựng trong đó Một thỏa thuận chỉ

có giá trị pháp lý khi nó tuân thủ điều kiện về hình thức

- Điều kiện về nội dung của thỏa thuận trọng tài

Ngoài các điều kiện về chủ thể ký kết và hình thức, thỏa thuận trọng tài cần phải thỏa mãn các điều kiện về nội dung thì mới có hiệu lực

Thứ nhất, tranh chấp phải phát sinh từ một mối quan hệ pháp lý xác định Tuy nhiên không phải một tranh chấp bất kỳ phát sinh giữa các bên đều

có thể đưa ra trọng tài giải quyết Thỏa thuận trọng tài này phải liên quan đến một mối quan hệ pháp lý cụ thể mà thông thường là hợp đồng giữa các bên

Thứ hai, tranh chấp đó phải thuộc lĩnh vực có thẩm quyền giải quyết của trọng tài Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết bằng trọng tài

dù các bên có tự nguyện thỏa thuận Các tranh chấp liên quan đến các quyền

Trang 13

nhân thân, quan hệ hôn nhân, gia đình, thừa kế, phá sản… thường là các tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài

1.1.4 Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài

Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài thể hiện ở những điểm sau:

- Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không làm ảnh hưởng tới hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Nói cách khác, hợp đồng có thể bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ nhưng trong hai trường hợp này cũng không tự động kéo theo sự vô hiệu của điều khoản trọng tài [8, tr.22] Như vậy khi hợp đồng vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực, cho phép xác định thẩm quyền của trọng tài giải quyết vụ tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó

- Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài và luật điều chỉnh nội dung hợp đồng trong các hợp đồng thương mại quốc tế là khác nhau Chính vì tính độc lập nên luật điều chỉnh nội dung hợp đồng và luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài không cần thiết phải giống nhau Việc xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng tài phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài như, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều chỉnh nội dung tranh chấp Vì thế khi giao kết hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng thương mại quốc tế, các bên nên thỏa thuận rõ luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài để tránh những rắc rối có thể phát sinh trong quá trình tố tụng trọng tài sau này

- Nguyên tắc “thẩm quyền của thẩm quyền” cũng cho thấy tính độc lập của thỏa thuận trọng tài Theo nguyên tắc này thì Hội đồng trọng tài có thẩm quyền xem xét thẩm quyền của chính mình Việc xác định sự độc lập của thỏa thuận trọng tài tạo cơ sở cho Hội đồng trọng tài xem xét hiệu lực của hợp đồng Nếu có khiếu nại của các bên về thỏa thuận trọng tài, Hội đồng

Trang 14

trọng tài sẽ tiến hành xem xét mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nữa hay không

Khoản 1 Điều 16 Luật Mẫu quy định: “…Điều khoản trọng tài trở thành bộ phận của hợp đồng sẽ được coi là thỏa thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Quyết định của ủy ban trọng tài về hợp đồngbị vô hiệu không làm cho Điều khoản trọng tài bị vô hiệu theo”.Theo quy định này

thì điều khoản trọng tài là độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Trường hợp hợp đồng vô hiệu thì điều khoản trọng tài cũng không bị vô hiệu theo

Tương tự Luật Trọng tài thương mại 2010 cũng quy định: “Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng.Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài”

Sở dĩ ngay cả khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp đồng chính thì nó vẫn độc lập với hợp đồng chính vì thỏa thuận trọng tài

có đối tượng pháp lý là xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong khi đối tượng của hợp đồng là xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật nhất định

Như vậy dù thỏa thuận trọng tài là một văn bản riêng biệt hay một điều khoản trong hợp đồng thì thỏa thuận trọng tài cũng tồn tại độc lập với hợp đồng, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc hiệu lực hợp đồng

Tuy nhiên tính độc lập về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài với hợp đồng chính cũng không phải là tuyệt đối mà là tương đối Nếu nguyên nhân dẫn đến hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài vô hiệu trùng nhau, ví dụ như chủ thể ký kết không đủ thầm quyền theo quy định của pháp luật, thì khi hợp

Trang 15

đồng chính vô hiệu, thỏa thuận trọng tài với tư cách là một điều khoản trong hợp đồng chính cũng vô hiệu

1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài vô hiệu

1.2.1 Định nghĩa thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Các văn bản pháp luật không đưa ra định nghĩa cụ thể về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tuy nhiên có thể hiểu bản chất của thỏa thuận trọng tài vô hiệu là thỏa thuận trọng tài rơi vào tình trạng mất hiệu lực ngay từ ban đầu

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu khác với thỏa thuận trọng tài không còn hiệu lực và thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được Nếu thỏa thuận trọng tài không còn hiệu lực tức là ban đầu thỏa thuận trọng tài đã từng có hiệu lực nhưng hiệu lực đó đã không còn; thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được là thỏa thuận trọng tài không thể tiến hành được do các cản trở về vật lý hoặc pháp lý thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu tức là ngay từ ban đầu đã mất hiệu lực

1.2.2 Ý nghĩa của việc quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong các văn bản pháp luật về trọng tài thương mại

Thỏa thuận trọng tài là kết quả của quá trình đàm phán, cân nhắc giữa các bên, là bằng chứng cho thấy sự tự nguyện của các bên trong lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Trọng tài, với tư cách là một thiết chế tài phán tư, luôn tôn trọng sự tự nguyện của các bên tranh chấp

Và thỏa thuận trọng tài chính là biểu hiện đầu tiên của sự tự nguyện thỏa thuận đó Cũng tương tự như một hợp đồng dân sự, tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài cũng rất cần được quy định rõ để đảm bảo thỏa thuận trọng tài

có đủ điều kiện pháp lý để được thực hiện

Việc quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu có ý nghĩa quan trọng với

cả các bên tranh chấp khi soạn thảo thỏa thuận trọng tài và đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho Hội đồng trọng tài xác định thẩm quyền của mình cũng như Tòa

Trang 16

án khi cần đánh giá tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Đối với các bên khi soạn thảo thỏa thuận trọng tài, quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu giúp các bên tránh được các lỗi khiến thỏa thuận trọng tài vô hiệu dẫn tới tranh chấp không giải quyết được bằng phương thức trọng tài Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu là căn cứ để Hội đồng trọng tài xác định xem mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp không Bên cạnh đó, khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì tòa án hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp Nếu trọng tài đã giải quyết thì quyết định trọng tài đó sẽ bị tòa án hủy theo quy định của pháp luật

1.2.3 Những trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu dẫn đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài bị loại bỏ Công ước New York 1958 và Luật mẫu UNCITRAL đều không có quy định cụ thể nào về định nghĩa cũng như các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, vì vậy có thể dựa vào các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài để suy ra các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu

- Chủ thể của thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền, không có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Chỉ người có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật mới được

ký kết thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận do người không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ký kết sẽ trở nên không có hiệu lực

Tương tự như vậy, những người không đủ năng lực hành vi dân sự như người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự nếu ký kết thỏa thuận trọng tài sẽ khiến thỏa thuận trọng tài trở nên vô hiệu

Nếu trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài, một bên bị bên kia lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, sau đó có yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu

Trang 17

- Hình thức của thỏa thuận trọng tài không đáp ứng yêu cầu của luật điều chỉnh

Pháp luật hầu hết các quốc gia quy định hình thức của thỏa thuận trọng tài là văn bản hoặc các hình thức khác được coi là văn bản.Nếu thỏa thuận trọng tài vi phạm quy định về hình thức xác lập thì thỏa thuận trọng tài

bị vô hiệu Tuy nhiên khái niệm “văn bản” ở mỗi nguồn luật lại có những điểm khác nhau Đặc biệt theo Công ước New York, thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản có chữ ký của các bên Theo luật của các quốc gia thì quy định này không phải là bắt buộc, miễn là thỏa thuận trọng tài được lập bằng văn bản là đã thỏa mãn điều kiện về hình thức

- Nội dung của của thỏa thuận trọng tài không đáp ứng yêu cầu của luật điều chỉnh

+ Tranh chấp phát sinh không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết bằng trọng tài.Vì vậy

dù thỏa thuận trọng tài thỏa mãn các điều kiện về chủ thể và hình thức nhưng nếu tranh chấp không nằm trong thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thì thỏa thuận này cũng được coi là vô hiệu Dù các bên có tự nguyện thỏa thuận dùng trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau thì thảo thuận này cũng bị coi là vô hiệu nếu những loại tranh chấp này không được pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài

Thoả thuận trọng tài về vụ tranh chấp thuộc lĩnh vực mà pháp luật quy định không thuộc thẩm quyền của trọng tài, có thể xảy ra các trường hợp sau:

Thứ nhất, theo pháp luật quốc gia A tranh chấp không thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm quyền, song theo pháp luật quốc gia B, tranh chấp

đó thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm quyền;

Trang 18

Thứ hai, theo pháp luật cả quốc gia A và quốc gia B, tranh chấp đều không thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm quyền

Trong trường hợp đầu tiên, nếu thoả thuận trọng tài của các bên ghi chọn trọng tài thường trực của quốc gia A, thì khi đó thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu về mặt nội dung, bởi theo pháp luật quốc gia A, tranh chấp không thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm quyền Song cũng trong trường hợp này, các bên thoả thuận chọn trọng tài thường trực của quốc gia B thì khi đó thoả thuận trọng tài vẫn được coi là có giá trị pháp lý về mặt nội dung Tuy nhiên, nếu quyết định cuối cùng của trọng tài cần được công nhận

và thi hành ở quốc gia A thì khi đó bên được thi hành sẽ không thể hy vọng vào sự ra quyết định về vấn đề đó của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia A nếu như bên phải thi hành không tự nguyện thực thi quyết định

Trong trường hợp thứ hai, thoả thuận trọng tài sẽ bị coi là vô hiệu về mặt nội dung, điều này không phụ thuộc vào việc các bên tranh chấp đã ghi trong thoả thuận trọng tài đã nêu là chọn trọng tài thường trực quốc gia A hay quốc gia B hoặc trọng tài sự vụ được thành lập ở một trong hai quốc gia trên

Theo khoản 1 Điều II và khoản 2 Điều V của Công ước New York

1958, việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài có thể bị từ chối nếu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu, cho rằng: Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật pháp của nước đó; hoặc việc công nhận và cho thi hành quyết định sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó Qua đó có thể thấy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phụ thuộc vào quy định của luật pháp từng quốc gia Thông thường, các vấn đề không được áp dụng trọng tài là: các vấn đề về tình trạng cá nhân, tranh chấp về phát minh, nhãn hiệu hàng hóa và bản quyền, luật cạnh tranh, tranh chấp về bảo hiểm, tham nhũng, phá sản, tranh chấp về cấm vận, một số tranh chấp về quan hệ lao động

Trang 19

Pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới đều quy định cho trọng tài thẩm quyền rất rộng Việc quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, pháp luật các nước có thể dùng phương pháp loại trừ, tức

là pháp luật chỉ liệt kê những loại việc không thuộc thẩm quyền của trọng tài

như tại Điều 5 Luật Trọng tài Newzerland: “Mọi quyền tùy thuộc vào các bên

có thể được giải quyết bằng trọng tài, trừ trường hợp phụ thuộc vào quyền xét

xử bắt buộc dành riêng cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” Ngoài ra có thể quy định thẩm quyền trọng tài bằng cách kết

hợp các quy định cho phép lẫn quy định loại trừ, ví dụ như Luật Trọng tài Trung Quốc quy định mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sở hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng

có thể được giải quyết bằng trọng tài (Điều 2) đồng thời loại trừ các tranh chấp không được giải quyết bằng trọng tài bao gồm các tranh chấp liên quan đến hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ và thừa kế, tranh chấp hành chính (Điều 3) [8, tr.22] Theo Điều 2 của Luật Trọng tài Nhật Bản thì các bên có thể đưa ra trọng tài giải quyết tất cả các tranh chấp dân sự đã phát sinh hay có thể phát sinh không kể có hợp đồng hay không có hợp đồng

+ Tranh chấp không phát sinh từ quan hệ pháp lý xác định

Khoản 1 Điều 2 Công ước New York và Khoản 1 Điều 7 Luật mẫu UNCITRAL quy định rằng thỏa thuận tranh chấp đưa ra trọng tài phải phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng

Trên thực tế, quan hệ dân sự, thương mại rất đa dạng và phong phú.Phần lớn các quan hệ có thể xác định bằng hợp đồng cụ thể được ký kết giữa các bên nhưng cũng có nhiều tranh chấp không phát sinh từ quan hệ hợp đồng Ví dụ như đền bù thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng, hàng hải, vận tải…Như vậy nếu thỏa thuận trọng tài không giới hạn lại phạm

Trang 20

vi đối với tranh chấp phát sinh từ một quan hệ pháp lý cụ thể thì thỏa thuận trọng tài cũng vô hiệu

1.2.4 Hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Hậu quả của thỏa thuận trọng tài vô hiệu là tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài Nhưng tùy vào từng thời điểm phát hiện thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong cả quá trình tố tụng mà sẽ dẫn tới những hậu quả pháp

lý khác nhau

- Khi xem xét thụ lý đơn kiện

Điều 2 Công ước New York 1958 quy định: “Toà án của một Quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn

đề đó các bên đã có thoả thuận theo nội dung của điều này, sẽ, theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi Toà án thấy rằng thoả thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được”.Điều đó có nghĩa là khi tranh chấp phát sinh nhưng quá trình tố tụng

trọng tài chưa diễn ra, nếu một bên nhận thấy thỏa thuận trọng tài vô hiệu

có thể khởi kiện ra Tòa án, khi đó Tòa án có thẩm quyền bác bỏ thỏa thuận trọng tài và thụ lý vụ án

Khi tranh chấp đã được trọng tài thụ lý nhưng chưa giải quyết, Hội đồng trọng tài trước tiên phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của mình Nếu thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thì tổ chức trọng tài từ chối thụ lý vụ việc Khi đó một bên tranh chấp có quyền khởi kiện ra Tòa án

- Trong quá trình Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp

Trong quá trình giải quyết tranh chấp mà thỏa thuận trọng tài bị phát hiện là vô hiệu thì Hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc Nếu các bên không đồng ý với quyết định về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, các bên tranh chấp có quyền gửi đơn khiếu nại ra Tòa án,

Trang 21

yêu cầu xem xét và quyết định thẩm quyền của trọng tài với việc giải quyết tranh chấp Trường hợp Tòa án kết luận thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì đây là quyết định cuối cùng, Hội đồng trọng tài sẽ phải ngừng việc giải quyết tranh chấp và nếu các bên không có thỏa thuận gì khác thì có thể khởi kiện tranh chấp ra Tòa án giải quyết

- Khi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết

Nếu nhận thấy thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi tranh chấp đã được giải quyết bằng trọng tài, một bên có thể gửi đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài được yêu cầu.Việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài sẽ bị

từ chối khi có bằng chứng chứng minh thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu Khi đó, các bên tranh chấp có thể đưa ra thỏa thuận trọng tài mới hoặc đưa tranh chấp ra Tòa án giải quyết

Như vậy, có thể thấy thỏa thuận trọng tài vô hiệu ở những thời điểm khác nhau gây nên những hậu quả khác nhau Nhưng nhìn chung, thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại bất kỳ thời điểm nào cũng đều làm cho trọng tài không còn thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp nữa và tòa án hoàn toàn có thẩm quyền nếu các bên không có thỏa thuận khác

1.2.5 Pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu trên thế giới

1.2.5.1 Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Công ước New York

1958

Công ước New York là trung tâm của các hiệp ước và luật trọng tài nhằm đảm bảo việc công nhận phán quyết trọng tài và thỏa thuận trọng tài Tuy nhiên trong Công ước New York không có định nghĩa trực tiếp về thỏa thuận trọng tài vô hiệu mà nêu ra điều kiện để thỏa thuận trọng tài được công

nhận: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có

Trang 22

thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết được bằng trọng tài”

Từ quy định trên có thể rút ra được các điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực như sau:

- Thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản

Điều II của Công ước New York 1958 quy định rất rõ: “Thuật ngữ

“thoả thuận bằng văn bản” bao gồm điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thoả thuận trọng tài được các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi” Như vậy, thỏa thuận trọng tài ở đây được hiểu là một điều

khoản trong hợp đồng (điều khoản trọng tài) hoặc một thỏa thuận ngoài hợp đồng (thỏa thuận trọng tài riêng biệt) Điều kiện “bằng văn bản” theo như Công ước New York quy định có hai khả năng: thỏa thuận được ký kết trực tiếp hoặc được chứa đựng trong thư từ, điện tín do các bên trao đổi.Tóm lại thỏa thuận trọng tài không vô hiệu phải là điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng tài riêng biệt được ký kết trực tiếp hoặc được chứa đựng trong thư từ, điện tín do các bên trao đổi.Có thể hiểu những thỏa thuận trọng tài không thỏa mãn hình thức “bằng văn bản” như ký kết bằng lời, hoặc được chấp thuận bằng lời, bằng ngụ ý hoặc bằng bất cứ phương thức nào khác

sẽ được coi là vô hiệu Tuy nhiên quy định trong Công ước New York 1958 chưa đề cập được đến những phương thức liên hệ mới trong giao dịch kinh doanh hiện nay như email, fax

- Thỏa thuận trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh ở hiện tại hoặc tương lai

Điều II Công ước New York 1958 nói rằng thỏa thuận trọng tài là cam

kết của các bên đưa ra trọng tài giải quyết những tranh chấp “đã hoặc có thể phát sinh” Như vậy dù là tranh chấp phát sinh trong quá khứ hay tương lai

Trang 23

đều có thể được giải quyết bằng trọng tài nếu giữa hai bên có một thỏa thuận thể hiện sự nhất trí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Với những tranh chấp được dự đoán có thể xảy ra trong tương lai, các bên thường sẽ đưa thỏa thuận trọng tài trở thành một điều khoản trong hợp đồng (còn gọi là Điều khoản trọng tài); với những tranh chấp đã xảy ra trong quá khứ, các bên sẽ lập thành một thỏa thuận trọng tài riêng (còn gọi là thỏa thuận trọng tài riêng biệt) Điều khoản trọng tài hướng về tương lai còn thỏa thuận trọng tài riêng biệt hướng

về quá khứ

- Các tranh chấp phải phát sinh từ một quan hệ pháp lý xác định

Để thỏa thuận trọng tài không vô hiệu thì tranh chấp phát sinh giữa các

bên phải từ “một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không” Trong giao dịch thương mại, dù quan hệ pháp lý chủ yếu giữa các

bên là quan hệ hợp đồng nhưng vẫn có những trường hợp tranh chấp không phát sinh từ quan hệ hợp đồng Các tranh chấp phát sinh từ một quan hệ pháp

lý xác định là một trong các điều kiện cần để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực

- Các tranh chấp liên quan đến vấn đề có khả năng giải quyết được bằng trọng tài

Dù thỏa thuận trọng tài là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên nhưng không phải tranh chấp nào cũng có thể giải quyết bằng trọng tài Tuy nhiên Công ước New York 1958 không đưa ra những lĩnh vực cụ thể không thuộc thẩm quyền của trọng tài mà chỉ đưa ra quy định chung nhất Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, mỗi quốc gia thường quy định vấn đề nào

có thể và không thể giải quyết bằng trọng tài cho phù hợp với chính sách kinh

tế, chính trị, xã hội của quốc gia đó

Một cách gián tiếp thông qua mối quan hệ giữa hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài, Công ước New York 1958 cũng đề cập đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Điều V.1(a):

Trang 24

“1 Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng:

(a) Các bên của thỏa thuận nói ở điều II, theoluật áp dụng đối với các bên, không có đủ năng lực, hoặc thỏa thuận nói trên không có giá trị theo luật

mà các bên chịu sự điều chỉnh, nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của Quốc gia nơi ra quyết định”

Theo quy định này có thể nhận ra hai điều kiện khác của một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực:

- Các bên trong thỏa thuận trọng tài phải có năng lực pháp luật theo luật áp dụng đối với các bên

- Thỏa thuận trọng tài phải có hiệu lực theo luật các bên đã lựa chọn

áp dụng cho thỏa thuận trọng tài Nếu các bên không lựa chọn luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài thì theo luật của quốc gia nơi ra quyết định trọng tài

Tóm lại, từ các phân tích về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, ta có thể suy ra có bốn trường hợp dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Công ước New York 1958 như sau:

- Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều II của Công ước;

- Các tranh chấp không phát sinh từ mối quan hệ pháp lý xác định dù quan hệ giữa các bên có là mối quan hệ hợp đồng hay không;

- Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài;

- Các bên trong thỏa thuận trọng tài không có năng lực pháp luật theo luật áp dụng đối với các bên

Trang 25

1.2.5.2 Quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu theo Luật mẫu UNCITRAL

Luật mẫu UNCITRAL cũng đưa ra những quy định tương tự như Công ước New York 1958 về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Tuy nhiên, trong Luật mẫu, phạm vi của thuật ngữ “thỏa thuận bằng văn bản” được mở rộng tại Điều 7 Khoản 2: “Thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản Thoả thuận là văn bản nếu nó nằm trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, điện báo, điện tín hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác có ghi nhận sự thoả thuận đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bài bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận Nội dung của hợp đồng đề cập tới văn bản

có chứa đựng điều khoản trọng tài tạo ra thoả thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải lập bằng văn bản và nội dung được viện dẫn trong hợp đồng là một phần của hợp đồng này.”

Có thể thấy hai điểm khác biệt, hay đúng hơn là sự tiến bộ của Luật mẫu UNCITRAL so với Công ước New York 1958 nằm ở hai điểm sau:

- Hiện nay phương tiện liên lạc đã có nhiều thay đổi lớn cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông.Trước đây điện tín là phương tiện truyền tin bằng văn bản phổ biến thì nay được thay thế bằng những phương tiện mới như fax, thư điện tử (email)… Để không bị chậm nhịp so với sự phát triển của các phương tiện liên lạc, Luật mẫu UNCITRAL quy định bất cứ phương tiện viễn thông nào “ghi nhận thỏa thuận” đều thỏa mãn quy định về thỏa thuận bằng văn bản

- Một điều khoản trọng tài trong văn bản xác nhận mua hoặc bán nếu được chấp thuận bằng ngụ ý sẽ không thỏa mãn điều kiện về hình thức theo như quy định tại Công ước New York 1958 nhưng theo Luật mẫu UNCITRAL thì “khi một bên tham gia vào một quá trình tố tụng trọng tài mà

Trang 26

không phủ nhận sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài, thì một “thỏa thuận trọng tài ngầm” là đủ

Kết luận chương 1

Chương 1 của Luận văn đã nêu được những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài nói chung và thỏa thuận trọng tài vô hiệu nói riêng Trong phần lý luận về thỏa thuận trọng tài, Luận văn đã nêu lên khái niệm về thỏa thuận trọng tài, bao gồm: định nghĩa thỏa thuận trọng tài, bản chất thỏa thuận trọng tài, nội dung thỏa thuận trọng tài và hình thức thỏa thuận trọng tài; ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài; hiệu lực và tính độc lập của thỏa thuận trọng tài Tiếp nối những vấn đề lý luận chung về thỏa thuận trọng tài, Luận văn tìm hiểu những vấn đề lý luận về một khía cạnh sâu hơn của thỏa thuận trọng tài

là thỏa thuận trọng tài vô hiệu Để làm rõ vấn đề này, Luận văn tiếp cận qua các vấn đề: định nghĩa thỏa thuận trọng tài vô hiệu, những trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu và hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu trên thế giới Có hai văn bản quy định về trọng tài thương mại phổ biến nhất trên thế giới là Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL, trong đó tuy không trực tiếp đề cập đến vấn đề thỏa thuận trọng tài vô hiệu nhưng dựa vào những quy định về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và các điều kiện để thỏa thuận trọng tài được công nhận có thể tổng hợp được những quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và những trường hợp dẫn tới thỏa thuận trọng tài

vô hiệu Những vấn đề lý luận được đề cập đến trong chương 1 là cơ sở, tiền

đề để Luận văn tiếp tục nghiên cứu về thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam trong chương 2

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI VÔ HIỆU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN

TRỌNG TÀI VÔ HIỆU TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật về thỏa thuận trọng tài vô hiệu tại Việt Nam

Điều 18 của Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về thỏa thuận trọng tài vô hiệu bao gồm những trường hợp sau:

Thứ nhất, “tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này”

Theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với:

- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại

Do Luật Trọng tài thương mại 2010 không quy định rõ những tranh chấp nào được coi là tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại nên có thể

sử dụng khái niệm hoạt động thương mại trong luật chung khi tiếp cận và áp dụng Luật Trọng tài thương mại 2010 Khái niệm hoạt động thương mại được

quy định tại Điều 3 Khoản 1 Luật thương mại 2005, “Hoạt động thương mại

là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

Chủ thể tiến hành hoạt động thương mại trước hết là thương nhân, bao gồm thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài Thương nhân Việt Nam là các chủ thể như được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại

2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.” Còn thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập,

Trang 28

đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận (Khoản 1 Điều 16 Luật thương mại 2005)

Bên cạnh hoạt động thương mại của thương nhân, hoạt động của các

cá nhân dưới hình thức tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” cũng được xem là hoạt động thương mại

Ví dụ trường hợp 2 bên phát sinh tranh chấp có một bên là Việt Nam,

1 bên thuộc quốc gia A Có thể xảy ra trường hợp: theo pháp luật Việt Nam tranh chấp không thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm quyền nhưng theo pháp luật quốc gia A thì tranh chấp thuộc lĩnh vực trọng tài có thẩm quyền Nếu thoả thuận trọng tài của các bên ghi chọn trọng tài thường trực của Việt Nam, thì khi đó thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu về mặt nội dung, bởi theo Luật Trọng tài thương mại 2010, tranh chấp không thuộc lĩnh vực mà trọng tài có thẩm quyền Song cũng trong trường hợp này, các bên thoả thuận chọn trọng tài thường trực của quốc gia A thì khi đó thoả thuận trọng tài vẫn được coi là

có giá trị pháp lý về mặt nội dung

- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại

Theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp mà trong đó chỉ cần 1 bên tranh chấp là thương nhân (thực hiện hoạt động thương mại) còn các bên còn lại có thể không phải là thương nhân, cũng không phải là cá nhân thực hiện hoạt động thương mại Như vậy, tranh chấp giữa một thương nhân và các cá nhân, tổ chức không kinh doanh (như ban quản lý dự án, cơ quan hành chính

Trang 29

sự nghiệp tham gia đấu thầu hoặc giao kết các hợp đồng, kể cả các hợp đồng mua sắm chính phủ, trong đó sử dụng trọng tài theo khuyến nghị của các nhà tài trợ, định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á…) cũng có thể được giải quyết bởi trọng tài thương mại

- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài

Như vậy theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại, nếu tranh chấp giữa các bên không thuộc một trong ba trường hợp quy định trên thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Thứ hai, “Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”

Người không có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài được hiểu là người không có quyền theo luật định để ký kết thỏa thuận trọng tài, ví dụ như người không được ủy quyền hợp pháp, người được ủy quyền vượt quá phạm

vi ủy quyền…

Về nguyên tắc, nếu thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu Tuy nhiên vẫn có trường hợp thỏa thuận trọng tài không vô hiệu dù được ký kết bởi người không có thẩm quyền Điều 3 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài Thương

mạiquy định: “Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu” Như vậy khi phát sinh tranh

chấp, nếu một bên có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án sẽ yêu cầu người

Trang 30

có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài cho biết có chấp nhận thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền ký kết trước đó hay không Nếu người có thẩm quyền ký kết thỏa thuận trọng tài chấp nhận thỏa thuận trọng tài đó thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu và tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng trọng tài theo thủ tục chung Quy định này của pháp luật thể hiện sự linh hoạt mềm đối với hoạt động tố tụng trọng tài.Việc chủ thể hợp pháp chấp nhận thỏa thuận trọng tài như một sự ủy quyền hợp pháp cho chủ thể không có thẩm quyền ký kết, qua đó đảm bảo ý muốn giải quyết tranh chấp của chủ thể hợp pháp

Thứ ba, “Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành

vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự”

Người không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Để chứng minh người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự, Tòa án cần thu thập các chứng cứ như giấy

tờ chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Theo khoản 3 Điều 18 Trọng tài thương mại 2010, năng lực hành vi dân sự của người xác lập thỏa thuận trọng tài được xác định theo quy định của

Bộ luật dân sự Như vậy nếu một người nước ngoài là một bên chủ thể trong tranh chấp thì năng lực hành vi dân sự của họ được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam Đây là điểm hạn chế của quy định này bởi nó thu hẹp thẩm quyền của trọng tài trong việc đánh giá năng lực hành vi dân sự của các bên Nói như vậy bởi năng lực hành vi dân sự của một người thường được xác định theo luật của nước mà người đó mang quốc tịch Việc quy định

Trang 31

năng lực chủ thể của người xác lập thỏa thuận trọng tài được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự chỉ phù hợp với trọng tài trong nước, không phù hợp với trọng tài quốc tế

Thứ tư, “Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này”

Về những điều kiện đảm bảo hình thức của thỏa thuận trọng tài được công nhận, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã có những quy định cụ thể hơn trong Điều 16:

“1 Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng

2 Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật; b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.”

Bằng cách liệt kê những trường hợp b, c, d, đ như trên, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã đưa ra quy định một cách cụ thể về thuật ngữ “thỏa thuận dưới dạng văn bản” Bản chất của các trường hợp này chính là “hình thức văn

Trang 32

bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài” đã từng được quy định trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003

Hình thức văn bản khác ở đây có thể là điều lệ công ty Ví dụ, Điều lệ công ty A có điều khoản ghi nhận rằng các tranh chấp pháp sinh giữa các thành viên của công ty với nhau hoặc với công ty sẽ được đưa ra Trung tâm trọng tài Y giải quyết Trong trường hợp đó, khi có tranh chấp xảy ra thành viên công ty với tư cách là một bên tranh chấp có thể đưa tranh chấp ra Trung tâm trọng tài trên để giải quyết và coi điều khoản trong Điều lệ công ty A là thoả thuận trọng tài bằng văn bản

Thứ năm, “Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài

đó là vô hiệu

Đây là trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo

quy định tại Khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” Ngoài ra Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 về

giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cũng quy định:

“Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự

Trang 33

nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình”

Như vậy nếu thỏa thuận trọng tài được xác lập khi một bên bị lừa dối,

đe dọa, cưỡng ép theo như quy định tại Bộ luật dân sự thì thỏa thuận trọng tài

vô hiệu Tuy nhiên thời hiệu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu lại không được quy định tại Luật Trọng tài thương mại Do đó, trong những trường hợp cầntuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu, có thể tham khảo các quy định về thời hiệu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong Bộ Luật dân sự 2015 Theo Điều 132 Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép là 2 năm kể từ ngày:

“a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức”

Cũng theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự 2015, nếu hết thời hiệu quy định mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực Như vậy kết hợp Quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại và Điều 132 Bộ luật dân sự 2015, trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài mà một bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, nếu hết thời hiệu quy

Trang 34

định mà không yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực

Trong quy định này, Luật Trọng tài Thương mại chỉ đề cập đến ba khuyết tật trong sự ưng thuận của các chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự là: lừa dối, đe dọa, cưỡng ép mà không đề cập đến nhầm lẫn Trên thực tế nhầm lẫn cũng là tình trạng một trong hai bên chủ thể gặp phải trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài

Ví dụ trường hợp nhầm lẫn: Các chủ thể thống nhất chọn trọng tài viên duy nhất là ông M, tuy nhiên tại thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài các bên không biết ông M đã chết Đây là sự nhầm lẫn của các bên chủ thể nhưng Luật Trọng tài thương mại 2010 không có quy định nào về trường hợp này nên các bên không có căn cứ yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong trường hợp này

Trong trường hợp này có thể áp dụng quy định tại Điều 126 Bộ luật dân sự 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn:

“1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được”

Tóm lại, để thỏa thuận trọng tài không vô hiệu thì ý chí của các bên khi xác lập thỏa thuận trọng tài phải hoàn toàn tự nguyện, minh bạch, không bên nào bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Nếu có bất cứ sự lừa dối, đe dọa, cưỡng

ép nào thì thỏa thuận trọng tài sẽ không còn đúng bản chất của nó Tuy nhiên

Trang 35

theo quy định này này, pháp luật vẫn tôn trọng ý chí của các bên Bởi ở đây phải tồn tại hai điều kiện thì thỏa thuận trọng tài mới vô hiệu: có lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu Nếu một bên phát hiện bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép nhưng sau đó vẫn công nhận thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực

Thứ sáu, “Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật”

Luật Trọng tài Thương mại 2010 không quy định “điều cấm của pháp luật” là những điều nào Bộ luật dân sự 2015 cũng chưa có quy định rõ ràng

về những “điều cấm của pháp luật” mà chỉ quy định một cách rất chung

chung tại Điều 123 như sau: “Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định” Theo quy định này có thể hiểu “quy định của luật” là những quy định cấm được ghi nhận

trong các văn bản luật, nhưng cũng có thể hiểu “pháp luật” ở đây bao gồm toàn bộ các quy định của pháp luật, cả thông lệ, tập quán, các văn bản hướng dẫn Trong trường hợp này, bất cứ vi phạm quy định cấm nào của các văn bản trên cũng dẫn đến việc vi phạm điều cấm của pháp luật Việc một quy định có nhiều cách hiểu có thể dẫn tới tình trạng một bên lạm dụng quy định

để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Mặt khác tại Khoản 1, Điều 4, Luật Trọng tài Thương mại 2010 quy

định: "Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận

đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội" Theo tinh thần của điều

luật này thì chỉ những thỏa thuận trọng tài không vi phạm điều cấm của pháp luật đồng thời không trái với đạo đức xã hội thì mới được các trọng tài viên tôn trọng hay nói cách khác là mới có hiệu lực.Tuy nhiên Điều 18 Luật Trọng tài Thương mại 2010 chỉ quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong trường

hợp "thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật" mà không có quy

định về trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu do trái đạo đức xã hội Như

Ngày đăng: 18/04/2021, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đức Duy (2009), Giải quyết tranh chấp tốt nhờ trọng tài thương mại http://www.baomoi.com/Giai-quyet-tranh-chap-tot-nho-trong-tai-thuongmai/45/3547305.epi. Truy cập lúc 08:00 ngày 15/1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp tốt nhờ trọng tài thương mại
Tác giả: Đức Duy
Năm: 2009
3. Nguyễn Mạnh Dũng - Nguyễn Thị Thu Trang, Thực trạng sử dụng trọng tài thương mại tại Việt Nam: Một số giải pháp nâng cao sức hấp dẫn của trọng tàihttp://dzungsrt.com/wp-content/uploads/2015/03/20150831-Du-thao-Tham-Luan-tong-ket-thi-hanh-LTTTM-updated-clean.pdf. Truy cập lúc 09:00 ngày 01/02/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng trọng tài thương mại tại Việt Nam: Một số giải pháp nâng cao sức hấp dẫn của trọng tài
4. Đỗ Văn Đại – Trần Hoàng Hải (2010), Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam về trọng tài thương mại, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam về trọng tài thương mại
Tác giả: Đỗ Văn Đại – Trần Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2010
5. Đỗ Văn Đại – Trần Hoàng Hải (2011), Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại
Tác giả: Đỗ Văn Đại – Trần Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
6. Trần Thu Hòa - Lương Hồng Quang (2012), Hỏi - đáp về Luật Trọng tài thương mại năm 2010, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - đáp về Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Tác giả: Trần Thu Hòa - Lương Hồng Quang
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2012
8. Trần Hữu Huỳnh (2000), Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 1/2000, tr. 18 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế
Tác giả: Trần Hữu Huỳnh
Năm: 2000
12. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2007
17. Chu Thọ (2007), Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chưa được coi trọnghttp://vietbao.vn/Kinh-te/Giai-quyet-tranh-chap-bang-trong-tai-chua-duoc-coi- trong/65087677/87/ .Truy cập lúc 17:30 ngày 18/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chưa được coi trọng
Tác giả: Chu Thọ
Năm: 2007
18. Nguyễn Đình Thơ (2008), “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (Số 6/2008), tr.51-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đình Thơ
Năm: 2008
22. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC (2008), Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2008
24. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC (2016), Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp tại VIAC năm 2016 ,http://viac.vn/tin-tuc/thong-ke-tinh-hinh-giai-quyet-tranh-chap-tai-viac-nam-2016-a749.html. Truy cập lúc 10:00 ngày 30/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp tại VIAC năm 2016
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC
Năm: 2016
25. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC (2016), Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp tại VIAC năm 2015 tại VIAChttp://viac.vn/thong-ke/thong-ke-tinh-hinh-giai-quyet-tranh-chap-nam-2015-tai-viac-a170.html. Truy cập lúc 10:00 ngày 01/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tình hình giải quyết tranh chấp tại VIAC năm 2015 tại VIAC
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC
Năm: 2016
26. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC (2016), Số vụ tranh chấp tại VIAC trong 17 năm từ 1993 đến 2015http://viac.vn/thong-ke/so-vu-tranh-chap-tai-viac-trong-17-nam-tu-1993-den-2015-a169.html. Truy cập lúc 10:15 ngày 01/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số vụ tranh chấp tại VIAC trong 17 năm từ 1993 đến 2015
Tác giả: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC
Năm: 2016
27. Thảo Vy (2012), Trọng tài thương mại: quá trình hội nhập và phát triển,http://www.hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?CatPK=4&NewsPK=296 Truy cập lúc 17:00 ngày 17/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài thương mại: quá trình hội nhập và phát triển
Tác giả: Thảo Vy
Năm: 2012
16. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại http://phaply24h.net/bai-viet/tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-cua-trong-tai-thuong-ma. Truy cập lúc 14:10 ngày 01/3/2017 Link
19.Thực trạng hủy phán quyết của trọng tài thương mại hiện nay https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t2107-thuc-trang-huy-phan-quyet-cua-trong-tai-thuong-mai-hien-nay. Truy cập lúc 08:30 ngày 20/01/2017 Link
23.Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC (2015), Sơ kết 4 năm thi hành luật trọng tài thương mạihttp://viac.vn/su-kien/so-ket-04-nam-thi-hanh-luat-trong-tai-thuong-mai-a446.html. Truy cập lúc 09:30 ngày 01/3/2017 Link
1. Công ước New York 1958 về Công nhận và Thi hành các Quyết định trọng tài nước ngoài, 1958 Khác
7. Hội đồng Trọng tài Thương mại Quốc tế ICCI (2011), Hướng dẫn của ICCA về diễn giải Công ước New York 1958: Sổ tay Hướng dẫn dành cho các thẩm phán Khác
9. Xuân Linh (2009), Trọng tài ít được sử dụng giải quyết tranh chấp ở Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w