Những đặc điểm chính của pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM được xác định như: hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM được điều chỉnh bằng cả hệ thống luật chung và luật chuyên ngành về ngân
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành xu thế khách quan, tất yếu với nhiều lợi ích to lớn, không chỉ với bản thân các ngân hàng mà còn với nền kinh tế của mỗi quốc gia Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập, pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã được quan tâm thực hiện ở trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính
Trong các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính có thể kể đến các sách, tài liệu nước ngoài, tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài như: Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S.Rose do Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2000; sách
“Applied Mergers and Acquitions” của Bruner F Robert and Perella P Joseph, năm 2004; sách “Hướng dẫn cơ bản về mua bán công ty” của Wilbur M Yegge do Nxb Thống kê, Hà Nội phát hành năm 2006; sách “Mergers and Acquisitions” của
J Fred Weston và Samuel C Weaver (McGraw-Hill, năm 2007); sách “Cẩm nang hướng dẫn mua lại và sáp nhập” của Timothy J.Galpin, Mark Herdon do Nxb
Tổng hợp TP Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập căn bản - Các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của
Michael E.S Frankel do Nxb Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập thông minh - Kim chỉ nam trên trận đồ sáp nhập và mua lại” của Scott
Moeller, Chis Brady do Nxb Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Wall
Street Words: An A to Z Guide to Investment Terms for Today’s Investor” của
David L.Scott; sách “Mergers & Acquisition From A to Z” của Andrew J Sherman, Milledge A Hart do Nxb Amacom phát hành năm 2006; sách “A practical guide to mergers, acquisitions, and divestitures” do Nxb Delta Publishing Company phát hành năm 2009; sách “Merger, Acquisition, and other Restructuring Activities” của
Donal DePamphilis, năm 2010; tài liệu nghiên cứu về mua lại, sáp nhập “Mergers and Acquisitions” của Alexander Robert, William Wallance, Peter Moles do
Edinburgh Business School, Heriot-Watt University phát hành năm 2012 Các công trình nghiên cứu này đã cung cấp những lý luận, kiến thức cơ bản về M&A, nhiều cuốn sách còn được coi là cẩm nang về M&A cho các doanh nghiệp Trong các công trình nghiên cứu trên, có một số công trình đáng chú ý như sau:
- Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của tác giả Peter S.Rose, Nxb Tài chính, Hà Nội (2000) Đây là cuốn sách có chuyên môn cao về NHTM được dùng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu ở nhiều trường đại học tại Mỹ Với 23 chương cùng các ví dụ và danh mục thuật ngữ, cuốn sách chứa đựng nội dung rất phong phú về hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường Cuốn sách đề cập tới rất nhiều khía cạnh về công nghệ quản lý NHTM trong mối quan hệ với cơ quan quản lý tiền tệ, với cơ quan quản lý tài chính và những vấn đề luật pháp Chương 22 của cuốn sách trình bày nội dung về quản trị hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng bao gồm các nội dung chính như sau:
Thứ nhất, về động cơ của hoạt động sáp nhập ngân hàng Theo tác giả, sáp nhập thường diễn ra với các lý do như: (1) Các cổ đông ngân hàng mong muốn tăng giá trị tài sản hay giảm rủi ro và nhờ đó củng cố lợi ích của họ; (2) Các nhà quản lý ngân hàng hy vọng nhận được mức lương cao hơn, tạo ra sự đảm bảo về nghề nghiệp hay uy tín nhờ việc quản lý một ngân hàng lớn hơn; (3) Nhà quản lý, các cổ đông đều được hưởng lợi ích từ hoạt động sáp nhập Ngoài ra, cũng có những động cơ khác được kể đến thông qua các vụ sáp nhập các ngân hàng lớn nhất đang diễn ra trong các năm gần đây như: Tiềm năng lợi nhuận; hạn chế rủi ro; động cơ về thuế, thị trường; động cơ tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả và giải cứu các ngân hàng sụp đổ Đã có rất nhiều các vụ sáp nhập ngân hàng được Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) và các cơ quan pháp luật khuyến khích vì đây là một phương pháp để bảo vệ khoản dự trữ bảo hiểm tiền gửi và tránh cho việc phục vụ khách hàng bị gián đoạn khi ngân hàng có nguy cơ phá sản
Thứ hai, về tiến hành sáp nhập Tác giả cuốn sách cho rằng, dù xuất phát từ bất cứ mục đích gì thì về bản chất sáp nhập là một giao dịch tài chính dẫn đến việc một ngân hàng này mua lại một hay một vài tổ chức ngân hàng khác Ngân hàng bị sáp nhập phải từ bỏ các biểu tượng cũ để lấy tên mới, thường là tên của ngân hàng mua lại Tài sản và các nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập sẽ nhập với tài sản và nguồn vốn của ngân hàng sáp nhập Sáp nhập ngân hàng thường được tiến hành sau khi các nhà quản lý của hai ngân hàng đã đi đến những thỏa thuận cụ thể Các bước hợp nhất sẽ được ban lãnh đạo của mỗi ngân hàng thông qua và cổ đông của mỗi ngân hàng bỏ phiếu
Thứ ba, về cách thức hoàn tất việc sáp nhập Thông thường, việc sáp nhập được tiến hành thông qua việc mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản Với phương thức mua lại cổ phiếu, ngân hàng bị sáp nhập buộc phải ngừng hoạt động, ngân hàng sáp nhập sẽ tiếp quản tất cả tài sản và nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập Với phương thức mua lại tài sản, ngân hàng yêu cầu sáp nhập sẽ dùng tiền mặt hoặc cổ phiếu để mua tất cả hay một phần tài sản của ngân hàng bị sáp nhập
Thứ tư, về quá trình ra quyết định sáp nhập Cơ quan quản lý Liên bang Mỹ phải áp dụng những tiêu chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ
Tư pháp quy định cho các yêu cầu sáp nhập Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi
Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát chính đối với ngân hàng yêu cầu sáp nhập phải tính đến tác động của vụ sáp nhập tới sự thuận lợi cho công chúng, tính đến nhu cầu của công chúng đối với việc cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng cao tại mức giá hợp lý
- Sách sách “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z” của Andrew J.Sherman,
Milledge A Hart, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) và “M&A- Mua lại và sáp nhập căn bản, các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của tác giả Michael E.S Frankel, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) Nội dung chính của hai cuốn sách này như sau:
Thứ nhất, về thuật ngữ M&A M&A là một thuật ngữ để mô tả các thương vụ liên quan đến sự thay đổi, chuyển giao quyền kiểm soát một doanh nghiệp Các hình thức M&A bao gồm: mua tài sản của doanh nghiệp, mua cổ phiếu, mua lại doanh nghiệp dựa trên vốn vay nợ; mua lại doanh nghiệp để giữ quyền quản lý
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1 Cơ sở lý thuyết a) Lý thuyết nghiên cứu:
Một số lý thuyết được sử dụng trong luận án như sau:
+ Lý thuyết về phát triển NHTM;
+ Lý thuyết về tổ chức và hoạt động của NHTM trên cơ sở lý thuyết chung về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp;
+ Lý thuyết về hiệu quả trong hoạt động của TCTD;
+ Lý thuyết về M&A doanh nghiệp; b) Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu: Để giải quyết đề tài luận án, các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:
Thứ nhất, về lý luận:
Câu hỏi nghiên cứu: Mua lại và sáp nhập NHTM, pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM được hiểu như thế nào, có những đặc điểm ra sao? Bản chất pháp lý của mua lại, sáp nhập NHTM có tác động chi phối thế nào đến cơ chế điều chỉnh pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM? Vì sao cần có điều chỉnh riêng đối với hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM? Khi nào thì nhà nước có quyền can thiệp thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập NHTM? Khung pháp lý về mua lại, sáp nhập NHTM được xây dựng trên cơ sở lý luận nào?
Giả thuyết nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận chung về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp để giải quyết những vấn đề lý luận đối với mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM NHTM có những đặc điểm riêng so với các loại hình doanh nghiệp khác nên mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM cũng có những điểm đặc thù riêng biệt Bản chất pháp lý khi mua lại, sáp nhập NHTM có tác động chi phối đến cơ chế điều chỉnh pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM, nhất là trong quan hệ tiền gửi để bảo vệ người gửi tiền Do vai trò đặc biệt quan trọng của NHTM đối với nền kinh tế, trong một số trường hợp nhà nước có quyền mua lại, sáp nhập bắt buộc đối với NHTM yếu kém để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, giữ vững trật tự xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô Khung pháp lý về mua lại, sáp nhập NHTM được xây dựng trên cơ sở khung pháp lý về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp và những điều chỉnh riêng biệt đối với NHTM
Kết quả nghiên cứu (dự kiến) về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu lý thuyết đưa ra cách hiểu thống nhất về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; làm rõ được bản chất pháp lý của hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM và sự tác động, chi phối đến cơ chế điều chỉnh pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; phân tích, làm rõ được những đặc trưng của NHTM, mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM, cơ sở lý luận để điều chỉnh riêng bằng pháp luật đối với hoạt động mua lại, sáp nhập trong lĩnh vực NHTM; phân tích, làm rõ cơ sở lý luận để nhà nước có quyền can thiệp thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập NHTM; xây dựng được khung pháp lý về mua lại, sáp nhập NHTM
Thứ hai, về thực tiễn:
Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện; trình tự, thủ tục; hệ quả pháp lý; giải quyết tranh chấp khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cụ thể là gì? áp dụng, vận dụng trong trường hợp thực hiện tự nguyện hay bắt buộc có gì khác nhau? Đã có khung pháp lý để nhà nước có quyền can thiệp, xử lý NHTM yếu kém thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập hay chưa? Những hạn chế, bất cập của pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam và nguyên nhân của những hạn chế bất cập là gì?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM ở Việt Nam đã được hình thành, tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh hoạt hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM Tuy nhiên pháp luật trong lĩnh vực này còn chưa đầy đủ, đồng bộ và chưa được hệ thống hóa, còn có những hạn chế, bất cập như một số vấn đề pháp lý liên quan trực tiếp đến mua lại, sáp nhập ngân hàng chưa có hoặc chưa quy định cụ thể, chưa theo kịp thực tiễn, còn có những khoảng trống pháp lý chưa được điều chỉnh, chưa có cơ sở pháp lý vững chắc để nhà nước can thiệp thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập NHTM yếu kém Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này do pháp luật còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều văn bản, quy định đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi, thay thế, chưa theo kịp quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Kết quả nghiên cứu (dự kiến) về mặt thực tiễn: Đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế, bất cập của pháp luật và việc thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với NHTM; phân tích, đánh giá việc áp dụng, vận dụng pháp luật hiện hành trong trường hợp thực hiện tự nguyện hay bắt buộc, trong trường hợp nhà nước can thiệp, xử lý NHTM yếu kém thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập; làm rõ được nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó
Thứ ba, về phương hướng, giải pháp và đề xuất, kiến nghị:
Câu hỏi nghiên cứu: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM hiện nay như thế nào? Những giải pháp cụ thể khắc phục hạn chế, bất cập của pháp luật về mua lại sáp nhập NHTM để các NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh thuận lợi trong khung khổ pháp luật, đáp ứng thể chế kinh tế thị trường, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phục vụ mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc ngân hàng, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế?
Giả thuyết nghiên cứu là: Hiện nay đã có những phương hướng, giải pháp, đề xuất, kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam Tuy nhiên những phương hướng, giải pháp, đề xuất, kiến nghị này cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung trên cơ sở lý luận sắc bén, bằng chứng thực tiễn đầy đủ để hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này một cách đồng bộ, thống nhất, minh bạch, hiệu quả, khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành
Kết quả nghiên cứu (dự kiến): Đưa ra được phương hướng và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam có tính khả thi, bảo đảm tính công khai, minh bạch, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và phù hợp với các cam kết quốc tế Các giải pháp cụ thể sẽ khắc phục được những tồn tại, hạn chế của pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM hiện nay; hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh mua lại, sáp nhập NHTM cũng như cơ sở pháp lý để nhà nước có quyền xử lý, can thiệp đối với NHTM yếu kém thông qua buộc mua lại, sáp nhập, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế nói chung và tái cấu trúc hệ thống NHTM nói riêng
Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM liên quan đến nhiều ngành khoa học, nhiều ngành luật khác nhau Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành Để giải quyết tốt các nội dung của nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích, thống kê: Thông qua các phương pháp này, các thông tin đơn lẻ sẽ được tổng hợp, hệ thống hóa và xâu chuỗi thành các nhóm vấn đề, được phân tích, khái quát hóa thành các luận điểm về tình hình nghiên cứu, xây dựng khung lý thuyết, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở các chương 1, 2 và 3
- Phương pháp luật so sánh: Sử dụng phương pháp này để xây dựng các khái niệm, phân tích các quy định pháp luật, tình hình thực hiện pháp luật và các nội dung khác theo yêu cầu luận án Phương pháp này được sử dụng trong chương 2, 3
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Thông qua nghiên cứu một số trường hợp NHTM đã thực hiện mua lại, sáp nhập để góp phần đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam Phương pháp này được sử dụng trong chương 3
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học: Sử dụng số liệu thống kê kết hợp thu thập thông tin từ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia nhằm cung cấp luận cứ cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật Phương pháp này được sử dụng trong chương 3, 4