1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài soạn Tap 43 23-26

4 234 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hỏi - Đáp về Giáo dục Tiểu Học
Tác giả Trần Mạnh Hưởng
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại bài soạn
Năm xuất bản 2010
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 37,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hỏi : Trong giảng dạy phần Học vần ở lớp 1, GV nên hướng dẫn HS sử dụng Bộ chữ học vân thực hành HVTH theo cách nào trong hai cách dưới đây : 1 Sau khí giới thiệu - nhận biết âm van, đán

Trang 1

HỎI - ĐÁP VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC Top 48-2010

GIẢI ĐÁP MỘT SỐ CÂU HỎI VE GIANG DAY

1 Hỏi :

Trong giảng dạy phần Học vần ở lớp 1, GV

nên hướng dẫn HS sử dụng Bộ chữ học vân

thực hành (HVTH) theo cách nào trong hai

cách dưới đây :

(1) Sau khí giới thiệu - nhận biết âm (van),

đánh van và đọc tiếng - từ khoá, GV hướng dẫn

HS dùng Bộ chữ HVTH để ghép vân, tiếng mới

học

(2) 6V hướng dẫn HS dùng Bộ chữ HVTH

tự ghép vần mới, tiếng mới để nhận biét van,

tiếng mới

* Đáp :

Bộ chữ HVTH là thiết bị dạy học (TBDH)

được Bộ GD&ĐT cung cấp cho HS lớp 1 toàn

quốc ngay từ năm học đầu tiên thực hiện SGK

Tiếng Việt 1 - Chương trình Tiểu học mới Đây

là TBDH tối thiểu dành cho HS, được sử dụng

phối hợp với Bộ chữ Học vần biểu diễn (HVBD)

dành cho 6V

Bộ chữ HVTH dành cho từng cá nhân tham

gia vào quá trình học tập trên cơ sở phối hợp

nhiều giác quan và hoạt động (mắt nhìn, tai

nghe, tay làm, miệng đọc, ), giúp HS dễ dàng

tự học, hứng thú trong việc “tự tìm ra kiến

thức”, phát huy được tính chủ động - tích cực

Trần Mạnh Hưởng

và trau dôổi các kĩ năng sử dụng tiếng Việt Bộ chữ HVBD chủ yếu dành cho GV thao tác trong quá trình hướng dẫn HS học tap theo tinh than đổi mới phương pháp dạy học nói trên Đây là

TBDH mang tính trực quan, có tác dụng minh

hoạ nội dung dạy học, góp phần củng cố và rèn luyện kĩ năng đọc cho HS Vì vậy, 6V cần sử

dụng đúng phương pháp, xác định đúng mức

độ và thời điểm minh hoạ; tránh khuynh hướng

“lạm dụng” TBDH hoặc sử dụng TBDH chỉ mang tính minh hoạ và “áp đặt”

Cả hai cách hướng dẫn HS sử dụng Bộ chữ HVTH nêu trên đều nhằm mục đích dạy kiến

thức mới Song, dễ nhận thấy Cách (1) có phần qua coi trọng vai trò “giảng giải” của 6V, đặt

HS ở thế thụ động, làm theo (nhắc lại cái đã biết), chưa quan tâm dạy cho HS phương pháp

học, Trái lại, Cách (2) đã quán triệt những

yêu cầu cơ bản của PPDH tích cực, là cách dạy

HS tự tìm ra kiến thức mới, dựa trên những kiến thức đã học VD : GV hướng dẫn HS tự ghép a và

n đã học thành an rồi tự đánh vần và đọc vần

an; tự ghép s đã học với an (vần mới học, đã trở thành kiến thức “cũ”), thêm thanh huyén da

biết để tự đánh vần và đọc tiếng sản, Hướng

dẫn theo cách này, sau khi HS ghép và đọc được vần mới, tiếng mới thì 6V mới dùng Bộ

chữ HVBD để minh hoạ trên bảng những kiến

thức do chính HS tim ra (vân, tiếng mới), từ

đó yêu câu HS thực hành củng cố kiến thức, ki năng mới học (đánh vần, doc van, đọc tiếng -

từ khoá) - “ngược lại” với Cách (1) Đây là cách

“dạy qua làm”, giúp HS nhớ lâu, và điều quan

trọng là : HS hiểu và vận dụng được phương

pháp tạo vần, ghép tiếng để học tiếng Việt một cách hiệu quả nhất (VD : khi biết a và n, HS được GV hướng dẫn tạo ra vần an hoặc tiếng na,

có khả năng ghép các phụ âm đầu và thanh đã biết với vần an để đọc được nhiễu tiếng khác,

như : ban, bàn, bán, bản, bạn ; can, càn, cán,

cản, cạn ; dan (tay), dàn, dán, dãn, dạn, ).

Trang 2

Hướng dẫn sử dụng Bộ chữ HVTH theo Cách (2)

dễ tạo hứng thú học tập cho HS, giúp các em

“học một biết mười” và đem lại hiệu quả cao

trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 1

2 Hỏi :

GV hướng dẫn HS dùng Bộ chữ HVTH ghép

được vần (VD : oanh), sau đó chỉ cần thêm âm

đầu (VD : d) vào trước vần đã có sẵn để ghép

thành: tiếng mới (VD : doanh) Làm như vậy

có đúng với cơ ché danh van và cấu tạo tiếng

hay không ?

* Đáp :

HS lâm theo cách trên thường “nhanh gọn”

vì bớt được thao tác “tháo lắp” các con chữ để

ghép tiếng trên thanh cài nhưng lại dễ hình

thành thói quen “đọc ngược” (hoặc “đánh vản

2 vòng”), VŨ : oanh - doanh (hoặc đánh vẫn :

o - a - nhờ - oanh / dờ - oanh - doanh) Từ đó

dễ dẫn đến tình trạng “viết ngược” (viết theo

đánh vần) : oanhd Hơn nữa, xét về cơ chế đánh

van hay cấu tạo tiếng, trong quá trình học đọc,

GV thường hướng dẫn HS thực hiện thao tác

“tuyến tính” : ghép âm với âm thành vân (đánh

van theo trình tự từ trái sang phải, VD : o - a -

nhờ - oanh), ghép phụ âm đầu với vàn, thanh

để tạo thành tiếng (VD : đánh vẫn dờ - oanh

- doanh / đọc trơn doanh) Do vậy, cách hướng

dẫn “ghép tiếng” như trên là “lợi bất cập hại”,

chưa đảm bảo tính chính xác về cơ chế đánh

vẫn và cấu tạo tiếng

Nhân đây,

xin lưu ý GV

một vài điểm

trong việc sử

dụng Bộ chữ

HVBD và hướng

dẫn HS lớp 1 sử

dụng Bộ chữ

HVTH để ghép

tiếng và củng

cố kĩ năng đọc

theo từng bước

như sau :

- Hướng dẫn

cách ghép van

HỎI - ĐÁP VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC

= oanh), đánh vẩn (o - a - nhờ - oanh), đọc tron van (oanh) Đích cuối cùng của bước này

là HS nhìn chữ ghi vẫn “nguyên khối” và đọc

trơn (không phải đánh vân), vì đã thông qua

các “bước nhảy” về âm (o - a - nh) để xác lập

“trường nhìn” van (oanh) Chi khi nào HŠ chưa

đọc trơn được vản, 6V mới quay trở lại hướng

dẫn đánh vẫn (thực hiện một “bước lùi”) để đọc

trơn được vàn đó,

- Hướng dẫn cách ghép tiếng mới (VD :

d - oanh = doanh), đánh vẫn tiếng (dờ - oanh - doanh), đọc trơn tiếng (doanh) Đích cuối cùng của bước này là HS nhìn chữ ghi tiếng “nguyên khối” và đọc trơn (không phải đánh vẫn), vì da

thông qua các “bước nhảy” về âm đầu - vản - thanh (d - oanh) để xác lập “trường nhìn” chữ

ghi tiếng (doanh) Chỉ khi nao HS chưa đọc trơn được tiếng, GV mới quay trở lại hướng dẫn đánh

van tiếng (thực hiện một “bước lùi”) để đọc

trơn được tiếng đó; trường hợp HS vẫn chưa

đánh vần được tiếng (do chưa thuộc âm dau

hoặc vân, thanh) thì GV phải thực hiện tiếp

“bước lùi” thứ hai : hướng dẫn HS phân tích cấu tao van dé danh van van va doc tron van, sau

đó mới đánh vân tiếng, đọc tiếng (đọc trơn)

Chỉ khi nào HS lớp 1 hình thành kĩ năng

đọc trơn nhanh các tiếng, ngày càng mở rộng

“trường nhìn”, việc dạy đọc từ ngữ, câu, đoạn,

bài ở phân môn Tập đọc từ lớp 1 đến 5 mới ngày càng đạt kết quả cao Muốn vậy, HS cân được

GV hướng dẫn về kiến thức, kĩ năng một cách

=

BỊ

Anh: Ha Linh

Trang 3

khoa học, chính xác để các em hiểu kĩ, nhớ lâu

và vận dụng tốt

3 Hỏi :

Có ý kiến cho rằng : Do kĩ năng đọc của HS lớp 1 cần được ôn luyện và củng cố thật vững chắc nên 6V thường không “đọc mẫu” trước rồi

cho HS đọc theo để tránh tình trạng “đọc vẹt”

Vậy, GV cần hướng dẫn HS đọc như thế nào để đạt kết quả tốt ?

* Đáp :

Đúng là thực tế đã có chuyện HS lớp 1 “đọc vẹt”, thậm chí “đọc vẹt” rất giỏi (vì trí nhớ của nhiều em rất tốt) Trong SGK Học vẫn những nam dau CCGD (1981 - 1988), dưới tranh minh

hoạ “con chim oanh đậu trên cành cây liễu” có

câu thơ của Nguyễn Du : Lơ thơ tơ Liễu buông mành / Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Sau khi nghe GV doc và vài bạn đọc nhắc lại,

HS dễ dàng nhìn tranh minh hoạ trong sách

để “đọc thuộc” ngay câu thơ (đọc theo trí nhớ

chứ không đọc theo cách “giải mã” kí tự chữ viết trên trang sách, ởì khi chỉ vào từng chữ thì

HS không đọc được) Trong SGK Tiếng Việt 1, tập hai hiện hành, dưới tranh minh hoạ “gà mẹ hăng hái đánh diễu hâu tơi tả lông cánh dé bảo

vệ gà con” có câu tục ngữ : Khôn ngoan đối đáp người ngoài / 6à cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (câu ứng dụng ở Bài 93, trang 23, SGK)

Sau khi đưa tranh minh hoạ (phóng to) để gợi

ý, giảng giải nội dung, GV đọc câu tục ngữ rồi cho vài HS đọc lại Kết quả cũng tương tự như

trường hợp trên, HS “đọc thuộc” làu làu toàn bộ

câu tục ngữ, nhưng khi kiểm tra đọc từng chữ thì rất chậm, thậm chí không đọc được Hạn chế lớn nhất của cách dạy vừa nêu là : GV chưa

nắm được bản chất của việc dạy đọc (“giải mã

kí hiệu chữ viết”) nên đã “tạo điều kiện” cho HS học theo lối “đọc vẹt” (dựa vào tranh để đoán

biết nội dung, nghe đọc vài lượt để thuộc câu

cần đọc; khi đọc, dù có nhìn chữ nhưng HS chỉ

đọc theo trí nhớ mà không thực hiện thao tác

“giải mã”)

Từ thực tế dạy học nói trên, có thể rút ra kết luận sư phạm : ở lớp 1 - giai đoạn đầu của việc học đọc, HS cản được hình thành ki nang doc (“giải mã”) một cách thật cơ bản và chắc chắn;

GV cần tạo điều kiện để HS luôn được củng cố,

nắm vững kĩ năng đọc một cách tích cực, tránh

“tạo cơ hội” cho HS “đọc vẹt” Để hướng dẫn HS học đọc đạt kết quả tốt, ngoài một số điểm lưu

ý đã nêu ở Câu 2, dưới đây xin nhắc lại và bổ

sung một vài điểm về dạy đọc từ ngữ, câu - bài ứng dụng và đọc bài tập đọc ở phần Luyện tập tổng hợp

(1) Đọc từ ngữ ứng dụng : 6V hướng dẫn

HS nhận biết chữ ghi tiếng chứa vần mới học

để đánh vần và đọc trơn nhanh được tiếng đó

- Đánh vân, đọc trơn tiếng chứa vằn đã học nhưng cần củng cố cho chắc chắn (vì HS dễ quên lẫn hoặc khó đọc đúng) - Đọc trơn nhanh từng từ ngữ ứng dụng (theo thứ tự và không theo thứ tự) Sau khi HS đọc trơn được từ ngữ,

GV có thể yên tâm “đọc mẫu” để HS ghi nhớ cách phát âm đúng và rõ ràng

VD : Bai 101 - uat uyêt (SGK Tiếng Việt 1,

tập hai) : Hướng dẫn đánh vần va doc tron nhanh các tiếng luật, thuật, tuyết, tuyệt; có

thể đọc củng cố thêm các tiếng giao, nghệ,

băng; sau đó đọc trơn nhanh từng từ ngữ ứng dụng : luật giao thông, nghệ thuật, băng tuyết, tuyệt đẹp; GV “đọc mẫu” (nếu cần)

(2) Đọc câu - bài ứng dụng : 6V hướng dẫn

HS nhận biết chữ ghi tiếng chứa vần mới học (xuất hiện trong câu - bài ứng dụng) để đánh

van va doc trơn nhanh được tiếng đó - Đánh

vẫn, đọc trơn tiếng chứa vần đã học nhưng can củng cố cho chắc chắn (vì HS dễ quên lẫn hoặc khó đọc đúng) - Đọc trơn một vài từ ngữ có

tiếng cần củng cố về âm, vân (đọc từ ngữ “bộ phận” để luyện kĩ năng đọc toàn bài cho chắc

chắn, tránh “đọc vẹt”) - Đọc cả câu ứng dụng

(hoặc từng câu trong bài ứng dụng, theo thứ

tự và không theo thứ tự) Sau khi HS đọc được

toàn bộ câu - bài ứng dụng, 6V có thể yên tâm

“đọc mẫu” để đưa ra một cách đọc hay cho HS

tham khảo

VD : Bài 101 - uât uyêt : Hướng dẫn đánh van va doc tron nhanh tiếng khuyết (chứa vần

mới học); có thể đọc củng cố thêm các tiếng

thuyền, trăng, bước, muốn, ; đọc trơn nhanh một số từ ngữ trăng khuyết, trông giống, con

thuyền, theo bước, muốn cùng, ổi chơi (có thể

thay đổi thứ tự các từ ngữ cho HS luyện đọc);

sau đó đọc trơn từng dòng thơ (theo thứ tự và

Trang 4

HỎI - ĐÁP VỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC

không theo thứ tự) rồi đọc toàn bài ứng dụng

(3) Đọc bài tập đọc : GV lựa chọn và hướng

dẫn HS đọc một số từ ngữ có tiếng chứa vẫn khó (hoặc chứa phụ âm đầu, vân, thanh dễ sai

lẫn, do ảnh hưởng phương ngữ), kết hợp giải

nghĩa từ (hoặc kết hợp “giảng từ” ở phần Tìm

hiểu bài) - Kiểm tra HS đọc trơn nhanh một số

từ ngữ khác trong bài để củng cố kĩ năng “giải

mã” (tránh “đọc vet”) - Đọc từng cau trong bài (theo thứ tự và không theo thứ tự) - Đọc từng đoạn, đọc toàn bài (VD : Tham khảo bài tập đọc trong SGV Tiếng Việt 1, tập hai, phân Luyện

tập tổng hợp)

4 Hoi:

Vở Tập viết 1 (phần Học vần) xác định nội dung dạy học trong tiết Tập viết khá nhiều (thường có 6 dòng từ ngữ ứng dụng), SGV Tiếng Việt 1 lại không hướng dẫn dạy học các tiết

này 6V dạy học các tiết Tập viết đó như thế

nào ?

Tiết Tập viết ở phần Hoc van có nhiệm vụ

giúp HS thực hành luyện viết ứng dụng và củng

cố một số từ ngữ mang vần đã học Nội dung tập viết trong một tiết học được thể hiện trong

vở Tập viết 1 và “yêu cầu cản đạt” đã được xác định cụ thể trong tài liệu Hướng dẫn thực hiện

Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu

học, lớp 1 (môn Tiếng Việt) Quy trình dạy học

thông thường đối với tiết Tập viết này cụ thể

như sau :

(I) Kiểm tra bài cũ (5 phút)

GV yêu câu HS lần lượt viết bảng (bảng lớp, bảng con) 2 từ ngữ đã tập viết ở tiết trước (nếu

từ ngữ không viết đủ bảng, có thể chọn viết

chữ ghi tiếng có nghĩa); sau đó nhận xét, đánh

giá, rút kinh nghiệm chung

(Il) Dạy bài mới (30 phút)

1 Giới thiệu bài (1 phút)

GV nêu mục đích, yêu cầu của tiết học và

ghi tên bài lên bảng lớp (chỉ cần ghi: Tập viết tuần .) HS đọc toàn bộ nội dung bài trong vở Tập viết 1

2 Hướng dẫn HS viết trên bảng con

(12 phút)

GV chọn 3 - 4 chữ ghi tiếng (có trong các

từ ngữ ghi trên bảng lớp hoặc bảng phụ) cần

hướng dẫn về độ cao, cách nối nét, đặt dấu phụ, dấu thanh, rồi lân lượt thực hiện các

thao tác sau đối với từng chữ :

- Chỉ dẫn ngắn gọn về cách viết trên chữ mẫu (cỡ vừa) ở bảng phụ (hoặc bảng lớp);

- Viết mẫu trên bảng phụ (hoặc bảng lớp), kết hợp lưu ý các chỗ khó viết hoặc dễ viết sai; -

- Yêu cầu HS viết chữ ghi tiếng (đã hướng

dẫn) vào bảng con (1 hoặc 2 lẫn)

3 Hướng dẫn HS viết trong vở Tập viết

(13 phút)

- HS đọc lại nội dung tập viết trong vở

Tập viết 1

- GV nhắc nhở HS một vài điểm cần lưu ý

khi viết (vẻ độ cao, về nối nét hoặc để khoảng

cách, về cách ghi dấu phụ, dấu thanh, );

có thể chọn viết mẫu từ ngữ trên bảng lớp để hướng dẫn thêm (nếu cần thiết)

- HS tập viết trong vở Tập viết 1 theo yêu câu do 6V nêu (chú ý nhắc nhở, uốn nắn HS vẻ

tư thế ngỏi viết, cách cảm bút, để vở, xê dich

vở khi viết, )

* Chú ý : Chuẩn kiến thức, kĩ năng đã xác

định “HS khá, giỏi viết được đủ số dòng quy định trong vở Tập viết 1” Như vậy, “yêu cầu cần đạt” là : HS viết được mỗi từ ngữ 1 lần và

không nhất thiết phải viết đủ 6 dòng trên vở

Tập viết 1

4 Chấm, chữa bài (3 phút)

GV chấm khoảng 5 bài, sau đó nêu nhận xét

để cả lớp rút kinh nghiệm (lưu ý nhắc nhở HS sửa các lỗi đã mắc)

5, Củng cố, dặn dò (1 phút)

- 6V nhận xét chung về tiết học, khen ngợi

những HS viết đẹp

- Dặn HS viết đủ chữ, đủ dòng trong vở

Tập viết 1, luyện viết thêm ở bảng con để rèn

ˆ chữ đẹp

Ngày đăng: 28/11/2013, 17:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

chữ HVBD để minh hoạ trên bảng những kiến - Bài soạn Tap 43 23-26
ch ữ HVBD để minh hoạ trên bảng những kiến (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w