Bởi từ TK X đến TK XIX, văn học trung đại phát triển trong một môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ nho giáo, lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức, những người có trình [r]
Trang 1Mục lục
Trang
1 – Phần thứ nhất Mở đầu 2
2 – Phần thứ hai Nội dung 4
3 – Chơng I Cơ sở lý luận của đề tài 4
4 – Chơng II Thực trạng của đề tài 7
5 - Chơng III Giải quyết vấn đề 9
6 – Phần thứ ba Kết luận 15
7 – Tài liệu tham khảo 16
8 - Đánh giá của hội đồng khoa học nhà trờng 17
I- Lý do chọn đề tài:
Văn học là nghệ thuật ngụn từ được cỏc nhà văn, nhà thơ sỏng tạo ra bằng tiếng núi, chữ viết, lưu hành trong xó hội từ đời này sang đời khỏc, từ đất nước này sang đất nước khỏc, cú chức năng, nhận thức giỏo dục thẩm mĩ, giỳp con người vơn tới cái chân, thiện mĩ Văn học là tấm gương phản ỏnh trung thành
Trang 2đời sống của một dõn tộc Cuộc sống là dũng thỏc khụng bao giờ ngưng chảy Bằng sự truyền đạt những của cải tinh thần của dĩ vóng,văn học giỳp cho con người củng cố lũng tự hào dõn tộc chõn chớnh, cựng với hoài bóo nối gút người trước, khai thỏc và làm giàu thờm di sản ụng cha, đưa xó hội đi lờn
Nh chúng ta đã biết, để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nớc nói chung và sự phát triển văn học nói riêng thì yêu cầu đặt ra là phải đổi mới nội dung và phơng pháp dạy - học Xuất phát từ việc đổi mới này dẫn đến việc tổ chức các hoạt động học tập cũng phải có sự thay đổi vì : phơng pháp cũ học sinh
sẽ thụ động trong quá trình học tập, học sinh chỉ quen nghe, ghi chép, nhớ và tái hiện những gì giáo viên nói Học sinh cha có thói quen chủ động tìm hiểu và khám phá bài học ( nếu không đợc giao nhiệm vụ ) Thêm vào đó khả năng cảm thụ và t duy của học sinh còn yếu, học sinh ít có khả năng độc lập suy nghĩ Vì vậy đổi mới sách giáo khoa hiện nay gắn với mục đích” tích cực” học tập của học sinh và “’tích hợp’’ của giáo viên trong các bài dạy Do đó yêu cầu của giáo viên phải tích cực, sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động học tập cho học sinh để giúp các em khám phá kiến thức bài học một cách tự giác nghĩa là học sinh đ
-ợc suy nghĩ, tranh luận, đề xuất ý kiến của mình, tự bộc lộ cảm nhận của riêng mình mà cảm nhận đó đợc thầy và bạn tôn trọng hiểu và đồng cảm
Văn học trung đại ( VHTĐ ) là một mảng lớn trong cấu trúc chơng trình Ngữ văn THPT và đợc phân phối giảng dạy chủ yếu ở lớp 10, 11 Nhìn chung khi giảng dạy VHTĐ đối với đối tợng học sinh lớp 10 gặp rất nhiều khó khăn so với các phần văn học khác, nh học sinh khó tiếp nhận, ít hào hứng, từ đó dẫn đến hiệu quả giờ dạy cha cao
II – Mục đích nghiên cứu:
Chúng ta cần thống nhất và khẳng định: Tinh thần cơ bản là dạy cách học, dạy tự học, giáo viên không học thay, không làm thay cho học sinh mà phải là ngời tổ chức hớng dẫn học sinh hoạt động nhằm tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức để hình thành kĩ năng, hớng dẫn học sinh phát hiện đích của vấn đề
Khắc phục những hạn chế, những khó khăn khi dạy phần văn học Trung
Đại đối với đối tợng học sinh lớp 10 ban KHTN, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng dạy học bộ môn
III - Đối tợng nghiên cứu :
Đặc trng của văn học là một môn nghệ thuật phản ánh đời sống bằng hình tợng Bởi thế ngời giáo viên dạy văn phải giúp cho học sinh tự tạo đợc bản lĩnh
để có thể chiếm lĩnh đợc tác phẩm văn chơng, giúp học sinh biết tìm tòi, chủ
động nắm bắt kiến thức một cách sáng tạo hào hứng
Đối tợng nghiên cứu là học sinh hai lớp 10a1 và 10a2
Độ tuổi từ : 16 đến 18 tuổi
IV – Giới hạn và phạm vi nghiên cứu :
- Đề tài chỉ thực hiện đối với học sinh lớp 10 ban KHTN của trờng THPT Thị Xã Nghĩa Lộ
- Đi sâu nghiên cứu tình hình học tập của học sinh đối với phần văn học trung đại, từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao chất lợng dạy học bộ môn
V – Nhiệm vụ của đề tài :
- Xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn của dạy và học phần văn học trung đại
Trang 3- Phân tích thực trạng của giờ dạy tác phẩm VHTĐ, đặc biệt là hoạt động hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà và một số công việc của giáo viên
- Trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm làm cho học sinh có hứng thú khi học tác phẩm VHTĐ
VI – Ph ơng pháp nghiên cứu :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận : dựa vào mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của bộ môn Ngữ văn trong trờng THPT
- Nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, tổng kết kinh nghiệm
VII – Thời gian nghiên cứu:
Kinh nghiệm đợc tích luỹ từ những giờ giảng dạy tác phẩm văn học trung
đại Đợc dạy thử nghiệm trong năm học 2008-2009
Ch ơng I : Cơ sở lý luận của đề tài
I – Cấu trúc ch ơng trình phần VHTĐ VN lớp 10 ban KHTN:
Trong chơng trình Ngữ văn lớp 10 ban KHTN các tác phẩm VHTĐ thuộc giai đoạn từ TK X đến TK XVII, đợc sắp xếp theo cụm thể loại và theo trình
tự thời gian
Gồm các tác phẩm tiêu biểu các thời Lý – Trần – Lê Các thể loại nh thơ trữ tình, văn xuôi tự sự, tác phẩm lịch sử …
II - Đặc điểm của VHTĐ VN :
1- Về nội dung :
Văn học trung đại cũn được gọi bằng những cỏi tờn khỏc nhau như văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển Bởi từ TK X đến TK XIX, văn học trung đại phỏt triển trong một mụi trường xó hội phong kiến với ý thức
hệ nho giỏo, lực lượng sỏng tỏc chủ yếu là tầng lớp trớ thức, những người cú trỡnh độ cao, được đào tạo từ ''cửa Khổng sõn Trỡnh'' và những sỏng tỏc chỉ lưu truyền trong tầng lớp cụng chỳng ấy, bờn cạnh đú văn học thời kỡ này cũn chịu ảnh hưởng bởi thi phỏp văn chương cổ điển Văn học trung đại tồn tại và phỏt triển trong suốt mười thế kỉ nhưng khụng bao giờ tỏch rời khỏi cảm hứng yờu nước; cảm hứng nhõn đạo, thế sự
a- Cảm hứng yêu nớc:
Trang 4Cảm hứng yêu nớc là nội dung lớn, xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của VHTĐ VN Cảm hứng này gắn liền với t tởng “trung quân ái quốc” ( Trung với vua là yêu nớc và ngợc lại yêu nớc là trung với vua ) Nó đợc thể hiện rất phong phú, đa dạng, có khi là âm điệu hào hùng khi đất nớc chống ngoại xâm, có khi là âm điệu bi tráng lúc nớc mất nhà tan, có khi là giọng điệu thiết tha khi đất nớc trong cảnh thái bình thịnh trị
b- Cảm hứng nhân đạo:
Khi vận mệnh cỏ nhõn con người, quyền sống, quyền hạnh phỳc của con người bị đe dọa thỡ cảm hứng nhõn đạo lại thăng hoa rực rỡ Văn học trung đại Việt Nam luụn gắn bú với số phận con người Cảm hứng nhõn đạo cú hàm chứa cảm hứng yờu nước bởi cú những bài ca yờu nước thể hiện nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận con người Tư tưởng nhõn đạo trong văn học trung đại Việt Nam là sự kế thừa của truyền thống tư tưởng lớn của con người Việt Nam: thương người như thể thương thõn, lỏ lành đựm lỏ rỏch; tư tưởng của phật giỏo:
từ bi bỏc ỏi, yờu thương con người rộng rói; và tư tưởng của nho giỏo: cỏi nhõn cỏi nghĩa Điều này được thể hiện một cỏch đa dạng qua việc ca ngợi vẻ đẹp con người, đồng cảm với bi kịch con người, đồng tỡnh với ước mơ, khỏt vọng của con người, lờn ỏn cỏc thế lực bạo tàn
c- Cảm hứng thế sự:
Cảm hứng thế sự biểu hiện khá rõ nét từ văn học cuối đời Trần, văn học h-ớng tới phản ánh hiện thực xã hội, phản ánh cuộc sống đau khổ của nhân dân Nhiều tác giả hớng tới hiện thực cuộc sống, hiện thực xã hội đơng thời để ghi lại
“những điều trông thấy” Cảm hứng thế sự trong VHTĐ đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời của văn học hiện thực trong thời kỳ sau
2- Đặc điểm nghệ thuật:
a- Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm:
Tớnh quy phạm là những quy định chặt chẽ trong những phạm vi giới hạn
đó được định sẵn mà người sỏng tỏc văn học buộc phải tuõn theo trong quỏ trỡnh sỏng tỏc Biểu hiện ở nhiều đặc điểm Mục đớch sỏng tỏc là phải hướng tới việc giỏo huấn đạo đức Sỏng tỏc cú lỳc để tiờu khiển, thự tạc nhưng mục đớch chung của cỏc vị thỏnh hiền là giỏo húa cuộc đời.''Văn dĩ tải đạo, thơ dĩ ngụn trớ'', văn thơ sỏng tỏc là để giỏo huấn đạo đức, văn dựng để tải đạo, thơ dựng để bộc lộ ý trớ, bày tỏ lũng mỡnh Tư duy nghệ thuật thỡ luụn cho rằng cỏi đẹp thuộc vào những khuụn mẫu định sẵn (xuõn hạ thu đụng, tựng trỳc, cỳc mai, long li, quy phượng, ngư tiều, canh mục) Và thể loại chủ yếu là những thể loại văn học cú kết cấu cố định, chặt chẽ về số cõu, số chữ, niờm luật, đối (vớ dụ thơ Đường luật, cỏo, phỳ, văn tế) Cũn hỡnh ảnh trong thơ văn (văn liệu, thi liệu) là từ sử sỏch, rất lắm điển tớch, điển cố hay cú trong văn học Trung Hoa.(chẳng hạn mựa thu
về thể hiện qua hỡnh ảnh sen tàn, lỏ ngụ đồng rụng, cỳc nở hoa)
Bất quy phạm cú nghĩa là khụng chịu gũ mỡnh, tự cởi trúi khỏi khuụn khổ, những quy định ràng buộc trong quỏ trỡnh sỏng tỏc Các tác giả VHTĐ, đặc
Trang 5biệt là những tác giả tài năng, một mặt vừa tuân thủ tính quy phạm, mặt khác vừa phá vỡ tính quy phạm, phát huy cá tính sáng tạo trong cả nội dung cảm xúc
và hình thức biểu hiện
b- Tính trang nhã:
Văn học trung đại cú đề tài hướng tới cỏi cao cả, trang trọng, hỡnh tượng nghệ thuật hướng tới vẻ tao nhó, mĩ lệ với ngụn ngữ cao quý, diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ Dần dần, văn học Việt Nam cũng đó cú những nỗ lực khụng nhỏ
để tiếp cận với xu hướng bỡnh dõn, gần gũi với đời sống của con người Việt Nam
c- Yếu tố Hán, văn hoá Hán :
Hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc, chuyện văn chương Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn húa Hỏn là khụng thể trỏnh khỏi Trong rất nhiếu năm, văn
tự của nước ta là chữ Hỏn và đến tận khi chữ Nụm ra đời, văn tự Hỏn vẫn được coi là loại chữ chớnh thống trong một thời gian dài Thể loại chủ yếu là cỏc thể loại của văn học Trung Quốc, trong cỏc tỏc phẩm cú nhiều thi phỏp cổ điển và hỡnh ảnh trong văn học Trung Quốc Tuy nhiờn văn học Việt Nam cũng cú ý thức để phỏ bỏ sự ảnh hưởng này bằng cỏch viết bằng chữ Nụm, sử dụng nhiều thể thơ dõn tộc (như truyện thơ ngõm khỳc hỏt núi, lục bỏt, song thất lục bỏt) và đưa vào trong thơ văn cỏc hỡnh ảnh đậm chất Việt Nam
Kết luận : Với nội dung và đặc điểm nh vậy có thể nói lõu nay, văn học
trung đại vẫn là một mảng khú tiếp cận đối với số đụng ngời học, khụng chỉ bởi rào cản về ngụn ngữ, văn tự, khoảng cỏch về văn húa giữa quỏ khứ và hiện tại
mà cũn vỡ những khú khăn trong việc tỡm kiếm tư liệu tham khảo, đặc biệt là dạng sỏch tuyển chọn những tỏc phẩm nguyờn gốc Dẫn đến việc dạy và học phần VHTĐ gặp rất nhiều khó khăn
Trang 6Ch ơng II : Thực trạng của đề tài
Một thực tại khách quan đang tồn tại mà bản thân tôi khi đa ra đề tài này
đã khảo sát khá kỹ lỡng: Thực ra trong tổ chức hoạt động của giáo viên cho học sinh tiếp nhận kiến thức và kỹ năng cũng dựa trên hai hình thức hoạt động cơ bản: Hoạt động độc lập và hoạt động tập thể Tuy nhiên cả hai hoạt động này kết quả mà giáo viên thu đợc đều không cao, nhất là khi dạy phần VHTĐ Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi thì có ba nguyên nhân cơ bản sau :
* Về phía văn bản :
- Văn học trung đại viết theo hệ thống thi pháp cũ: dùng nhiều điển tích,
điển cố, sử dụng lối tả ớc lệ tợng trng… có nhiều từ ngữ cổ hiện nay ít sử dụng, khó thuộc khó nhớ, làm học sinh ngại học
- Đời sống đợc phản ánh trong VHTĐ là bối cảnh xã hội từ những thế kỷ trớc nên xa lạ với học sinh dẫn đến làm cho các em khó cảm nhận về giá trị nội dung t tởng
- T tởng, tình cảm, suy nghĩ của con ngời ngày xa khác rất nhiều ngày nay, khiến cho học sinh rất khó cảm nhận
* Về phía giáo viên:
- Giao nhiệm vụ cho học sinh cha rõ ràng, cụ thể mà còn chung chung và
đại khái
- Vấn đề đợc giao cha hấp dẫn học sinh tìm tòi , khám phá sáng tạo
- Thời gian dành cho việc hớng dẫn, tổ chức cha đủ, còn bị xem nhẹ
- Tổ chức các hoạt động dạy học cha khoa học
- Cấu trúc bài giảng thiếu hợp lý
* Về phía học sinh:
- Phần lớn tác phẩm VH TĐ đợc viết bằng chữ Hán, thứ chữ vay mợn
nên khó hiểu, khô khan Văn xuôi, văn vần đều viết theo lối biền ngẫu, sử dụng nhiều điển tích điển cố nên gây nhiều trở ngại cho việc gây dựng hứng thú học tập ở học sinh
- Khả năng tự lập để phát hiện vấn đề, còn hạn chế còn mang tính chất ỷ lại cho giáo viên khi đi tìm hiểu, khám phá kiến thức mới Đặc biệt đối với học sinh miền núi, vùng sâu vùng xa
Trang 7- Tinh thần, thái độ học tập cha cao, nhất là đối với học sinh ban A ( môn văn không phải là môn học nâng cao của các em )
* Số liều điều tra trớc khi thực hiện:
Đối tợng học sinh lớp 10a1 và 10a2:
Thái độ và năng lực
cảm thụ HS lớp 10a1 (sĩ số 43 ) HS lớp 10a2 (sĩ số 42 )
Năm học 2008-2009 tôi đợc nhà trờng phân công dạy môn Ngữ văn lớp
10 ban KHTN Trớc thực trạng học sinh thờ ơ, lãnh đạm với môn văn, lời học lời suy nghĩ “Vậy làm thế nào để học sinh tích cực học tập, tìm hiểu bài một cách chủ động sáng tạo hào hứng?” là câu hỏi tôi trăn trở tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp Qua một thời gian nghiên cứu tìm tòi và thử nghiệm, tôi đã rút ra kinh nghiệm giảng dạy một văn bản VHTĐ sao cho có hiệu quả nhằm khắc phục những tồn tại trên đây của cả hai phía từ giáo viên đến học sinh
Ch ơng III : Giải quyết vấn đề
1 Một số giải pháp cụ thể khi dạy các văn bản văn học trung đại đối với học sinh ban A :
Trang 8Trớc hết giáo viên cần chú trọng và thực hiện nghiêm túc các khâu chuẩn bị
và tổ chức dạy học của mình Đồng thời bằng các nghiệp vụ s phạm có tính giáo dục cao, giáo viên rèn cho học sinh một cách nề nếp ý thức chuẩn bị bài ở nhà, tinh thần, thái độ học tập trên lớp nh : tự giác chuẩn bị, tự giác tìm hiểu từ đó có hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập
Hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà:
Đây là bớc cực kỳ quan trọng vì vừa củng cố lại kiến thức cũ ( học bài cũ)
đồng thời bớc đầu tự tìm hiểu, khám phá kiến thức mới ( chuẩn bị bài mới)
Nh-ng bớc này có thu đợc hiệu quả hay khôNh-ng là tùy thuộc khôNh-ng chỉ ở học sinh mà còn phụ thuộc vào cả giáo viên vì nếu giáo viên không tổ chức hớng dẫn công việc ( giao việc ) cụ thể cho học sinh thì học sinh sẽ rất lúng túng Do vậy, yêu cầu quan trọng là giáo viên phải giao việc cụ thể cho học sinh chuẩn bị ở nhà + Nhằm tạo hứng thú thu hút học sinh chuẩn bị bài GV cần dành khoảng 2 phút để kể tóm tắt ( thật ngắn gọn ) hoặc đọc diễn cảm một đoạn văn ( thơ ) của văn bản sắp học hoặc kể lại một điển tích, điển cố đợc nói đến trong văn bản… Tuỳ vào từng bài cụ thể để chọn hình thức hấp dẫn Có nhiều cách, nhng dù là cách nào thì cũng phải làm cho học sinh có ấn tợng về văn bản sắp học
+ Căn cứ vào đặc trng của thể loại, dung lợng kiến thức của từng bài cụ thể
GV hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài chi tiết từ nội dung nh : tìm hiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề, điển cố, điển tích,… của văn bản; cho đến cách thức và phơng pháp chuẩn bị: đọc phần mục tiêu bài học, đọc nhiều lần phần văn bản, tìm hiểu phần chú thích và trả lời các câu hỏi hớng dẫn chuẩn bị bài trong SGK Nếu có điều kiện tìm hiểu thêm các tài liệu liên quan đến tác phẩm
* Ví dụ 1 :
Giảng dạy đến bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm ( tiết thứ 40 –
theo PPCT )
GV nên dành 1 khoảng thời gian thích hợp ( khoảng 2 – 3 phút ) từ tiết học tr
-ớc tạo tâm thế và hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
- Đầu tiên nhằm thu hút đợc sự chú ý của học sinh GV có thể đề cấp tới một
quan niệm sống nào đó, chẳng hạn nh quan niệm sống hởng thụ của một bộ
phân thanh niên ngày nay từ đó cho học sinh biết bài thơ “Nhàn” của Nguyễn
Bỉnh Khiêm cũng nói về một quan niệm sống.
- Sau đó GV hớng dẫn học sinh về nhà chuẩn bị bài theo gợi ý :
+ Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ, bối cảnh xã hội lúc bài thơ ra đời ( Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào? Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ ra sao? )
+ Chủ đề bài thơ ?
+ Những điển tích điển cố đợc sử dụng trong bài thơ, có ý nghĩa nh thế nào? Tác giả sử dụng nhằm mục đích gì? ( Đặt điển tích điển cố đó để hiểu câu thơ
nh thế nào cho đúng? )
- Sau đó trả lời các câu hỏi trong phần hớng dẫn học bài ( Tất cả các câu hỏi trong phần này đều là đều mang tính gợi mở, giúp học sinh dần chiếm lĩnh tác phẩm )
- Cuối cùng yêu cầu học sinh phải có đợc cách hiểu của mình về quan
niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là quan niệm sống tích cực hay tiêu cực? Từ đó học sinh đa ra quan niệm sống của bản thân mình trong hoàn cảnh
hiện nay
* Ví dụ 2 :
Trang 9Khi dạy đến bài “Phú sông Bặch Đằng” của Trơng Hán Siêu ( Tiết thứ 57,
58 theo PPCT )
Đây là bài học 2 tiết, dung lợng kiến thức nhiều, trong tác phẩm dùng nhiều điển tích điển cố và nhiều từ cổ ngày nay ít sử dụng GV dành thời gian để hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài tốt ở nhà
- Đầu tiên GV giới thiệu sơ qua về bài phú nhằm gây ấn tợng đối với học sinh : Việt Nam là đất nớc của những dòng sông Những dòng sông hoặc trong xanh hiền hoà, hoặc ngầu đỏ phù xa không chỉ bồi đắp bờ bãi thành những dải
đồng bằng phì nhiêu nuôi sống ngời dân Việt Nam mà còn là nơi chiến trờng thuỷ chiến, nơi ghi dấu những chiến thắng, chiến công vang lừng của dân tộc trong trờng kỳ chống ngoại xâm Sông Bạch Đằng là một trong những dòng sông nổi tiếng nhất Chỉ trong vòng ba thế kỷ ( X – XIII ) nơi đây đã trở thành niềm tự hào của quân dân Đại Việt Và từ đó đến nay dòng sông và những chiến công hiển hách đã là niềm cảm hứng hoài cổ hào hùng của bao thế hệ thi nhân
mà Bạch Đằng giang phú của Trơng Hán Siêu là một trong những tác phẩm
đầu tiên và thành công nhất
- Sau đó yêu cầu học sinh chuẩn bị bài theo gợi ý :
+ Tìm hiểu về tác giả Trơng Hán Siêu.
+ Tìm hiểu địa danh Bạch Đằng với những chiến công lịch sử? Tìm những bài thơ viết về sông Bạch Đằng mà em biết ?
+ Tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài phú ?
+ Bố cục bài phú chia làm mấy phần ?
+ Sử dụng những điển tích, điển cố nào? ý nghĩa của nó ?
- Sau đó trả lời các câu hỏi trong phần hớng dẫn học bài
* Ví dụ 3 :
Khi dạy đến bài “Hng Đạo Đại Vơng Trần Quốc Tuấn” của Ngô Sỹ Liêm
( tiết thứ : 67 theo PPCT )
Đây là tác phẩm lịch sử viết về một nhân vật có vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc, GV cần tạo sự hứng thú và thu hút học sinh :
- Đầu tiên GV có thể đặt câu hỏi : Chúng ta đã đợc học bài Hiền tài là
nguyên khí quốc gia vậy thế nào là ngời hiền tài ?
- Sau đó GV có thể giới thiệu : Trần Quốc Tuấn là ngời con u tú nhất trong
rất nhiều những ngời con u tú của triều đại nhà Trần Ông không chỉ là hiền tài
mà hơn thế, còn là một vị hiền tài đặc biệt, anh hùng dân tộc Ông đợc thế giới tôn vinh là một trong 10 vị tớng tài giỏi nhất trong lịch sử nhân loại Chân dung con ngời ông nh thế nào, giờ học sau chúng ta sẽ cùng nhau đi tìm hiểu
- Sau đó GV yêu cầu học sinh chuẩn bị bài :
+ Tìm hiểu thể loại của tác phẩm?
+ Căn cứ vào các sự kiện đợc kể trong văn bản, em hãy xây dựng lên chân dung của nhân vật Trần Quốc Tuấn ( Về tài năng, đức độ )
+ Tìm những câu chuyện kể về Trần Quốc Tuấn.
- Cuối cùng học sinh trả lời các câu hỏi trong phần hớng dẫn học bài
1.2 Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh:
Sau khi hớng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà, thì nhất thiết phải có sự kiểm tra Đây cũng là bớc quan trọng đòi hỏi sự kiên trì của GV Nhiều GV giao việc cho học sinh, song lại không chú trọng kiểm tra xem học sinh đã chuẩn bị bài nh thế nào, thì sẽ dẫn đến tình trạng học sinh lời suy nghĩ, soạn bài một cách
Trang 10chống đối Nếu GV duy trì tốt công việc này sẽ tạo đợc cho học sinh nề nếp, thói quen chuẩn bị bài ở nhà
Tuy nhiên thực hiện việc kiểm tra nh thế nào vừa không mất nhiều thời gian, lại vừa thu đợc hiệu quả? Công việc này cũng là một nghệ thuật, đòi hỏi ngời GV phải linh hoạt khéo léo Xin đa ra một số cách nh sau:
1.2a Tiến hành kiểm tra vở soạn của học sinh:
- Khi tiến hành kiểm tra vở soạn, GV nên chú ý đến nội dung bài soạn, soạn nh thế nào, có đầy đủ không, còn thiếu nội dung gì, bài soạn đáp ứng đợc bao nhiêu phần trăm yêu cầu … ?
- Chú ý đến hình thức trình bày của học sinh, phát hiện ra những lỗi về trình bày văn bản từ đó có thể uốn nắn một cách kịp thời
Việc kiểm tra vở soạn không phải lúc nào, tiết học nào cũng tiến hành kiểm tra, vì thời gian trên lớp là không nhiều GV cần linh hoạt sao cho việc kiểm tra có hiệu quả
Ví dụ : Vào đầu giờ học, GV yêu cầu học sinh mở sẵn vở soạn để ra đầu
bàn, sau đó GV kiểm tra điểm một vài vở soạn bất kì ( nếu có nhiều thời gian có thể tiến hành kiểm tra nhiều hơn )
Hoặc : cuối buổi học GV thu một số vở soạn, tranh thủ thời gian kiểm tra
sau đó trả lại ngay cho học sinh
Cuối mỗi kì học, GV thu tất cả vở soạn bài về chấm và có nhận xét cụ thể
về nội dung, hình thức, ý thức soạn bài …
( điểm này có thể lấy làm điểm 15 phút )
1.2b Kiểm tra miệng kết hợp với kiểm tra sự chuẩn bị bài :
Mỗi giờ lên lớp mọi GV đều phải kiểm tra việc học bài cũ của học sinh, trong quá trình kiểm tra bài cũ GV có thể kết hợp kiểm tra việc chuẩn bị bài mới của học sinh Khi gọi học sinh lên bảng kiểm tra miệng, sau khi học sinh đã hoàn thành việc kiểm tra bài cũ, GV có thể đa ra câu hỏi nhằm kiểm tra xem học sinh đã chuẩn bị bài mới hay cha ( việc này sẽ tránh đợc tình trạng học sinh về nhà chép tài liệu mà không hiểu gì, hoặc lên lớp tranh thủ mợn vở của bạn chép lại ) có nhiều cách để đa ra câu hỏi kiểm tra
Ví dụ : khi dạy đến bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm GV có thể
đặt câu hỏi “ bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào, bối cảnh xã hội lúc đó ra sao ?”
“ Bài thơ thể hiện quan niệm sống nh thế nào cuả Nguyễn Bỉnh Khiêm ?”
Hoặc : khi dạy đến bài Bạch Đằng giang phú của Trơng Hán Siêu GV
có thể yêu cầu học sinh đọc một đoạn thơ mà mình thích hoặc thấy ấn tợng? Nếu có thể yêu cầu học sinh kể lại một điển tích, điển cố đợc sủ dụng trong bài thơ ?
Khi dạy đến bài Hng Đạo Đại Vơng Trần Quốc Tuấn GV có thể đặt câu
hỏi kiểm tra : Em có thể nêu một vài cảm nhận của em về nhân vật Trần Quốc
Tuấn ? Em có thể kể một câu chuyện về nhân vật này không ? …
Đây là những câu hỏi đơn giản, nếu học sinh đã chuẩn bị bài thì việc trả lời tốt những câu hỏi này không phải là khó khăn GV nên linh hoạt trong cách
đặt câu hỏi, sao cho có thể nắm bắt đợc sự chuẩn bị bài của học sinh, không nên lúc nào cũng chỉ đặt ra một dạng câu hỏi, và câu hỏi đa ra không nên yêu cầu quá cao
Bên cạnh đó, nếu học sinh nắm đợc nội dung cần thiết của bài học, thể hiện rằng mình đã chuẩn bị bài chu đáo, GV có thể cộng thêm điểm cho học sinh, nhằm động viên khuyến khích các em Còn nếu học sinh không trả lời đợc, hoặc trả lời lơ mơ, GV cũng nên nhắc nhở, uốn nắn kịp thời ( tuy nhiên không
đ-ợc trừ điểm của học sinh )