1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình thuế nguyễn đăng khoa

187 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quan hệ sản xuất xã hội, sự phát triển ngày càng cao của kinh tế hàng hóa, tiền tệ, sự gia tăng mạnh mẽ của quyền lực Nhà nước đã phát sinh những yêu cầu chi tiêu to lớn, đa dạng và phức

Trang 1

Khoa Kinh Tế - QTKD

Thuế

Tác giả: Nguyễn Đăng Khoa

Chương I: Bản Chất, Chức Năng, Vai Trò CủaThuế

Sự cần thiết và bản chất của thuế

Nguồn Gốc Và Tính Tất Yếu Khách Quan Của Thuế - Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Thuế

Thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử Thuế ra đời, tồn tại, phát triển cùng Nhà nước - một sản phẩm tất yếu của sự phân công lao động xã hội Lịch sử tiến hóa và phát triển của xã hội loài người đã chứng minh

có 5 hình thái xã hội: Xã hội cộng sản nguyên thủy, Xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội Tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa Trải qua sự phát triển của xã hội loài người, giai cấp đã xuất hiện và phân hóa thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Số người đại diện trong giai cấp thống trị xã hội

đó dần dần hình thành nên các tổ chức bộ máy cai trị xã hội và nó ngày càng được củng cố, hoàn thiện qua các chế độ xã hội - đó là Nhà nước Nhà nước ra đời đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị xã hội Đó là phạm trù lịch sử của Nhà nước Nhà nước xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội, đó là một

tổ chức bộ máy với nhiều hệ thống các cơ quan có chức năng nhiệm vụ khác nhau để tổ chức, cai quản xã hội Để hoạt động được Nhà nước cần phải có nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố tổ chức

Trang 2

bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở trong cả nước; chi cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn, cả về phạm vi và qui mô chi tiêu

Vậy thì bộ máy Nhà nước bao gồm một số người không trực tiếp sản xuất, không tạo ra thu nhập, nhưng lại rất cần có nguồn tài chính để chi tiêu, vậy nguồn tài chính đó lấy ở đâu ra? Nguồn tài chính đó chỉ có thể lấy từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xã hội trực tiếp lao động sản xuất tạo ra Nhưng lấy bằng cách nào? Lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước trong các chế độ xã hội trước đây và hiện nay đã

chứng minh rằng Nhà nước có ba hình thức động viên một phần thu nhập xã hội để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình là quyên góp, vay của dân và dùng quyền lực của Nhà nước buộc dân phải đóng góp Trong 3 hình thức trên thì quyên góp phải tùy thuộc vào khả năng và sự tự nguyện của mọi người, do đó

nó không công bằng, không lâu dài, không bảo đảm đuợc yêu cầu chi tiêu của Nhà nước , cho nên nó không cơ bản và chỉ được sử dụng trong những tình huống đặc biệt Hình thức vay dân thì có vay phải có trả Nhưng Nhà nước không tạo ra thu nhập thì lấy gì trả? Do đó hình thức vay dân cũng không phải

là cứu cánh mà nó chỉ đuợc sử dụng trong một số hoàn cảnh đặc biệt Rõ ràng chỉ có hình thức buộc dân đóng góp là cơ bản nhất, và đây cũng chính là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước Và hình thức để buộc dân đóng góp đó chính là thuế

Từ sự phân tích trên ta có thể thấy: Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước; vì Nhà nước và do Nhà nước Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan; vì vậy thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu

và đầu tiên là nhằm bảo đảm nguồn tài chính phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước

Bên cạnh đó, thuế là một phần thu nhập do những người dân trực tiếp lao động sản xuất tạo ra và đóng góp cho Nhà nước Như vậy một vấn đề đặt ra là nếu

số của cải vật chất do người dân sản xuất ra chỉ đủ nuôi sống bản thân họ thì làm gì có phần đóng góp cho Nhà nước để nuôi bộ máy gián tiếp? Về vấn đề này Các Mác đã nghiên cứu và phát hiện ra hai vấn đề quan trọng làm nền tảng cho những lý luận cơ bản về thuế là: quá trình tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng là hai thuộc tính cơ bản quan trọng của hàng hóa sức lao động Lao động với tư cách là hàng hóa - một loại hàng hóa đặc biệt, qua hoạt động lao động nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của nó, phần mới sáng tạo ra đó được Mác gọi là thu nhập Đó chính là cơ sở đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng,

là nguồn cho sự động viên tài chính Nhà nước Rõ ràng là thuế xuất hiện trong

xã hội loài người với 2 điều kiện cần và đủ là: sự xuất hiện của Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội Sự xuất hiện của Nhà nước tạo ra quyền lực tập trung để Nhà nước ban hành các luật lệ về thuế buộc các thành viên trong xã hội phải thực hiện Sự hình thành thu nhập trong xã hội là cơ sở tạo khả năng cho nguồn động viên về thuế Có thu nhập thì người dân mới có thể đóng góp cho Nhà nước và ngược lại Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và

Trang 3

quan hệ sản xuất xã hội, sự phát triển ngày càng cao của kinh tế hàng hóa, tiền

tệ, sự gia tăng mạnh mẽ của quyền lực Nhà nước đã phát sinh những yêu cầu chi tiêu to lớn, đa dạng và phức tạp, làm nảy sinh những biến đổi mới về thuế, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị đuợc hình thành và ngày càng phát triển có tính chất hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời Với bước tiến của lịch sử, chỉ dùng hình thức thuế không đủ để đáp ứng yêu cầu chi tiêu; nhất là chi cho những công việc đột xuất, cấp bách, Nhà nước đã áp dụng hình thức phát hành công trái hoặc phát hành giấy bạc Tuy nhiên thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu và cơ bản nhất của Nhà nước

Khái Niệm Thuế, Bản Chất Thuế, Các Hình Thức Của Thuế

a Khái niệm:

Thuế ra đời với những đặc trưng cơ bản như đã trình bày ở phần trên Nhưng thuế là gì? Học thuyết về thuế là một bộ phận cấu thành quan trọng của khoa học về tài chính Học thuyết này nghiên cứu về các quan hệ sản xuất trong sự tác động hỗ tương với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng Sự đa dạng của quan hệ sản xuất - đã làm cho một số quan hệ phân phối tách ra thành các quan hệ tài chính và từ đó hình thành nên những mối quan hệ phân phối mang hình thức thuế có tính độc lập tương đối

Mặc dù còn tồn tại một số bất đồng, song hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân, được Nhà nước qui định thông qua hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước

Ngoài ra còn có một khái niệm thuế được OECD đưa ra: “Thuật ngữ thuế được giới hạn trong khuôn khổ các khoản thanh toán có tính chất cưỡng chế, không

có tính chất bồi hoàn lại cho chính phủ”

Trang 4

Tính chất thứ hai là tính cưỡng chế của thuế Nó trở thành một phạm trù độc đáo và có nét riêng Tính cưỡng chế được thể hiện thông qua các điều khoản pháp luật Thuế không thể xây dựng trên và dung hòa với tư tưởng tự nguyện; khoản thuế thu được không thể trông chờ vào thiện chí hay nhiệt tình của dân chúng đối với Nhà nước Thuế thể hiện ý chí toàn dân chứ không riêng ai cả Đặc tính thứ ba của thuế là không có đối giá trực tiếp Nộp thuế cho Nhà nước không giống chi tiền mua một sản phẩm hay dịch vụ nào đó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng riêng tư Nộp thuế là một nghĩa vụ không thể thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ Nhà nước không liên quan

gì đến khối lượng thuế đã chi trả, thì việc trả tiền để nhận được một món hàng hoàn toàn mang tính chất tự nguyện và thường có sự tương xứng về mặt giá trị

Sự khác biệt giữa thuế và giá cả của hàng hóa - theo Ricahrd Goode và Luc de Wulf, hai chuyên gia của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) - thì “Những khác biệt của thuế và giá rất quan trọng và chúng khác biệt đến độ thuế thường được xem như là nặng nề hơn là giá cho dù người nộp thuế có tán thành các chi tiêu của Nhà nước, anh ta có thể không nhận thức được mối quan hệ trực tiếp nào giữa

số lượng thuế đã nộp và lợi ích cá nhân nhận được từ các hoạt động chung của Nhà nước Mặt khác, các người tiêu dùng tuy có phàn nàn về giá cả tăng cao nhưng lại nhận thức được một cái gì đó mình mong muốn Nhưng cũng cần lưu

ý là mặc dù không đối giá trực tiếp nhưng mọi khoản thuế dân chúng đã nộp sẽ quay lại với họ bằng nhiều con đường khác nhau thông qua chi tiêu từ ngân sách Nhà nước

Đặc tính thứ tư của thuế là dùng vào chi tiêu công cộng Đặc tính này giảm nhẹ

ý niệm cưỡng bách của thuế Ngày nay, quyền lực công cộng đã thuộc về toàn thể dân chúng, bộ máy Nhà nước do dân chúng điều khiển, còn Nhà nước dân chủ theo nghĩa nào và ở mức độ nào, thì ở đây không bàn đến, nên việc nộp thuế và sử dụng tiền thu từ thuế cũng do dân chúng quyết định Ngoài một phần cung cấp cho quản lý hành chánh, đại bộ phận thuế thu được chuyển giao lại cho người dân khi Nhà nước chi ngân sách cho văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, cho các chương trình nghiên cứu khoa học, chống ô nhiễm môi truờng, chống tệ nạn xã hội

Đặc tính thứ năm của thuế là vĩnh viễn Nộp thuế cho Nhà nước không giống cho Nhà nước vay, nên không thể đòi lợi tức và vốn đáo hạn Chúng ta biết rằng thuế dùng tài trợ công chi, mà phần lớn công chi là những khoản cấp phát, cho không Trên ý nghĩa đó, đóng thuế cho chính phủ là san sẻ một phần gánh nặng công chi

Xét về bản chất, thuế là một hình thức tái phân phối thu nhập xã hội do các doanh nghiệp và dân chúng sáng tạo, hình thành nên ngân sách nhà nước, nhằm tài trợ các nhu cầu chi tiêu công cộng Xét về hiện tượng, thuế là quá trình chuyển dịch một chiều thu nhập xã hội từ khu vực tư vào khu vực công cộng Như vậy nộp thuế thực chất là quá trình chuyển dịch chi tiêu tư thành chi tiêu vì lợi ích chung

Khu vực tư bao gồm những hoạt động của các pháp nhân và thể nhân không thuộc quyền sở hữu của chính phủ Hoạt động của khu vực này trước hết vì lợi

Trang 5

ích của chính nó và dựa trên cơ chế thị trường Khu vực tư hoàn toàn không thể cung cấp hoặc cung cấp kém hiệu quả những mặt hàng có tính không loại trừ hoặc không cạnh tranh trong tiêu dùng Đấy là thất bại của hệ thống thị trường

Khu vực công bao gồm những hoạt động của các cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương, các đoàn thể xã hội và các doanh nghiệp nhà nước Hoạt động của khu vực công nhằm tạo ra các hàng hóa dịch vụ công cộng và được ví như nỗ lực của chính quyền các cấp trong việc sửa chữa những thất bại của thị trường, tức là trang bị cho dân chúng những điều kiện tối thiểu khi bước vào đời sống kinh tế-xã hội mà hệ thống thị trường tư không làm được

Tái phân phối thu nhập xảy ra khi một tư nhân đóng một khoản tiền thuế cho nhà nước và nhận lại không tương xứng “lợi ích” từ công chi Nếu tư nhân đó nhận được “lợi ích” từ công chi tương xứng số tiền thuế anh ta đã nộp thì không

có sự tái phân phối Tái phân phối thu nhập xã hội gồm: tái phân phối theo chiều dọc và tái phân phối theo chiều ngang Tái phân phối theo chiều dọc nhằm san

sẻ thu nhập của các doanh nghiệp và cá nhân giàu; tái phân phối ngang nhằm điều hòa thu nhập giữa các doanh nghiệp và cá nhân thuộc các ngành, lĩnh vực hoặc các giới khác nhau Trên thực tế, những khác biệt giữa hai loại tái phân phối nói trên rất mờ nhạt

Tóm lại, đánh thuế là một đặc quyền chỉ thuộc về Nhà nước và thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong đời sống xã hội Nhà nước dùng thuế tái phân phối thu nhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô Trong xã hội dân chủ, mặc dù

không nhận đối giá trực tiếp từ số tiền thuế nhưng dân chúng cũng nhận được một cách gián tiếp thông qua lợi ích từ công chi Ở đây có điểm đáng nói, hành

vi nộp thuế của người dân mang tính cụ thể, cá nhân và trực tiếp, còn sự thụ hưởng lợi ích từ chi tiêu của chính phủ mang tính trừu tượng công cộng và gián tiếp Do đó, ngoài việc hành thu thuế thật tế nhị mà minh bạch, chính phủ cần phải công bố rõ ràng chương trình hành động của mình và tăng cường giáo dục

ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế ngay từ bậc tiểu học Như vậy, dân

chúng mới ý thức được sự cần thiết của thuế, mới xem nộp thuế là một việc làm

tự nhiên và cần thiết cho cuộc sống cộng đồng

c Các hình thức thuế (phân loại thuế):

Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Thời kỳ đầu khi hàng hóa chưa phát triển, thuế thường được thu bằng hiện vật Chế độ thu bằng hiện vật có mặt giản tiện cho người nộp thuế, làm ra thứ gì nộp thứ ấy; và Nhà nước sử dụng ngay số thuế bằng hiện vật ấy để chi dùng vào những nhu cầu cần thiết, thích hợp Nhưng thu thuế bằng hiện vật có mặt bất lợi cho việc thu nộp, bảo quản, không linh hoạt trong cả việc thu thuế và sử dụng số thuế thu được

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, kinh

tế hàng hóa - tiền tệ ra đời và phát triển, thuế được thu bằng tiền là chủ yếu Thuế thu bằng tiền, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành

và ngày càng phát triển có tính hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời làm cho thuế ngày càng đa dạng, phong phú linh hoạt

Trang 6

Sự phát triển của các hình thức thuế trong lịch sử có thể giải thích phần lớn bởi

lý do quản lý Do đánh thuế vào hàng nhập khẩu dễ dàng hơn là hàng hóa trong nội địa nên thuế nhập khẩu là một trong những loại thuế xuất hiện sớm nhất Tương tự thuế doanh thu là một loại thuế đơn giản đánh trên tổng giá trị hàng hóa ra đời rất lâu trước thuế GTGT Thuế đánh vào đầu người và thuế đánh vào bất động sản cũng tương đối dễ dàng thực thi nên đây là hai loại thuế trực thu đầu tiên được sử dụng

Phân theo góc độ người nộp thuế thì có thể chia làm hai loại Thuế trực thu và thuế gián thu Bản chất kinh tế của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Căn cứ mức thuế qui định trong luật thuế, người nộp thuế tự tính và trích một phần thu nhập của mình trực tiếp nộp cho Nhà nước, tức là thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế Ưu điểm của thuế trực thu

là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập vừa thì phải nộp ít hơn, người không có thu nhập thì không phải nộp thuế Thuế trực thu còn cho phép tính đến những yếu tố có tính độc lập với thu nhập của người nộp thuế như: hoàn cảnh bản thân; tình trạng hôn nhân; hoàn cảnh gia đình Nhưng thuế trực thu cũng có những mặt bất lợi là: việc tính toán phức tạp hơn, dễ dẫn đến tình trạng tính toán đúng thì nộp thuế đúng, tính toán không đúng thì nộp thuế không đúng và thường là phải xác định rõ thu nhập thì mới thu được thuế cho nên thường rất chậm Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được đủ thuế, có trường hợp thu thiếu thì phải nộp thêm, thu thừa thì phải thoái trả Một trở ngại khác là thuế thu trực diện vào thu nhập của tổ chức, cá nhân nên về tâm lý là dễ bị phản ứng Mặt khác nếu chỉ thu thuế trực thu thì diện quản lý thu thuế sẽ rất rộng Tốn nhiều công sức mà hiệu quả thấp Chính vì vậy, để động viên vào tất cả mọi người trong xã hội, người ta sử dụng thuế gián thu cùng với thuế trực thu hợp thành hệ thống thuế thống nhất, trong đó các loại thuế vừa thực hiện nhiệm vụ chính của mình, vừa hỗ trợ nhau để phát huy tác dụng đồng bộ của cả hệ thống thuế

Thuế gián thu thường là thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tiêu dùng, thuế nhập khẩu… Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang cho người mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bằng cách cộng gộp số thuế đó vào giá bán hàng hóa, dịch vụ Do đó người nộp thuế không phải là người chịu thuế mà người chịu thuế chính là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Thuế gián thu bảo đảm được sự lựa chọn của người chịu thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ mà họ quyết định mua; bảo đảm được tính tự nguyện chịu thuế Người sản xuất kinh doanh khi bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sẽ thu thuế gián thu cùng với giá bán hàng và nộp khoản thuế này vào ngân sách Nhà nước Gọi là thuế gián thu vì Nhà nước thu thuế vào người tiêu dùng nhưng lại không thu trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà lại thu gián tiếp qua người bán hàng hóa, dịch vụ Trên ý nghĩa đó, người sản xuất kinh doanh thu thuế gián thu khi bán háng hóa, dịch vụ nếu không nộp đầy đủ

số thuế đã thu vào ngân sách Nhà nước thì có thể coi là hành động tham ô, chiếm đoạt công quỹ

Trang 7

Có thể nói thuế gián thu là loại thuế do toàn dân đóng góp; nghiệp vụ tính thuế

và thu thuế đơn giản, thu kịp thời hơn thuế trực thu; thuế gián thu nằm kín trong giá cả cho nên dễ thu hơn; người chịu thuế khó nhận biết là mình phải nộp thuế nên ít phản ứng hơn Thuế gián thu mang lại nguồn thu thường xuyên và tương đối ổn định cho ngân sách Nhà nước vì bất luận trong hoàn cảnh nào thì sự tiêu dùng của con người và xã hội cũng luôn diễn ra và có xu hướng ngày càng phát triển Đối tượng quản lý thuế gián thu cũng hẹp hơn so với thuế trực thu, chỉ cần quản lý vào số doanh nghiệp kinh doanh sản xuất hàng hóa, dịch vụ là có thể thu được thuế của tất cả những người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ trong xã hội Đối với những nước có nền kinh tế chưa phá triển, thu nhập còn thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu của ngân sách Nhà nước Mặt nhược điểm của thuế gián thu chính là tính lũy thoái của nó Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại sản phẩm hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn người nghèo; người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu trên thu nhập càng thấp

Nếu phân loại theo tính chất lũy tiến và lũy thoái thì có thể phân thành thuế lũy tiến, thuế theo tỷ lệ và thuế lũy thoái

Bảng 2-3: Các loại thuế được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển

Thuế trực

thu Thuế đánh trên tài sản

· Thuế đất · Thuế nhà · Thuế doanh nghiệp

· Thuế đánh trên chứng khóan

Thuế thu nhập thể nhân và pháp nhân

· Thuế TNCN · Thuế lợi tức công ty · Thuế lợi tức siêu ngạch

· Thuế lợi tức do nghề khai thác

mỏ

· Thuế đánh vào sự gia tăng vốn

· Thuế đánh vào lợi tức có được từ vốn tiền tệ

· Thuế di sản và tặng vật · Thuế tài sản cá nhân

Trang 8

· Thuế tiêu dùng tổng hợp

- Thuế đánh một lần (tổng gộp)

- Thuế đánhnhiều lần (nhiều giai đoạn)

· Thuế GTGT · Thuế muối

· Thuế thuốc lá · Thuế diêm Thuế độc quyền tài chính

· Theo nguồn gốc - Thuế xuất khẩu

- Thuế nhập khẩu - Thuế quá cảnh · Theo mục đích

- Thuế để phục vụ cho huy động vốn NSNN

- Thuế bảo hộ mậu dịch

- Thuế siêu bảo hộ mậu dịch

- Thuế chống bán phá giá - Thuế

- Khoản nộp của người làm thuê

- Khoản nộp của người sử dụng lao động

Thuế lũy tiến là loại thuế theo đó tỷ lệ đóng thuế tăng lên theo thu nhập Ở nhiều nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, người ta sử dụng thuế lũy tiến đánh vào thu nhập một cách rộng rãi

Thuế theo tỷ lệ là loại thuế tính bằng một tỷ lệ cố định trên thu nhập

Thuế lũy thoái là loại thuế đặt gánh nặng thuế lớn hơn lên đầu những gia đình

có thu nhập thấp so với những gia đình có thu nhập cao

Giữa tính lũy thoái hay lũy tiến và việc đánh thuế trực thu hoặc gián thu có quan

hệ rất chặt chẽ, nhưng đôi khi hơi mơ hồ đối với người nộp thuế

Trang 9

Cấu trúc thuế của nước Mỹ đặt nặng vào thuế thu nhập là một loại thuế lũy tiến-

để gieo ấn tượng đó là một loại thuế công bằng Tuy nhiên, cần chú ý vì từ “lũy tiến” có thể gây nhầm lẫn Đó là thuật ngữ liên quan thuế đánh vào những khoản thu nhập khác nhau Sẽ là sai lầm nếu cho rằng từ lũy tiến có nghĩa tình cảm, tức là hiện đại hoặc tự do, hoặc đặc biệt đúng đắn

Nếu phân loại theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách

Dựa vào tiêu thức này, thuế thường được phân thành: Thuế nhà nước và thuế địa phương

Thuế Nhà nước là loại thuế được huy động bởi chính phủ trung ương trên cơ

sở pháp luật và được tập trung vào ngân sách Nhà nước Ở các nước công nghiệp phát triển thì thông thường thuế thu nhập, thuế TNCT, thuế quan thuộc nhóm này Ở Việt Nam, thuế nhà nước có thể tạm hiểu là các loại thuế được thu 100% vào ngân sách trung ương; còn thuế địa phương là các loại thuế được thu 100% vào ngân sách địa phương Ngoài ra còn có thể điều tiết giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phuơng; đây là các loại thuế được phân phối giữa các cấp ngân sách theo những tỷ lệ nhất định nhằm góp phần bảo đảm cân đối một cách linh hoạt giữa các cấp trong hệ thống NSNN

Thuế địa phương là loại thuế được chính quyền địa phương thu trên phạm vi lãnh thổ được phân công và được nộp vào ngân sách địa phương Thông

thường, trong khuôn khổ nhất thể hóa về mặt cơ cấu thuế ở các nước công nghiệp phát triển, chính quyền địa phương được ưu tiên thu và tập trung vào ngân sách địa phương thuế tiêu dùng cá nhân và thuế tài sản

Phân tích quan hệ tương quan giữa hai loại thuế này, các nhà kinh tế đều thống nhất rằng tại các nước công nghiệp phát triển tốc độ tăng của thuế điạ phương vượt đáng kể tốc độ tăng của thuế Nhà nước Bởi lẽ, Nhà nước trung ương do phải đương đầu với tình trạng thâm hụt ngân sách đã trút các chi phí gắn liền với việc điếu tiết kinh tế, đảm bảo xã hội sang tay chính quyền địa phương Nếu phân loại theo phương thức sử dụng có thể phân thành thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng

Thuế tổng hợp là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhau

nhưng được tập trung vào một quỹ tập trung thống nhất của Nhà nước và được

sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế-xã hội có tính chất toàn quốc Thuế chuyên dùng là loại thuế thu từ một nguồn hoặc một số nguồn đơn lẻ nhất định nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định Quỹ này được sử dụng gắn với những mục đích đã được xác định trước Ví dụ điển hình nhất là thuế xăng dầu ở các nước trong liên minh châu Âu Chính phủ các nước này đánh thuế rất nặng vào mặt hàng xăng dầu với các lý do như: khuyến khích việc tiết kiệm sử dụng năng lượng dầu mỏ, lấy tiền thuế thu đuợc để dùng vào việc bảo

vệ môi trường và đầu tư, nghiên cứu tìm ra các loại nguyên liệu sạch thay thế dầu mỏ Trên thực tế, đây là một nguồn thu lớn của ngân sách và các khoản thu được từ thuế xăng dầu - theo nhiều người - lại được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau mà nhiều khi không dính dáng gì với các mục tiêu đã đề ra

Trang 10

Cách phân loại này đã được hình thành từ trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời Ngày nay, chính phủ các nước công nghiệp phát triển chủ yếu là qui định các loại thuế tổng hợp Tuy nhiên họ vẫn còn duy trì một vài loại thuế chuyên dùng nhất định để thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách, quan trọng Một số nước còn

đi xa hơn nữa trong việc sử dụng thuế tiêu dùng, thuế bảo vệ môi trường như là các loại thuế chuyên dùng để bù đắp chi phí xã hội trong việc đấu trang chống

tệ nạn nghiện hút, sử dụng ma túy, tiêu dùng rượu quá mức nhằm lành mạnh hóa môi trường xã hội và tự nhiên Ở nước ta, một số lệ phí, ví dụ như phí giao thông có thể xem là một sắc thuế chuyên dùng

Chức Năng Của Thuế

Trong thế kỷ XIX thì ý kiến phổ biến là thuế nên chủ yếu giữ vai trò tài trợ cho chính phủ nhưng cho đến nay thì thuế còn được sử dụng để đạt đến nhiều mục tiêu khác nhau Thông thường nhiều tác giả cho rằng thuế có hai chức năng chủ yếu đó là: chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế Một cách nhìn hơi khác - cũng tương đối hữu ích của một chuyên gia nổi tiếng

về thuế của Mỹ là Richard A Musgrave - cho rằng thuế có ba mục tiêu chính: (i) phân phối các nguồn lực; (ii) tái phân phối thu nhập; và (iii) ổn định nền kinh tế Tăng trưởng hay phát triển kinh tế và khả năng cạnh tranh thường được coi như những mục tiêu riêng rẽ nhưng nói chung có thể sắp xếp nó như một mục tiêu thuộc nhóm (iii)

Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc thù nhất mà tất cả các nhà nước đều phải dựa vào đó Thông qua chức năng này, các quỹ bằng tiền của Nhà nước được hình thành Đây chính là sức mạnh

cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động và tồn tại của Nhà nước Khi bàn đến chức năng tài chính của thuế, một số người thường đơn giản cho rằng: thuế là phương tiện tạo nguồn thu nhập - theo nghĩa đơn thuần trưng thu tiền - đối với Nhà nước Điều đó không hoàn toàn chính xác, bởi lẽ Nhà nước có thể có tiền bằng nhiều cách khác nhau: yêu cầu ngân hàng trung ương mở rộng tín dụng, phát hành thêm tiền Nhưng việc sử dụng những phương cách này đương nhiên phải được Nhà nước cân nhắc, bởi lẽ chúng chứa đựng những mầm mống của nguy cơ lạm phát Bởi vậy, ngoài việc phát hành tín dụng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, Nhà nước có thể sử dụng thuế một cách thường xuyên và lâu dài Mục tiêu thực sự của chính sách thuế theo nhiều nhà kinh tế là “rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế để những người đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với các tài nguyên kinh tế và làm cho tài nguyên này thành khả dụng đối với Nhà nước” Theo John Mikesell, sự chuyển dịch tài nguyên đó bao gồm:

a Sự chuyển dịch khả năng mua hàng giữa các nhóm người trong khu vực các doanh nghiệp

b Sự dịch chuyển quyền kiểm soát đối với khả năng mua hàng từ khu vực các doanh nghiệp sang tay Nhà nước

Lịch sử đã cho thấy: chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng tăng, nhất là vào thể kỷ XX, là thế kỷ được đặc trưng bởi sự tăng lên chưa từng

Trang 11

có của thu nhập của Nhà nước có nguồn gốc từ thuế Điều này được giải thích bởi sự mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh

tế

Trong những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ II, thu nhập về thuế của các nước công nghiệp phát triển tăng mỗi thập kỷ 1,5 lần hoặc hơn nữa (có tính đến yếu tố trượt giá) Đồng thời người ta ghi nhận có sự gia tăng số thu về thuế so với thu nhập quốc dân Trước chiến tranh thế giới thứ II, nếu tỷ lệ này là 20-25% thì vào nửa đầu những năm 70; ở Nhật con số tương ứng là 34%, ở Pháp

là 47% (có tính đến khoản tiền nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội) Vào giữa những năm 70 của thế kỷ này tốc độ tăng thu nhập về thuế hơi chậm lại, tỷ trọng của thuế so với thu nhập quốc dân tương đối ổn định Tuy nhiên, hiện nay hàng loạt các nước công nghiệp phát triển, tỷ trọng của thuế cũng còn rất cao, trong khoảng từ 43-45% (ở Thụy Điển, Đan Mạch, Ireland tỷ trọng này đạt hơn 50%;

ở Anh, Ý, CHLB Đức, Pháp, Áo, Bỉ, Hà Lan, Na Uy là khoảng 50%; còn ở Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Mỹ, Nhật tỷ lệ thuế trên GNP xấp xỉ 1/3)

Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được Nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “Nhà nước hóa” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho sự ra đời

và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế

Bàn đến chức năng điều tiết kinh tế của thuế có nghĩa là phải xem thuế như là một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế, mà cả hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ Khi sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận GDP vào tay mình thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất

Nếu các nhà nước ở Liên Xô và Đông Âu trước đây hầu như thụ động trong việc vận dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế, thì tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay kể cả tại các nước đang phát triển, chức năng điều tiết kinh tế ngày càng được chú ý và càng được tăng cường đáng kể Tại các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển có hệ thống thuế ổn định, thuế tác động vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trên

cả ba yếu tố mà chúng sử dụng: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Công nhân và người làm thuê, sau khi nhận được tiền lương sẽ chi dùng

số tiền cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ và nộp thuế Vào lúc này, thuế sẽ tác động đến quá trình sản xuất theo 3 hướng:

Thứ nhất, thuế sẽ ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua cơ chế của mức cầu thị trường có thể thúc đầy hoặc kiềm hãm sản xuất Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng - thông thường là dành toàn bộ cho tiêu dùng - và vì thế sự thay đổi mức thuế đánh vào

Trang 12

tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu và nói chung, ảnh hưởng đến tổng mức cầu có khả năng thanh toán được của nền kinh tế Nói một cách cụ thể hơn, ở đây có hai tác dụng:

Đầu tiên, thuế làm giảm thu nhập của nhân dân Với việc làm nhỏ đi phần thu nhập có thể chi tiêu cho các hộ gia đình, thuế cao hơn có xu hướng làm cho các

hộ gia đình giảm mức chi cho tiêu dùng của họ, do đó làm giảm mức cầu và GNP thực tế

Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức sản lượng tiềm năng Ví dụ: vào năm 1981 do chính quyền Reagan đưa ra một số ưu đãi về thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư kinh doanh máy mới nên các khoản đầu tư vào các ngành kinh doanh máy móc, nhà máy đã gia tăng

Thứ hai, mức độ đánh thuế trên thu nhập cũng ảnh hưởng đến việc xác định tiền lương, bởi vì khi tính toán tiền lương giới chủ và người làm thuê bao giờ cũng chú ý đến tiền thuế như là một yếu tố của tiền lương phải được xem xét tới

Thứ ba, thuế còn tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hồi tài sản cố định (TSCĐ) trong doanh nghiệp, thông qua các qui định của Nhà nước về hình thành, sử dụng quỹ khấu hao Như mọi người đều biết, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình cho đến khi không còn tác dụng nữa Sau đời phục vụ của mình, TSCĐ cần được phục hồi Việc phục hồi này được tiến hành bằng cách lập quỹ khấu hao,

là một loại quỹ, mà xét theo quan điểm của cơ quan thuế, được hình thành từ một bộ phận lợi tức không phải chịu thuế Quy mô của quỹ khấu hao - vốn là nguồn để tái sản xuất TSCĐ - trong chừng mực đáng kể chịu sự tác động của mức thuế (nhất là thuế lợi tức)

Chế độ khấu hao là một bộ phận quan trọng trong các phương pháp kích thích các doanh nghiệp Ví dụ: ở Ý, chi phí khấu hao được loại khỏi lợi tức chịu thuế lên đến 16%, Pháp 10-11%, ở Nhật, Anh, Thụy Sĩ và Mỹ 5,5-8%

Giữa hai chức năng (chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế) của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ Mối quan hệ này - xét về bản chất - phản ánh sự thống nhất của hai mặt đối lập Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế Một khi mà các nguồn tài chính mà nhà nước tập trung được dưới dạng thuế gia tăng đáng kể thì lúc đó việc này lại tạo điều kiện khách quan để Nhà nước tác động trên diện tích rộng và cả theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân

và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại Do đó, các chức năng của thuế, trước hết quan hệ

hỗ tương và tác động lẫn nhau

Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn tồn tại giữa chúng, bởi lẽ mỗi chức năng phản ánh từng mặt nhất định

Trang 13

của các quan hệ có tính chất thuế vẫn luôn luôn mâu thuẫn với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại phản ánh các mối quan hệ giữa Nhà nước hướng tới người nộp thuế Ngay trong chức năng phân phối và phân phối lại đã chứa đựng những mầm mống của sự phát triển mâu thuẫn giữa một bên là sự cần thiết mở rộng nguồn thu vế thuế của Nhà nước với một bên là sự phản kháng và sự không hài lòng của các thành viên trong xã hội khi nộp thuế

Mâu thuẫn của chức năng điều tiết kinh tế biểu hiện ở chỗ: nhu cầu thực tế của

sự can thiệp của Nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh đụng chạm phải lợi ích kinh tế của từng nhà doanh nghiệp Trong khi hình thành và vận dụng một chính sách thuế, nhiều chính phủ thuờng hay mắc sai lầm: không tôn trọng đầy đủ cả hai chức năng, thường xem trọng chức năng này hơn chức năng kia và ngược lại; điều này rõ ràng làm tổn hại đến chức năng còn lại và là nguyên nhân dẫn đến chính sách thuế thóat ly cơ sở hiện thực về kinh tế - xã hội của đất nước Trên thực tế, lỗi lầm phổ biến nhất của các chính phủ là do cần phải bù đắp những thiếu hụt của ngân sách nên thường chú trọng tới chức năng phân phối và phân phối lại hơn là chức năng điều tiết kinh tế của thuế, điều này dẫn tới giảm nhẹ vai trò của thuế đối với hoạt động của doanh nghiệp,

từ đó ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống

Vai Trò Của Thuế Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

Thuế - Công Cụ Phân Phối Thu Nhập Và Ổn Định Hoá Nền Kinh Tế

Ngoài chức năng phân phối, thuế còn đảm nhiệm việc tái phân phối thu nhập và

ổn định mức cầu Chức năng này đã có một lịch sử lâu đời Việc sử dụng thuế

để tái phân phối hoặc làm chức năng ổn định hóa mới chỉ được biết đến trong một thời gian gần đây

khuyến tật, già yếu, bệnh hoạn, thất nghiệp không có bất kỳ tài sản nào được tích lũy lại cũng sẽ không thu hoạch được nguồn thu nhập nào Các hộ gia đình sống phụ thuộc vào các lao động không có kỹ năng sẽ nhận được ít thu nhập Ngược lại, có những người được thừa kế tài sản, vốn được tích lũy từ thế hệ trước hoặc tài năng thì có thể nhận được thu nhập gấp hàng chục lần - thậm chí hàng trăm - lần so với những người thuộc tầng lớp trung lưu Do đó, thực hiện việc tái phân phối qua công cụ thuế là điều hợp lý Ở đây người ta ghi nhận sự đồng tình, nhất trí giữa các giới khác nhau đối với vấn đề sử dụng thuế với các

lý do nói trên, nhưng các nhà kinh tế và các chính khách lại khó đạt được những điểm chung căn bản nhất đối với vấn đề xác định phạm vi tái phân phối và mức

Trang 14

độ sử dụng thuế để đạt được mục tiêu này Ở các nước phương Tây, một bộ phận mong muốn một sự can thiệp ở mức độ tối thiểu bằng các công cụ thị trường Họ cổ vũ cho sự nỗ lực làm giảm đói nghèo tuyệt đối và sử dụng nguồn thu từ thuế đánh theo tỷ lệ để làm điều đó Một bộ phận khác lại ủng hộ cho chủ trương làm giảm độ nghèo đói tương đối lẫn tuyệt đối Để đạt được mục tiêu này, theo họ, thì nên sử dụng một hệ thống thuế có tính chất lũy tiến đánh theo nhiều tỷ lệ khác nhau căn cứ vào tùng bậc thu nhập không giống nhau và như vậy, người giàu sẽ bị đánh thuế nhiều hơn người nghèo

1.2 Ổn định hóa

Đây là một trong bốn chức năng kinh tế của chính phủ mới được thừa nhận gần đây, mặc dù còn tồn tại nhiều quan điểm - nhất trí hay đồng tình - của các giới khác nhau và đã có nhiều tranh cãi gay gắt giữa những nhà kinh tế và các chính trị gia về phạm vi phân phối và mức độ sử dụng Một Nhà nước phúc lợi hiện đại thực hiện bốn chức năng kinh tế: (i) định ra các khuôn khổ kinh tế - luật pháp, hiến pháp và các qui tắc của trò chơi kinh tế; (ii) thiết lập chính sách ổn định hóa kinh tế vĩ mô để san bằng các đỉnh cao và đáy thấp của nạn thất

nghiệp và để kiềm chế lạm phát; (iii) phân bổ nguồn lực cho hàng hóa công cộng bằng cách đánh thuế, chi tiêu và điều tiết khi có sự thất bại của thị trường;

và (iv) phân phối lại tài nguyên bằng cách chuyển giao phúc lợi xã hội Nhưng khi bàn đến vấn đề dùng công cụ thuế để đáp ứng nhu cầu phân phối thì họ lại cùng nhau nhất trí rằng việc phân phối qua công cụ thuế là một trách nhiệm phải có của chính phủ Điều này không hề liên quan đến cái được gọi là ổn định hóa Các nhà kinh tế theo trường phái Keynes lập luận rằng để duy trì nền kinh

tế luôn luôn ở trạng thái ổn định thì cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước Các nhà kinh tế theo trường phái cổ điển (trọng tiền) xem xét nền kinh tế như một thế ổn định, với các thị trường vận hành một cách tự do và toàn dụng, như vậy tự bản thân nó đã ổn định rồi và sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế

là không cần thiết J.M Keynes đã đưa ra lý thuyết và chính sách của ông trong những năm chiến tranh - khi mà nước Anh lâm vào cuộc đại khủng hoảng với mức độ cao, đồng thời người dân phải tự lực cánh sinh - không nhận được gì từ chính phủ của họ cả Quan điểm của ông như sau: nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không tự nó đạt đến mức toàn dụng Sự toàn dụng trong quá khứ chỉ là do sự thiếu hụt của mức cầu và qui luật của J.B Say đưa ra - mức cung tự đẻ ra mức cầu cho chính nó - là không hề có thật Cần giành cho chính phủ một vai trò làm gia tăng mức cầu để từ đó đạt đến mức toàn dụng Chính phủ phải làm điều đó bằng cách gia tăng đầu tư để tận dụng hiệu ứng số nhân xảy ra đối với việc làm

và năm 1944, một bản luận trình về chính sách và công ăn việc làm thừa nhận

Trang 15

rằng cần phải dành cho chính phủ nhiệm vụ kiểm soát nền kinh tế nhằm mục đích tránh được tình trạng thất nghiệp cao trong thời kỳ 1920-1930

Sau những năm chiến tranh, tình trạng thất nghiệp đã được duy trì ở mức thấp

Tỷ lệ 3% - ranh giới giữa mức toàn dụng và thất nghiệp - không phải chờ đến những năm 1960 mới đạt được Người ta ghi nhận sự tồn tại của một chu kỳ 5 năm sự trồi sụt kinh tế có thể chấp nhận được Như vậy, điều tốt đẹp mà chức năng ổn định hóa mang lại là vai trò chỉnh rõ tức là vai trò cố gắng đảm bảo một

sự điều chỉnh mức cầu trong ngắn hạn để đạt được những cân đối hết sức tinh

tế giữa lạm phát thấp và chỉ tiêu công ăn việc làm Các quyết định sửa đổi về thuế tỏ ra xứng hợp với mục tiêu trên hơn so với các quyết định trung ương điều chỉnh về chi tiêu công

Như vậy, mặc dù Keynes đã từng phác họa ra việc sử dụng đầu tư để thay đổi mức cầu, nhưng trên thực tế, các chính phủ lại có xu hướng dựa vào công cụ thuế Trong những năm được gọi là thời kỳ của chủ nghĩa trọng tiền, tức là trước năm 1979, đã có nhiều công trình nghiên cứu thiên về chủ đề đánh giá hiệu năng của chính sách thuế Có một sự thống nhất cao đạt được giữa các tác giả, đó là: không có sự hiệu quả và sự mất ổn định thường ở mức tệ hại Điều này được tóm tắt qua câu: “quá nhiều, quá trễ” Những kết luận này do những người theo trường phái Keynes - những người theo đuổi chủ trương cải tiến sự vận hành của các chính sách - rút ra

Những người phê phán theo trường phái trọng tiền đã nêu ra nhiều luận điểm

có tính chất phản bác Họ xem xét nền kinh tế như một thể ổn định và lập luận: nếu thị trường được phép vận hành một cách tự do thì mức cung bằng với mức cầu trên thị trường lao động cũng như trên thị trường hàng hóa Họ cho rằng không cần thiết phải điều chỉnh mức cầu, bởi vì điều này là không hợp lý và tốt hơn hết là chính phủ chỉ nên thực hiện chức năng đặt ra các luật lệ hơn là trực tiếp can thiệp vào thị trường Ở Anh, chính phủ của Đảng Bảo thủ đã theo quan điểm này ngay từ năm họ bắt đầu cầm quyền thay thế cho chính phủ Công Đảng; còn ở Mỹ, ngược lại, dưới thời của tổng thống Reagan, chính phủ đã thực hiện hai cuộc thí nghiệm thuyết trọng cung từ năm 1979 đến năm 1981 với nội dung cốt lõi là cắt giảm thuế để tác động vào sản lượng tiềm năng và từ đó giải quyết các gánh nặng về công ăn việc làm và sức ép của lạm phát Với biện pháp chủ yếu là cắt giảm 25% đối với tất cả các khoản TNCN, được thực hiện làm ba giai đoạn và kết thúc vào tháng 7/1983, hậu quả xảy ra là làm giảm sút thu nhập liên bang và thâm hụt ngân sách to lớn vào giữa những năm 1980 Một phần của tình trạng này do bởi những biện pháp được thi hành dựa vào việc phân tích thực trạng của nước Mỹ theo quan điểm của đường cong Laffer một cách thiếu căn cứ Theo các tiêu chuẩn khoa học cổ điển, cuộc thí nghiệm năm 1981 gợi ý rằng các lý thuyết trọng cung phải bị bác bỏ

Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể rút ra rằng, thuế là phạm trù tài chính

và được sử dụng để tạo ra các nguồn tài lực thực hiện các chức năng của nhà nước đương quyền, đồng thời nó cũng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu lực của nhà nước Bằng vai trò to lớn đó, thuế không ngừng được hoàn thiện và thích ứng với những chu kỳ của quá trình phát triển

Trang 16

Thuế - Công Cụ Khắc Phục Khiếm Khuyết Của Thị Trường

Qua phân tích từ đầu, có thể thấy rằng việc phân bổ các nguồn lực tài chính để thỏa mãn các nhu cầu vể hàng hóa và dịch vụ công cộng là mục tiêu hàng đầu của thuế về mặt lý thuyết, thị trường là nơi hoàn hảo để người dân có thể thỏa mãn các nhu cầu trực tiếp của mình nhằm đạt đến mức độ tối ưu hóa các phúc lợi nhận được Nhưng kinh tế học hiện đại và thực tiễn chỉ ra rằng đôi khi thị trường phải chịu thất bại, như trường hợp mt số hàng hóa, dịch vụ công cộng: người dân có nhu cầu nhưng thị trường không thể cung ứng nổi hoặc chỉ được cung ứng dưới mức cầu Đây là lúc mà cần phải có vai trò của thuế và các chi tiêu công cộng để sửa chữa sự “bất lực” về phân phối của thị trường

2.1 Hàng hóa công cộng

Thị trường hoàn toàn chịu thất bại trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng Điều này xảy ra bởi vì các loại hàng hóa này có tính chất đặc biệt Một hàng hóa hay dịch vụ mà được coi là công cộng nếu một hoặc cả hai tính chất sau đây được thỏa mãn:

Sự phát sinh thêm một người tiêu dùng loại hàng hóa (hay dịch vụ) này hoàn toàn không làm tăng thêm chi phí Ví dụ: có thêm một người đi bộ trên một con đường được chiếu sáng vào ban đê không làm tăng thêm chi phí thắp sáng đường sá; hoặc thêm một chiếc ô tô đi qua cầu vào lúc vắng xe cũng không làm phát sinh thêm chi phí Để đạt được mức phúc lợi tối đa qua việc thụ hưởng các hành hóa nêu trên, và các loại hàng hóa tương tự, người dân cần được cung cấp chúng với giá bằng 0 Không một nàh tư nhân nào sẵn sàng làm việc này

và chỉ có Chính phủ mới phải đảm trách việc sản xuất và cung ứng chúng (tất nhien là qua trung gian của nhà thầu) miễn phí Ở đây, việc đánh thuế sẽ đóng vai trò cung cấp các nguồn lực tài chính

Sự tồn tại của những ke ăn không Điều đó có nghĩa rằng sự cung cấp của thị trường đối với hàng hóa công cộng là không thể xảy ra được Một kẻ “ăn không”

là một người được tiêu dùng hàng hóa phải tốn kém mới sản xuất ra được mà không phải trả tiền cho hàng hóa đó Vấn đề kẻ ăn không đặc biệt được áp dụng cho hàng hóa công cộng vì tính chất không thể phân chia của chúng Ví

dụ như vấn đề quốc phòng, giả sử có một thị trường được thiết lập dành cho quốc phòng Thậm chí mỗi người đều cảm thấy rằng chúng ta cần quốc phòng, thì ngược lại, không một ai có động cơ để mua phần đóng góp của mình vào quốc phòng cả Vì lượng quốc phòng mà tôi có cùng bằng bất kỳ lượng của ai khác, cho nên tôi có động cơ rất mạnh là đợi cho bất kỳ ai khác mua hàng hóa

đó chứ không dại gì đóng góp phần công bằng của mình Tôi sẽ được ăn không tất cả những thứ do bất kỳ ai khác mua Nhưng tất nhiên, nếu ai cũng được tất

cả những người khác mua quốc phòng, thì sẽ không có hàng hóa quốc phòng nữa

Ngoài các ví dụ nêu trên, hàng hóa công cộng còn bao gồm các luật lệ và quy tắc, việc làm sạch đường, phòng chống lũ lụt

Trang 17

Để sửa chữa thất bại của thị trường trong việc cung cấp hàng hóa công cộng, chính phủ buộc phải đánh thuế vào người dân, làm mọi người được hưởng hàng hóa công cộng

Xét về một khía cạnh đơn giản hơn, hàng hóa công cộng khác vơi hàng hóa tư nhân ở đặc điểm sau đây: “Hàng hóa công cộng là một loại hàng mà thậm chí

có một người dùng tới rồi, thì những người khác vẫn dùng được” Trong khi đó hàng hóa tư nhân (hoặc cá nhân) là một loại hàng mà nếu được một người tiêu dùng rồi thì ngườikhác không thể dùng được nữa

Hàng hóa công cộng - dù là các hàng hóa đã được trình bày ở trên, hay là lúc bạn nghĩ về người sĩ quan cảnh sát đi tuần, một loại vắc xin chống bệnh đậu mùa … hoặc bất cứ một hoạt động nào của chính phủ - có yếu tố chung sau đây: “Lợi ích của một hàng hóa công cộng không giống như của một hàng hóa thuần túy tư nhân do bởi việc một cá nhân tiêu dùng hàng hóa công cộng sẽ tạo

ra những tác động tiêu dùng bên ngoài không phân chia được đối với nhiều người chứ không phải chỉ một cá nhân đó Ngược lại, nếu một mặt hàng có thể chia nhỏ được có thể bán riêng từng phần với giá cạnh tranh cho một cá nhân

mà không có tác động bên ngoài đối với người khác thì đó là một mặt hàng tư nhân Hàng hóa công cộng đòi hỏi phải có hành động tập thể trog khi hàng hóa

tư nhân có thể do thị trường cung cấp”

2.2 Hàng hóa hỗn hợp

Có nhiều hàng hóa tuy do chính phủ cung cấp nhưng không được xếp vào nhóm hàng hóa công cộng, ví dụ như giáo dục, chăm sóc sức khỏe và thu dọn rác… dù chúng cung cấp được lợi ích mang tính chất độc quyền; bởi lẽ những người tiêu dùng thêm vào sẽ làm tăng chi phí và sự độc quyền lúc nào cũng có thể thực hiện được (dịc vụ này có thể bị những kẻ ăn không chối từ) Tuy nhiên chúng lại được cung cấp bởi khu vực công và do đó chúng đòi hỏi phải có thuế tài trợ Có hai cách giải thích về điều này: thứ nhất, đó là những trục trặc trong việc phân phối của thị trường và thứ hai, là các lý do liên quan đến viẹc tiêu dùng các mặt hàng khuyến dụng Những hàng hóa này được gọi là hàng hóa hỗn hợp Đó là các hàng hóa tạo ra lợi ích bên ngoài cũng như lợi ích của cá nhân nhưng nếu được cung cấp bởi thị trường thì mưc cung sẽ nằm dưới mức cầu Thị trường của hàng hóa hỗn hợp không phải chịu thất bại hoàn toàn như đối với hàng hóa công cộng, bởi vì sự độc quyền là hoàn toàn có thể xảy ra và những sự ưu đãi được coi là có thể bộc lộ ra được; nhưng bên cạnh đó thị trường lại không cung cấp được chất lượng tối ưu do việc cung cấp chỉ có tính chất tư nhân và điều này đồng nghĩa với việc cung cấp dưới mức nhu cầu Được coi là hàng hóa hỗn họp là những hàng hóa có sự pha trộn giữa các đặc điểm của hàng hóa tư nhân (lợi ích nội tại có tính chất cạnh tranh) và các đặc điểm của hàng hóa công cộng (lợi ích bên ngoài có tính chất đọc quyền) Chúng bao gồm giáo dục, y tế, vận chuyển công cộng, thu gom rác và các dịch vụ phòng cháy chữa cháy… Giáo dục cung cấp một lực lượng lao động có học thức, có khả năng tạo các sản lượng đầu ra và lợi tức lớn hơn cho toàn thể cộng đồng Y tế bảo vệ toàn thể cộng đồng bằng cách chữa chạy cho những người mắc bệnh và bảo tồn lực lượng lao động cho đất nước Vận chuyển công

Trang 18

cộng làmgiảm sự tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường, và do đó, nó tạo

ra lợi ích cho cả người sử dụng đường sá và tất cả cộng đồng

Chính phủ có thể sửa chữa tình trạng cung cấp dưới mức nhu cầu đối với hàng hóa hỗn hợp bằng cách tự cung cấp hàng hóa và dịch vụ hoặc thông qua việc trợ cấp để làm giảm giá và tăng sản lượng đầu ra Vai trò của thuế là cung cấp các nguồn lực tài chính để tài trợ cho việc cung cấp có tính chất công cộng hoặc tài trợ thông qua các khoản trợ cấp Trợ cấp, do đó, tự bản thân nó có thể được xem như là một khoản thuế âm

2.3 Các lợi ích và chi phí ngoại ứng

Một ngoại ứng (ngoại tác) tồn tại khi việc sản xuất hoặc tiêu dùng một mặt hàng trực tiếp ảnh hưởng đến các doah nghiệp và người tiêu dùng không can dự vào việc mua bán hàng hóa đó, những ngoại ứng này thường không được phản ánh đầy đủ theo giá thị trường Ví dụ như vấn đề ô nhiễm Một hãng sản xuất hóa chất và tống chất thải xuống sông Chất thải gây ô nhiễm nguồn nước địa

phương, giết hại cá và chim chóc và tạo ra mùi hôi thối khó chịu Các ảnh

hưởng phụ bất lợi này thể hiện các chi phí đối với xã hội để sản xuất ra hóa chất đó, chúng vẫn phải được thể hiện một cách thích ứng trong giá cả thị

trường của loại hóa chất này nhưng thực tế lại không như vậy Giá thị trường của sản lượng do công ty hóa chất làm ra sẽ không phản ánh đầy đủ chi phí sản xuất thực sự đối với xã hội, trừ phi công ty hóa chất này buộc phải thanh toán tiền cho những thiệt hại do sự ô nhiễm của nhà máy gây ra Trong trường hợp này, có một ngoại ứng trong việc sản xuất hóa chất

Ngoại ứng có thể có lợi hoặc không có lợi cũng có thể gây hại Vấn đề này có liên quan đến các lợi ích từ bên ngoài của một hàng hóa với sự gia tăng phúc lợi của người dân không phải là người tiêu dùng trực tiếp hàng hóa này Ví dụ như nếu phần lớn dân số của một quốc gia được tiêm chủng ho gà thì thậm chí nếu không được chữa bệnh, họ cũng được bảo vệ về mặt sức khỏe bởi vì họ ít tiếp xúc với loại bệnh này và như thế họ đã nhận được các lợi ích từ bên ngoài Một người chủ quét vôi lại căn nhà của ông ta thì những người láng giềng sẽ nhận được lợi ích dôi ra do không phải nhìn cảnh căn nhà tróc sơn, ọp ẹp nữa Trong tất cả các ngoại ứng, có một điều gì đó ảnh hưởng đến các chi phí của hãng sản xuất hoặc phúc lợi của người tiêu dùng (ví dụ như sự ô nhiễm hoặc cảnh quan của những ngôi nhà mới quét sơn phần lớn dân chúng được tiêm chủng ho gà) nhưng cái đó không được trao đổi, buôn bán ngoài thị trường Các nhà kinh tế thường nói các ngoại ứng như thế được gây ra bởi “các thị trường vắng mặt”

Thuế có thể được sử dụng để sửa chữa các trục trặc trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính phát sinh bởi các tác động âm tính từ bên ngoài (hoặc các chi phí ngoại ứng) Một ví dụ về loại chi phí ngoại ứng là sự ô nhiễm không khí hay nguồn nước gây ra bởi các quá trình sản xuất Điều này có thể làm phát sinh các loại chi phí chẳng hạn như chi phí để làm sạch nước ở một dòng sông

bị ô nhiễm, hoặc sự ô nhiễm không khí có thể làm nảy sinh chi phí cho việc điều trị bệnh hoăc trả lại sự trong lành ở các hộ gia đình trong khu vực bị ô nhiễm, hoặc mưa ãit ở các nơi khác Các chi phí này là chi phí sản xuất nhưng chúng

Trang 19

lại không nảy sinh từ phía người sản xuất hoặc tiêu dùng sản phẩm, bởi lẽ tất

cả các chi phí này không nằm trong giá sản phẩm nên mức giá phản ánh

thấphơn giá trị thực và sản lượng đấu ra cao hơn mức đạt tối ưu Các hoạt động tiêu dùng cũng có thể làm phát sinh chi phí ngoại ứng, như chi phí lái xe, hút thuốc, uống rượu là các ví dụ điển hình có thẻ nêu ra Đánh thuế vào nhiên liệu, thuốc lá và rượu hay nước giải khát có cồn có thể bù đắp được các chi phí

ô hiễm, bệnh tật và các tai nạn, đồng thời có thể giảm đi một cách tích cực chi phí tiêu dùng và chi phí ngoại ứng, bởi giá cả caohơn sẽ làm thay đổi mức cầu thực tế của các sản phẩm nêu trên

2.4 Độc quyền

Việc không thực hiện được vấn đề phân phối các nguồn lực thông qua cơ chế thị trường, cũng có thể xảy ra khi vấn đề cạnh tranh gặp bế tắc Độc quyền làm giảm đi sản lượng đầu ra nhằm mục đích thu được giá cả cao hơn và sự trục trặc về mặt phân phối có thể xảy ra bởi vì sản lượng đầu ra nằm dưới mức cầu

mà phúc lợi xã hội được tối đa hóa Nhà độc quyền là một người bán duy nhất nên họ không lo bị những người khác cạnh tranh với giá thấp hơn và vì thế kết cục là người tiêu dùng phải trả một mức giá cao hơn mức mà lẽ ra họ phải trả

Có một số lãnh vực độc quyền mà không sao tránh khỏi, các dịch vụ công cộng

cơ bản (ví dụ như khí đốt và điện năng) là những lĩnh vực độc quyền tiềm năng Chính phủ có thể điều tiết các công ty kinh doanh trong lĩnh vực này bằng cách kiểm soát giá cả mà họ được phép đòi phải trả hoặc chính phủ có thể tự mình đảm đương việc cung cấp các sản phẩm có liên quan Một số các độc quyền khác có thể là mang tính chất nhân tạo thông qua sự thao túng của các hãng sản xuất Ở đây chính phủ can thiệp vào bằng các luật cạnh tranh hoặc nhằm mục đích loại trừ thế độc quyền hoặc kiềm chế sự độc quyền bằng cách kiểm soát giá cả hiều người cho rằng, thuế hoàn toàn không thể làm gì đơực để thay đổi mức sản lượng đầu ra mà tại đó nhà độc quyền có thể tối đa hóa lợi nhuận Nhưng một số nhà kinh tế khác lại lập luận: thuế có thể loại trừ được lợi nhuận độc quyền khi thuế được thiết kế phù hợp với vai trò phân phối ma tự nó lúc nào cũng được khảng định

2.6 Hàng khuyến dụng

Một số hàng hóa và dịch vụ do khu vực công sản xuất ra được gọi dưới tên là hàng khuyến dụng Đây là những hàng hóa mà xã hội (đại diện là nhà nước) cho rằng người dân nên tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của họ ở mức nào đi nữa Lý lẽ biện minh cho điều này thể hiện ở chỗ: người tiêu dùng

có thể không biết được lợi ích thực sự của một số hàng hóa, bởi lẽ họ không lập tức nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng (chẳng hạn như đối với mặ hàng giáo dục), hoặc bởi lẽ người thụ hưởng lợi tức là một đứa trẻ (cũng lại với ví dụ về giáo dục) hay là vì lý do việc thanh toán và lợi nhận được không trùng khớp về mặt thờigian (ví dụ bảo hiểm y tế và việc điều trị) Một số nhà kinh tế đặt ra câu hỏi: “Liệu có một sự biện minh kinh tế nào cho sự can thiệp của chính phủ đối với hàng khuyến dụng hay không?” và cũng tự trả lời như sau: “Xét theo một ý nghĩa nào đó thì luôn luôn có sự biện minh như vậy, bởi vì cảnh tượng môt ai

đó vô gia cư tạo nên một ngoại ứng khiến cho hết thảy mọi người khác không

Trang 20

vui Bằng việc cung cấp nơi trú ngụ cho những người mà không thì sẽ lang thang ngoài phố, chính phủ đã làm cho tất cả chúng ta cảm thấy dễ chịu hơn”

Có một số hàng hóa vừa có thể được xếp vào loại hàng hóa hỗn hợp, vừa có thể xếp vào loại hàng hóa khuyến dụng Tuy nhiên, vẫn tồn tại một khác biệt rõ ràng giữa các lý do cung cấp hàng hóa hỗn họp và nguyên cớ cung ứng hàng hóa khuyến dụng Hàng hóa hỗn hợp là một phần của chức năng phân phối, nó được cung cấp phù hợp vói việc ưu đãi mang tính chất nội tại và ngoại vi của người tiêu dùng gắn liền với chức năng phân phối, nhưng việc tiêu dùng chúng lại không chú ý đến sự ưu đãi đối với người tiêu dùng

Chương II: Khái Lược Qúa Trình Phát Triển Hệ Thống Thuế Việt Nam

Vài Nét Về Hệ Thống Thuế Việt Nam Từ Năm 1945 Đến Nay

Giai Đoạn Từ Sau Cách Mạng Tháng Tám Đến Năm 1945

1 Thời kỳ trước ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946

Đây là thời kỳ được đặc trưng bởi mâu thuẫn giữa thực trạng sức dân kiệt quệ, tình hình chính trị rối ren với nhu cầu lớn và cấp thiết của nhà nước (tổ chức quân đội, tổ chức bộ máy chính quyền mới, bảo về đê điều, cứu đói, trả món nợ cũ…) Đứng trước tình hình này Chính phủ ta chủ trương một số biện pháp như: Bãi bỏ thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; Miễn thuế điền thổ cho cùng bị lũ lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; Đình chỉ thu thuế ở Miền Nam

Chủ trương này đã làm nguồn thu thuế bị giảm sút Các thứ thuế còn lại thì rất khó thu do việc tuyên truyền giải thích kém, nhân dân sẵn có thành kiến với thuế của thực dân nên cũng không đồng lòng đóng thuế Cán bộ chưa nhận thức đúng đắn về thuế nên không tích cực thu Việc huy động tài chính chủ yếu dựa vào các hình thức quyên góp tự nguyện

2 Thời kỳ từ ngày toàn quốc kháng chiến đến giữa năm 1951

Thời kỳ này cũng diễn ra trong bối cảnh số chi đòi hỏi gia tăng nhiều nhưng số thu không lớn (chúng ta chỉ còn 4 loại thuế trực thu: thuế điền thổ, thuế môn bài, thuế lợi tức, thuế lương bổng thu bằng tiền nhưng không thu được bao nhiêu; thuế quan và thuế gián thu cũng không đáng kể) nên nhà nước, một mặt bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế; mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Quỹ “tham gia kháng chiến, Quỹ “Công lương” và chuyển hướng thu một vài thứ thuế bằng hiện vật Mặt khác Chính phủ cũng động viên nhân dân cho nhà nước vay dưới các hình thức công phiếu

và công trái, đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ

Trang 21

Theo tác giả Vũ Ngọc Khuê, chính sách tài chính thời kỳ này có những nét chính sau đây:

Nhà nước chưa đặt vấn đề đóng góp của nhân dân dựa trên một chính sách hợp lý, còn dè dặt trong việc huy dộng tài lực của nhân dân bằng thuế, cho nên trông chờ vào phát hành tiền để giải quyêt vấn đề tài chính

Chính sách đóng góp cũng không công bằng, hợp lý vì căn bản vẫn là chế độ thuế của thời kỳ Pháp thuộc sửa đổi lại Do đó thuế không huy động được đúng khả năng của mọi tầng lớp nhân dân và không thích hợp với tình hình kinh tế lúc bấy giờ So với khả năng thì người nghèo đóng góp nhiều hơn người giàu, công nghiệp, thương nghiệp đóng quá ít so với nông nghiệp

3 Thời kỳ từ 1951 đến ngày miền Bắc giải phóng 10/1954

Thời kỳ này mở đầu bằng chiến thắng biên giới và Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương Bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính nhà nước, nhà nước còn ban hành chính sách thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, hợp lý thích hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội và điều kiện chiến tranh Chính sách thuế thống nhất gồm 7 thứ thuế là: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem

từ năm 1951 ở vùng tự do cũ để áp dụng thống nhất

Kết quả của việc áp dụng một hệ thống thuế linh hoạt trong giai đoạn này đã dẫn đến gia tăng nguồn thu của ngân sách một cách đáng kể Nếu coi tổng thu ngân sách từ nguồn trong nước năm 1955 là 100 thì năm 1956 là 134 năm 1957

là 194, tong đó số thu về thuế chiếm tỷ trọng rất lớn: năm 1956 là trên 74% và năm 1957 là trên 87%

2 Thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu phát triển kinh tế và văn hóa (1958 – 1960)

Nếu như trước đây thuế công thương nghiệp chỉ bao gồm một hệ thống thuế suất tương đối ít thì vào lúc này nó bao gồm một hệ thống và nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau (cả thuế suất tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn thuế suất cố định) có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau

Trang 22

3 Thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

Cho đến nắm 1960, các xí nghiệp quốc doanh nộp tích lũy tiền tệ vào ngân sách nhà nước thông qua hai hình thức đóng góp là thuế và lợi nhuận, trong đó lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng

Chế độ thuế đối với các xí nghiệp quốc doanh lúc này cũng giống như khu vực kinh tế tư nhân bao gồm nhiều thứ thuế: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa…

và thu ở nhiều khâu cả ở khâu sản xuất lẫn khâu lưu thông Vì những mặt phiền

hà này, nhà nước đã cho áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc

doanh Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho từng mặt hàng tùy theo giá cả nhà nước qui định và chỉ thu ở khâu sản xuất Đồng thời từ năm 1962, nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí

nghiệp Theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào ngân sách nhà nước; phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động Các xí nghiệp công ty hợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như các xí nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước

4 Thời kỳ cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc (1966 – 1975)

Hai hình thức huy động tài chính chủ yếu đối với các doanh nghiệp trong thời kỳ này vẫn là thu quốc doanh và chế độ trích nộp lợi huận, ngoài ra còn có chế độ nộp khấu hao cơ bản Các chế độ này đã được sửa đổi bổ sung tiếp sau đó vào các năm 1966, 1974

Giai Đoạn Từ 1975 Đến 1990

1 Thời kỳ từ năm 1975 đến 1980

Trong thời kỳ này miền Bắc vẫn thực hiện hệ thống thu và thuế cũ, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Còn miền Nam thì có áp dụng một số thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số sắc thuế phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung để thích ứng với điều kiện cả nước thống nhất

2 Thời kỳ 1980 đến khi có cuộc cải cách thuế vào năm 1990

Mặc dù trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống thu và thuế thống nhất nhưng việc áp dụng này còn nhiều nhược điểm, gây cản ngại cho việc phát triển các yếu tố thị trường đang nảy sinh:

Đặc trưng của hệ thống này là có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh

tế Các xí nghiệp quốc doanh thì thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng các hình thức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lại chịu tác động của thuế Điều này gây sự ngộ nhận

Trang 23

một loại thuế gián thu mà không bao giờ tồn tại trong bất kỳ một nền kinh tế thị trường nào, với đặc điểm là một loại thuế huy động nguồn tài chính dựa trên cơ

sở chi phí sản xuất bình quân chứ không phải là chi phí biên tế và mức thu đã được ấn định trước trong giá cả, được kế hoạch hóa trong giá cả từng loại hàng hóa Do đó, đây là một loại thuế đa thuế suất, lên tới hàng trăm thuế suất; điều này đặc biệt gây khó khăn cho việc quản lý và hành thu

Giai Đoạn Từ Năm 1990 Đến Nay

Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống thuế mới đã được hình thành bao gồm hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay bao gồm 9 (chín) sác thuế: thuế nông nghiệp, thuế doanh thu; thuế TTĐB; thuế lợi tức, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (mậu dịch

và phi mậu dịch); thuế tài nguyên; thuế thu nhập; thuế nhà đất; thuế vốn (khoản thu do việc sử dụng vốn của ngân sách nhà nước) Ngoài ra còn một phí và lệ phí Tuy có nhiều loại thuế nhưng mỗi doanh nghiệp chỉ áp dụng phổ biến 2 đến

3 loại

Qua 10 cải cách hệ thống thuế đã đem lại các kết quả sau:

a Số thu từ thuế, phí vào ngân sách nhà nước từ chỗ chiếm tỷ trọng không lớn nay đã chiếm trên 95% NSNN Đảm bảo được chi tiêu thường xuyên và dành phần tăng dần cho đầu tư tích lũy Giai đọan 1996 – 2000 chi thường xuyên chiếm 76 % và đã dành bình quân 24% thuế phí cho đầu tư tích lũy

và trả nợ Số thu về thuế và phí đã tăng nhanh qua các năm

Bảng tốc độ tăng thu về thuế và phí qua các năm

Đơn vị tính: %

1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 72.3 100.5 36.7 23.7 24.8 20.7 7.6 5.9 2.5 5.5 Ghi chú: số liệu năm 2000 là ước tính

Bảng tỷ trọng thu thuế phí trong GDP

Đơn vị tính %

91 92 93 94 95 91-95 96 97 98 99 2000 96-200012.83 16.75 21.71 21.78 21.59 19.97 22.69 21.56 19.82 19.38 19.0 20.2 Ghi chú: số liệu năm 2000 là ước tính

b Về kinh tế

Thuế trở thành công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, điều tiết toàn bộ nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế có hiệu quả; bảo hộ, khuyến khích phát triển sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, thực hiện

Trang 24

được lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt nam với nền kinh tế thế giới

c Về xã hội,

Hệ thống chính sách thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh

tế đã tạo môi trường pháp lý bình đẳng để các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế thị trường Mặt khác chính sách thuế đã góp phần công bằng, bình đẳng xã hội, góp phần ổn định chính trị, xã hội

d Về nghiệp vụ đã luôn chú ý hướng tới đơn giản, công khai, minh bạch và phát huy quyền dân chủ, tự chịu trách nhiệm trước nghĩa vụ thuế của mỗi pháp nhân, mỗi thể nhân

Tuy nhiên hệ thống trên cũng còn rất nhiều bất cập mà nhiều trong số đó bắt nguồn bản thân quan điểm về kinh tế thị trường và việc sử dụng các công cụ vĩ

mô của nhà nước Việt Nam

Cùng với những kết quả đã đạt được so với những mục tiêu và yêu cầu đã đặt

ra, còn một số tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh, cụ thể là:

Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác liên quan và nền kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp trình độ quản lý còn thấp, đổi mới chậm, chưa thích ứng kịp thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban hành gây khó khăn thêm cho quá trình thực hiện

Việc nghiên cứu ban hành chính sách chậm, không kịp thời, không sát thực tiễn; mặt khác, việc chuẩn bị tuyên truyền chưa chu đáo nên đã dẫn đến phản ứng không có lợi trong dư luận xã hội Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồng chéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, dẫn đến phản ứng của cơ sở đối với thuế, hoặc làm cho thuế tác động đến hoạt động kinh tế trái ngược nhau, cùng một sự việc, phía này thì tác động tích cực, phía khác lại tác động tiêu cực

Nhiều khi công cụ thuế được sử dụng một cách tùy tiện, thiếu cân nhắc kết hợp với chính sách đầu tư, thương mại… không đúng đắn đã làm cho môi trường kinh doanh trở nên thiếu lành mạnh Chẳng hạn do thuế quan được sử dụng tùy tiện nên cả đầu tư trong nước và ngoài nước vào Việt nam đã được hướng đến khu vực với mức độ bảo hộ tương đối cao Trên 50% vốn ĐTNN được tập trung vào các dự án sản xuất có thuế suất bảo hộ cao hơn 34% Tính theo tỷ lệ bảo

hộ hữu hiệu (IRPs) thì có tới khoản 65% tổng mức có vốn ĐTNN được bổ vào những ngành có tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu cao hơn 60% mà những ngành này thường là những ngành không có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, xét

cả về dài hạn (CIE 1998) Một sắc thuế phải đối diện với nhiều mục tiêu thường

là trái ngược nhau gây nên tình trạng đa thuế suất và rất hay thay đổi bất ngờ (

Ví dụ: Các qui định về thuế doanh thu được sửa đổi liên tục chỉ trong thời gian ngắn chẳng hạn từ 1991 -1994 đã có 3 lần sửa đổi bổ sung Có tới 16 thuế suất, mức độ biến thiên lớn (từ 0 – 40%), tới lần sửa đổi ngày 28/10/1995 giảm còn

11 thuế suất (biến thiên từ 0-30%) Điều này gây méo mó rất lớn cho sản xuất

và tạo cho các doanh nghiệp tâm lý bất ổn, thiếu sự tin tưởng vào các chính

Trang 25

sách kinh tế của nhà nước và việc thu thuế trở nên rất khó khăn, tạo điều kiện cho cán bộ thuế tham nhũng, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp

Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tính trung lập của thuế Thời gian qua, một số chính sách xã hội được đưa vào chính sách miễn giảm thuế đã phần nào làm phức tạp hệ thống thuế và làm mất đi tính trung lập của thuế Ví dụ: chính sách miễn giảm thuế TNDN đã đề cập giảm

và miễn thuế TNDN cho các đói tượgn là thương binh, người tàn tật, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ

Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độ từng sắc thuế thì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi bổ sung Việc nghiên cứu để xây dựng một sắc thuế phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh ở Việt Nam

là cần thiết nhưng trong nhiều trường hợp vì quá nặng nề về tính phù hợp của Việt Nam mà thoát ly các nguyên tắc của thuế nên dẫn đế hậu quả phức tạp và khó quản lý

Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõ ràng

Định Hướng Chiến Lược Cải Cách Thuế Việt Nam Trong Giai Đoạn

Từ 2001 - 2010

Quan Điểm Cơ Bản Và Mục Tiêu Yêu Cầu Cải Cách Thuế

Quan điểm cơ bản và mục tiêu yêu cầu cải cách thuế giai đoạn

2001-2010 là tiếp tục hoàn thiện các mục tiêu của cải cách thuế bước 2 Việc động viên qua thuế và phí vào NSNN phải vừa giải quyết hài hòa về lợi ích kinh tế giữa nhà nước và xã hội, vừa bảo đảm nguồn thu tài chính để nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ an ninh, quốc phòng

Với quan điểm cơ bản đó, mục tiêu yêu cầu cải cách thuế trong giai đoạn 2001 –

2010 là :

a) Về động viên

Thuế và phí là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Để khuyến khích đầu

tư, tăng cường khả năng tích lũy vốn cho doanh nghiệp, mức huy động thuế và phí là 19-20% GDP

b) Về kinh tế

Thuế đóng góp điều chỉnh các cơ cấu kinh tế theo hướng khuyến khích xuất khẩu, phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế trang trại để tăng khối lượng sản phẩm nông nghiệp, khuyến khích hoạt động chế biến nông sản để sử dụng nguyên liệu trong nước phục vụ cho mục tiêu đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu, khuyến khích đầu tư vào các ngành có lợi thế, giải quyết nhiều lao động,

Trang 26

các vùng trọng điểm, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nội Dung Chiến Lược Cải Cách Chính Sách Thuế

Giai đoạn 2001-2010, hệ thống pháp luật về thuế sẽ gồm các Luật thuế chủ yếu sau đây:

Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

Luật thuế GTGT;

Luật thuế TTĐB

Luật thuế TNDN;

Luật thuế TNCN;

Luật thuế tài nguyên

Luật thuế tài sản và thuế chuyển nhượng tài sản

· Đưa biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với những cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan sau khi Việt Nam tham gia ký kết các điều ước quốc tế

· Bảo đảm sự động viên, đóng góp hợp lý cho NSNN, phù hợp với quá trình cải cách hệ thống thuế nước ta

· Giảm mức động viên về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu từ 20% hiện nay xuống còn 10% trong tổng số thu từ thuế và phí

Nội dung cơ bản của việc điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

· Xây dựng một biểu thuế nhập khẩu phù hợp với định hướng bảo

hộ hiệu quả các ngành kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế

· Việc xác định trị giá hải quan theo yêu cầu của GATT/WTO

Trang 27

· Thu hẹp diện miễn giảm thuế

· Xây dựng thuế chống độc quyền, chống bán phá giá, thuế đối kháng

Trong đó vấn đề thiết kế một biểu thuế nhập khẩu phù hợp với định hướng bảo hộ hiệu quả các ngành kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế được coi

là nội dung quan trọng nhất của việc cải cách chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

2 Thuế GTGT

Mục tiêu chính của thuế GTGT:

· Khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là xuất khẩu

· Cùng với thuế nhập khẩu góp phần trong việc bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước

· Phù hợp với thông lệ quốc tế

· Đơn giản hoá chính sách, tăng cường tính trung lập của thuế Nội dung cơ bản điều chỉnh chính sách thuế GTGT:

· Về đối tượng chịu thuế: bổ sung các mặt hàng chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất và nhập khẩu Đưa vào diện chịu thuế một số sản phẩm, dịch vụ xuất khẩu Đồng thời giảm và hạn chế đối tượng không chịu thuế GTGT Đến 2010 bổ sung đối tượng chịu thuế GTGT các mặt hàng là sản phẩm ở khâu sản xuất nông nghiệp để đảm bảo thực hiện thuế GTGT liên hoàn và thống nhất ở tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh

· Về thuế suất: giảm số lượng tối đa còn 2 mức thuế suất Điều chỉnh mức thuế suất để đảm bảo thu NSNN trong khi thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu Mức thuế suất dự kiến (vào năm 2005 là 5% và 10% Trong đó sắp xếp lại để hạn chế các sản phẩm, dịch vụ thuộc nhóm thuế suất 5%, còn lại đa số sản phẩm dịch vụ áp dụng mức thuế suất là 10% Sau đó tiến tới một thuế suất 10% Áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu

· Cải tiến và tiến tới hóa đơn bán hàng theo mẫu thống nhất và do doanh nghiệp tư in

3 Thuế TTĐB

Mục tiêu:

Cùng với việc giảm thuế nhập khẩu và đơn giản thuế suất thuế GTGT, cần thiết mở rộng diện chịu thuế TTĐB đối với một số hàng hóa và dịch vụ để góp phần vào bảo hộ sản xuất trong nước một cách có hiệu quả

Nội dung cơ bản điều chỉnh chính sách thuế TTĐB:

· Đối tượng chịu thuế TTĐB: bổ sung vào diện chịu thuế TTĐB một

số sản phẩm hàng hóa như: mỹ phẩm, nước hoa, đá quý, gas, ô tô, xăng ô tô, xổ số, một số dịch vụ khác

Trang 28

· Về thuế suất: điều chỉnh thuế suất các mặt hàng cho phù hợp và đồng bộ với các luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế GTGT Sửa đổi và áp dụng một thuế suất thống nhất cho một nhóm sản phẩm, không phân biệt thuế suất theo tính chất, nguồn nguyên liệu hình thành, hình thức của từng loại sản phẩm Nghiên cứu sửa đổi căn cứ tính thuế là số lượng sản phẩm và mức thuế TTĐB trên đơn

vị sản phẩm

· Giá tính thuế: điều chỉnh sửa đổi giá tính thuế TTĐB đối với một số mặt hàng cho phù hợp để khắc phục bất hợp lý về mức thuế phải nộp chịu ảnh hưởng của yếu tố chi phí

4 Thuế TNDN:

Mục tiêu:

Sử dụng tối đa thuế TNDN nhằm khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất,

cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao hiệu quả nền kinh tế

Nội dung cơ bản sửa đổi chính sách thuế TNDN

· Giảm mức động viên, tiến tới một mức thuế suất phổ thông cho tất

cả các loại doanh nghiệp Mức đó có thể là 20% Bãi bỏ thuế suất bổ sung

· Về đối tượng nộp thuế TNDN: bổ sung đối tượng nộp thuế TNDN

là các công ty thường trú và không thường trú Chuyển đối tượng nộp thuế là cá nhân kinh doanh sang nộp thuế TNCN

· Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất Thu nhập chịu thuế được chia thành thu nhập từ kinh doanh và thu nhập

từ đầu tư Thu nhập từ kinh doanh được xác định là khoản thu nhập sau khi trừ đi mọi chi phí liên quan đến kinh doanh Thu nhập từ đầu

tư là tiền lãi cho vay, lợi tức cổ phần, chứng khoán Trên cơ sở đó thu nhập chịu thuế phải bao quát được tất cả các thu nhập mà doanh nghiệp có

có thu nhập cao hiện chỉ chiếm 2-3%)

Nội dung cơ bản sửa đổi chính sách thuế TNCN:

· Về đối tượng chịu thuế: mở rộng diện cá nhân nộp thuế đạt từ 10% lao động trong xã hội (thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nay chỉ có 200.000 người)

5-· Về thu nhập chịu thuế: không phân biệt thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên; bổ sung thu nhập chịu thuế của cá nhân kinh doanh và cá nhân hành nghề độc lập Thu nhập từ kinh

Trang 29

doanh được xác định trên cơ sở doanh thu kinh doanh trừ đi các chi phí liên quan đến kinh doanh; bổ sung các khoản thu nhập từ đầu tư, lãi tiền cho vay, lãi cổ phần, trái phiếu, tiền bản quyền… Nói chung, thu nhập chịu thuế phải bao quát tất cả các khoản thu nhập của cá nhân

· Biểu thuế: áp dụng biểu thuế lủy tiến từng phần đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, tiền lương và các khoản thu nhập khác Áp dụng thuế suất từng phần đối với một số khoản thu nhập như lãi tiền cho vay, lãi cổ phần, lãi chuyển nhượng tài sản, trúng thưởng xổ số Từng khoản thu nhập cho trừ một mức nhất định trước khi tính thuế Bãi bỏ thuế thu nhập bổ sung

· Thời gian đầu tiếp tục duy trì 2 biểu thuế cho người Việt Nam và người nước ngoài Khi thu nhập của ngườiViệt Nam được nâng lên dần thì đưa về áp dụng chung một biểu thuế thu nhập

6 Thuế tài sản

Tài sản được hiểu là bất động sản và động sản của quốc gia, tài sản của

cá nhân Bản thân chúng khi sử dụng có hoạt động chuyển nhượng

Chính sách thuế được đề cập sẽ là: Thuế đối với việc sử dụng đất đai: diện tích đất dùng vào các mục đích khác nhau, phải điều chỉnh ở 2 sắc thuế khác nhau: đất sử dụng vào nông nghiệp thì chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp Đất sử dụng làm đất ở, đất xây dựng công trình thì chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh thuế nhà, đất Để đơn giản và hạn chế tâm lý nhiều sắc thuế đề nghị Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nhà, đất nên góp chung vào một Luật và gọi là Luật thuế sử dụng đất

Ở nước ta trong những năm trước đây khi chưa có Luật đất đai, Nhà nước không thừa nhận hoạt động chuyển quyền sử dụng đất Nhưng trong thực

tế, việc mua bán đất đai vẫn diễn ra trên thị trường ngầm Như vậy nếu không có chính sách phù hợp thì nhà nước không quản lý được thị trường đất mà còn làm mất đi một nguồn thu đáng kể của NSNN Từ thực tế cho thấy: chuyển quyền sử dụng đất là một hoạt động có tính khách quan của nền kinh tế thị trường Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với yêu cầu thực tế của công tác quản

lý đất đai

Tuy nhiên, nếu xét trên giác độ tài sản bao gồm cả động sản và bất động sản, khi có hoạt động chuyển nhượng đều phát sinh một khoản thu nhập, có thể khoản thu nhập đó so với trước cao hơn (lãi) hoặc thấp hơn (lỗ) nhưng ở Việt Nam chỉ có riêng loại thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất Việc chưa thực hiện một loại thuế đánh vào hoạt động chuyển nhượng tài sản không chỉ làm mất

đi nguồn thu mà còn không thực hiện việc quản lý tài sản cũng như thu nhập của các tổ chức, các hộ gia đình và cá nhân Vì vậy vấn đề đưa ra một sắc thuế đánh vào thu nhập từ chuyển nhượng tài sản trong điều kiện hiện nay là cần thiết Loại thuế này chỉ đánh khi có hoạt động chuyển nhượng các tài sản như: nhà, đất, ô tô, tàu, thuyền, các cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu…

Nếu áp dụng thuế chuyển nhượng tài sản thì những nội dung của chính sách thuế chuyển quyền sử dụng đất hiện hành chỉ là một phần của nội dung

Trang 30

hoạt động chuyển nhượng tài sản Và như vậy lệ phí trước bạ hiện nay thu vào hoạt động chuyển nhượng tài sản là nhà, đất, xe máy, ô tô cần phải xem xét đưa chung vào sắc thuế này

Đối với tài sản quốc gia (thu nhập tài nguyên, khoáng sản), pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành đã điều chỉnh thu những nguồn thu được gọi là thu nhập về tài sản quốc gia như dầu mỏ, sản phẩm rừng tự nhiên như gỗ, các cây đặc sản quý, sản phẩm khai thác từ biển Pháp lệnh này cần được nghiên cứu

để nâng lên thành Luật thuế tài nguyên để nâng cao tính pháp lý, thể hiện rõ chủ quyền của một quốc gia và đó là nguồn thu đặc biệt

Tóm lại, chiến lược cải cách thuế 10 năm 2001-2010 được xây dựng trên cơ sở định hướng về chiến lược kinh tế xã hội, tiếp tục các mục tiêu cải cách thuế bước 2 Điều đó có nghĩa là trên nền tảng hiện có của hệ thống chính sách thuế như thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế TTDB, thuế TNDN, thuế thu nhập dành cho người có thu nhập cao, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế tài nguyên mà hoàn thiện lại cho hợp lý hơn Không

mở rộng thêm các loại thuế mà từng sắc thuế phải được hoàn thiện theo xu hướng thuế trực thu tăng hơn thuế gián thu để đảm bảo tỷ trọng hai loại thuế này tương đương nhau trong thuế gián thu thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giảm, thuế GTGT và thuế TTĐB tăng; trong thuế trực thu thì thuế TNDN, thuế tài nguyên, thuế TNCN tăng (chiếm tỷ 70% tổng số thuế trực thu) Các chính sách

ưu đãi đầu tư không phân biệt đầu tư trong nước và đầu tư ĐTNN Trong 10 năm tới là thời kỳ hội nhập thực hiện các cam kết quốc tế về thuế, nên chiến lược cải cách hệ thống thuế trong nước phải phù hợp với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới

Chương III: Thuế Giá Trị Gia Tăng

Khái niệm Và Cơ Sở Của Thuế Giá Trị Gia Tăng

Khái Niệm

Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Thực chất đó là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất lưu thông hàng hóa kể từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến thành phẩm và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng Chính vì vậy mà có người gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước Thuế giá trị gia tăng được phép tính cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu

Cơ Sở Của Thuế Giá Trị Gia Tăng

Để hiểu chính xác cơ sở của thuế giá trị gia tăng, ta phải xét cơ chế thuế doanh thu ở Việt Nam qua ví dụ sau:

Trang 31

Nhà máy dệt A tạo ra một mét vải, bán với giá 10.000 đ/mét, thuế suất thuế doanh thu là 6% Công ty may B mua về, chế biến thành áo bán cho công ty thương nghiệp với giá 16.000 đ, thuế suất ngành may: 4% Công ty thương nghiệp bán lẻ cho người tiêu dùng với giá 20.000 đ, thuế suất ngành thương nghiệp: 2%

Thuế doanh thu mà các đơn vị phải nộp như sau:Nhà máy dệt A: 6% x 10.000 d/mét = 600đ/mét

Công ty may B 4% x 16.000 d/áo = 640 đ/áo

Công ty thương nghiệp: 2% x 20.000 đ/áo = 400 đ/áoĐ

ệp: 2% x 20.000 ặc điểm của thuế doanh thu là nó nằm trong giá bán, rồi thuế suất lại đánh trên chính giá bán đã có thuế doanh thu Do đó, 600 đ thuế của nhà máy A nằm trong 10.000 đ; 400 đ của Công ty thương nghiệp nằm trong 20.000

đ

Số tiền thuế 640 đ ở khâu thương nghiệp đánh lên của 640 đ thuế ở khâu may lẫn

600 đ thuế ở khâu dệt Mô hình sau biểu diễn điều này

ố tiền thuế 640 ở khâu thệp ên của 640 ế ở khâu may lẫn 600 ế ở khâu dệt Mô hình sau biểu diễn ều này

Như vậy với cơ chế tính thuế kiểu đó, thuế ở khâu sau đánh chồng lên thuế ở khâu trước làm phát sinh hiện tượng chồng thuế

Trong Thuế giá trị gia tăng, hiện tượng này được khắc phục, bởi thuế này không đánh trên toàn bộ giá bán của hàng hóa, mà chỉ đánh vào những phần giá trị chưa từng bị đánh thuế

Trong ví dụ của chúng ta, 10.000 đ/mét do Nhà máy dệt tạo ra đã nộp 600đ, nên khi chuyển sang khâu may, 10.000 đ này không tăng phải chịu thuế lần nữa, chỉ

có phần giá trị tăng thêm ngoài nó (tức là phần giá trị 6.000 đ do công ty may tạo ra) là chưa chịu thuế Nếu đánh vào Công ty may, chỉ nên đánh vào giá trị mới sáng tạo ra mà thôi

4% x 6.000 đ = 240 đ

Vậy cơ sở của Thuế giá trị gia tăng chính là phần giá trị sản phẩm do cơ sở sản xuất kinh doanh mới sáng tạo ra chưa bị đánh thuế Nói cách khác, cơ sở của thuế giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hóa/ dịch

vụ Về nội dung, giá trị gia tăng gồm có chi phí về lao động và lợi nhuận

ậy cở của Thuế giá trị gia tà phần giá trị sản phẩm do cở sản xuất kinh doanh mới sáng tạo ra chị ế Nói cách khác, cở của thuế giá trị gia tà khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hóa/ dịch vụ Về nội dung, giá trị gia tồm có chi phí

về lao ộng và lợi nhuận

Các Nguyên Tắc Của Thuế Giá Trị Gia Tăng

Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế đánh trên diện rộng, bởi lẽ qua loại thuế này,

về mặt lý thuyết, mọi hàng hóa và dịch vụ đều có thể đưa vào diện đánh thuế

Trang 32

Thuế giá trị gia tăng đánh trên giá Theo nguyên tắc này thì số tiền thuế phải trả được tính theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá hàng hóa chứ không phải là một số tiền nhất định tính trên mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ

Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế đánh trên nhiều giai đoạn của qui trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ

Thuế giá trị gia tăng là loại thuế trên số tiêu thụ cuối cùng, đặt trên cơ sở một sự

bù trừ ở biên giới theo nguyên tắc đáo xứ Theo nguyên tắc này, gánh nặng thuế cuối cùng sẽ do quốc gia tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ gánh chịu Điều này đồng nghĩa với việc mọi hàng hóa tiêu dùng trong nền kinh tế đều phải chịu một hoặc một số thuế suất như nhau) chứ không phải dựa trên nguyên tắc nguyên xứ ( là nguyên tắc mà dựa vào đó, không có bất cứ một sự điều chỉnh tại biên giới đúng nghĩa nào được áp dụng đối với thuế giá trị gia tăng Điều đó có nghĩa là mọi hàng hóa sản xuất trong một năm tài khóa đều chịu thuế như nhau bất kể hàng hóa đó được tiêu thụ ở đâu) Do đó, thuế giá trị gia tăng đảm bảo được tính trung lập trong những giao dịch quốc tế thông qua việc miễn thuế đối với những hàng xuất khẩu và đánh thuế trên hàng nhập khẩu Tất nhiên điều này dựa trên giả định phải có một hệ thống kiểm soát tại biên giới và cơ quan hải quan sẽ chứng nhận số hàng xuất khẩu và đánh thuế hàng nhập khẩu Nếu điều này không thực hiện được thì khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu – theo kinh nghiệm của khối EU – nên được thay thế bằng khái niệm “giao hàng” và “nhận hàng”: các nghiệp vụ giao hàng trong trường hợp này được miễn thuế, các trường hợp nhận hàng phải chịu thuế

Tác Dụng Của Thuế Giá Trị Gia Tăng

- Thuế giá trị gia tăng không thu trùng như thuế doanh thu

- Thuế giá trị gia tăng bảo hộ hàng hóa sản xuất trong nước

- Thuế giá trị gia tăng kích thích xuất khẩu ( thuế suất 0%)

- Thuế giá trị gia tăng không là một khoản chi phí (ngoại trừ trường hợp các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ theo phương pháp trực tiếp) do đó không ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Cơ Chế Vận Hành Của Thuế Giá Trị Gia Tăng

5.1 Đối với người sản xuất (doanh nghiệp)

Thuế giá trị gia tăng có tác động trung tính đối với người sản xuất (là người nộp thuế) thể hiện ở cơ chế khấu trừ và cơ chế tính thuế

Chế độ khấu trừ thuế liên quan đến việc mua các hàng hóa và dịch vụ đầu vào (kể cả tài sản cố định) Doanh nghiệp cần phải biết được rằng đối với thuế giá trị gia tăng đánh trên hàng hóa và dịch vụ đầu vào, khoản nào được khấu trừ, khoản nào không Chế độ khấu trừ thuế giá trị gia tăng được minh họa bằng sơ đồ sau:

Trang 33

DOANH THU CHỊU THUẾ THUẾ ĐÁNH TRÊN DOANH THU

THUẾ SUẤT THUẾ ĐÁNH TRÊN DOANH SỐ MUA HÀNG (THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG KHẤU

TRỪ) nhân (x) bằng (=) trừ (-) bằng (=) THUẾ GTGT ĐƯỢC HOÀN TRẢ (nếu kết quả là số âm) THUẾ GTGT PHẢI NỘP (nếu kết quả là số dương)

ví dụ: giả định thuế là 10%, đơn vị tính là ngàn đồng

ụ: giả ịnh thuế là 10%, ị tính là ngàn ồng

Trường hợp 1:

- Doanh thu bán hàng: 200.000; Thuế giá trị gia tăng:20.000

- Doanh số mua hàng 150.000; Thuế giá trị gia tăng : 15.000

- Thuế giá trị gia tăng phải nộp: 5.000

ố mua hàng 150.000; Thuế giá trị gia tế giá trị gia tải nộp: 5.000

Trường hợp 2:

- Doanh thu bán hàng: 180.000; Thuế giá trị gia tăng: 18.000

- Doanh số mua hàng: 200.000; Thuế giá trị gia tăng: 20.000

- Thuế giá trị gia tăng được hoàn trả: 2.000

ố mua hàng: 200.000; Thuế giá trị gia tế giá trị gia tợc hoàn trả: 2.000

5.2 Đối với người tiêu dùng

Để thấy được cơ chế vận hành của thuế giá trị gia tăng đối với người tiêu dùng như thế nào, hãy xem ví dụ như sau:

Các giả định:

ả ịnh:

· Chỉ có một mức thuế suất thuế giá trị gia tăng duy nhất là 10%

· Chế độ khấu trừ thuế giá trị gia tăng được áp dụng ở tất cả mọi khâu

· Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng được tiến hành ngay sau khi bán hàng

Trang 34

Tình huống: một người nông dân (giả sử anh ta không phải bỏ ra bất kỳ chi phí nào trong khi sản xuất) thu hoạch lúa mì và đem bán cho người thợ xay bột được 1.000 đ Như vậy, toàn bộ số tiền 1.000 đ ở đây ngang bằng với giá trị gia tăng của số lúa mì được đem ra bán

Lúa mì được anh thợ xay xay thành bột và đem bán cho người làm bánh mì được 1.500 đ Giá trị gia tăng qua khâu xay bột đến tay người làm bánh mì là 500 đ.Ngư

ì ợc anh thợ xay xay thành bột và ời làm bánh mì ợc 1.500 ị gia tột ến tay ngời làm bánh mì là 500 ời thợ làm bánh mì từ số bột mì vừa mua đó làm ra bánh mì

và đem bán cho cửa hàng được 2.500 đ Giá trị gia tăng qua khâu làm bánh đến tay người bán hàng là 1.000 đ

Cửa hàng bán lẻ đem tất cả số bánh bán cho người tiêu dùng được 3000 đ Giá trị gia tăng từ khâu bán lẻ đến khách hàng là 500 đ.Thu

ửa hàng bán lẻ ất cả số bánh bán cho ngời tiêu dùng ợc 3000 ị gia từ khâu bán

lẻ ến khách hàng là 500 ế giá trị gia tăng được tính toán cho ví dụ này như sau:

Người nộp

ời nộp

Doanh thu GTGT Thuế GTGT Thực nộp Ghi chú Người trồng lúa Người xay bột 1.000 1.500 1.000

Được khấu trừ 100 đ phần thuế GTGT của người trồng lúa đã nộp

ợc khấu trừ 100 ần thuế GTGT của ngời trồng lúa ã nộp

Người làm bánh

Trang 35

ại khâu thứ nhất: hóa àng của ngời trồng lúa mì giao cho ngời xay bột ghi:- Giá chưa có thuế GTGT 1.000 đ

- Thuế GTGT 100 đ- C

ế GTGT 100 ộng 1.100 đ

Có nghĩa là người trồng lúa mì, nói gọn lại, như sau:- Thu

à ngời trồng lúa mì, nói gọn lại, nhế GTGT thu được 100 đ (10% x 1.000đ)

- Thuế GTGT được khấu trừ 00 đ- Thu

Trang 36

Có nghĩa là người xay bột nhận được số tiền là 1.650 đ, trong đó gồm cả phần thuế GTGT phải nộp

à ngời xay bột nhận ợc số tiền là 1.650 ồm cả phần thuế GTGT phải nộp

Đối với người xay bột:

ối với ngời xay bột:- Thuế GTGT thu được 150 đ (10% x 1.500 đ)

- Thuế GTGT được khấu trừ 100 đ (phần do người trồng lúa mì đã nộp)

ế GTGT ợc khấu trừ 100 ần do ngời trồng lúa mì ã nộp)- Thuế GTGT thực nộp

ối với ngời làm bánh mì:- Thuế GTGT thu được 250đ (10% x 2.500đ)

- Thuế GTGT được khấu trừ 150đ = (100 đ + 50 đ) đã nộp ở các khâu trước

ế GTGT ợc khấu trừ 150ã nộp ở các khâu trớc- Thuế GTGT thực nộp 100 đ Tại khâu thứ tư: hóa đơn bán hàng của cửa hàng bán lẻ trao cho người tiêu dùng ghi:

ại khâu thứ tủa cửa hàng bán lẻ trao cho ngời tiêu dùng ghi:- Giá chưa có thuế GTGT 3.000đ

- Thuế GTGT 300đ- C

ế GTGT 300ộng: 3.300đ

Có nghĩa là người bán lẻ nhận được số tiền là 3.300 đ, trong đó bao gồm cả phần thuế GTGT phải nộp

à ngời bán lẻ nhận ợc số tiền là 3.300 ồm cả phần thuế GTGT phải nộp

Đối với người bán lẻ:

ối với ngời bán lẻ:- Thuế GTGT thu được 300đ (10% x 3.000đ)

- Thuế GTGT được khấu trừ 250đ = ( 100đ + 50đ + 100đ) đã nộp ở các khâu trước

ế GTGT ợc khấu trừ 250ã nộp ở các khâu trớc- Thuế GTGT thực nộp 50đ Tổng GTGT qua các khâu là 3.000đ, tổng số thuế GTGT mà cơ quan thuế thu được là 300đ Nhưng trong hóa đơn bán hàng mà người tiêu dùng nhận được, tổng

số tiền mà họ phải trả là 3.300 đ, bằng tổng GTGT cộng tổng số thuế GTGT phải nộp Nói cách khác, ở đây người tiêu dùng chịu hoàn toàn tất cả số thuế đã phát sinh

Trang 37

ổng GTGT qua các khâu là 3.000ổng số thuế GTGT mà cế thu ợc là 300àng mà ngời tiêu dùng nhận ợc, tổng số tiền mà họ phải trả là 3.300 ằng tổng GTGT cộng tổng số thuế GTGT phải nộp Nói cách khác, ở ời tiêu dùng chịu hoàn toàn tất cả số thuế ã phát sinh

Vấn Đề Chọn Lựa Hình Thức Thuế GTGT

Thuế GTGT có thể tồn tại hai dạng:

· Loại thuế GTGT đặt căn bản trên hóa đơn

· Loại thuế GTGT đặt căn bản trên tài khoản

ại thuế GTGT ặt cản trên tài khoản.Giữa hai hình thức này có một số khác biệt,

và mặc dù mỗi hình thức có các ưu nhược điểm riêng, nhưng hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều chọn hình thức thuế GTGT đặt căn bản trên hóa đơn, tức là dựa trên cơ sở phương pháp khấu trừ Riêng Nhật Bản lại áp dụng hình thức thuế GTGT đặt căn bản trên tài khoản Đối với Việt Nam, thuế GTGT đang

áp dụng ở nước ta hiện nay là loại thuế GTGT đặt căn bản trên hóa đơn

Bảng : Đặc điểm của hai loại thuế GTGT

ảng : ặc ểm của hai loại thuế GTGTLoại thuế GTGT đặt căn bản trên hóa đơn Loại thuế GTGT đặt căn bản trên tài khoản

ại thuế GTGT ặt cản trên tài khoản

Số nợ về thuế gắn với nghiệp vụ phát sinh và hóa đơn là bằng chứng của sự hoàn thành nghiệp vụ

Hóa đơn là bằng chứng hoàn hảo khi cần kiểm tra

Có thể áp dụng một hệ thống đa thuế suất

Bất cứ thuế nào cũng có thể áp dụng

Có thể dựa trên hóa đơn kiểm tra chéo ngầm giữa các doanh nghiệp có liên quan đến một khoản thuế phát sinh

Loại thuế GTGT này được nhận thức là loại thuế thu nhập (đối với doanh

nghiệp) hoặc thuế lương bổng (đối với lao động)

Không phải đặt ra vấn đề kiểm tra hóa đơn

Chỉ áp dụng được trong hệ thống một thuế suất đơn nhất

ỉ áp dụng ợc trong hệ thống một thuế suất ất.Bất cứ các khoản thế GTGT nào cũng không phải là khoản thanh toán hàng năm đều phải được dự phòng do các tài khoản chỉ được khóa lại một lần trong năm

Không thể kiểm tra chéo ngầm giữa các doanh nghiệp

ể kiểm tra chéo ngầm giữa các doanh nghiệp

Ưu Điểm Của Thuế GTGT So Với Các Loại Thuế Doanh Thu

Trước khi phân tích các ưu điểm của thuế GTGT so với các loại thuế doanh thu cần nhấn mạnh rằng về bản chất, thuế GTGT nên được coi là phương pháp đánh thuế mới hơn là một sắc thuế độc lập, bởi vì theo giáo sư Mel Kraus của trường

Trang 38

Đại học Amsterdam và Petet O’Brien, nhà kinh tế học tại Geneva thì: “Khái niệm thuế GTGT có liên hệ đến phương pháp hành thu chứ không liên hệ đến một thứ thuế riêng biệt thuộc một nhóm đặc biệt hay một hoạt động kinh tế đặc biệt theo như nhiều người vẫn tưởng… về bản chất, thuế GTGT không phải là một thứ thuế đánh trên chi phí tiêu thụ mà cũng không phải là một thứ thuế đánh trên lợi tức xuất phát từ các yếu tố sản xuất, nó vốn là một cách thức đánh thuế trên căn bản từng cái một, từng giai đoạn một, nhằm tránh cách đánh thuế hai lần”

Tuy còn nhiều tranh cãi, song không một ai phủ nhận tính tích cực của thuế GTGT đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng Có thể kể ra đây một số ưu điểm của thuế GTGT như:

Ưu thế quan trọng nhất là đặc tính trung lập của thuế này đối với các qui trình sản xuất, kinh doanh khác nhau thông qua việc xóa bỏ được vấn đề thuế đánh chồng thuế Trước khi áp dụng thuế GTGT, với hệ thống thuế đánh chồng lên thuế, số thuế sẽ càng cao khi qui trình sản xuất, kinh doanh càng dài Nếu có sáu công đoạn từ điểm khởi đầu (bán nguyên vật liệu) đến điểm cuối (bán thành phẩm của doanh nghiệp bán lẻ), số thuế sẽ nặng hơn nếu chỉ có ba công đoạn Thuế đánh chồng có lợi cho những qui trình ngắn hơn những qui trình dài

ế quan trọng nhất là ặc tính trung lập của thuế này ối với các qui trình sản xuất, kinh doanh khác nhau thông qua việc xóa bỏ ợc vấn ề thuế ồng thuế Trớc khi

áp dụng thuế GTGT, với hệ thống thuế ồng lên thuế, số thuế sẽ càng cao khi qui trình sản xuất, kinh doanh càng dài Nếu có sáu công ạn từ ểm khởi ầu (bán nguyên vật liệu) ến ểm cuối (bán thành phẩm của doanh nghiệp bán lẻ), số thuế

sẽ nặng hếu chỉ có ba công ạn Thuế ồng có lợi cho những qui trình ngắn hững qui trình dài.Ưu điểm thứ hai là thuế GTGT ít mang lại phản ứng nặng nề về phía người chịu thuế lẫn người nộp thuế, bởi đánh thuế theo phương pháp này, dưới hình thức một loại thuế gián thu mà người nộp thuế không phải là người chịu thuế được tổng kết là một cách đánh thuế khôn ngoan tiện lợi mà qua đó:

· Không làm lệch lạc các lựa chọn của các doanh nghiệp (người nộp thuế) trong việc tìm ra một giải pháp kinh tế tối ưu

· Dễ được chấp nhận từ phía người chịu thuế (là người tiêu dùng cuối cùng các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT) Bởi lẻ thuế GTGT là một loại thuế gián thu,

nó không trực tiếp đánh vào thu nhập của người chịu thuế và cũng không nhằm một địa chỉ nhất định

àm lệch lạc các lựa chọn của các doanh nghiệp (ngời nộp thuế) trong việc tìm ra một giải pháp kinh tế tối ễ ợc chấp nhận từ phía ngời chịu thuế (là ngời tiêu dùng cuối cùng các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT) Bởi lẻ thuế GTGT là một loại thuế gián thu, nó không trực tiếp ào thu nhập của ngời chịu thuế và cũng không nhằm một ịa chỉ nhất ịnh

Ưu điểm thứ ba là thuế GTGT dễ hành thu vì gánh nặng của thuế được chuyển qua từng công đoạn để cuối cùng qui vào người tiêu thụ sản phẩm Hơn nữa, hệ thống GTGT yêu cầu, nếu muốn được khấu trừ thuế của các công đoạn trước cần thiết phải ghi nhận khoản thuế GTGT trên hóa đơn bán hàng và ghi riêng, rõ ràng Trên hóa đơn phải thể hiện giá của sản phẩm chưa có thuế, số thuế GTGT liên hệ và giá của sản phẩm kể cả thuế

Trang 39

ểm thứ ba là thuế GTGT dễ hành thu vì gánh nặng của thuế ợc chuyển qua từng công ạn ể cuối cùng qui vào ngời tiêu thụ sản phẩm Hữa, hệ thống GTGT yêu cầu, nếu muốn ợc khấu trừ thuế của các công ạn trớc cần thiết phải ghi nhận khoản thuế GTGT trên hóa àng và ghi riêng, rõ ràng Trên hóa ải thể hiện giá của sản phẩm chế, số thuế GTGT liên hệ và giá của sản phẩm kể cả thuế Đối tượng và phạm vi chịu thuế GTGT rất rộng Điều này cho phép chính phủ có thể qui định một thuế suất vừa phải hơn là chạy theo một xu hướng vừa cổ điển lại dễ bị phê phán là việc tăng thuế suất

ối tợng và phạm vi chịu thuế GTGT rất rộng ều này cho phép chính phủ có thể qui ịnh một thuế suất vừa phải hạy theo một xu hớng vừa cổ ển lại dễ bị phê phán là việc tế suất

Ưu điểm thứ tư của thuế GTGT là sự đơn giản trong công tác quản lý thu thuế Thật vậy, chính người nộp thuế sẽ tự mình xác định số thuế phải nộp và nộp trực tiếp cho cơ quan thuế Như vậy, hệ thống thuế vận hành một cách tự động,

cơ quan thuế vụ không tham gia tính thuế mà chỉ thực hiện công việc kiểm tra sổ sách kế toán của doanh nghiệp về sau

ểm thứ tủa thuế GTGT là sự ản trong công tác quản lý thu thuế Thật vậy, chính ngời nộp thuế sẽ tự mình xác ịnh số thuế phải nộp và nộp trực tiếp cho cế Nhậy,

hệ thống thuế vận hành một cách tự ộng, cế vụ không tham gia tính thuế mà chỉ thực hiện công việc kiểm tra sổ sách kế toán của doanh nghiệp về sau

Ưu điểm thứ năm là thuế GTGT là loại thuế trung tính đối với mức độ dài ngắn của quy trình sản xuất và phân phối, nhưng lại không trung tính về mặt kinh tế

do có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, vì thế thuế GTGT có ưu điểm khuyến khích các nghiệp vụ đầu tư và xuất khẩu

ểm thứ nà thuế GTGT là loại thuế trung tính ối với mức ộ dài ngắn của quy trình sản xuất và phân phối, nhại không trung tính về mặt kinh tế do có tác ộng tích cực ối với sự phát triển kinh tế, vì thế thuế GTGT có ểm khuyến khích các

nghiệp vụ ầu tất khẩu

Ưu thế cuối cùng là thuế GTGT được chấp nhận tương đối dễ dàng và ít có trường hợp gian lận, ngoại trừ khu vực doanh nghiệp có qui mô hoạt động nhỏ

và khu vực cung ứng dịch vụ, khu vực có nhiều hoạt động ngầm không khai báo

ế cuối cùng là thuế GTGT ợc chấp nhận tối dễ dàng và ít có trờng hợp gian lận, ngoại trừ khu vực doanh nghiệp có qui mô hoạt ộng nhỏ và khu vực cung ứng dịch vụ, khu vực có nhiều hoạt ộng ngầm không khai báo

Với những ưu điểm đó, thuế GTGT được một số người xem như một trong những cách tốt nhất của kỹ thuật đánh thuế gián thu và một số người khác đánh giá là một sự cải cách vĩ đại về thuế trong thế kỷ 20

Nội Dung Cơ Bản Của Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng

Luật thuế GTGT của Việt Nam được ban hành ngày 22/05/1997 và chính thức

có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 Sau khi ban hành luật thuế GTGT, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Bộ tài chính đã có Thông tư hướng dẫn số

Trang 40

89/1998/TT-BTC ngày 27/06/1998 quy định chi tiết thi và hướng dẫn thi hành Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/05/1998 quy định thi hành Luật thuế GTGT Sau đó Chính phủ đã có Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 nhằm bổ sung và sửa đổi một số nội dung của Nghị định 28/1998 Và Bộ tài chính cũng có thông tư số 122/2000 ngày 29/12/2000 nhằm hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT

Đối Tượng Chịu Thuế GTGT

Đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không chịu thuế nêu tại Mục II Phần A

Thông tư này

Đối Tượng Nộp Thuế GTGT

Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối

tượng nộp thuế GTGT

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:

- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Hợp tác xã;

- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác;

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

- Cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác

Đối Tượng Không Chịu Thuế GTGT

Theo qui đinh tại điều 4 Luật thuế GTGT, điều 4 Nghị định 79/2000/NĐ-CP của Chính phủ, các hàng hóa, dịch vụ sau đây không thuộc diện chịu thuế GTGT:

1 Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm trồng rừng), chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông

thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra

2 Sản phẩm muối bao gồm: muối sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt

3 Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế GTGT ở khâu sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh dịch vụ đã chịu thuế tiêu thụ đặc

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN