BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ TÔ THỊ THƯ NHÀN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI S
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
TÔ THỊ THƯ NHÀN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CẦN THƠ, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
TÔ THỊ THƯ NHÀN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CẦN THƠ, 2019
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
TÔ THỊ THƯ NHÀN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 4CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn này với tựa đề là “ Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh”, do học viên Tô Thị Thư Nhàn thực hiện
theo sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Loan Luận văn đã được báo cáo và được
Hội đồng chấm luận văn thông qua ngày … Tháng … năm 2019
Chủ tịch Hội đồng
………
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả muốn bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Loan, người hướng dẫn khoa học cho tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn Nhờ sự hướng dẫn tận tình và sự động viên, khích lệ của Cô mà tác giả đã vượt qua được mọi khó khăn và đạt được kết quả như ngày hôm nay
Tiếp theo, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể thầy, cô Đại học Tây Đô nói chung và đặc biệt là thầy, cô Khoa Sau đại học nói riêng Các thầy,
cô đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn để tác giả hoàn thành được các học phần trong chương trình đào tạo thạc sĩ của Nhà Trường Qua đó, giúp tác giả tích lũy,
bổ sung nhiều kiến thức cần thiết cho việc thực hiện đề tài luận văn này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo và các đồng nghiệp thuộc khoa Kinh tế - QTKD, trường ĐH An Giang đã luôn động viên và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình mình, trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn, gia đình luôn động viên khích lệ
và tạo điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 6TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đưa ra 8 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện gồm: Quy mô doanh nghiệp, thời gian niêm yết, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, có sự tách biệt hội đồng quản trị và giám đốc điều hành, quy mô hội đồng quản trị, quyền sở hữu tổ chức và quyền sở hữu nước ngoài Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên, nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu trên báo cáo thường niên của 122 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015-2017 Tiếp đó, nghiên cứu tiến hành phân tích thống kê mô tả phân tích hệ số tuơng quan để kiểm tra mối tương quan và độ phù hợp của các biến độc lập đo lường bằng thang đo tỷ lệ, kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội Kết quả cho thấy các nhân tố có ý nghĩa trong nghiên cứu là: quy mô doanh nghiệp, thời gian niêm yết, khả năng sinh lời và quyền sở hữu tổ chức Các biến khả năng thanh toán, tách biệt chủ tịch hội đồng quan trị và giám đốc điều hành, quy mô hội đồng quản trị và quyền sở hữu nước ngoài không ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin tự nguyện Từ kết quả phân tích, tác giả đưa ra những kiến nghị đối với các chủ thể liên quan nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết
Trang 7Abstract
Thesis studies the factors affecting the level of voluntary disclosure in annual reports of the companies listed on the stock market in Ho Chi Minh City The research launched 8 factors affecting the extent of disclosure voluntary including: firm size, listed time, profitability, solvency, the separation board and directors executive, board size, organizational ownership and foreign ownership To assess the influence of these factors, researchers collected data conducted on annual reports of 122 companies listed on the stock market in Ho Chi Minh City in the period 2015-2017 Next, the research conducted descriptive statistical analysis correlation coefficient analysis to examine the correlation and relevance of measuring independent variables by the scale ratio, testing multiple linear regression model The results showed that meaningful factors in the study were: firm size, listed time, profitability and organizational ownership The solvency variables, separate Board of Directors Chairman and Chief Executive Officer, board size and foreign ownership does not affect the level of voluntary disclosure From the analysis results, the authors make recommendations for stakeholders to enhance the level of voluntary information disclosure of listed companies
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam kết luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Cần Thơ, ngày tháng 04 năm 2019
Ký tên
Tô Thị Thư Nhàn
Trang 9MỤC LỤC
Chấp thuận của hội đồng i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Lời cam đoan v
Danh sách bảng ix
Danh sách hình - sơ đồ x
Danh mục từ viết tắt xi
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Đóng góp mới của luận văn 4
1.7 Bố cục nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN, CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Lý thuyết liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện 5
2.1.1 Những vấn đề về công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện 5 a Khái niệm công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện 5
b.Yêu cầu về công bố thông tin 6
c Sự cần thiết của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 8
d.Phương tiện công bố thông tin tự nguyện 8
e Nội dung thông tin tự nguyện được công bố trên TTCK 9
f Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện 9
2.1.2 Những vấn đề chung về báo cáo thường niên 10
a Khái niệm báo cáo thường niên 10
b.Thời điểm lập và công bố báo cáo thường niên 11
c Nội dung cơ bản của báo cáo thường niên 11
2.1.3 Các lý thuyết về công bố thông tin 12
a Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 12
b.Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Cost) 14
Trang 10c Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory) 14
d.Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory) 15
e Lý thuyết nhu cầu vốn (Capital need Theory) 16
2.2 Lược khảo nghiên cứu trong nước và nước ngoài 17
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 17
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 19
2.3 Các yếu tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện 23
2.4 Mô hình nghiên cứu 24
2.4.1 Mô hình thiết kế nghiên cứu 24
2.4.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 24
Kết luận chương 2 28
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Khung nghiên cứu 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.2.1 Quy trình nghiên cứu 30
3.3 Thiêt kế nghiên cứu 31
3.3.1 Mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN 31
3.3.2 Đo lường biến 32
a Biến phụ thuộc 32
b Biến độc lập 33
3.3.3 Chọn mẫu 33
3.3.4 Công cụ xử lý dữ liệu 34
Kết luận chương 3 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 38
4.1 Giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 38 4.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 38 4.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của HOSE 38
4.2 Thực trạng CBTTTN trên BCTN của các doanh nghiệp trên HOSE 40
4.2.1 Đánh giá về tình hình CBTTTN trên BCTN của các doanh nghiệp 40 4.2.2 Phân tích thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu 42
4.3 Kiểm định mô hình nghiên cứu 46
4.3.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu 46
4.3.2 Kiểm định sự tương quan giữa các biến trong mô hình 47
4.3.3 Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 47
4.4 Phân tích kết quả mô hình hồi quy 49
4.4.1 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 49
4.4.2 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 50
Kết luận chương 4 52
Trang 11CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 54
5.1.1 Kết luận chung 54
5.1.2 Kết luận về mục tiêu của luận văn 54
5.2 Kiến nghị nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 56
5.2.1 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước 56
5.2.2 Khuyến nghị đối với Hội đồng quản trị và các cổ đông 57
5.2.3 Khuyến nghị đối với nhà đầu tư 58
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 58
5.3.1 Hạn chế của đề tài 58
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 65
Trang 12Bảng 3.1: Mã hóa các biến đưa vào mô hình nghiên cứu
Bảng 3.2: Đo lường các biến độc lập trong mô hình
Bảng 4.1: Phân ngành các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE tới thời điểm
31/12/2017
Bảng 4.2: Bảng mô tả tóm tắt mẫu nghiên cứu
Bảng 4.3: Thống kê mô tả mức độ công bố thông tin tự nguyện
Bảng 4.4: Thống kê phân loại mức độ công bố thông tin tự nguyện
Bảng 4.5: Thống kê kết quả mức độ CBTTTN trên sàn HOSE giai đoạn
2015-2017 theo nhóm thông tin
Bảng 4.6: Ma trận hệ số tương quan
Bảng 4.7: Hệ số nhân tử phóng đại phương sai (VIF)
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định phương sai sai số
Bảng 4.9: Kết quả phương trình hồi quy tuyến tính bội
Trang 13DANH SÁCH HÌNH - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết
Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu
Hình 4.1: Mức độ CBTTTN theo nhóm thông tin
Trang 14DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTGDCK Thị trường giao dịch chứng khoán
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thị trường chứng khoán (TTCK), thông tin là yếu tố nhạy cảm ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của nhà đầu tư Vì vậy, công bố thông tin (CBTT) là trách nhiệm và cũng là nghĩa vụ rất quan trọng đối với các tổ chức khi tham gia thị trường, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng của hoạt động tài chính, góp phần vào sự phát triển lành mạnh của TTCK
Yêu cầu của các nhà đầu tư đối với việc CBTT đang ngày càng cao hơn, không chỉ ở việc công bố thông tin bắt buộc, mà còn cả việc công bố thông tin tự nguyện (CBTTTN) Thời gian gần đây, vấn đề tự nguyện CBTT được các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn Theo Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012) thì tự nguyện CBTT là một khái niệm khá trừu tượng, đó là việc ngoài các thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp Theo Yinh Chu (2012), thì việc công bố những thông tin tự nguyện góp phần rất quan trọng trong việc cải thiện chất lượng công bố thông tin, thể hiện giá trị tương lai và giá trị thật sự của các doanh nghiệp Những ưu điểm của việc công bố thông tin tự nguyện đó là: thu hút các nhà đầu tư, truyền tải những thông tin nhạy cảm để giải thích cho những khoản đầu tư lớn; nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Thông tin mà các doanh nghiệp cần công bố trên được trình bày chủ yếu trên các báo cáo: Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên, bản cáo bạch, báo cáo của Hội đồng cổ đông thường niên,…Theo tác giả thì báo cáo có tính đa dạng thông tin nhất, thấy được toàn cảnh của một công ty nhất là báo cáo thường niên Bởi báo cáo này không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà cung cấp cả thông tin phi tài chính, cả thông tin hiện tại và tương lai, cả thông tin định lượng và định tính, cả thông tin về nhà lãnh đạo, người lao động, khách hàng, các bên liên quan…Theo đó, báo cáo mà để nhà quản lý công bố thông tin tự nguyện thuận lợi và phù hợp nhất là báo cáo thường niên Đối với nhiều người sử dụng ở các nước phát triển và đang phát triển, các báo cáo thường niên được coi là quan trọng nhất, thường xuyên nhất và nguồn gốc của thông tin xác thực nhất trong tất cả các nguồn khác (Botosan, 1997; Châu & Gray, 2010), đã được trích dẫn bởi Yu Tian & Jingliang Chen (2009)
Trang 16Thấy rõ được yêu cầu ngày càng cao về việc CBTT của các doanh nghiệp từ các nhà đầu tư cũng như tầm quan trọng của việc CBTT ở các công ty đại chúng Từ
đó tăng cường mức độ và chất lượng thông tin công bố, bảo về lợi ích nhà đầu từ, tạo sự minh bạch và ổn định cho thì trường, Bộ Tài chính và ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa ra những quy định thích hợp đối với hoạt động CBTT trên thị trường chứng khoán nắm bắt thông tin Cụ thể từ 2007 đến 2015 BTC đã có tới
04 thông tư hướng dẫn về CBTT trên thị trường chứng khoán được ban hành thay thế cho nhau Gần đây nhất là Thông tư 155/2015/TT-BTC được ban hành để thay thế thông tư 52/2012/TT-BTC nhằm nâng cao trách nhiệm công bố thông tin của các thành viên thị trường và nhà đầu tư, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trên TTCK, đồng thời nâng cao tính công khai minh bạch của thị trường. Tuy nhiên năm 2016, năm 2017 và 2018, Vietstock cùng kết hợp với Báo Tài chính và Cuộc sống (FiLi) thực hiện cuộc khảo sát toàn diện về
mức độ tuân thủ đúng và đầy đủ về nghĩa vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả, năm 2017 chỉ có 114/672 DNNY thuộc danh sách khảo sát đạt chuẩn công bố thông tin, tương ứng tỷ lệ là 16,69%; năm 2018
có 266/686 DNNY thuộc danh sách khảo sát đạt chuẩn công bố thông tin, tương ứng với tỷ lệ là 38,78% Vậy tại sao đã có quy định về việc CBTT trên TTCK nhưng các doanh nghiệp vẫn chưa chấp hành tốt việc này? Nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết? Chính
vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ
Kinh tế của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Trọng tâm của đề tài là đi tìm các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTTTN trên báo cáo thường niên (BCTN) của các doanh nghiệp tại sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và đề xuất mốt số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao mức độ CBTTTN của các DN trên HOSE
Trang 17- Trên cơ sở phân tích thực trạng đã nêu, luận văn đề xuất mốt số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao mức độ thông tin tự nguyện được công bố
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn này cần đi vào trả lời cho các câu
- Câu hỏi 3: Những kiến nghị nào để nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện của các DNNY trên sàn HOSE
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên sàn HOSE trong 3 năm 2015,
2016 và 2017
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu chọn nhóm các doanh nghiệp trên sàn HOSE sau khi loại trừ các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính như: công ty chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, các quỹ đầu tư
Phạm vi về thời gian: Dữ liệu dùng trong nghiên cứu được tác giả thu thập từ
BCTN và BCTC năm 2015, 2016 và 2017 của các doanh nghiệp nêu trên
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đề ra của luận văn, tác giả kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
Nghiên cứu định tính: tác giả lựa chọn các biến độc lập kế thừa từ nghiên cứu của Barako (2007) liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Bên cạnh
đó, tác giả đối chiếu danh mục các mục thông tin công bố tự nguyện kế thừa từ
Tạ Quang Bình (2012) với thông tư 155/2015/TT-BTC để đưa ra danh mục chỉ số CBTTTN chính thức Để đo lường biến phụ thuộc mức độ CBTTTN và các biến độc lập, trong nghiên cứu này tác giả kế thừa việc sử dụng thang đo từ các nghiên
Trang 18cứu trước: Coombs&Tayib (1998) và Cooke (1992)
Nghiên cứu định lượng bao gồm:
Phương pháp thu thập dữ liệu: Tiến hành thu thập dữ liệu từ BCTN của 122
DNNY trên sàn HOSE được công bố trên website https://www.hsx.vn
Phương pháp phân tích dữ liệu: Tác giả dùng phương pháp đo lường chỉ số CBTT
để đo lường mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng phuơng pháp thống kê mô tả, phân tích hệ số tuơng quan để kiểm tra mối tương quan và độ phù hợp của các biến độc lập đo lường bằng thang đo tỷ lệ, kiểm định
mô hình hồi quy tuyến tính bội Các phân tích này đều đuợc thực hiện bằng phần mềm STATA 14.0
1.6 Đóng góp mới của luận văn
Để thực hiện luận văn này, tác giả có sự tham khảo, kế thừa vận dụng các kiến thức thu thập được trong quá trình nghiên cứu, đồng thời cũng tiếp tục nghiên cứu thực trạng những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE, cụ thể :
- Nghiên cứu tổng quan lại các nghiên cứu có liên quan được công bố trước
đó Từ đó giúp cho người đọc thấy được sự cần thiết của vấn đề tác giả đang nghiên cứu
- Nghiên cứu đã tìm ra và đánh giá được các nhân tố ảnh đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn HOSE Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể giúp các nhà đầu tư cũng như các đối tượng sử dụng thông tin tài chính từ các công ty đăng ký giao dịch trên sàn HOSE đưa ra được quyết định phù hợp hơn, hiệu quả hơn trong quá trình đầu tư
1.7 Bố cục nghiên cứu
Ngoài các danh mục biểu bảng, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 05 chương:
- Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu trước và mô hình nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
- Chương 5: Kết luận, kiến nghị và giải pháp
Trang 19CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN,
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Nội dung chính của chương này tác giả phân tích các lý thuyết nền tảng có liên quan, tổng quan những nghiên cứu trước làm cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu Nội dung chương 2 bao gồm:
- Tổng hợp một số khái niệm, quy định liên quan đến CBTTTN và BCTN
- Nêu ra các lý thuyết nền tảng liên quan đến mức độ CBTTTN
- Xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết
2.1 Lý thuyết liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
2.1.1 Những vấn đề về công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện
a Khái niệm công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện
Thông tin đề cập trong nghiên cứu này là những thông tin liên quan đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chinh, cả thông tin định lượng và định tính, cả hiện tại và tương lai
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết, công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm bảo đảm các cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông tin Công bố thông tin kế toán (Accountinng Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên
Theo Tạ Quang Bình-Vụ Phát Triển Thị Trường Chứng Khoán (UBCKNN), CBTT được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia vào TTCK phải có nghĩa
vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết Nói cách khác, CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tính hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tố chức niêm yết, công ty đại chúng các thông tin về tình hình thị trường
Trang 20Trong lý thuyết kế toán (Vũ Hữu Đức, 2010), công bố được định nghĩa là việc chuyển đưa các thông tin của các báo cáo ra ngoài công chúng Công bố được gọi
là giai đoạn cuối cùng của một chu trình kế toán Nội dung, hình thức và số lượng CBTT tùy thuộc vào quy định và luật pháp của mỗi quốc gia
Theo Francesca Citro (2013), CBTT bao gồm hai loại là CBTT bắt buộc và CBTT
tự nguyện (không bắt buộc)
CBTT bắt buộc: được định nghĩa là những công bố kế toán được yêu cầu bởi
những quy định của luật pháp ở một vùng lãnh thổ hoặc một quốc gia, theo Luật Kinh doanh, các chuẩn mực kế toán, các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP và
ủy ban chứng khoán Các công bố này được trình bày mang tính chất định kỳ và thường xuyên
CBTT tự nguyện: là sự lựa chọn CBTT của doanh nghiệp, hoàn toàn không bắt
buộc Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố những thông tin mà luật pháp không yêu cầu Nói cách khác CBTT tự nguyện là những thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin ở bên ngoài doanh nghiệp như các các nhà đầu tư, cổ đông, Nó được công bố hay không là phụ thuộc vào nhà lãnh đạo công ty, vào điều kiện kinh tế, văn hóa của mỗi công ty, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia khác nhau Không có định nghĩa chung hoặc cơ sở lý thuyết nào nói về khái niệm CBTT tự nguyện
Trong một nghiên cứu của Naser and Nuseibeh (2003), tác giả đã phân loại CBTT
tự nguyện thành hai dạng: (a) CBTT tự nguyện có liên quan đến công bố bắt buộc, (b) CBTT tự nguyện không liên quan đến công bố bắt buộc Theo xu hướng hiện nay thì các CBTT tự nguyện đang thu hút mối quan tâm rất lớn, từ những nguời
sử dụng thông tin bởi sự hiệu quả và hữu ích của nó, vì vậy có rất nhiều CTNY cũng đã cung cấp rất nhiều thông tin giá trị để tạo niềm tin cho các cổ đông, và nâng cao vị thế của doanh nghiệp
b Yêu cầu về công bố thông tin
Yêu cầu về công bố thông tin kế toán
Theo VAS 01: chuẩn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ bản đối với kế toán, trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh
Yêu cầu công bố thông tin trong báo cáo tài chính
Theo VAS 01: chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính
Trang 21Bên cạnh đó, VAS 21: trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày cáo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập BCTC; kết cấu và nội dung chủ yếu của BCTC
Yêu cầu công bố thông tin của DN niêm yết
Kể từ khi thông tư đầu tiên hướng dẫn về CBTT trên TTCK ra đời vào năm 2004 (Thông tư 57/2004/TT-BTC), tính đến nay, cơ quan quản lý đã 4 lần ban hành thông tư thay thế vào các năm 2007 (Thông tư số 38/2007/TT-BTC), năm 2010 (Thông tư số 09/2010/TT-BTC), năm 2012 (Thông tư số 52/2012/TT - BTC) và năm 2015 (Thông tư số 155/2015/TT-BTC) Quy định về CBTT được sửa đổi và điều chỉnh, đồng nghĩa với việc các CTNY cũng phải thực hiện các điều chỉnh về quy trình công bố, cũng như cập nhật lại nội dung để có thể CBTT một cách đầy
đủ, chính xác và đúng quy định
Việc CBTT được thực hiện trên các trang thông tin điện tử của CTNY, hoặc trên các phương tiện CBTT của Sở giao dịch Chứng khoán, ủy ban Chứng khoán Nhà nước, và được lưu trữ bằng văn bản, hoặc dữ liệu điện tử tối thiểu mười (10) năm,
và lưu giữ trên trang thông tin điện tử của công ty tối thiếu là năm (5) năm Trong nghiên cứu này tác giả dựa vào Thông tư số 155/2015/TT-BTC để phân loại CBTT thành ba dạng như sau:
(a) Lợi nhuận sau thuế trong kỳ báo cáo bị lỗ; hoặc chuyển từ lãi ở kỳ trước sang
lỗ ở kỳ này hoặc ngược lại, (b) số liệu, kết quả hoạt động kinh doanh tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáo có sự chênh lệch trước và sau kiểm toán hoặc soát xét từ 5% trở lên
CBTT bất thường:
Công ty phải công bố các thông tin bất thường trong thời hạn 24 giờ, khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
Trang 22(1) Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong toả hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong toả (2) Tạm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh
CBTT theo yêu cầu:
CTNY phải công bố thông tin trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu của
Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước, và Sở giao dịch chứng khoán nơi CTNY đăng
ký giao dịch, trong các trường hợp sau: (a) xảy ra sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, (b) có thông tin liên quan đến giá chứng khoán của CTNY và cần phải xác nhận thông tin đó
Các yêu cầu của CBTT được quy định rõ trong Thông tư 155/2015/TT-BTC Thông tư yêu cầu CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật, hoạt động CBTT phải do Giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin
do người được ủy quyền
c Sự cần thiết của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Đối với công tác quản lý thị trường
Giúp cho các tổ chức CBTT một cách chính xác thông tin công bố Theo dõi liên tục quá trình phát triển của các tổ chức là công cụ quản lý gián tiếp có tác động trở lại trong việc quản lý hoạt động CBTT còn là công cụ gián tiếp có tác động quản lý các DNNY từ chính các thông tin công bố
Đối với nhà đầu tư
- Đảm bảo nhận được thông tin một cách chính xác
- Đảm bảo tính công bằng chống các hành vi gian lận
- Đảm bảo cung cấp thông tin liên tục và đa dạng
- Đối với trung tâm giao dịch chứng khoán
- Là công cụ giúp cho TTGDCK và SGDCK công bố thông tin kịp thời
d Phương tiện công bố thông tin tự nguyện
Tại Việt Nam hiện nay thì các phương tiện công bố thông tin trên TTCK được quy định tại điều 5, TT 155/2015/TT-BTC bao gồm:
- Trang thông tin điện tử (website) của tổ chức là đối tượng công bố thông tin;
Trang 23- Hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán;
- Trang thông tin điện tử của Trung tâm lưu ký chứng khoán;
- Các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật (báo
in, báo điện tử )
Thông tin mà các công ty đại chúng cần công bố trên các phương tiện nêu trên được trình bày chủ yếu trên các báo cáo: Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên, bản cáo bạch, báo cáo của Hội đồng cổ đông thường niên,…
e Nội dung thông tin tự nguyện được công bố trên TTCK
Thông tin bắt buộc công bố trên TTCK ở mỗi quốc gia, mỗi văn bản được quy định khác nhau, do đó thông tin tự nguyện cần công bố cũng khác nhau
Hiện nay, tại Việt Nam quy định về công bố thông tin bắt buộc trên TTCK được thể hiện chi tiết, cụ thể và có hệ thống là Thông tư 155/2015/TT– BTC Do đó, nội dung thông tin tự nguyện được công bố trên TTCK đề cập ở nghiên cứu này
là tất cả các thông tin nằm ngoài quy định bắt buộc phải công bố trong báo cáo thường niên của các doanh nghiệp đối chiếu theo quy định hiện hành là TT155/2015/TT – BTC
f Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện
Theo Omaima Hassan (2010), để đo lường thông tin được công bố các nhà nghiên cứu thường sử dụng 2 phương pháp sau:
Phương pháp 1: Biến công bố thông tin được đo lường không dựa vào các phương tiện công bố thông tin ban đầu:
- Khảo sát công bố thông tin
- Xem xét sự tồn tại của ADR (American Depositary Receipts)
- Dự đoán của các nhà phân tích (AAF) và số lượng các nhà phân tích theo dõi công ty
Phương pháp 2: Biến công bố thông tin được đo lường dựa vào các phương tiện công bố thông tin ban đầu:
- Phân tích nội dung
- Chỉ số công bố thông tin
- Dự đoán quản trị
Trang 24- Công bố thông tin tốt hay xấu
- Tần suất công bố thông tin
Mỗi phương pháp được sử dụng tùy theo mục đích khác nhau của mỗi nghiên cứu
Để không cần đi sâu vào vấn đề đánh giá chất lượng của thông tin được công bố
mà chỉ cần đánh giá xem thông tin được công bố đầy đủ hay không thì phương pháp đo lường chỉ số công bố thông tin là phù hợp
Chỉ số công bố thông tin là một danh sách các khoản mục được lựa chọn, những thông tin có thể được công bố trên báo cáo của công ty (Marston và Shrives, 1991) Danh mục thông tin công bố có thể bao gồm cả thông tin bắt buộc và / hoặc các mục thông tin tự nguyện Nó có thể bao gồm thông tin báo cáo trong một hoặc nhiều phương tiện CBTT của công ty như: báo cáo thường niên, báo cáo tạm thời, quan hệ nhà đầu tư Nó cũng có thể bao gồm các thông tin báo cáo của chính công
ty và/hoặc những người khác chẳng hạn như các nhà phân tích tài chính Do đó, chỉ
số công bố thông tin là một công cụ nghiên cứu để đo lường mức độ thông tin báo cáo trong một phương tiện công bố cụ thể của một tổ chức cụ thể theo một danh sách các mục thông tin được lựa chọn, (Hassan, 2010)
Trong bản thân phương pháp chỉ số CBTT lại có 2 cách sử dụng khác nhau là cho điểm trọng số và không cho điểm trọng số (Cooke, 1989) Những nhà nghiên cứu ủng hộ phương pháp cho điểm trọng số vì họ cho rằng mỗi mục thông tin có tầm quan trọng khác nhau Việc cho điểm trọng số là tùy thuộc vào bản thân người nghiên cứu (Botosan, 1997), hay nhóm người dùng liên quan thông qua khảo sát (Hassan, 2010) Tuy nhiên, việc cho điểm trọng số từng khoản mục thông tin lại mang tính chủ quan khi phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, nhận thức và quan điểm của người nghiên cứu Những người ủng hộ cho phương pháp không cho điểm trọng số giả định là các mục thông tin có tầm quan trọng như nhau đối với người dùng thông tin Phương pháp này được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như: Hossain & cộng sự (2009), Sehar, Bilal & Tufail (2013), Hassan & Hossain (2015), …Dựa trên danh sách các mục thông tin, việc đo lường công bố thông tin được thực hiện bằng việc cho điểm “1” đối với thông tin mà công ty có công bố
và “0” với thông tin không được công bố, điểm số CBTT cuối cùng của một công
ty được cộng dồn (Cooke, 1989)
2.1.2 Những vấn đề chung về báo cáo thường niên
a Khái niệm báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên (annual report) là tài liệu quan trọng được doanh nghiệp
Trang 25lập hàng năm để truyền tải thông tin về quản trị, hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính cũng như các khía cạnh khác của doanh nghiệp trong một năm qua và định hướng, chiến lược trong thời gian tới
Theo đó mục đích của BCTN là nhằm giới thiệu cho các nhà đầu tư một cách đầy
đủ các hoạt động trọng yếu và tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và nhằm mục đích chính là dự đoán giá cổ phiếu và các yếu tố liên quan như lãi trên mỗi cổ phiếu (EPS) của doanh nghiệp trong tương lai Bởi vậy việc trình bày báo cáo thường niên cũng như các số liệu tài chính trong quá khứ phải làm sao giúp các nhà đầu tư dễ dự đoán tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là EPS tương lai Các nhà đầu tư vốn chủ sở hữu kỳ vọng vào cả cổ tức và sự tăng trưởng trong giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ Các nhà đầu
tư có rủi ro là có thể không nhận được những khoản tiền này Do vậy các nhà đầu
tư sử dụng các báo cáo thường niên để: (1) Dự đoán các khoản lãi kỳ vọng của họ
và (2) Đánh giá các rủi ro gắn liền với các khoản tiền lãi này
b Thời điểm lập và công bố báo cáo thường niên
Theo Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 của Bô ̣ Tài chính, công ty đại chúng phải lập Báo cáo thường niên và công bố thông tin về Báo cáo thường niên chậm nhất là hai mươi (20) ngày sau khi công bố Báo cáo tài chính năm được kiểm toán nhưng không vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Việc công bố thông tin phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, phương tiện công bố thông tin của Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch) và lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười (10) năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo Thông tin tài chính trong BCTN phải phù hợp với BCTC năm được kiểm toán
c Nội dung cơ bản của báo cáo thường niên
Mỗi quốc gia quy định về nội dung trên BCTN không giống nhau, tại Việt Nam theo Thông tư 155/2015/TT- BTC của Bộ Tài chính, Báo cáo thường niên phải bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thông tin chung về doanh nghiệp
Thông tin khái quát, Quá trình hình thành và phát triển, Ngành nghề và địa bàn kinh doanh, Thông tin về mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản
lý, Định hướng phát triển, Các rủi ro
Tình hình hoạt động trong năm
Trang 26Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, Tổ chức và nhân sự, Tình hình đầu tư, tình hình thực hiện các dự án, Tình hình tài chính, Cơ cấu cổ đông, thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu, Báo cáo tác động liên quan đến môi trường của công ty
Báo cáo và đánh giá của Ban Giám Đốc
Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Tình hình tài chính, Những cải tiến về cơ cấu tổ chức, chính sách, quản lý, Kế hoạch phát triển trong tương lai, Giải trình của Ban Giám đốc đối với ý kiến kiểm toán (nếu có), báo cáo đánh giá liên quan đến trách nhiệm về môi trường của công ty
Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Công ty (đối với công ty
cổ phần)
Đánh giá của Hội đồng quản trị về các mặt hoạt động của Công ty (trong đó có đánh giá liên quan đến trách nhiệm môi trường và xã hội, đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Ban Giám đốc công ty, các kế hoạch, định hướng của Hội đồng quản trị
Quản trị công ty
Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Các giao dịch, thù lao và các khoản lợi ích của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát
Báo cáo tài chính
Ý kiến kiểm toán và Báo cáo tài chính được kiểm toán
Theo TT 155/2015/TT-BTC thì BCTN được lập bằng song ngữ (Anh-Việt) để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, các DN cần phải công CBTT liên quan đến phát triển bền vững (Báo cáo liên quan đến môi trường và xã hội của công ty) CBTT về Quản trị công ty sẽ không bắt buộc đối với các công ty không phải là tổ chức niêm yết
2.1.3 Các lý thuyết về công bố thông tin
a Lý thuyết đại diện (Agency Theory)
Lý thuyết đại diện xác định mối quan hệ đại diện như một hợp đồng, theo đó một hay nhiều người cam kết với người khác (đại diện) thực hiện một vài dịch vụ nhân danh họ (Jensen & Meckling, 1976) Trong lý thuyết đại diện, chủ sở hữu là cổ đông và các nhà quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp là đại diện của cổ đông; mối quan hệ giữa cổ đông và người đại diện sẽ phát sinh một khoản lỗ do
có sự chênh lệch giữa người đại diện quản lý hoạt động của doanh nghiệp và các
Trang 27cổ đông Hai bên đều mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình, trong khi cổ đông mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị của doanh nghiệp, còn đối với nhà quản lý thì mong muốn tối đa hóa thu nhập Từ đó gây ra xung đột lợi ích, kèm theo thông tin bất cân xứng làm nảy sinh những nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động của DN không đạt mức tối ưu, gây thiệt hai cho các nhà đầu tư Do nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động của DN nên dễ chủ động trong việc nắm bắt các thông tin của DN và có thể thực hiện những hành động hay quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích cho mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư Trong khi đó, nhà đầu tư, cổ đông không trực tiếp quản lý
DN nên ít có cơ hội tiếp cận thông tin trực tiếp từ DN để ra quyết định, bị động trong thu thập thông tin của DN Nhà quản lý có thể khai khống doanh thu, khai thiếu chi phí làm tăng lợi nhuận ảo DN để hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận cổ đông
đề ra Như vậy sẽ làm cho thông tin kế toán trên BCTC không còn trung thực chính xác và đáng tin cậy Những tổn thất gây ra trong trường hợp này được gọi
là chi phí đại diện Và mâu thuần giữa người ủy nhiệm và người được ủy nhiệm bất cân xứng thông tin tạo ra chi phí đại diện
Theo Jensen & Meckling (1976) chia chi phí đại diện làm ba loại bao gồm:
Chi phí giám sát:
Là chi phí dùng để giám sát hành vi của người được đại diện (nhà quản lý), nhằm
để họ phục vụ cho lợi ích của người đại diện (các cổ đông) Các chi phí này được tính vào chi phí hoạt động của công ty nên sẽ làm giảm lợi ích của các cổ đông là bên đại diện, vì vậy bên đại diện sẽ tự bảo vệ lợi ích của mình bằng cách điều chỉnh số tiền mà họ trả cho bên được đại diện
Chi phí liên kết:
Là chi phí dùng để thiết lập và duy trì một cơ chế mà người được đại diện (nhà quản lý) đảm bảo quyền lợi cho người đại diện (các cổ đông) Như vậy nhà quản
lý phải chịu các chi phí liên kết như:
- Thời gian và công sức bỏ ra đế làm các báo cáo (BCTC, báo cáo quản trị )
- Những giới hạn trong hoạt động quản lý, khi phải thực hiện các báo cáo về các thông tin minh bạch cho các nhà đầu tư, các cố đông
- Các khoản thu nhập khác sẽ bị mất đi vì công ty không tiến hành thực hiện các hoạt động họp tác với bên ngoài
Các chi phí khác:
Là các ảnh hưởng làm giảm lợi ích của bên đại diện ngay cả khi đã phát sinh chi
Trang 28phí giám sát và chi phí liên kết, nguyên nhân ở đây là do nhà quản lý không nỗ lực hết mình để tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông, mà chỉ cố gắng làm việc trong phạm vi nhất định, lúc này các chi phí khác đã phát sinh
Một vài yếu tố liên quan đến lý thuyết đại diện là quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, thời gian niêm yết
b Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Cost)
Lý thuyết ủy nhiệm nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm (Jensen &Meekling, 1976) cho rằng cả 2 bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm đều muốn cư xử theo hướng tối đa hóa lợi nhuận của mình
Trong công ty cổ phần, bên ủy nhiệm chính là chủ sở hữu hay là các cổ đông, bên được ủy nhiệm là nhà quản lý công ty Các cổ đông thuê các nhà quản lý công ty
để họ thay mặt các cổ đông thực hiện việc đề ra các quyết định kinh tế nhằm tối
đa hóa lợi ích cho các cổ đông Tuy nhiên trong quá trình điều hành, nhà quản lý
có thể đưa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho bản thân hơn là lợi ích cho các cổ đông Do đó, nhà quản lý có thể che giấu những thông tin gây bất lợi cho nhà đầu tư Những tổn thất gây ra trong trường hợp như thế gọi là chi phí ủy nhiệm Chi phí ủy nhiệm có xu hướng gia tăng theo quy mô của doanh nghiệp Vì vậy để giảm thiểu chi phí ủy nhiệm thì các doanh nghiệp có quy mô lớn thường lựa chọn việc công bố nhiều thông tin hơn Bên cạnh đó, bên ủy nhiệm có thể thiết
kế hệ thống kiểm tra, giám sát trong nội bộ đơn vị nghiêm ngặt và chặt chẽ hơn như tăng số lượng thành viên HĐQT, giảm sự phân tán quyền sở hữu, tách biệt CT.HĐQT và GĐ điều hành, tăng số lượng thành viên HĐQT độc lập, thành lập ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ khi đó nhà quản lý sẽ phải có trách nhiệm cao trong việc cung cấp thông tin liên quan về tình hình hoạt động của đơn vị
Với việc phân tích nội dung lý thuyết ủy nhiệm, tác giả đưa ra những nhận định liên quan đến bài nghiên cứu của mình như sau: Sự tách biệt chức danh CT.HĐQT
và GĐ điều hành, tính độc lập của HĐQT, tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông tổ chức có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN
c Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory)
Lý thuyết chi phí sở hữu chỉ ra nguyên nhân được coi là rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến công bố thông tin của DN Đó là vị thế trong cạnh tranh của DN, sẽ ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin liên quan đến DN Các DN có quy mô nhỏ thường chịu ảnh hưởng nhiều, nếu công bố thông tin ở mức độ lớn
Trang 29nào đó hoặc công bố thông tin nhiều hơn, sẽ có ảnh hưởng không tốt đến lợi thế cạnh tranh của DN trên thị trường
Theo lý thuyết này, mức độ trình bày thông tin trên báo cáo bộ phận (BCBP) giữa các công ty không những phụ thuộc vào đặc điểm từng công ty mà còn phụ thuộc vào những chi phí công ty phải trả để làm điều này Điều này có nghĩa là, việc cung cấp nhiều hay ít thông tin bộ phận là không chỉ phụ thuộc vào quy định BCBP mà còn phụ thuộc vào hành vi áp dụng quy định của DN Theo lý thuyết chi phí sở hữu (Dye, 1986; Verrecchia, 1983), hành vi này của DN được lý giải như sau: mức độ thông tin mà DN cung cấp phụ thuộc vào những chi phí mà DN phải đối mặt Đặc biệt, DN sẽ hạn chế cung cấp thông tin khi mà thông tin cung cấp này có ảnh hưởng xấu đến vị thế cạnh tranh của DN Kết quả là khi DN quyết định lựa chọn thông tin nào cần cung cấp, nhà quản lý sẽ cân nhắc đến lợi ích nhận được cũng như rủi ro có thể ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của DN Điều
đó cũng có nghĩa là mức độ trình bày thông tin báo cáo bộ phận có bị ảnh hưởng
bởi yếu tố cạnh tranh giữa các DN kinh doanh cùng lĩnh vực
Từ phân tích nội dung lý thuyết trên, tác giả đưa ra nhận định liên quan đến bài nghiên cứu như sau: Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN
d Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory)
Mặc dù lý thuyết tín hiệu ban đầu được phát triển để làm rõ sự không đối xứng về thông tin trong thị trường lao động (Spence, 1973), nó đã được sử dụng để giải thích việc công bố thông tin trong báo cáo của công ty (Ross, 1977) Kết quả của vấn đề bất đối xứng thông tin là các công ty cố gắng cung cấp thông tin nhất định cho các nhà đầu tư, để cho thấy rằng họ tốt hơn so với các công ty khác trên thị trường, với mục đích thu hút đầu tư và nâng cao danh tiếng (Verrecchia, 1983)
Tự nguyện công bố thông tin nghĩa là, các công ty sẽ tiết lộ nhiều hơn thông tin
so với những quy định bắt buộc yêu cầu của luật pháp và các quy định để báo hiệu rằng họ là tốt hơn (Campbell và cộng sự, 2001)
Nghiên cứu về lý thuyết tín hiệu (Richard D Morris, 2012) đã góp phần dự đoán rằng, các công ty chất lượng cao hơn sẽ lựa chọn các chính sách kế toán cho phép thông tin tốt sẽ được tiết lộ, trong khi các công ty có chất lượng thấp sẽ lựa chọn chính sách kế toán mà cố gắng để giấu thông tin có chất lượng kém Ví dụ, một công ty chất lượng cao hơn có thể sẽ sẵn sàng cung cấp thông tin bộ phận về rủi
ro cũng như lợi nhuận theo từng hoạt động của nó, nhưng một công ty có chất
Trang 30lượng thấp sẽ không cung cấp Tương tự như vậy, một công ty chất lượng cao có thể tự nguyện tiết lộ một dự báo thu nhập, nhưng công ty chất lượng thấp sẽ không
Vì thế, để tạo ra điểm nhấn về chất lượng hoạt động của công ty, các công ty thường thể hiện vị thế của công ty thông qua việc công bố thông tin Nhờ có thông tin cung cấp, các đối tượng sẽ đánh giá được sự khác biệt trong hoạt động giữa các công ty khác nhau Do vậy, mức độ công bố thông tin phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển của DN chẳng hạn như quy mô, kết quả kinh doanh và tốc độ
tăng trưởng
Dựa trên phân tích nội dung lý thuyết tín hiệu tác giả đưa ra những nhận định liên quan đến nghiên cứu của mình: Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN tại doanh nghiệp
e Lý thuyết nhu cầu vốn (Capital need Theory)
Các công ty nhằm mục đích thu hút nguồn tài chính bên ngoài để tăng vốn của
họ, hoặc bằng nợ hoặc vốn cổ phần Lý thuyết về nhu cầu vốn cho thấy, việc tăng mức độ công bố thông tin giúp đạt được nhu cầu của công ty trong việc huy động vốn với chi phí thấp (Choi, 1973) Trong 2001, theo Báo cáo cải thiện kinh doanh: Những hiểu biết sâu sắc về tăng cường tự nguyện công bố thông tin được xuất bản bởi Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính, trích từ một phần của Dự án Nghiên cứu Báo cáo Kinh doanh chỉ ra sự cạnh tranh về vốn dẫn đến mức độ công
bố thông được tăng lên Lý do căn bản thực tế là "Chi phí vốn của công ty được cho là bao gồm phí bảo hiểm cho sự không chắc chắn của nhà đầu tư về tính đầy
đủ và tính chính xác của thông tin có sẵn về công ty" Vì vậy, chi phí vốn của công ty sẽ giảm đi khi các nhà đầu tư có thể giải thích triển vọng kinh tế của công
ty thông qua thông tin được cung cấp (Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính, 2001) Mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và chi phí vốn được cho là một mối quan hệ cùng chiều; việc tiết lộ thông tin càng cao thì chi phí vốn càng thấp Tuy nhiên, như Botosan (2006) nhấn mạnh, một "dòng nghiên cứu khác chỉ
ra rằng một số loại thông tin nhất định được công bố có thể có tác dụng ngược
lại"
Lý thuyết này một lần nữa cho người đọc thấy được tầm quan trọng của CBTTTN rằng mức độ CBTTTN càng cao thì bất cân xứng thông tin càng giảm Khi đó giúp nhà đầu tư yên tâm đầu tư hơn, ngược lại doanh nghiệp cũng thu hút được nhiều vốn hơn Theo đó, các doanh nghiệp trên TTCK cần cung cấp càng nhiều
Trang 31thông tin tự nguyện cho người dùng càng tốt đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài
vì tình trạng bất cân xứng thông tin cao hơn do khoảng cách địa lý, khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, pháp lý…
2.2 Lược khảo nghiên cứu trong nước và nước ngoài
Để tiến hành các bước nghiên cứu cho luận văn này, tác giả có tham khảo một
số các nghiên cứu có liên quan như sau :
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Dulacha G Barako (2007): “Determinants of voluntary disclosures in Kenyan
companies annual reports” Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính, đầu tiên là để
kiểm tra mức độ CBTTTN qua các báo cáo thường niên của các công ty ở Kenyan niêm yết trên sàn chứng khoán trong khoảng thời gian mười năm (1992 – 2001) Thứ hai, kiểm tra các yếu tố quyết định mức độ CBTT tự nguyện của các công ty này Với thông tin tự nguyện được chia làm 4 loại: thông tin chung và chiến lược, tài chính, hoạch định tương lai và thông tin xã hội Các yêu tố được cho là quyết định đến mức độ CBTTTN tác giả chia làm 3 nhóm: Đặc điểm công ty, đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT), cấu trúc sở hữu Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ
CBTTTN còn thấp, mặc dù có cải thiện qua các năm Trong đó, thông tin chung
và chiến lược có mức độ công bố cao hơn các thông tin còn lại Kết quả cũng chỉ
ra rằng các biến độc lập như cơ cấu ban lãnh đạo, quyền sở hữu nước ngoài, quyền
sở hữu tổ chức và quy mô doanh nghiệp là rất quan trọng cho tất cả bốn loại thông tin công bố Biến thành phần HĐQT có quan hệ tiêu cực với mức độ CBTTTN Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) : “Determinants and features of
voluntary disclosure in the Chinese stock market” Bài viết này cung cấp các
phân tích chuyên sâu về các yếu tố quyết định đến mức độ CBTTTN của các công
ty niêm yết tại Trung Quốc Với quy mô mẫu được các tác giả chọn là rất lớn, 80% công ty niêm yết trên hai sàn Thượng Hải và Thâm Quyến Dữ liệu được dùng cho nghiên cứu là báo cáo thường niên năm 2006 của các công ty này Mức
độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số CBTT với một danh sách rất quy mô là
119 khoản mục Các biến độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Đòn bẩy, tài sản cố định, tính thanh khoản, loại công ty kiểm toán, ROE, quyền
sở hữu khuếch tán, tỷ lệ HĐQT không điều hành, quyền sở hữu nhà nước, môi trường pháp lý, quy mô doanh nghiệp, chí phí vốn chủ sở hữu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản cố định, ROE, và quyền
sở hữu khuếch tán có tác động tích cực lên CBTTTN Loại kiểm toán viên và môi
Trang 32trường pháp lý có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN
Sweiti and Attayah (2013): Critical Factors Influencing Voluntary Disclosure:
The Palestine Exchange “PEX” Nghiên cứu này xem xét những nhân tố ảnh
hưởng đến việc CBTTTN trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên PEX Nghiên cứu phân tích các công ty niêm yết tại Palestine Exchange
“PEX”, mẫu được chọn là 48 công ty cho năm 2011, và 35 công ty cho năm 2007
Nghiên cứu xem xét mức độ mà các yếu tố quan trọng như tỷ lệ HĐQT không
điều hành, ủy ban kiểm toán, quy mô hội đồng quản trị, hoạt động của hội đồng quản trị, số lượng cổ đông ảnh hưởng đến việc CBTTTN Biến phụ thuộc là mức
độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số công bố thông tin với danh sách các khoản mục CBTT được phát triển bởi Meek et al (1995), sau đó nó được đối chiếu với yêu cầu CBTT trên thị trường chứng khoán Palestine, và danh sách cuối cùng được thiết lập với 79 mục thông tin Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTTTN của các công ty này còn thấp, mặc dù có cải thiện từ 2007 so với 2011 Các phân tích cũng cho thấy những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiết lộ tự nguyện; tỷ lệ HĐQT không điều hành, quy mô hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, số lượng cổ đông Yếu tố không ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của công
companies annual reports
Trong nghiên cứu này, tác giả thu thập BCTN của các DNNY ở Kenyan trong giai đoạn từ 1992 –
2001 để kiểm tra mức độ CBTTTN
Kết quả cho thấy có 7/12 biến độc lập ảnh hưởng đến mức độ công
bố Kết quả cũng chỉ ra rằng các
biến độc lập như cơ cấu ban lãnh đạo, quyền sở hữu nước ngoài,
quyền sở hữu tổ chức và quy mô
doanh nghiệp là rất quan trọng cho
tất cả bốn loại thông tin công bố
Biến thành phần HĐQT có quan hệ tiêu cực với mức độ CBTTTN
Luận văn kế thừa các nhân tố: Quy
mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán,
tỷ lệ thành viên không điều hành HĐQT, quy mô HĐQT, quyền sở hữu tổ chức và quyền sở hữu nước ngoài
Tác giả thu thập dữ liệu từ BCTN của 80% các DNNY trên hai sàn Thượng Hải và Thâm Quyến để đánh giá mức độ CBTTTN của các
Luận văn kế thừa các nhân tố: Quy
mô doanh nghiệp, tỷ lệ
Trang 33STT Tên
tác giả
Tên bài nghiên cứu Nội dung và kết quả nghiên cứu Kế thừa
(2013) the Chinese
stock market
DNNY tại Trung Quốc Mức độ
CBTTTN được đo lường bằng chỉ
số CBTT với một danh sách rất
quy mô là 119 khoản mục
Kết quả nghiên cứu là 7/11 biến độc lập có tác động đến biến phụ thuộc là quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản cố định, ROE, quyền
sở hữu khuếch tán, loại kiểm toán
viên và môi trường pháp lý
thành viên không điều hành HĐQT và khả năng thanh toán
3 Sweiti and
Attayah
(2013)
Critical Factors Influencing Voluntary Disclosure:
The Palestine Exchange
“PEX”
Nghiên cứu phân tích các công ty niêm yết tại PalestineExchange
“PEX”, mẫu được chọn là 48 công
ty cho năm 2011, và 35 công ty cho năm 2007
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức
độ CBTTTN còn thấp, có 4/5 nhân
tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN là tỷ lệ HĐQT không điều hành, quy mô hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, số lượng cổ đông
Nhân tố quy mô HĐQT được luận văn kế thừa
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu đến mức độ CBTTTN được nhiều nhà tác giả
quan tâm, cụ thể như sau:
Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương (2014) “Các yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính của công ty niêm yết”, trong
nghiên cứu này các tác giả đã khảo sát 99 công ty trên TTCK thành phố Hồ Chí Minh để đánh giá mức độ công bố thông tin được đo lường bằng chỉ số đo lường mức độ CBTT Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết không cao Có 5 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố đó là quy mô công ty, tỷ lệ sở hữu cổ đông nước ngoài, công ty kiểm toán, mức độ sinh lời và thời gian niêm yết có ảnh hưởng trong khi đó tỷ lệ sở hữu nhà nước, đòn bẩy tài chính, quản trị công ty, số công ty con, lĩnh vực hoạt động, khả năng thanh toán, thị trường niêm yết và tính phức tạp của hoạt động kinh doanh là các yếu tố không ảnh hưởng đến việc CBTT
Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012): “CEO và tự nguyện công bố thông tin
của các doanh nghiệp niêm yết” Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng số liệu
Trang 34của135 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn GDCK TP.HCM trong năm 2010 để xác định mức độ CBTTTN và xác định các đặc điểm của CEO (Chief Executive Officer) có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của doanh nghiệp niêm yết trên sàn GDCK TP.HCM hay không Kết quả phân tích cho thấy, mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp khá thấp Các đặc điểm của CEO như tuổi, giới tính, bằng cấp, chuyên môn đều không có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN Từ kết quả phân tích trên, tác giả đưa ra một số kết luận về tình hình CBTTTN thực tế tại Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thị Thu Hảo (2014): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE” Mục đích
nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CBTTTN của các doanh nghiệp (DN) niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Tác giả
sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng khảo sát trên báo cáo thường niên
của 106 DN niêm yết trên HOSE Mức độ CBTTTN được tác giả đo lường bằng chỉ số CBTT không trọng số Danh sách các mục thông tin tự nguyện được thiết lập ban đầu gồm 69 mục, sau đó tác giả đối chiếu với TT52/2012/TT-BTC và cuối cùng là khảo sát chuyên gia để đưa ra danh sách cuối cùng gồm 34 mục Các nhân
tố tác giả dự đoán là có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN được đưa vào mô hình
nghiên cứu bao gồm: Quy mô công ty, loại công ty kiểm toán, loại hình sở hữu, quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận Kết quả phân tích chỉ ra 3 nhân tố: (1) Quy mô cty; (2) Loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài; (3) Lợi nhuận có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các DN niêm yết trên thị trường HOSE Tác giả cũng đưa ra các hàm ý chính sách
và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao mức độ CBTTTN của các DN trên thị
trường HOSE
Nguyễn Thị Phương Hồng (2016): “ Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán - bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam Tác giả
sử dụng phương pháp định lượng khảo sát trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của 283 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu đo lường chất lượng BCTC theo 2 phương pháp và
2 mô hình khác nhau thông qua 2 hàm hồi quy tuyến tính đa biến với 1 biến phụ thuộc và 23 biến độc lập Tác giả phân tích dữ liệu bằng phần mềm STATA 13 và
Trang 35EXCEL 2013 Kết quả của 2 mô hình cho thấy có tổng số 17/23 biến có tác động đến biến phụ thuộc chất lượng BCTC bao gồm: Quyền sở hữu vốn bởi nước ngoài, Quyền sở hữu vốn bởi tổ chức, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, quy mô công ty, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC, loại hình công nghiệp, lợi nhuận (ROE), triển vọng phát triển và chính sách chia
cổ tức Có 6 biến còn lại gồm quyền sở hữu, quy mô HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT và tuổi của công ty không có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam Tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng
và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thị Hồng Em (2015): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam – nghiên cứu ở ba nhóm ngành: Công nghiệp, xây dựng và tài chính” Nghiên cứu đo
lường mức độ CBTTTN bằng chỉ số CBTT, danh mục chỉ số CBTTTN được xây dựng và phát triển dựa trên nghiên cứu của Meek (1995) và bổ sung bởi Chau và Gray, sau đó tác giả đối chiếu với TT 52/2012/TT-BTC để đưa ra một danh mục chỉ số CBTTTN chính thức Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các biến độc lập: Quy mô doanh nghiệp, tách biệt vai trò chủ tịch HĐQT và GĐ, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài, tỷ lệ sở hữu của nhà nước,
tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn, lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản, tỷ số nợ/ tổng tài sản Để thực hiện nghiên cứu, tác giảthu thập BCTN của 210 công ty trong năm 2014, trong đó: ngành công nghiệp 114 công ty, ngành xây dựng 61 công ty, ngành tài chính 35 công ty Tác giả sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính
và định lượng, nhưng chủ yếu là phương pháp định lượng Cụ thể, tác giả dùng phương pháp thống kê mô tả biến phụ thuộc và các biến độc lập, tiếp đến là thực hiện một loạt các kiểm định: mức ý nghĩa của hệ số hồi quy, độ phù hợp của mô hình, hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai phần dư không đổi và cuối cùng là kiểm định mô hình hồi quy Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với nhóm ngành công nghiệp thì quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động cùng chiều đến mức độ CBTTTN Trong khi đó đối với nhóm ngành xây dựng thì chỉ có quy mô công ty tác động cùng chiều đến mức độ CBTTTN, còn nhóm ngành tài chính chỉ có tỉ số nợ phải trả/tổng tài sản tác động cùng chiều đến
Trang 36mức độ CBTTTN Các biến còn lại không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu
Bảng 2.2 : Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về mức độ công bố thông tin tự nguyện
STT Tên
tác giả
Tên bài nghiên cứu Nội dung và kết quả nghiên cứu Kế thừa
Trong nghiên cứu này, tác giả khảo sát 99 DNNY trên sàn HOSE sau
đó sử dụng chỉ số đo lường mức độ CBTT và mô hình hồi quy để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTT
Kết quả cho thấy có 5/14 biến độc lập ảnh hưởng đến mức độ công bố
đó là quy mô công ty, tỷ lệ sở hữu
cổ đông nước ngoài, công ty kiểm toán, mức độ sinh lời và thời gian niêm yết trong khi đó tỷ lệ sở hữu nhà nước, đòn bẩy tài chính, quản trị công ty, số công ty con, lĩnh vực hoạt động, khả năng thanh toán, thị trường niêm yết và tính phức tạp của hoạt động kinh doanh là các yếu tố không ảnh hưởng đến việc CBTT
Các nhân tố:
Tỷ lệ sở hữu
cổ đông nước ngoài, khả năng sinh lời, thời gian niêm yết, được tác giả kế thừa
2 Nguyễn Thị
Thu Hảo
(2014):
Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE
Tác giả khảo sát 106 DNNY trên sàn HOSE để đánh giá mức độ CBTTTN
Tác giả sử dụng phần mềm SPSS
để phân tích dữ liệu đo lường và kiểm định mô hình hồi quy Kết quả cho thấy có 3/7 biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc: quy
mô công ty, loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài và lợi nhuận
Luận văn kế thừa các nhân tố: Quy mô công ty, tỷ lệ thành viên không điều hành HĐQT
3 Nguyễn Thị
Phương Hồng
(2016)
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
- bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
Nghiên cứu thu thập báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của
283 DNCY trên TTCK Việt Nam
để đo lường chất lượng BCTC theo
2 mô hình hình khác nhau thông qua 2 hàm hồi quy tuyến tính đa biến với 1 biến phụ thuộc và 23 biến độc lập
Kết quả của 2 mô hình cho thấy có tổng số 17/23 biến có tác động đến biến phụ thuộc chất lượng BCTC
Luận văn kế thừa các nhân
tố như: Thời gian niêm yết, quy mô HĐQT
4 Nguyễn Thị “Các nhân tố Nghiên cứu đo lường mức độ Luận văn kế
Trang 37Hồng Em
(2015)
ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam – nghiên cứu ở
ba nhóm ngành: Công nghiệp, xây dựng và tài chính”
CBTTTN của các DNNY ở ba nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và tài chính bằng chỉ số CBTT, danh mục chỉ số CBTTTN được xây dựng và phát triển dựa trên nghiên cứu của Meek (1995)
Tác giả thu thập dữ liệu của 210 công ty vào năm 2014, trong đó:
ngành công nghiệp 114 công ty, ngành xây dựng 61 công ty, ngành tài chính 35 công ty
Kết quả cho thầy: biến quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài có tác động cùng chiều đến mức độ CBTTTN ở nhóm ngành công nghiệp và xây dựng Biến tỉ số nợ phải trả/tổng tài sản tác động cùng chiều đến mức
độ CBTTTN ở nhóm ngành tài chính
thừa các nhân
tố như: quy
mô doanh nghiệp, tỷ lệ
sở hữu nước ngoài
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Ngoài những nghiên cứu đã lược khảo ở trên, trong quá trình thực hiện luận văn tác giả cũng tìm hiểu và tổng hợp các nghiên cứu trước liên quan đến mức độ CBTTTN trên BCTN và được đính kèm ở phụ lục 01
2.3 Các yếu tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Theo Li Huiyun & Zhao Peng (2009), các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin tự nguyện của một doanh nghiệp được chia làm 2 nhóm lớn: các yếu
tố bên trong và các yếu tố bên ngoài Trong đó, các yếu tố bên trong như: điều kiện tài chính công ty (khả năng thanh toán, khả năng sinh lời…), cơ cấu quản trị công ty (cơ cấu sở hữu, hội đồng quản trị độc lập, tách biệt chủ tịch HĐQT và GĐ điều hành,…); các yếu tố bên ngoài: sự kiểm soát của cơ quan quản lý, ý kiến của kiểm toán độc lập, sự phát triển của kinh tế khu vực, cạnh tranh công nghiệp… Việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN đã được không ít các nhà nghiên cứu thực hiện và công bố Trên cơ sở lý thuyết nền và kế thừa các nghiên cứu trước, cụ thể là nghiên cứu của Barako (2007) thực hiện tại Kenya và nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương (2014) nghiên cứu ở sở giao dịch Chứng khoán TPHCM (HOSE), tác giả đưa ra bảng danh sách các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTTTN thể hiện trong bảng 2.3
Trang 38Tên các nhân tố tác giả
kế thừa của Dulacha G Barako (2007), Nguyễn Công Phương & Nguyễn Thị Thanh Phương (2014)
2 TGHD Thời gian niêm yết
3 KNSL Khả năng sinh lời
4 KNTT Khả năng thanh toán
2.4 Mô hình nghiên cứu
2.4.1 Mô hình thiết kế nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết và kế thừa khung nghiên cứu từ các nghiên cứu trước tác giả xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN được thể hiện trong mô hình sau theo sơ đồ 2.1 dưới đây
Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu lý thuyết
2.4.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Quy mô doanh nghiệp
Thời gian niêm yết
Khả năng sinh lờiKhả năng thanh toán
Có sự tách biệt chủ tịch và giám đốc
Quy mô hội đồng quản trị
Quyền sở hữu nước ngoài
Quyền sở hữu tổ chức
Mức độ công bố thông tin tự nguyện
Trang 39Trên cơ sở xác định các nhân tố đưa vào mô hình nghiên cứu (sơ đồ 2.1), tác giả
tiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu tương ứng với từng nhân tố trong
mô hình nghiên cứu như sau:
Quy mô doanh nghiệp
Theo Barako (2007), Chavent & cộng sự (2006), quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN do:
- Xuất phát từ thuyết lợi thế về quy mô trong sản xuất, và lưu trữ thông tin;
- Áp lực từ cạnh tranh;
- Chi phí trực tiếp để CBTT là một áp lực với các công ty nhỏ;
- Các công ty lớn có nhu cầu vốn lớn và cần huy động vốn nhiều hơn
Các DN có quy mô lớn cần sử dụng nhiều loại vốn để đầu tư và điều tiết hoạt động Để làm được điều này, các DN lớn cần phải minh bạch thông tin tài chính, BCTC phải được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán uy tín, xây dựng bộ máy
kế toán trong DN tốt để nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên BCTC, BCTN nhằm củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào BCTC để thu hút vốn đầu tư Từ đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết:
H1: Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì mức độ CBTTTN càng cao
Thời gian niêm yết
Theo Raffournier (1995), DNNY sẽ tiết lộ nhiều thông tin hơn các DN chưa niêm yết vì hai lý do: Thứ nhất, DNNY phải thực hiện theo yêu cầu công bố tối thiểu của cơ quan quản lý thị trường Thứ hai, ngoài việc CBTT bắt buộc này, các DNNY cũng có thể tự nguyện cung cấp thông tin thêm để tăng niềm tin cho nhà đầu tư và do đó có được điều kiện tài chính tốt hơn Cooke (1991) cho thấy mức
độ CBTT trong báo cáo hàng năm có thể thay đổi theo tình trạng niêm yết Hay Firth (1979) cũng chỉ ra rằng yêu cầu công bố tối thiểu của DNNY tại TTCK cao hơn một chút so với các DN không niêm yết
Theo Galani & cộng sự (2011), các DN hoạt động và niêm yết lâu năm có cơ hội cải thiện các điều kiện thực tế cho quá trình báo cáo, công nghệ, chi phí CBTT Đồng thời các DN này cũng có nhiều thành tựu để báo cáo nhằm tăng danh tiếng của DN Với các DN non trẻ, CBTT sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến vị thế cạnh tranh của DN trên thị trường Từ đó nghiên cứu đưa ra giả thuyết:
H2: Doanh nghiệp có thời gian niêm yết càng lâu thì mức độ CBTTTN càng cao
Trang 40 Khả năng sinh lời
Theo thuyết đại diện, các DN hoạt động hiệu quả thì nhà quản trị sẽ chủ động CBTT nhiều hơn để thoả thuận về mức thưởng cho họ (Singhvi & Deasi, 1971) cũng như nâng cao giá trị của họ trên thị trường lao động (Barako, 2007) Đồng thời, mức sinh lợi cao tác động tích cực đến giá cổ phiếu trên thị trường vốn (Inchausti, 1997) Tuy nhiên, theo quan điểm ngược lại, các DN hoạt động kém cũng sẽ công bố nhiều để giải thích về thực trạng của công ty với cổ đông (Bujaki
& McConomy, 2002) Từ đó, nghiên cứu cần kiểm chứng các quan điểm trái chiều
bằng giả thuyết sau:
H3: Doanh nghiệp có khả năng sinh lời càng cao thì mức độ CBTTTN càng cao
Khả năng thanh toán
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tồn tại hai quan điểm trái chiều: (i) Khả năng thanh toán càng cao, DN càng tích cực CBTT để chứng minh tình trạng hoạt động tốt của DN (Singhvi, 1968); và (ii) Khả năng thanh toán thấp, DN có khuynh hướng công bố càng nhiều để biện minh tình trạng công ty với các đối tượng bên ngoài (Wallace & Naser, 1994) Như vậy, nghiên cứu đưa ra giả thiết để kiểm
vi cơ hội, nguy hại cho các cổ đông khác Do đó, nghiên cứu đưa ra giả thuyết:
H5: Doanh nghiệp có sự tách biệt chức danh chủ tịch HĐQT với GĐ điều hành thì mức độ CBTTTN càng cao
Quy mô HĐQT
Số lượng thành viên của HĐQT càng lớn thì năng lực kiểm soát và ra quyết định càng cao đồng thời tránh được sự tập trung quyền lực vào một vài nhân vật then chốt Như vậy quyền lợi của cổ đông không có mặt trong HĐQT được bảo vệ ở mức cao hơn, từ đó mức CBTT sẽ tăng Quy mô HĐQT càng lớn thì càng có sức mạnh về nhiều mặt giúp nâng cao hiệu quả hoạt động cho công ty, mặt khác chức năng giám sát càng được nâng cao, khiến nhà quản lý càng cố gắng công bố nhiều