1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử địa phương an giang

147 42 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Địa Phương An Giang
Tác giả Lê Thị Liên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Phương Thảo, Dương Thế Hiền, PGS.TS. Võ Văn Thắng
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Sư Phạm Lịch Sử
Thể loại Tài Liệu Giảng Dạy
Năm xuất bản 2017
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An Giang – một tỉnh thuộc Tây Nam Bộ – vùng đất mới và còn rất trẻ so với các vùng khác của đất nước nếu tính từ khi vùng đất này thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1757

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG AN GIANG

LÊ THỊ LIÊN

AN GIANG, THÁNG 9 NĂM 2017

Trang 2

Tài liệu giảng dạy “Lịch sử địa phương An Giang” do tác giả Lê Thị Liên, công tác tại Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa thông qua ngày 30-6-2017, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày…

Tác giả biên soạn/viết

TS Lê Thị Liên

Hiệu trưởng

PGS.TS, Võ Văn Thắng

AN GIANG, THÁNG 09 NĂM 2017

Trang 3

i

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành tài liệu giảng dạy “Lịch sử Địa phương An Giang” tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, Thư viện Trường Đại học An Giang, Thư viện Tỉnh An Giang và quý đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành quyển tài liệu giảng dạy này

An Giang, ngày 28 tháng 9 năm 2017

Người thực hiện

Lê Thị Liên

Trang 4

ii

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là tài liệu giảng dạy của riêng tôi Nội dung giáo

trình và tài liệu giảng dạy có xuất xứ rõ ràng

An Giang, ngày 28 tháng 9 năm 2017

Người biên soạn

Lê Thị Liên

Trang 5

iii

LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc, lãnh thổ và biên giới của nước Việt Nam ngày càng được củng cố và từ lâu đã trở thành một thực thể thống nhất từ Bắc chí Nam, trong đó có vùng đất Nam Bộ An Giang – một tỉnh thuộc Tây Nam

Bộ – vùng đất mới và còn rất trẻ so với các vùng khác của đất nước nếu tính từ khi vùng đất này thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn Phúc Khoát (năm 1757) thì đến nay chưa đầy ba thế kỷ

Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được nhân dân ta giữ gìn và phát huy một cách tốt đẹp, cho nên việc tìm hiểu về lịch sử quê hương, về truyền thống vẻ vang của cha ông trong quá trình dựng xây bờ cõi và phát triển đất nước đã trở thành một nhu cầu cấp thiết của xã hội Thế hệ hôm nay và mai sau cần phải hiểu cặn kẽ từ ngọn rau, tấc đất quê hương đến những phong tục tập quán – truyền thống văn hóa của vùng đất chúng ta đang sinh sống Những chủ nhân đất nước hôm nay và trong tương lai cũng cần phải hiểu những đắng cay, ngọt bùi của cha ông trong cuộc hành trình mở đất phương Nam với những nguyên nhân chủ quan và khách quan của lịch sử để làm nên dải giang sơn hình chữ S như ngày hôm nay Ngày nay, thế hệ trẻ sớm tiếp thu được những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, có điều kiện hơn khi giao lưu với các nền văn hóa trên thế giới, nhưng không vì thế mà xao lãng việc tìm hiểu cội nguồn quê hương, tình yêu dân tộc

Do vậy, việc biên soạn tập tài liệu giảng dạy về lược sử An Giang vừa mang tính tổng hợp, vừa mang tính khái quát về đặc điểm tự nhiên, dân số, lịch sử, kinh tế, văn hóa

và giáo dục của địa phương An Giang trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, nhằm phục vụ cho sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử nói riêng và sinh viên An Giang nói chung là điều cần thiết

Tài liệu giảng dạy Lịch sử địa phương An Giang được biên soạn trên cơ sở cập nhật các nguồn thông tin như địa chí An Giang, sách, báo, tạp chí hội thảo,… thông tin trên mạng Internet, nhằm cung cấp những kiến thức mới nhất cho sinh viên, phục vụ việc cải tiến phương pháp dạy và học lịch sử Đây không phải là quyển Lịch sử An Giang hoàn chỉnh theo đầy đủ ý nghĩa của nó mà chỉ là tài liệu giảng dạy học phần Lịch sử địa phương

An Giang, nhằm cung cấp những kiến thức cốt lõi về quê hương An Giang cho sinh viên Tài liệu giảng dạy này dùng cho sinh viên tham khảo trước và trong khi lên lớp, tuy nhiên sinh viên cũng cần tham khảo thêm các nguồn tư liệu khác để bổ sung và mở rộng kiến thức

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác sưu tầm và biên soạn, song tài liệu giảng dạy này vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ đồng nghiệp

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Chương 1 TỰ NHIÊN – ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH – DÂN CƯ TỈNH AN GIANG1 Chương 2 LƯỢC SỬ VÙNG ĐẤT NAM BỘ VÀ QUÁ TRÌNH MỞ ĐẤT, GIỮ ĐẤT CỦA NHÀ NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP ĐẶT ÁCH ĐÔ HỘ

18

Chương 3 QUÂN VÀ DÂN AN GIANG ĐẤU TRANH CHỐNG ÁCH THỐNG TRỊ VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1867-1954) 26

Chương 4 QUÂN VÀ DÂN AN GIANG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975) 41

Chương 5 AN GIANG QUA 40 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1975-2015) 53

Chương 6 NHÂN VẬT LỊCH SỬ AN GIANG 67

Chương 7 DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ AN GIANG 104

Chương 8 LỄ HỘI VÀ TÔN GIÁO BẢN ĐỊA AN GIANG 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

Trang 7

Chương 1

TỰ NHIÊN – ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH – DÂN CƯ TỈNH AN

GIANG 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí – địa hình

1.1.1.1 Vị trí: An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam của Tổ quốc, thuộc đồng

bằng sông Cửu Long, một phần nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, đồng thời là một tỉnh tiếp giáp biên giới Campuchia và được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” ngày 02-01-2000

An Giang có diện tích tự nhiên 3.424 km2, dân số 2.151.000 người (năm 2011) Phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia dài 104 km, tây nam giáp tỉnh Kiên Giang 69 km, Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44 km, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107 km

Chiều dài nhất theo hướng bắc nam là 86 km và đông tây 87,2 km; điểm cực bắc trên vĩ độ 10057’ B (xã An Khánh, huyện An Phú); điểm cực nam trên vĩ độ 10012’

B (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn); điểm cực tây trên kinh độ 104046’ Đ (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn); điểm cực đông trên kinh độ 105035’ Đ (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới)

Đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành Phố Long Xuyên, Thành phố Châu Đốc, Thị xã Tân Châu và 8 huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Chợ Mới, Châu Thành, Thoại Sơn

1.1.1.2 Địa hình: An Giang có 2 dạng chính là đồng bằng (do phù sa sông Mê

Kông tạo nên) và đồi núi (vùng đồi núi Tri Tôn – Tịnh Biên)

Thứ nhất, địa hình đồng bằng có 2 loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi

Đồng bằng phù sa ở An Giang có nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông

Mê Kông (sông Tiền và sông Hậu) Do môi trường và điều kiện trầm tích khác nhau

mà hình thành nên các cánh đồng lũ hở, lũ kín, cồn bãi, gò gờ, đê sông, đầm lầy,… rất phức tạp Tuy nhiên, xét tổng quát, địa hình đồng bằng phù sa ở An Giang có các đặc trưng cơ bản sau đây: Độ nghiêng nhỏ và độ cao khá thấp, tương đối bằng phẳng Đồng bằng phù sa có 3 dạng chính và một dạng phụ: dạng cồn bãi, dạng lòng chảo, dạng hơi nghiêng và dạng gợn sóng

Đồng bằng ven núi được phân thành hai kiểu: kiểu sườn tích (Deluvi) và kiểu đồng bằng phù sa cổ Đồng bằng ven núi kiểu sườn tích được hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá Sau đó được mưa bào mòn và rửa trôi, được các dòng chảy lũtheo các khe suối chuyển tải xuống các chân núi, tích tụ lâu ngày lại mà thành Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ phù sa sông, với

Trang 8

đặc tính là có nhiều bậc thang ở những độ cao khác nhau Trên mỗi bậc thang khá bằng phẳng hầu như không có độ nghiêng

Thứ hai, địa hình đồi núi gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau:

Dạng núi: chia đồi núi An Giang thành 2 dạng chính: cao và dốc, thấp và thoải

Dạng núi cao và dốc: được hình thành thời kỳ tạo sơn mãnh liệt, có độ cao trên 500m và độ dốc lớn trên 250, như núi Cô Tô, núi Dài, núi Cấm,…

Dạng núi thấp và thoải: được hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun trào, có độ cao dưới 300m và độ dốc dưới 150, phần lớn nằm cạnh các dãi núi lớn như núi Nam Qui, núi Sà Lôn, núi Đất…

Độ cao núi: đồi núi ở An Giang được phân chia thành 6 cụm và 2 núi độc lập:

6 cụm, gồm: Cụm núi Sập (có 4 núi là núi Sập, núi Nhỏ, núi Bà và núi Cậu); Cụm Ba Thê (có 5 núi là núi Ba Thê, núi Nhỏ, núi Tượng, núi Trọi và núi Chóc); Cụm núi Phú Cường (có 13 núi là núi Phú Cường, núi Dài năm giếng, núi Két, núi Rô, Trà

Sư, Bà Vải, Đất Lớn, Bà Đắt, núi Cậu, núi Nhỏ, Mo Tấu, núi Chùa và Tà Nung); Cụm núi Cấm (có 7 núi là núi Cấm, núi Bà Đội, Nam Qui, Bà Khẹt, Tà Lọt, Ba Xoài và Cà Lanh); Cụm núi Dài (có 4 núi là núi Dài, núi Tượng, núi Nước và núi Sà Lôn); Cụm núi Cô Tô (có 2 núi Cô Tô và Tà Pạ)

2 núi độc lập, gồm: Núi Nổi (Tân Châu); Núi Sam (Châu Đốc)

1.1.2 Sông – rạch, kênh đào – khe suối và hồ

1.1.2.1 Sông

Ở An Giang gồm có các con sông:

Sông Tiền: chảy theo hướng tây bắc – đông nam, đoạn qua An Giang khoảng

80 km, chiều rộng phía trên Vàm Nao lớn hơn 1.000 m, đặc biệt có chỗ rộng tới trên 2.000 m và phía dưới Vàm Nao từ 800 m đến 1.100 m Độ sâu trung bình khoảng 20

m, có chỗ đến 45 m như tại khu vực thị xã Tân Châu Sông Tiền là ranh giới chung giữa hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp, có độ uốn khúc lớn, được chia dòng rẽ nhánh

ở nhiều vị trí bởi các cù lao Chính Sách, Cồn Cỏ, Cái Vừng, Long Khánh, cù lao Giêng Đối với An Giang, sông Tiền là trục giao thông thủy quan trọng nhất, là nguồn cung cấp nước và phù sa lớn nhất, và là con sông có chế độ dòng chảy và diễn biến lòng sông phức tạp nhất

Sông Hậu: có hướng chảy song song với sông Tiền, đoạn chảy qua An Giang dài gần 100 m, chiều rộng phía trên Vàm Nao từ 500 m đến 900 m, còn phía dưới Vàm Nao rộng từ 800 m đến 1.200 m, đặc biệt có chỗ rộng trên 2.000 m (đầu cù lao Mỹ Hoà Hưng) Độ sâu trung bình khoảng 13 m, có chỗ sâu đến 34 m, thậm chí đến 45 m như tại khu vực cửa đổ của sông Vàm Nao Cũng như sông Tiền, sông Hậu (đoạn chảy qua địa bàn An Giang) có độ uốn khúc lòng sông lớn, được phân dòng rẽ nhánh ở nhiều chỗ bởi các cù lao Vĩnh Trường, Khánh Hoà, Bình Thuỷ, Mỹ Hoà Hưng, Cồn

Trang 9

Tiên Đối với An Giang, sông Hậu là trục giao thông thủy đi xuyên suốt trung tâm của tỉnh từ thượng lưu về hạ lưu, là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho vùng trũng

Tứ giác Long Xuyên

Sông Vàm Nao: chảy ven xã Phú Mỹ huyện Phú Tân và xã Kiến An huyện Chợ Mới, nối liền sông Tiền và sông Hậu, nằm trong địa bàn An Giang Sông chảy theo hướng đông bắc – tây nam, có chiều dài trên 6 km, chiều rộng bình quân 700 m với độ sâu trên 17 m, có tác dụng làm cân bằng dòng chảy giữa sông Tiền và sông Hậu

Ngoài ra, An Giang còn có các sông: sông Bình Di và sông Châu Đốc Tại xã Khánh Bình huyện An Phú, sông Hậu chia dòng, nhánh hữu ngạn hẹp là sông Bình Di Sau một đoạn dài trên 10 km, sông Bình Di chảy đến Vĩnh Hội Đông gặp sông Tà Keo

và sông Châu Đốc Bắt đầu từ ngã ba sông này, sông Châu Đốc chảy dài cho đến thị

xã Châu Đốc thì nhập lưu trở lại sông Hậu, dài 18 km Sông Bình Di và sông Châu Đốc có độ rộng bình quân là 150 m, độ sâu trung bình 7 m và có chỗ sâu tới 25 m

Rạch Ông Chưởng lấy nước sông Tiền ngay đầu thị trấn Chợ Mới, dài trên 20

km và đổ vào sông Hậu theo đỉnh cua cong của cù lao Mỹ Hoà Hưng, theo hướng đông bắc – tây nam Rạch Ông Chưởng có chiều rộng gần 100 m và sâu hơn 8 m

Rạch Long Xuyên là rạch tự nhiên lớn nhất, khởi nguồn từ thành phố Long Xuyên chảy theo hướng đông bắc – tây nam, dài gần 18 km nối tiếp với kênh Thoại

Hà (ấp Phú Đông, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn), đi qua núi Sập, đổ thẳng ra biển Tây (Rạch Giá – Kiên Giang) Ngày nay, còn có tên là kênh Rạch Giá – Long Xuyên, hàm chỉ kênh bắt đầu từ sông Hậu tại cửa rạch Long Xuyên kéo dài gần 60 m băng qua Tứ giác Long Xuyên đổ nước vào biển Tây tại cửa sông Kiên Giang tức Rạch Giá Hiện nay, kênh Rạch Giá – Long Xuyên có chiều rộng bình quân 100 m, sâu gần 8 m,

có lưu lượng vào mùa lũ trên 300m3/s

1.1.2.3 Kênh đào

* Dưới thời nhà Nguyễn, An Giang có các con kênh như kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế, kênh Vĩnh An, kênh Trà Sư

Trang 10

Kênh Thoại Hà: đào từ năm 1818, dài khoảng 31 km, rộng khoảng 51 m Kênh được đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch (Thoại Sơn) kéo dài theo hướng tây nam qua chân núi Sập, tiếp giáp với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá

Kênh Vĩnh Tế: bắt đầu đào từ năm 1819 đến năm 1824, với tổng chiều dài của kênh là 91 km, sâu 3 m Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam – Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Hậu (tại Châu Đốc) thẳng nối giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên, Kiên Giang)

Kênh Vĩnh An: Năm 1843, Nhà Nguyễn cho đào kênh Vĩnh An, nối liền giữa trung tâm thương mại Tân Châu và Châu Đốc, nối liền các vị trí quân sự và kinh tế chiến lược quan trọng của biên cương Kênh dài 17 km, rộng 30 m và sâu 6 m

Kênh Trà Sư: Được đào từ năm 1830 đến năm 1850, trên cơ sở khai thông một rạch nhỏ có sẵn chạy từ cầu Trà Sư (nằm trên lộ Châu Đốc đi Nhà Bàng) đến cầu Sắt

13 (nằm trên Lộ tẻ Mặc Cần Dưng đi Tri Tôn), dài 23 km, rộng 10 m và độ sâu trên 2

và góp phần thoát lũ cho Tứ giác Long Xuyên

* Thời kỳ sau giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, các kênh được đào như kênh 15; kênh 10; kênh T4; kênh T5; kênh T6

Trang 11

Trong các con kênh thì kênh T4, T5 và T6 đóng một vai trò vô cùng quan trọng cho

cư dân vùng Tri Tôn vì đã khai hoá được một vùng đất vốn hoang vu, phèn chua nước ngập nơi đây thành vùng đất trù phù, màu mỡ với cánh đồng lúa nặng trĩu hạt

Kênh T15: nối liền với kênh Cần Thảo với kênh Mặc Cần Dưng tại cầu Sắt, kéo dài đến giáp ranh với tỉnh Kiên Giang, song song với kênh Tri Tôn

Kênh 10: Ở Châu Phú

Sau những trận lũ lớn liên tục năm 1994 – 1995, Chính phủ đã xây dựng hệ thống chống lũ, thoát nước ra biển Tây, trong đó trục kênh T4, T5 và T6 là quan trọng Đây là nơi chuyển nước từ kênh Vĩnh Tế băng qua vùng Bắc Hà Tiên đổ vào kênh Rạch Giá – Kiên Giang, mở rộng thêm các nhánh kênh, nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên với biển Tây để tăng cường tiêu nước trong vùng Tứ giác Long Xuyên

1.1.2.4 Khe suối

Trong nhiều năm qua, với chiến tranh kéo dài và sự khai thác quá mức của con người đã làm cho dòng chảy của Thất Sơn bị cạn kiệt Tuy nhiên, Chính phủ cũng ra sức khắc phục về công tác trồng cây, phủ xanh đồi trọc và xây dựng hai hồ chứa nước

ở Tri Tôn, Tịnh Biên, để làm môi trường sinh thái nơi đây dần hồi phục Khe suối ở

An Giang gồm có các cụm núi như cụm núi Cấm cao trên 700 m, có suối An Hảo, hồ

Ô Tức Xa và suối Tiên; Cụm núi Dài cao trên 500 m, có suối Vàng, ô Tà Sóc và Khe Đá; Cụm núi Cô Tô độ cao trên 600 m, có suối Ô Thum và Ô Soài So

1.1.2.5 Hồ

Trên địa bàn An Giang, có hai loại hồ là hồ tự nhiên và hồ nhân tạo Hồ tự nhiên là quá trình còn sót lại của sông – biển tạo lập châu thổ sông Mê Kông, ở An Giang có các hồ Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên Nhỏ (nằm giữa sông Bình

Di và sông Hậu tại xã Khánh Bình, huyện An Phú) Nguồn cung cấp nước cho hai hồ

là sông Hậu và Bình Di Nơi đây là nguồn cung cấp hải sản tự nhiên, đồng thời sẽ là nơi thu hút khách tham quan du lịch

Bên cạnh đó, hồ Nguyễn Du (toạ lạc tại phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên) cũng là hồ tự nhiên, xuất phát từ một nhánh xép của sông Hậu, đã được cải tạo thành nơi vui chơi, giải trí cho nhân dân, đồng thời cũng góp phần cải tạo môi trường sinh thái của thành phố

Hồ nhân tạo được xây dựng ở vùng núi Tri Tôn – Tịnh Biên như hồ Soài So (Tri Tôn); Ô Tức Xa; Cây Đuốc và An Hảo (Tịnh Biên), nhằm cung cấp nước sinh hoạt, đồng thời hỗ trợ trong việc trồng hoa màu, phòng cháy rừng, chống sa mạc hoá đất đồng bằng ven núi, cải tạo môi trường tạo ra điểm du lịch sinh thái hấp dẫn

1.1.3 Khí hậu – thủy văn

An Giang là tỉnh nằm ở điểm cực bắc trên vĩ độ 10057’ B, điểm cực nam trên

vĩ độ 10012’ B và gần xích đạo nên quanh năm độ cao mặt trời trên chân trời cao, thời

Trang 12

gian mặt trời chiếu sang dài, khoảng cách giữa hai lần đi qua trên đỉnh đầu xa nên quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo

Cụ thể là, An Giang nhiệt độ trung bình 270 C, gió tín phong Đông Bắc từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 10, nóng quanh năm, thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp An Giang có 2 mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến đầu tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11

1.1.3.1 Khí hậu

* Mây: Ở An Giang, lượng mây tương đối ít Trong mùa khô do độ ẩm không

khí thấp và đối lưu nhiệt yếu nên mây không chỉ ít về lượng mà về dạng mây cũng chỉ

là những đám mây mỏng dạng tơ sợi ở rất cao, vì kết cấu bởi những tinh thể bang nên

nó để lọt ánh sáng mặt trời, do đó có khi trời có mây nhưng vẫn rất nắng Trong mùa

mưa do độ ẩm cao nên lượng mây thường nhiều hơn

* Nắng: Do ở vĩ độ thấp và có mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm

sau nên An Giang có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có số giờ nắng trong năm lớn kỷ lục của cả nước Bình quân trong mùa khô, mỗi ngày có tới gần 10 giờ có nắng, còn trong mùa mưa tuy ít hơn nhưng cũng tới gần 7 giờ có nắng Như vậy, tổng

cả năm lượng nắng trên 2.400 giờ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu ánh sáng cho nhiều vụ sản xuất trong năm

* Nhiệt độ: Ở An Giang, nhiệt độ trung bình trong suốt năm không những cao

mà còn rất ổn định Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong mùa khô chỉ hơn kém nhau khoảng 1,5 ° đến 3 °; còn trong các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1

° Nhiệt độ cao nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng

36 °C đến 38 °C, nhiệt độ thấp nhất năm xuất hiện vào tháng 10, chưa có năm nào xuất hiện dưới 18 °C

Biên độ nhiệt độ của không khí ngày và đêm có hai mùa rõ rệt Trong mùa mưa, trị số này trung bình khoảng 8 °C và thấp nhất là 6 °C Trong khi đó vào mùa khô, các trị số tương ứng với nó là 10 °C và 12 °C

* Gió: Chế độ gió ở An Giang được đặc trưng bởi sự luân phiên tác động của

các hệ thống hoàn lưu gió mùa nên rất ổn định Trong mùa khô, gió thịnh hành là Đông Bắc, còn vào mùa mưa là gió Tây Nam – gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất Tốc độ gió ở An Giang tương đối mạnh, trung bình đạt 3 m/giây Trong năm, tốc

độ gió mùa hè lớn hơn mùa đông rõ rệt, còn về mùa đông thì dông xuất hiện ít và cường độ cũng không mạnh mẽ như mùa hè

* Mưa: Ở An Giang, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng từ 1.350 mm

đến 1.400 mm, tập trung vào mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm 90% lượng mưa của cả năm Sự phân bố của lượng mưa trong mùa mưa lớn khá điều hoà và lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất

và đời sống

Trang 13

* Bốc hơi: Hàng năm ở An Giang có lượng mưa phong phú nhưng lượng nước

hao hụt vì bốc hơi cũng khá nhiều Trong mùa khô do nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình quân là 110mm/tháng Lượng nước bốc hơi lớn nhất xảy ra vào tháng 3 tới 160 mm, đây là thời kỳ có nhiệt độ tương đối cao và độ ẩm thấp nhất trong năm Trong mùa mưa, lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/tháng, nhỏ nhất là 52mm/ tháng, xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 là thời kỳ có nhiều mưa và

độ ẩm cao nhất trong năm

* Độ ẩm: Ở An Giang, vì nhiệt độ quanh năm thay đổi ít nên sự biến đổi của

độ ẩm chỉ còn phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa Do vậy, mùa mưa nhiều cũng là mùa

có độ ẩm cao và mùa mưa ít cũng là mùa có độ ẩm thấp Mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô, thường bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau Trong mùa khô thì độ ẩm ở thời kỳ đầu mùa là 82%, giữa mùa khoảng 78% và cuối mùa còn 72% Khác với mùa khô, mùa mưa ở An Giang, thật sự là một mùa ẩm ướt Độ ẩm trung bình trong mùa mưa ở bất kỳ nơi nào cũng đều đạt trên 84%, có những tháng đạt gần tới 90% Diễn biến của độ ẩm trong mùa mưa xuất hiện một thời kỳ cao vào giữa mùa, còn đầu mùa và cuối mùa xấp xỉ nhau Sự xuất hiện thời kỳ cao giữa mùa là do nguyên nhân có nhiều mưa, nhiệt độ thấp hơn ở các kỳ trước và sau đó

Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, An Giang còn có các hiện tượng thời tiết cần lưu ý như: lốc xoáy vòi rồng mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina

1.1.3.2 Thủy văn

Dòng chảy mùa lũ:

* Lũ đầu mùa: Mùa nước hàng năm bắt đầu từ tháng 6, bước sang tháng 7 và

tháng 8 là đạt đỉnh đầu mùa, có mưa to và dài ngày làm xuất hiện những trận lũ đầu

mùa ở cả trung và hạ lưu sông Mê Kông

* Lũ lớn nhất trong năm: Khu vực phía trên Vàm Nao đa số lũ lớn nhất năm

xảy ra vào tháng 9 và 10, còn khu vực phía dưới Vàm Nao do ảnh hưởng của sự phân chia nước và thủy triều nên lũ lớn nhất năm xảy ra muộn hơn khoảng từ 10 ngày đến

1 tháng

* Độ dốc lũ và cường suất lũ: Trên địa bàn An Giang, nhìn chung, vào đầu

mùa mưa nước sông lên nhanh, độ dốc lũ và cường suất lũ lớn nhất năm thường xuất hiện vào thời kỳ này

* Thời gian lũ: Thời gian lũ lên và xuống ở An Giang khá dài Những năm lũ

lớn, thời gian lũ lên từ 3 đến 4 tháng và lũ xuống gần 3 tháng Năm lũ nhỏ có thời gian

lũ lên và xuống cũng tới gần 4 tháng

Dòng chảy mùa kiệt:

* Mực nước thấp nhất hàng năm: Ở An Giang, mực nước thấp nhất năm có

thể xuất hiện vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5 Do ảnh hưởng mạnh của thủy triều, nên

Trang 14

mực nước thấp nhất năm của năm cực kiệt cũng không chênh lệch nhiều so với năm

kiệt ít

* Lưu lượng dòng chảy nhỏ nhất hàng năm: Ở An Giang, lưu lượng kiệt nhất

năm xuất hiện vào tháng 3 hoặc tháng 4 Tùy thuộc vào độ lớn lũ năm trước và cường

độ thủy triều năm sau, mà lưu lượng kiệt nhất hàng năm của sông Tiền và sông Hậu

dao động theo

Dòng chảy phù sa:

* Cấp phối hạt: Phù sa sông Cửu Long qua hai mặt cắt Châu Đốc (sông Hậu)

và Tân Châu (sông Tiền) không chứa hạt to và vừa Phù sa sông Tiền có độ đều mịn hơn sông Hậu Nhưng trong phù sa sông Hậu thành phần sét chiếm 34%, trong khi đó

sông Tiền chỉ có 16%

* Thành phần hóa học: Thành phần hữu cơ của phù sa sông Cửu Long có chất

mùn rất có lợi cho cây trồng và Si-li-cát vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (36%) trong phù sa

sông Cửu Long

* Hàm lượng và tổng lượng: Tổng lượng phù sa hàng năm của sông Tiền và

sông Hậu chảy qua hai mặt cắt Tân Châu và Châu Đốc tương đối lớn

Hệ thống đê bao:

Đê bao ngăn lũ, chống ngập lụt ở An Giang có sớm nhất so với các tỉnh phía Nam Tính đến năm 2000, hệ thống đê bao ở An Giang có tổng chiều dài trên 3.416km bao bọc 306 tiểu vùng, trong đó tiểu vùng có diện tích lớn nhất là 3.600ha và nhỏ nhất

là 880ha

1.1.4 Đất đai – động, thực vật

1.1.4.1 Đất đai

Có thể phân chia đất đai ở An Giang thành 3 nhóm chính: nhóm đất phèn,

nhóm đất phù sa, nhóm đất đồi núi

* Nhóm đất phèn: Đất phèn ở An Giang phân bố nhiều ở vùng tiếp giáp với

tỉnh Kiên Giang, thuộc địa phận huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần của Châu Phú, với tổng diện tích khoảng 30.136 ha, trong đó Tri Tôn chiếm 67%

* Nhóm đất phù sa: Ở An Giang, nhóm đất phù sa chiếm 44,27% tổng diện

tích đất toàn tỉnh với khoảng 156.507 ha, chủ yếu phân bố ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần của thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc

* Nhóm đất đồi núi: Đất đồi núi chủ yếu phân bố tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh

Biên, một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê) Tổng diện tích đất đồi núi ở

An Giang khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh

1.1.4.2 Động, thực vật

Động vật:

Trang 15

* Hệ động vật tự nhiên:

Trước đây, rừng Bảy Núi có nhiều loại chim muông và thú rừng như: hổ, báo, nai, hưu, cáo, vượn, khỉ, phượng hoàng, quạ… Ngày nay các loại đó gần như không còn nữa Truyền miệng dân gian còn lưu lại, ở An Giang còn có nhiều cá sấu, nhất là khu vực sông Vàm Nao Cùng loài bò sát với cá sấu là các loài rắn Ngoài rắn còn có trăn Các động vật sống trong tự nhiên, quen thuộc với nhà nông là chuột, ngoài ra còn

- Kiểu trạng thái núi đá, cỏ, cây bụi và dây leo: Thực vật sống ở đây phổ biến

là các loại sò đo, ngành ngạnh, lòng mức, gòn rừng, ô rô rừng; đôi khi có cả loài bằng lăng nhiều hoa, dây móng bò, dây khoai rừng, cỏ tranh, cỏ đuôi chồn… sinh trưởng kém

- Kiểu trạng thái các loài cây bụi, có cây gỗ mọc rải rác: Thực vật bao gồm

các loại: sung, mù u, tra, bồ đề, trường, trâm, trâm bầu Có các loại cây bụi như ngành ngạnh, duối nhám, sậy, le gai, sổ, sầm, thấu tấu, phèn đen Các loại cỏ thân cứng như

cỏ lông tây, cỏ tranh, cỏ đuôi chồn Các loại cây gỗ như trường, trám, dầu con rái; mécoxe, hubasoi, tam thụy lông chim…

- Kiểu trạng thái cây ăn quả hỗn loài: Các loài cây nông nghiệp trồng ở đây là

mít, xoài, sầu riêng, vú sữa, su, dừa, mận, điều, tiêu…, một số cây lâm nghiệp: sao, bạch đàn

Thảm thực vật tự nhiên bao gồm: dự, sung, bứa, côm bông, gáo vàng, huỳnh đen, cà đuối, tràm, chưn bầu, trâm, ngái, bình linh…

Trên sườn Tây Bắc núi Dài còn có số cây như: gõ mật, căm xe, giáng hương, nín, cây xây… Phía Tây núi Phú Cường có: căm xe, giáng hương, cẩm lai, gõ mật, bằng lăng…

Các cây bụi và cây gỗ nhỏ cứng chiếm tỷ lệ lớn trong khu vực này, bao gồm các cây đại diện của họ cam như bí bái, họ mua như sầm, họ thầu dầu như sồi tía, phèn

Trang 16

đen, cù đèn, tam thụy lông chim, hubasoi, họ bình linh như quao, bình linh, ma, trúc tiết, tầm vông, le, cây thân thảo như chuối, gừng…

- Kiểu trạng thái các loài cỏ hình thành trên đất sau nương rẫy: Thảm thực vật

ở đây chủ yếu là các loại cỏ tranh, cỏ đuôi chồn phát triển thành quần thảo ổn định

* Thảm thực vật đất ngập nước, bưng trũng:

Thực vật chiếm ưu thế ở vùng này trước kia là tràm thuộc 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên trên một số diện tích đất phèn và than bùn Ngoài tràm, còn có hơn 100 loài thực vật thuộc các họ khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị phát triển và khai thác

* Thảm thực vật trên đất hoang hóa:

Thực vật tiêu biểu trên các vùng đất hoang hóa địa hình thấp, bưng trũng, trong mùa lũ thường bị ngập, đất nhiễm phèn từ trung bình đến nặng, chưa được khai thác

là các loại năn kim, năn ngọt Năn kim thường phát triển trên vùng đất phèn nặng ở Tri Tôn, Tịnh Biên Bàng là cây phát triển trên các bưng phèn

Các vùng đất hoang hóa từ phèn nhẹ đến trung bình, thực vật tiêu biểu ngoài năn còn có mồm mốc, mồm vàng, cỏ ống, lác… Cỏ mồm thường mọc xen lẫn với cỏ ống, nhàu nước, đuôi chồn, vòi voi…

* Thảm thực vật tự nhiên trên đất canh tác:

Trên các loại đất ruộng phù sa theo sông Hậu, sông Tiền ở các huyện cù lao như Tân Châu, An Phú, Chợ Mới, Phú Tân, tập đoàn cỏ dại chiếm ưu thế phần lớn là các loại cỏ lồng vực, lông công, cỏ cháo, rau bợ, rau om, rau mương

Trên các ruộng lúa của các huyện phía Tây sông Hậu như Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn còn thấy nhiều loài thực vật khác ngoài các loại cỏ nói trên như ráng gạc nai, cỏ chát, cỏ cói, cỏ đắng

Ở các ruộng lúa thuộc huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và các xã vùng sâu ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn thành phần cỏ chiếm ưu thế là các loài lác,

cỏ ống, cú ma, cỏ cói, điền ma và còn có rong đuôi chó, tầm bứt, ngũ phướng, an điển, vẩy ốc, cỏ năn, hoàng đầu, đũa bếp, đuôi chồn…

Ở các vùng đất bạc màu nghèo dinh dưỡng của 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên có xuất hiện các loài thực vật chịu hạn như cỏ ống, trãng quả 3 hoa, xuân thảo, đuôi chồn,

bó dại, dây lức, đuôi chó, cỏ chỉ, rau mương…

Ở các vùng đất vườn trồng cây ăn trái, đất rẫy trồng hoa màu bao gồm các diện tích đất cao ven sông, đất cao của khu vực phù sa cổ, đê tự nhiên, ven sông rạch, giồng cát, đất đen thổ cư, đã được khai thác trồng các loại cây ăn trái, hoa màu; thành phần thực vật mọc tự nhiên xuất hiện các loài cỏ chỉ, cứt heo, cỏ lào, chổi đực, cam thảo nam, cải trời, nhản lồng, màn màn trắng, dền cơm, dền gai…

* Thảm thực vật ven sông rạch:

Trang 17

Ven sông Tiền, sông Hậu và các sông, kênh, rạch lớn ở các vùng phù sa, thảm thực vật chủ yếu là các loài cà na, chiếc, gáo, cà dăm, nổ, lăng, lác nước, lác hến, lác chiếu, ráng gạc nai, bồn bồn, tầm bứt, lúa trồm, cỏ mồm, đưng, đế, sậy, nga…

Ven sông rạch ở các vùng đất nhiễm phèn, còn có các loại bình bát, gừa, trâm, mây nước, bòng bong, dây vác, dây mủ, dây cương, dây choại và các cây bụi thấp như

ô rô, cóc kèn, ráng dại, mua…

* Thực vật nổi:

Ở An Giang, ngành tảo chiếm ưu thế với 137 loài khác nhau

1.2 Những biến đổi về địa giới hành chính

1.2.1 An Giang trước năm 1802

Bước sang thế kỷ XVII, cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn diễn ra tàn khốc, nhân dân đói khổ cùng cực cho nên họ rời bỏ quê hương làng mạc đi vào phía Nam tìm kế sinh nhai, trong đó chủ yếu là nông dân nghèo ở miền Trung Vùng đất định cư đầu tiên của họ là Biên Hòa, Gia Định Về sau, lưu dân đến định cư dọc sông Cửu Long, khai phá ruộng đất ven theo bờ sông hay cù lao

Năm 1679, một số quan lại người Hán có tư tưởng “phản Thanh phục Minh” đem 3.000 quân cùng gia đình đến Đàng Trong xin cư trú và chúa Nguyễn cho họ trú ngụ ở Mỹ Tho và Đồng Nai Năm 1680, Mạc Cửu cùng 200 người đến cửa biển Péam (còn gọi là Mang Khảm, tức Hà Tiên) lập phố chợ, chiêu mộ lưu dân, lập được 7 thôn

Đến năm 1689, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn vào Nam kinh lược, lập phủ Gia Định với hai huyện Phước Long và Tân Bình, phân chia địa giới và lập sổ

bộ Đến tháng 7-1699, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam đánh dẹp quân Chân Lạp, khi rút quân đã dừng chân tại cù lao Tiêu Mộc (tức là cù lao Cây Sao, Chợ Mới), mở đầu quá trình định cư lập làng sau này

Từ 1705 đến 1757, quân Xiêm thường xuyên cướp phá Hà Tiên, trước tình thế

đó, từ năm 1708, Mạc Cửu xin thần phục và dâng cho chúa Nguyễn vùng đất Hà Tiên Năm 1714, chúa Nguyễn Phúc Chu chấp nhận và phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh cai quản Hà Tiên Năm 1755, Nặc Nguyên quấy phá vùng Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh điều khiển quan binh đánh dẹp, Nặc Nguyên phải nhờ Mạc Thiên Tứ (Tích) xin cầu hòa chúa Nguyễn

Tình hình Chân Lạp chưa yên do cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ vương triều, Nặc Tôn được chúa Nguyễn giúp đỡ trở lại nắm quyền ở Chân Lạp Để

tạ ơn chúa Nguyễn, năm 1757, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long và Nguyễn Cư Trinh lấy vùng đất này và đặt làm ba đạo: đạo Đông Khẩu (xứ Sa Đéc), đạo Tân Châu (xứ cù lao ở Tiền Giang) và đạo Châu Đốc (xứ Châu Đốc ở Hậu Giang) Thời gian này, Mạc Thiên Tứ xin chúa Nguyễn lập đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau) thuộc Hà Tiên An Giang là dải đất cuối cùng ở Nam Bộ được thiết lập về mặt hành chính, trên cơ sở các đạo biên phòng

Trang 18

Thế là trong vòng hơn nửa thế kỷ (1698 – 1757), về cơ bản chúa Nguyễn đã thiết lập xong bộ máy hành chính trên vùng đất Nam Bộ

1.2.2 Địa giới An Giang từ năm 1802 đến năm 1867

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long, đến năm 1805, Gia Long chia Nam Bộ thành 5 trấn: Biên trấn (Biên Hòa), Phiên trấn (Gia Định), Vĩnh trấn (Năm 1808, Vĩnh trấn đổi thành trấn Vĩnh Thanh), Định trấn (Định Tường) và Hà Tiên trấn Năm 1808, Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành, Gia Định thành thống quản 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh (Năm 1832, Vĩnh Thanh đổi thành Vĩnh Long và An Giang) và Hà Tiên

Năm Nhâm Thìn 1832, Minh Mạng đổi “Ngũ trấn” thành “Lục tỉnh” gồm: Phiên An (1833, Phiên An đổi thành tỉnh Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên

Như vậy, tỉnh An Giang được thành lập từ năm 1832, gồm có 2 phủ (Tuy Biên

và Tân Thành), 4 huyện (Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An), tỉnh lỵ của tỉnh An Giang đặt tại Châu Đốc

Năm 1835, Minh Mạng cho lấy đất Ba Thắc đặt thêm phủ Ba Xuyên, đặt hai huyện Phong Nhiêu, Phong Thạnh và lấy huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhập vào tỉnh An Giang

Năm 1842, triều Nguyễn tách phủ Tĩnh Biên (Tịnh Biên) và huyện Hà Dương của tỉnh Hà Tiên nhập vào An Giang Hai năm sau nhập thêm huyện Hà Âm

Tính đến năm 1853, tỉnh An Giang có 3 phủ (Tuy Biên, Tân Thành và Ba Xuyên) và 10 huyện (Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương, Hà Âm, Đông Xuyên, Vĩnh

An, An Xuyên, Phong Thạnh, Phong Nhiêu, Vĩnh Định)

1.2.3 An Giang thời kỳ Pháp thuộc (1867 – 1945)

Theo nghị định ngày 05-01-1876 của Thống đốc Pháp, Dupré, bỏ hệ thống Nam Kỳ lục tỉnh mà chia thành 4 khu vực: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bassac, gồm 19 hạt Tỉnh An Giang (Nam Kỳ lục tỉnh) chia thành 5 hạt: Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc Địa bàn An Giang ngày nay nằm trên hai hạt Châu Đốc và Long Xuyên

Ngày 20-12-1899, Pháp ra Nghị định bãi bỏ các hạt đổi thành tỉnh

Năm 1917, tỉnh Châu Đốc có 4 quận: Châu Thành, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn và tỉnh Long Xuyên có 3 quận: Châu Thành, Thốt Nốt, Chợ Mới Năm 1930, tỉnh Châu Đốc nhận thêm quận Hồng Ngự

1.2.4 An Giang từ năm 1945 đến 1975

Năm 1945, Nam kỳ có 21 tỉnh, trong đó tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Hồng Ngự, Tân Châu, Châu Phú và tỉnh Long Xuyên có 3 quận: Chợ Mới,

Trang 19

Thốt Nốt, Châu Thành Năm 1953, tỉnh Long Xuyên thành lập thêm 2 quận Núi Sập

và Lấp Vò

Đêm 22-9-1945, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ được thành lập và cuộc Kháng chiến Nam Bộ bắt đầu Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập các Chiến khu Tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên thuộc chiến khu 9

Để thuận lợi cho việc lãnh chỉ đạo kháng chiến, ngày 12-9-1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra chỉ thị số 50/CT chia lại địa giới 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc thành 2 tỉnh mới là Long Châu Tiền thuộc khu 8 và Long Châu Hậu thuộc khu 9

Tỉnh Long Châu Tiền có 5 quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B

và Lấp Vò

Tỉnh Long Châu Hậu có 6 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A và Châu Thành (bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc)

Ngày 07-02-1949, tỉnh Long Châu Hậu giao quận Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ

và ngày 14-5-1949, tỉnh Long Châu Tiền giao quận Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc

Cũng vào tháng 5-1949, tỉnh Long Châu Hậu tiếp nhận thêm 3 xã Nam Thái Sơn, Bình Sơn và Thổ Sơn của Quận Châu Thành (Rạch Giá) vào quận Tri Tôn và 2

xã Mỹ Hiệp Sơn (trừ 2 ấp Mỹ Phú, Mỹ Quới), xã Tân Hội cùng 4 ấp của xã Tân Hiệp phía Bắc lộ Cái Sắn vào quận Thoại Sơn

Tháng 6-1949, chia quận Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền thành 2 quận mới Phú Châu và Tân Châu

Ngày 30-10-1950, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đề nghị của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, 2 tỉnh Long Châu Hậu và Hà Tiên được sáp nhập thành tỉnh Long Châu Hà, gồm 8 quận: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (quận Giang Thành và Châu Thành của Hà Tiên nhập lại)

và Phú Quốc Tháng 7-1951, sáp nhập 2 quận Tri Tôn, Tịnh Biên thành quận Tịnh Biên; 2 quận Châu Thành, Thoại Sơn thành quận Châu Thành

Ngày 27-6-1951, theo Nghị định 173/NB51 của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, tỉnh Long Châu Sa được thành lập trên cơ sở nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Long Châu Tiền, gồm 7 huyện: Châu Thành (Sa Đéc), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới Chia ranh giới 2 huyện Hồng Ngự và Tân Châu thành 2 huyện Tân Hồng và Tân Châu Tháng 7-1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa

Ngày 12-10-1951, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Nghị định chia khu Nam Bộ thành 2 phân liên khu Phân liên khu Miền Đông gồm 6 tỉnh: Gia Định, Thủ Biên, Bà Rịa, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa Phân liên khu Miền Tây gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà

Hai tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa tồn tại đến năm 1954

Trang 20

Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự Tỉnh Long Xuyên có 5 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt, Lấp Vò

Ngày 22-10-1956, Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh 143/VN: Địa phận Nam Việt Nam gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh Tỉnh An Giang (tỉnh lỵ Long Xuyên) gồm tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên cũ, với 8 quận: Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn, Núi Sập; 16 tổng; 96 xã Đến ngày 06-8-1957, thành lập quận An Phú từ 13 xã của quận Châu Phú

Ngày 08-9-1964, theo sắc lệnh 264/VN của chính quyền Sài Gòn, tỉnh An Giang tách thành 2 tỉnh: Châu Đốc (5 quận, 10 tổng, 57 xã) và An Giang (4 quận, 6 tổng, 38 xã) Tỉnh Long Xuyên được đặt tên lại là tỉnh An Giang cho đến năm 1975

Về phía chính quyền cách mạng, tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ lập lại 2 tỉnh

Long Xuyên và Châu Đốc Tỉnh Long Xuyên gồm các quận: Châu Thành, Chợ Mới, Lấp Vò, Thốt Nốt, Phong Thạnh Thượng Tỉnh Châu Đốc gồm các quận: Tân Châu, Hồng Ngự, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú

Giữa năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hợp nhất 2 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc lại thành tỉnh An Giang, gồm 9 quận: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn Giao quận Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và giao quận Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc

Tháng 10-1961, Tỉnh ủy An Giang quyết định thành lập các liên huyện để phù hợp với tình hình Từ đó có liên huyện Tịnh Biên – Tri Tôn lấy tên Tịnh Biên, liên huyện Châu Thành – Huệ Đức lấy tên Châu Thành, liên huyện Tân Châu – An Phú lấy tên Tân Châu Cuối năm 1962, tách liên huyện Tịnh Biên – Tri Tôn trở lại 2 huyện như trước

Năm 1963, tỉnh An Giang giao Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và nhận huyện Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang Tháng 12-1965, giao Chợ Mới về tỉnh Kiến Phong và năm

1967 trả Hà Tiên về Kiên Giang

Tháng 8-1971, thực hiện yêu cầu thành lập tỉnh mới để giữ vai trò đầu cầu hành lang từ trung ương về miền Tây Nam Bộ, An Giang chia thành 2 tỉnh An Giang và Châu Hà

Tỉnh An Giang gồm 5 huyện: Châu Phú, Châu Thành X, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, bao gồm 2 nơi mà nay gọi là thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc

Tỉnh Châu Hà gồm 6 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Huệ Đức, Hà Tiên, Phú Quốc

và Châu Thành A của tỉnh Kiên Giang

Tháng 5-1974, Trung ương Cục chia lại địa bàn các tỉnh An Giang, Châu Hà

và Kiến Phong thành 2 tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hà

Tỉnh Long Châu Tiền gồm 6 huyện: Tân Châu, An Phú, Phú Tân A, Phú Tân

B, Hồng Ngự và Tam Nông (nay là huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp)

Trang 21

Tỉnh Long Châu Hà gồm 6 huyện: Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A (Rạch Giá) và 2 thị xã Long Xuyên và Châu Đốc

1.2.5 An Giang từ sau 30-4-1975 đến nay

Tại Nghị quyết số 19/NQ.TW ngày 20-12-1975 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, tỉnh An Giang được thành lập bao gồm 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc (trừ huyện Thốt Nốt) với 8 quận, 84 xã

Tháng 2-1976, Nghị định của Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam giải thể khu hợp nhất tỉnh, bỏ danh xưng “quận” có từ thời Pháp và lấy danh xưng “huyện”; “quận” và “phường” dành cho các đơn vị tương đương với huyện và

xã khi đã đô thị hóa Tỉnh An Giang có 10 huyện, thị xã là: Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Phú Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, thị xã Long Xuyên và thị xã Châu Đốc

Ngày 11-3-1977, Chính phủ ra quyết định 56/CP hợp nhất huyện Huệ Đức và Châu Thành thành huyện Châu Thành, huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành huyện Bảy Núi

Ngày 23-8-1979, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định 300/HĐBT điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh An Giang Huyện Bảy Núi chia thành 2 huyện Tri Tôn

và Tịnh Biên Huyện Châu Thành chia thành 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn

Ngày 13-11-1991, Quyết định số 373/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng chia huyện Phú Châu thành hai huyện Tân Châu và An Phú

Ngày 01-3-1999, Chính phủ ra Nghị định 09/NĐCP thành lập TP Long Xuyên Ngày 19-7-2013, Chính phủ ra Nghị quyết 86/NQ-CP thành lập TP Châu Đốc Đến nay, tỉnh An Giang gồm có các đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn

1.3 Dân cư

1.3.1 Nguồn gốc dân cư

Người Khmer: đây là dân bản địa kỳ cựu, hầu hết được sinh ra ở Việt Nam nên gọi người Việt gốc Khmer, tập trung ở Tri Tôn và Tịnh Biên

Người Chăm và người Mã Lai: họ di cư từ Cao Miên xuống và lập nghiệp hẳn

ở vùng Châu Đốc (người Chăm Châu Giang)

Người Hoa: năm 1679, quan lại người Hán có tư tưởng “phản Thanh phục Minh” đem 3.000 quân xin vào Đàng Trong cư trú, Chúa Nguyễn cho vào Đồng Nai,

Mỹ Tho (Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch); năm 1680, Mạc Cửu đem 200 người khai khẩn vùng đất Hà Tiên Sau thời kỳ sinh sống, họ dần dần chuyển sang định cư ở vùng biên giới Tây Nam, chủ yếu là dân Mỹ Tho di cư sang

Trang 22

Người Kinh: thế kỷ XVIII, trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn diễn ra tàn khốc, nhân dân đói khổ cùng cực, họ bỏ quê hương làng mạc và đi về phía Nam tìm

kế sinh nhai (định cư từ Biên Hoà, Gia Định cho đến dọc sông Cửu Long) Chủ yếu là nông dân nghèo ở miền Trung; những người tù tội bị lưu đày; quan lại trấn giữ vùng đất mới nên mang cả vợ con, họ hàng theo sinh sống; binh lính xuất ngũ; chính sách cưỡng bức di dân của chúa Nguyễn Phúc Tần và chính sách chiêu mộ di dân của Nguyễn Phúc Chu (từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII); người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn kỳ thị tôn giáo của vua quan triều Nguyễn; chính sách di dân, lập ấp,

khuyến khích khai hoang của nhà Nguyễn

1.3.2 Tình hình dân số ở An Giang (1867-2013)

Thời Pháp thuộc (1867-1945): Vào năm 1910, dân số 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc là 279.933 người trên 1.959.898 người của 14 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 14% dân số Đồng bằng sông Cửu Long) Trong đó, dân số Long Xuyên

là 142.777 người và Châu Đốc là 137.156 người

Thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Năm 1954, dân số tỉnh Long Xuyên là 326.200 người; tỉnh Châu Đốc là 210.300 người Người Khmer cả hai tỉnh

Năm 1979: dân số An Giang là 1.474.719 người

Năm 1989: dân số An Giang là 1.773.666 người

Năm 1999: dân số An Giang là 2.049.039 người

Năm 2013: dân số An Giang là 2.155.300 người

CÂU HỎI ÔN TẬP Câu hỏi 1: Hãy nêu ngắn gọn về vị trí địa lý, diện tích, dân số, đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương cùng địa giới hành chính hiện tại của tỉnh An Giang

Câu hỏi 2: Hãy nêu những nét chính về địa hình và những ngọn núi tiêu biểu

của tỉnh An Giang

Câu hỏi 3: Hãy cho biết ở An Giang có những sông, rạch lớn nào?

Câu hỏi 4: Hãy cho biết ở An Giang có những kênh đào nào?

Câu hỏi 5: Hãy cho biết vai trò quan trọng về nông nghiệp và giao thông của

các Kênh T4, T5 và T6 trên địa bàn tỉnh An Giang

Trang 23

Câu hỏi 6: Có ba nhân vật lịch sử sống ở ba thời đại khác nhau nhưng cùng để

lại dấu ấn trên mảnh đất An Giang bằng ba công trình thủy lợi, cùng giao nhau tại một địa điểm Hãy cho biết họ là những ai? Sống vào thời đại nào? Và địa điểm giao nhau

ở nơi nào?

Câu hỏi 7: Hãy xác định địa giới hành chính của An Giang dưới thời Nguyễn

(từ thế kỷ XVIII đến năm 1867)

Câu hỏi 8: Hãy nêu sự thay đổi đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương

trên địa bàn tỉnh An Giang sau ngày 30-4-1975 đến nay

Câu hỏi 9: Hãy cho biết nguồn gốc của dân cư Việt trên mảnh đất An Giang Câu hỏi 10: Hãy cho biết tình hình dân số ở An Giang từ năm 1867 đến năm

2013

Câu hỏi 11: Hãy phân tích những mặt thuận lợi về điều kiện tự nhiên và cư

dân ở An Giang

Câu hỏi 12: Hãy phân tích những mặt khó khăn và thách thức về điều kiện tự

nhiên và cư dân ở An Giang

Câu hỏi 13: Hãy phân tích vị trí địa lý tự nhiên của An Giang có tác động như

thế nào đối với việc phát triển kinh tế và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay?

Trang 24

Chương 2 LƯỢC SỬ VÙNG ĐẤT NAM BỘ VÀ QUÁ TRÌNH MỞ ĐẤT, GIỮ ĐẤT CỦA NHÀ NGUYỄN TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP ĐẶT ÁCH ĐÔ HỘ (TỪ THẾ KỶ I ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XVIII) 2.1 Lược sử vùng đất Nam Bộ trước năm 1757

Trong thời kỳ lịch sử cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay, xuất hiện ba trung tâm văn minh và nhà nước vào loại sớm nhất Đông Nam Á, đó là: Trung tâm văn hoá Đông Sơn với nhà nước Văn Lang (miền Bắc); trung tâm văn hoá Sa Huỳnh với nhà nước Lâm Ấp (Champa) (miền Trung); và trung tâm văn hoá Óc Eo với nhà nước Phù Nam (miền Nam)

2.1.1 Giai đoạn từ thế kỷ I đến thế kỷ VII

Căn cứ các ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc, vào khoảng những thế kỷ đầu công nguyên ở phía Nam của nước Lâm Ấp (Champa), tương ứng với vùng đất Nam Bộ Việt Nam ngày nay, đã tồn tại một quốc gia có tên gọi là Phù Nam Các cư dân Phù Nam chính là chủ nhân của nền văn hoá Óc Eo

Phù Nam là một vương quốc cổ ở Đông Nam Á, tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông Thời kỳ thịnh vượng nhất của vương quốc, lãnh thổ bao gồm phía Nam Trung Bộ (Việt Nam) về phía Tây đến sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phía Bắc bán đảo Mã Lai Vương quốc này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ VII (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp vì bị Chân Lạp đánh bại Phần phía Nam Bộ Việt Nam được gọi là Thuỷ Chân Lạp để phân biệt với vùng Lục Chân Lạp, tức vùng đất gốc của Chân Lạp Từ đây, vùng đất Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Chân Lạp Nhưng trên thực tế, việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn

Những phát hiện mới về văn hoá Óc Eo trong thời gian gần đây cho thấy nền văn hoá này phân bố đều khắp trên vùng đất Nam Bộ, ở các tỉnh Long An, Đồng Tháp,

An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và nhiều địa điểm khác thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Hơn nữa, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều chứng tích của giai đoạn văn hoá tiền Óc Eo trên đất Nam Bộ, chứng tỏ đây là một nền văn hoá có nguồn gốc bản địa

mà trung tâm là vùng đất Nam Bộ, đồng thời có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài Trong đó, ngoài việc quan hệ thường xuyên với các vùng lân cận, dấu tích vật chất cho thấy sự liên hệ khá mật thiết với Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải

Trong quá trình mở rộng ảnh hưởng từ thế kỷ III đến thế kỷ VI, Phù Nam đã phát triển thành đế chế lớn mạnh Theo sử liệu Trung Hoa, các vua Phù Nam vào thời

kỳ này đã thôn tính hơn 10 nước, mở rộng lãnh thổ đến 5,6 nghìn dặm Những tiểu quốc này nằm trên bán đảo Mã Lai và một phần vùng hạ lưu sông Mê Nam Tuy nhiên,

Trang 25

mức độ phụ thuộc của các tiểu quốc này không giống nhau, được gọi là thuộc quốc hoặc chi nhánh của Phù Nam

Trong thư tịch cổ của Trung Hoa phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp Phù Nam là một quốc gia ven biển mà trung tâm là vùng Nam Bộ ngày nay của Việt Nam,

cư dân cụ thể là người Mã Lai – Đa Đảo có truyền thống hàng hải và thương nghiệp khá phát triển Trong thời kỳ thịnh vượng, Phù Nam đã mở rộng ảnh hưởng, chi phối toàn bộ vùng vịnh Thái Lan và kiểm soát con đường giao thông huyết mạch từ Nam Đông Dương sang Ấn Độ

Cư dân Phù Nam là một cộng đồng đa chủng tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hoá Vương quốc Phù Nam là nơi gặp gỡ giao lưu giữa nhiều chủng tộc, tộc người thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau, trong đó yếu tố nhân chủng của nhóm Mã Lai – Đa Đảo nổi trội chiếm ưu thế

Sau thời kỳ phát triển rực rỡ, đế chế Phù Nam suy yếu và bắt đầu quá trình tan

rã vào cuối thế kỷ VI Chân Lạp do người Khmer xây dựng, lúc bấy giờ là ở vùng trung lưu sông Mê Kông và khu vực phía Bắc Biển Hồ, là một thuộc quốc của Phù Nam Mặc dù là một thuộc quốc nhưng Chân Lạp đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỷ thứ VI và nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỷ VII (627)

Như vậy, Phù Nam là một quốc gia có cư dân và truyền thống văn hoá riêng của mình Với hiểu biết khoa học cho đến tận ngày nay có thể thấy đó là một quốc gia hình thành và phát triển trên vùng đất có vị trí giao thoa nên có nhiều lớp cư dân đan xen Như vậy, từ chỗ là một vùng đất thuộc Phù Nam – một quốc gia độc lập và hùng mạnh, sau năm 627, vùng đất này đã bị Chân Lạp đánh chiếm

2.1.2 Giai đoạn từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI

Khi vùng đất Nam Bộ thuộc Chân Lạp, trong một số sách cổ Trung Hoa đã có tên gọi “Thuỷ Chân Lạp” để phân biệt với vùng “Lục Chân Lạp”, tức vùng đất gốc của Chân Lạp

Cũng từ đây, vùng đất Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Chân Lạp Nhưng trên thực tế, việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, dân số còn ít ỏi, người Khmer khi đó khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn một vùng đồng bằng mới bồi đắp, còn ngập nước và sình lầy Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức

Theo những tài liệu bi kí, đến thế kỷ thứ VIII tại vùng trung tâm của Phù Nam trước đây vẫn còn tồn tại tiểu quốc do người Phù Nam cai quản Vào nửa sau thế kỷ VIII, Thuỷ Chân Lạp bị người Java tấn công và kiểm soát đến năm 802 thì kết thúc Một trở ngại cho việc cai quản và phát triển vùng Thuỷ Chân Lạp là tình trạng chiến tranh diễn ra thường xuyên giữa Chân Lạp với Champa Trong khi đó, chính quyền Chân Lạp dồn sức phát triển vùng trung tâm truyền thống ở khu vực Biển Hồ, trung

Trang 26

tâm sông Mê Kông và hướng nỗ lực mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya Như vậy, trong suốt khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ

XI, Chân Lạp trở thành một quốc gia cường thịnh, tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời mở rộng lãnh thổ sang tận Lào (về phía Nam) và bao trùm cả khu vực sông Chao Phaya Tuy nhiên, tính từ những nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, dấu

ấn Chân Lạp trên vùng đất Nam Bộ trước thế kỷ XVI là không nhiều và ảnh hưởng của nền văn minh Angkor cũng không đậm nét

Cho đến thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt, theo Chu Đạt Quan – sứ thần nhà Nguyễn của Trung Hoa, được cử tới Chân Lạp và ghi lại trong sách Chân Lạp phong thổ ký – vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất hoan vu,

với: “Từ chỗ vào Chân Bồ (vùng Bà Rịa ngày nay) trở đi, hầu hết là rừng thấp cây

rậm Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy tram dặm cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rợn mà thôi Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng”

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của vương quốc Xiêm từ phía Tây và có lúc bị quân đội Ayuthaya (hình thành vào giữa thế kỷ XIV) chiếm đóng Sang thế kỷ XVI, nhất là thế kỷ XVII, do có sự can thiệp của Xiêm nên triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc Vương quốc này bước vào thời kỳ suy vong Trong bối cảnh như vậy, Chân Lạp hầu như không có khả năng kiểm soát đối với vùng ngập nước ở phía Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam – Thuỷ Chân Lạp Trên thực tế, khả năng kiểm soát và quản lý vùng đất này của vương triều Chân Lạp giảm sút dần

2.1.3 Giai đoạn từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII

Vào thế kỷ XVII, cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn diễn ra tàn khốc, nhân dân đói khổ, bỏ quê hương vào Nam sinh sống, chủ yếu là nông dân nghèo ở vùng đất Thuận – Quảng Vùng đất đầu tiên họ đến là Mô Xoài (Bà Rịa), Đồng Nam (Biên Hoà), Gia Định (Sài Gòn), về sau lưu dân định cư dọc theo sông Cửu Long, khai phá ruộng đất ven theo bờ sông hay cù lao

Năm 1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái mình là công chúa Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II làm hoàng hậu của vương triều Chân Lạp Dưới sự bảo trợ của bà hoàng hậu người Việt (Ngọc Vạn), cư dân Việt từ vùng Thuận – Quảng vào sinh sống làm ăn ở lưu vực sông Đồng Nai một ngày thêm đông Đây là cơ sở thuận lợi cho chúa Nguyễn từng bước hợp pháp hoá sự kiểm soát của mình một cách hoà bình đối với vùng đất đã được người Việt khai khẩn

Năm 1623, chúa Nguyễn đã cho lập thương đếm ở vị trí tương ứng với Sài Gòn (Tp Hồ Chí Minh ngày nay) để thu thế

Trang 27

Cùng với các nhóm cư dân người Việt, trong thời gian này cũng xuất hiện một

số người Hoa cũng đến khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống trên vùng đất Nam

Bộ Nhân sự kiện nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Hoa, năm 1679, một số quan lại nhà Hán đem 3.000 và hơn 50 chiến thuyền quân cùng gia đình đến Đàng Trong xin cư trú Cụ thể là nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hoà mở đất, lập phố, còn nhóm Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho “dựng nhà, lập xóm”

Như vậy, cùng với Sài Gòn – Gia Định, Biên Hoà và Mỹ Tho cũng đã dần dần trở thành những trung tâm cư dân và kinh tế phát triển dưới thời cai quản của chúa Nguyễn ở miền Đông và Tây Nam Bộ

Năm 1680, Mạc Cửu ở Quảng Đông (Trung Quốc) cũng cùng 200 người đến

Hà Tiên khai khẩn, lập phố chợ Mạc Cửu đã biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên – Long Xuyên – Bạc Liêu – Cà Mau (được gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực cát cứ của dòng họ mình, không còn lệ thuộc vào chính quyền Chân Lạp nữa

Những sự kiện trên cho thấy, trong thời kỳ này vùng đất Nam Bộ đã trở thành nơi tranh chấp ảnh hưởng và quyền hành của hai thế lực vương triều Chân Lạp và chúa Nguyễn, trong đó vai trò của Chân Lạp ngày càng lu mờ, còn vai trò của chúa Nguyễn thì ngày càng được khẳng định, mở rộng và củng cố

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam kinh lược vùng đất Đồng Nai, lập phủ Gia Định Như vậy, chúa Nguyễn đã xác lập quyền quản lý về mặt nhà nước đối với xứ Đồng Nai (huyện Phúc Long) – Sài Gòn (huyện Tân Bình) sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Đàng Trong Đến đây, Sài Gòn – Gia Định đã trở thành trung tâm hành chính – chính trị và đang từng bước hình thành một trung tâm kinh tế và văn hoá của vùng đất mới Sự kiện năm 1698 là một cột mốc quan trọng trong quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của chúa Nguyễn đối với vùng đất Nam Bộ

Năm 1699, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh đem quân vào Tân Châu đánh dẹp sự quấy phá của vua Chân Lạp, đồng thời ông cho một số binh lính xuất ngũ và ở lại đây sinh sống

Trước tình hình phát triển hết sức nhanh chóng của khu vực Gia Định dưới quyền quản lý của chính quyền chúa Nguyễn, Mạc Cửu càng ngày càng nhận thấy không thể dựa vào chính quyền chúa Nguyễn nếu muốn tiếp tục củng cố và mở rộng thế lực trên vùng đất này, nên đã đem toàn bộ vùng đất đang cai quản về với chúa Nguyễn (1708) Năm 1711, Tổng binh trấn Hà Tiên Mạc Cửu đã đến cửa khuyết để tạ

ơn và được chúa Nguyễn Phúc Chu hậu thưởng

Việc vùng đất Hà Tiên được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong là sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình mở rộng chủ quyền của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ Đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm các hải đảo ngoài Biển Đông và vịnh Thái Lan Sau Mạc Cửu mất, chúa Nguyễn tiếp tục phong cho con của Mạc Cửu là Mạc Thiên

Trang 28

Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ không chỉ ra sức xây dựng và phát triển

Hà Tiên trở thành một trung tâm kinh tế phồn thịnh, mà còn nêu cao ý thức bảo vệ chủ quyền với tư cách là người được giao trách nhiệm bảo vệ vùng biên giới cực Nam của đất nước

Vào khoảng thời gian này, vương triều Chân Lạp lâm vào tình trạng nội bộ mâu thuẫn, chia rẽ Có thế lực muốn dựa hẳn vào chúa Nguyễn, nhưng lại có thế lực muốn chạy theo vua Xiêm Các thế lực đối địch luôn tìm mọi cơ hội thuận lợi để thôn tính lẫn nhau Vùng đất Hà Tiên sau khi sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, một ngày càng hưng thịnh, trở thành nơi nhiều thế lực trong triều đình Chân Lạp tìm đến với hy vọng được cưu mang và nhờ cậy

Cuối năm 1755, chính vua Chân Lạp là Nặc Nguyên đã “chạy về Hà Tiên, nương tựa Đô đốc Mạc Thiên Tứ” Năm 1756, Nặc Nguyên xin hiến đất hai phủ Tầm

Bồn, Lôi Lạp để chuộc tội, chúa Nguyễn chấp nhận Năm sau, 1757, Nặc Nguyên qua đời Người chú họ là Nặc Nhuận tạm trông coi việc nước nhưng ngay sau đó triều đình Chân Lạp rối loạn, đánh giết lẫn nhau Người con của Nặc Nhuận (em họ Nặc Nguyên)

là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên Mạc Thiên Tứ đã cưu mang và giới thiệu Nặc Tôn lên chúa Nguyễn Chúa Nguyễn sắc phong cho Nặc Tôn làm vua nước Chân Lạp và sai Thiên Tứ cùng với các tướng sĩ hộ tống về nước Bấy giờ, Nặc Tôn cắt năm phủ là Hương Úc, Cần Bột, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ, Thiên

Tứ hiến cho triều đình chúa Nguyễn Chúa Nguyễn cho năm phủ này vào quản hạt Hà Tiên

Năm 1757, để tạ ơn chúa Nguyễn, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long “xứ Sa Đéc đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ cù lao ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu Đốc ở Hậu Giang đặt làm đạo Châu Đốc” Thời gian này, Mạc Thiên Tứ xin chúa Nguyễn lập đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau) thuộc Hà Tiên

Năm Đinh Sửu (1757), chúa Nguyễn tiếp quản vùng đất Tầm Phong Long do Nặc Ông Tôn dâng tặng (tức vùng từ Sa Đéc lên đến vùng biên giới đầu nguồn, từ phía Bắc đến phía Nam sông Tiền, sông Hậu hiện nay), lập nên các đơn vị hành chính miền Tây Nam Bộ: đạo Tân Châu, đạo Châu Đốc, đạo Đông Khẩu Bên cạnh đó, năm phủ phía Tây Hà Tiên là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh cũng thuộc về chúa Nguyễn Hà Tiên và Tầm Phong Long được sát nhập lãnh thổ Đàng Trong đánh dấu hành trình mở cõi về phía Nam hoàn thành, góp phần ngăn chặn tham vọng “Đông tiến” của người Xiêm, đập tan âm mưu khuynh đảo, cát cứ của người Hoa lưu vong, hoạch định biên giới quốc gia của cha ông ta tạo nên sự ổn định an ninh khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ XVIII

Bảo vệ dân chúng khẩn hoang và xác lập chủ quyền là hai quá trình được các chúa Nguyễn tiến hành song song đồng thời, trong đó xác lập chủ quyền là để bảo vệ tính hợp pháp của công cuộc khẩn hoang và thành quả của công cuộc khẩn hoang chính

là cơ sở để xác lập chủ quyền một cách thật sự Chỉ sau hơn một thế kỷ, tính từ đầu thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XVIII, toàn bộ khu vực Nam Bộ đã hoàn toàn thuộc

Trang 29

quyền cai quản của chúa Nguyễn và nhanh chóng trở thành vùng phát triển kinh tế –

xã hội năng động Đây là thành quả lao động cần cù sáng tạo của tất cả các cộng đồng dân cư trong cả nước, trong đó vai trò của các lớp cư dân người Việt, người Khmer, người Chăm và người Hoa là rất nổi bật

2.2 Quá trình mở đất và giữ đất dưới thời Nhà Nguyễn (1757-1867) 2.2.1 Thời kỳ các chúa Nguyễn (1757-1802)

Nguyễn Cư Trinh đến vùng đất An Giang, ông đã thực hiện chính sách khẩn hoang Khi đặt chân đến vùng đất An Giang xưa, lưu dân chọn vùng đất cao, đủ nước sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi và đi lại thuận lợi Do chính sách cấm đạo của chúa Nguyễn Phúc Khoát (1750), nhiều tín đồ đã chạy đến vùng đất An Giang lánh nạn, họ lập ấp và mở giáo đường, xây dựng họ đạo Phía Hậu Giang, dân sống rải rác ở Năng

Gù, Mỹ Đức, Châu Đốc Dọc sông Tiền, ruộng vườn tốt tươi, năng suất gieo trồng: lúa, dưa quả, dầu gai, mương ngòi,… thu hoạch cao Cộng đồng dân tộc buổi ban sơ giữa người Việt và người Khmer trở nên gắn bó nhau nơi đất An Giang Đất An Giang làm điểm dừng chân cuối cùng của lưu dân người Việt trên Đồng bằng sông Cửu Long

An Giang thường xuyên bị chiến tranh, dịch bệnh,… nhưng con người ở đây gắn bó, đoàn kết lẫn nhau để mở đất và giữ đất ở vùng đất mới này

2.2.2 Thời kỳ triều Nguyễn (1802-1867)

2.2.2.1 Thời vua Gia Long (1802-1820)

Gia Long chủ trương đẩy mạnh khai hoang nhằm giải quyết các khó khăn kinh

tế - xã hội An Giang là vùng đất hoang hoá thuộc trấn Vĩnh Thanh, dân cư thưa thớt, nhất là vùng bờ Tây sông Hậu Triều Nguyễn dùng nhiều biện pháp khác nhau Các chỉ dụ vào các năm 1802, 1803 khuyến khích mọi người đi khai hoang với thủ tục dễ dãi như tự chọn đất khẩn hoang, cho vay thóc giống,… Đối với vùng biên giới có 2 biện pháp: chiêu mộ dân cường tráng, lập thành cơ đội để phòng thủ trong trấn và xúc tiến việc đào kênh Sau khi đào kênh, triều đình khuyến khích dân chúng đến khai phá đất đai và lập thôn ấp

Nhìn chung, dưới triều Gia Long, nhờ chủ trương đào kênh đắp lộ của Thoại Ngọc Hầu, phần lớn đất cù lao, ven sông Hậu, bờ kênh Thoại Hà, Vĩnh Tế được khai khẩn Đất đai canh tác được mở rộng, dân đinh đông hơn, thôn ấp thành lập khá sớm

2.2.2.2 Thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị (1820-1847)

Ngay khi Minh Mạng lên ngôi, Tổng trấn Lê Văn Duyệt tấu trình xin dựng một cái kho ở Châu Đốc (kho Vĩnh Viễn) Tháng 02-1821, Minh Mạng chuẩn y kho Châu Đốc để chứa tiền, gạo cấp phát cho viên quân lưu trú và dự trữ quân lương Năm 1821, Nguyễn Văn Thoại khôn khéo chiêu mộ dân địa phương những người buôn bán đến Châu Đốc lập làng, mở chợ Dân đinh tăng lên, ruộng đất mở mang Tình hình biên phòng có biến động nên triều đình chuyển số dân đồn điền vào ngạch lính, đồn điền biến thành các phiên hiệu quân đội Minh Mạng khuyến khích dân đến vùng đất mới

để khai hoang bằng cách miễn thuế đinh, thuế điền trong ba năm

Trang 30

Nhìn chúng, sau ba năm khuyến khích dân đến ở, do khí hậu khắc nghiệt, Minh Mạng phải gia hạn thuế nhiều lần

2.2.2.3 Thời vua Tự Đức (1848-1867)

Vua Tự Đức đã ban bố nhiều biện pháp khuyến khích khẩn hoang, tổ chức lại đồn điền và lập ấp Năm 1849, vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương làm kinh lược sứ Nam Kỳ và ông kiến nghị với triều đình Huế cho phép dân chúng đến An Giang khẩn hoang để sinh kế Năm 1851, Tự Đức chỉ dụ Nguyễn Tri Phương đưa tù phạm từ miền Trung vào khai hoang các tỉnh Nam Kỳ, thành phần này được cấp lương thực, nông

cụ và trâu bò để cày cấy Sau bốn năm thực hiện, số người đến khai hoang ở An Giang không nhiều Triều Nguyễn lại tiếp tục tuyển mộ thêm cư dân ở Bình Thuận trở ra, đưa họ vào vùng Vĩnh Tế, Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang

Nhìn chung, chính sách khẩn hoang, lập làng dưới thời Tự Đức đã đạt được nhiều kết quả hơn trước Nhiều thôn ấp được thành lập, cộng đồng cư dân người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm trở nên đông đúc

2.2.3 Việc phòng thủ biên giới

An Giang được bố trí hàng loạt đồn bảo dọc sông Tiền, sông Hậu, biên giới từ Châu Đốc đến Hà Tiên Tại Châu Đốc, huy động dân binh khoảng 3.000 người đắp đồn Châu Đốc (1815) Ở vùng biên giới An Giang và Chân Lạp xảy ra nhiều cuộc xung đột giữa quân đội triều Nguyễn với quân Xiêm – Chân Lạp, nên Minh Mạng cho triệt phá đồn Châu Đốc cũ, không tiện việc phòng thủ, cho xây dựng đồn mới kiên cố hơn Ở sông Hậu, triều Nguyễn cho thiết lập đồn Châu Giang, trước thuộc Châu Đốc, lâu ngày bị lụt làm sụp lở nên Trấn thủ Vĩnh Thanh cho di dời Phía sông Tiền được xem là nơi trọng yếu, thiết lập đến 3 đạo: Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự (Hồng Ngự) Đồn chính đặt tại Cù Lao Giêng Vùng biên giới giáp Chân Lạp, triều Nguyễn

bố trí đồn bảo dày đặc, nhằm đối phó với quân Xiêm Năm 1843, Thiệu Trị cho lệnh đào kênh từ Châu Đốc đến Tân Châu để đối phó với quân Xiêm ở đất Chân Lạp thường tràn xuống quấy phá ta

2.2.4 Chiến đấu chống quân Xiêm xâm lược (1833)

Năm 1833, mượn cớ cầu viện của Lê Văn Khôi, quân Xiêm sang xâm lược nước ta Chúng chia làm 5 đạo quân bằng nhiều hướng đánh vào một số tỉnh miền Trung, Châu Đốc và Hà Tiên Vua Minh Mạng cho lệnh đánh trả, đồng thời tăng cường cho An Giang nhiều chiến thuyền, thuốc súng và đạn Vàm Nao được chọn là nơi quyết chiến với quân Xiêm

Tháng 11-1833, Trương Minh Giảng trên đường đến Vàm Nao thì hay tin Hà Tiên thất thủ, quân Xiêm theo đường kênh Vĩnh Tế chiếm Châu Đốc Quân ta rút về Đông Khẩu để bảo toàn lực lượng Trước tình hình nguy ngập, quân ta chiếm giữ Vàm Nao và cho người cấp báo về Huế xin viện binh, quân ở Vĩnh Long, Định Tường đến ứng phó Quân ta bố trí hai bên bờ sông Tiền để làm thế ngăn giặc Vàm Nao có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và giao thông Sau khi đánh chiếm Châu Đốc, quân

Trang 31

Xiêm chuẩn bị kế hoạch vượt sông Vàm Nao đánh Đông Khẩu và Long Hồ (Vĩnh Long) với một lực lượng gồm 350 chiếc thuyền, 20.000 quân, nhưng phần lớn là quân

ô hợp Tháng Chạp năm 1833, quân ta đến vàm Ông Chưởng dọ thám tình hình Ta lợi dụng rừng rậm phức tạp hai bên bờ sông, cho quân chiếm đóng và sẵn sàng ứng chiến

Ta bắn đại bác vào thuyền giặc, Tướng Xiêm là Liêm – Cầm – Hen chết tại trận Đúng canh tư, quân ta bất ngờ đánh úp quân giặc Với sự tiếp sức của Phó vệ uý Nguyễn Văn Tình kéo quân từ Gia Định xuống, chẳng bao lâu, quân ta đẩy lùi được quân Xiêm,

15 chiến thuyền của giặc bị bắn chìm Ta thu nhiều súng ống, đạn dược Ta truy kích giặc khỏi Châu Đốc, Hà Tiên

Trận chiến tiêu diệt quân Xiêm trên sông Vàm Nao thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân ta Dù thế giặc mạnh gấp đôi, nhưng quân triều đình và nhân dân đã sáng tạo ra cách đánh, nắm chắc địa hình, với lòng gan dạ dũng cảm, đánh thắng kẻ địch hùng mạnh nhất phía Nam lúc bấy giờ

CÂU HỎI ÔN TẬP Câu hỏi 14: Hãy cho biết quá trình xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng

đất Nam Bộ trước năm 1757

Câu hỏi 15: Hãy cho biết đời sống của cư dân An Giang sau khi chúa Nguyễn

xác lập chủ quyền (1757)

Câu hỏi 16: Hãy cho biết chính sách khẩn hoang lập làng ở An Giang dưới

thời Gia Long (1802-1820)

Câu hỏi 17: Hãy cho biết chính sách đồn điền ở An Giang dưới thời Minh

Mạng, Thiệu Trị (1820-1847)

Câu hỏi 18: Hãy cho biết chính sách đồn điền ở An Giang dưới thời Tự Đức

(1848-1867)

Câu hỏi 19: Việc phòng thủ biên giới ở An Giang đã được nhà Nguyễn (từ Gia

Long đến Tự Đức) tiến hành như thế nào?

Câu hỏi 20: Quá trình đấu tranh chống quân Xiêm xâm lược trên vùng đất An

Giang (1833) diễn ra như thế nào?

Trang 32

Chương 3 QUÂN VÀ DÂN AN GIANG ĐẤU TRANH CHỐNG ÁCH THỐNG TRỊ VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1867-1954) 3.1 Đấu tranh chống ách thống trị của thực dân Pháp (1867-1945)

3.1.1 Phong trào yêu nước trước khi có Đảng (1867-1930)

3.1.1.1 Khái quát bối cảnh lịch sử An Giang sau khi nước ta mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862-1866)

Sau khi nổ tiếng súng xâm lược nước ta, Pháp đã tiến hành đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tìm cách gây rối loạn 3 tỉnh miền Tây Trước sức mạnh của Pháp, triều đình Huế bất lực, ký hoà ước 5-6-1862 giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho quân Pháp

Như vậy, An Giang nói riêng và ba tỉnh miền Tây Nam Bộ nói chung đang còn thuộc chủ quyền kiểm soát của triều đình Huế Khắp Nam Kỳ lục tỉnh thành lập các đội quân “ứng nghĩa”, dấy động phong trào chống Pháp Khi Hiệp ước Pháp – Campuchia được ký kết (1863), Campuchia chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, ba tỉnh Tây Nam Kỳ (An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên) bị cô lập

Sau hoà ước 1862, nhân sĩ Nam Kỳ bị phân hoá, có kẻ theo giặc, một bộ phận ủng hộ hoà nghị của triều đình Huế, còn lại phần lớn là đứng lên chống giặc xâm lược Như vậy, An Giang là một trong ba nơi ở Tây Nam Kỳ trở thành vùng đất tỵ địa của

sĩ phu yêu nước Nam Kỳ Họ đem cả gia đình, mồ mả ông cha sang 3 tỉnh miền Tây (trong đó có An Giang) để sinh sống và An Giang trở thành nơi trú ngụ của nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân Đặc biệt là căn cứ Thất Sơn trở thành nơi hoạt động của Hoàng thân A-Soa – thể hiện mối liên minh chiến đấu của Việt – Khmer, mở đầu cho tình đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc

* Hoạt động chống Pháp của Nguyễn Hữu Huân

Nguyễn Hữu Huân đến An Giang liên kết với Hoàng thân A-Soa ở Thất Sơn

và tiếp tục hoạt động ở Đồng Tháp Mười, Châu Đốc, Vĩnh Tế Chính quyền thực dân Sài Gòn yêu cầu triều đình Huế bắt Nguyễn Hữu Huân giao cho chúng Lúc đầu, triều đình Huế làm ngơ vì muốn duy trì thực lực chống Pháp, nhưng về sau, do ảo tưởng

“chuộc đất” nên tháng 01-1864, Tự Đức chỉ dụ cho các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên bắt giải những kẻ mượn tiếng mộ nghĩa Do sự thoả hiệp của triều Nguyễn, năm

1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt tại Châu Đốc giao cho Pháp

* Khởi nghĩa A-Soa ở Thất Sơn

Sau hiệp ước 1863, vương triều Nôrôđom (Campuchia) phụ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp Nội bộ vương triều chia rẽ sâu sắc, Hoàng thân Sivotha, A-Soa đứng về phía nhân dân chống Pháp Hoàng thân A-Soa bí mật xây dựng căn cứ ở Thất Sơn, mở rộng địa bàn chống Pháp vùng Đông Nam Campuchia Pháp tìm mọi cách

Trang 33

tiêu diệt lực lượng A-Soa Năm 1865, Pháp gửi thư đến Tuần phủ An Giang Phan Khắc Thân với lời lẽ trách móc Trước sự kiện tàu chiến Pháp uy hiếp thành Châu Đốc, Tự Đức chỉ dụ cho Tổng đốc An Hà phải nghiêm ngặt cự tuyệt về mộ dân dựng đồn của người nước ngoài Năm 1866, Phan Thanh Giản báo cáo hoạt động A-Soa Tự Đức cách chức Phan Khắc Thân, rồi bất ngờ đánh úp quân A-Soa ở núi Tô Kết quả, cuộc khởi nghĩa chống Pháp của A-Soa ở Thất Sơn hoàn toàn thất bại

3.1.1.2 Thực dân Pháp chiếm An Giang và bước đầu xây dựng bộ máy cai trị (1867-đầu thế kỷ XX)

Sau khi chiếm Vĩnh Long, quân Pháp huy động lực lượng tiến đến thành Châu Đốc, các viên quan triều đình hoang mang cực độ Pháp đòi tuần phủ Nguyễn Hữu Cơ xuống tàu nhận thư của Phan Thanh Giản Sau thời gian lưỡng lự, ông đích thân xuống tàu Pháp và Pháp đem 1.000 quân tiến vào thành Châu Đốc, giải giáp khí giới quân triều đình An Giang thất thủ

Giai đoạn đầu, thực dân Pháp chủ yếu bình định, củng cố bộ máy cai trị, tạo điều kiện khai thác sau này Nguồn ngân sách đầu tư của tư bản Pháp rút từ nguồn tài chính chính quốc Ở An Giang, chúng xây dựng các ty, bệnh viện, cầu đường, nạo vét kênh mương… tạo cơ sở hạ tầng cho tư bản Pháp đầu tư khai thác Nông thôn An Giang cuối thế kỷ XIX đã diễn ra nạn chiếm đoạt ruộng đất của tư bản Pháp và chủ điền, nông dân bị bần cùng hoá vì nạn sưu thế, lao dịch, lụt lội, hạn hán Mâu thuẫn giữa thực dân, phong kiến với nông dân càng gay gắt Việc mất nước là mất luôn ruộng đất, mất quyền độc lập dân tộc, là mất quyền làm người

Chính vì vậy, ngay sau khi Pháp chiếm An Giang, các cuộc khởi nghĩa, các phong trào yêu nước ở đây liên tục diễn ra với nhiều mức độ, sắc thái khác nhau

3.1.1.3 Các cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước ở An Giang (nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

* Quan lại, sĩ phu

Sau tháng 6-1867, nhân dân 3 tỉnh miền Tây phất cao ngọn cờ kháng chiến chống xâm lược Các tổ chức chống Pháp từ Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng đến Châu Đốc như Phan Tôn, Phan Liêm Ở Châu Đốc có lãnh binh Lê Văn Sanh, Đỗ Đăng Tàu đứng về phía nhân dân chống Pháp Hai ông bí mật tổ chức đội thuyền ở núi Sam hoạt động ở Mương Vệ Thuỷ (Mương Thuỷ, Vĩnh Mỹ, Châu Đốc) kéo dây ngang sông Hậu ngăn tàu giặc Quân Pháp phản công, hai ông rút vào Ô Long Vĩ nhận chìm thuyền rồi đi vào Bảy Thưa

* Khởi nghĩa Bảy Thưa của Trần Văn Thành (1867-1873)

Quản Cơ Trần Văn Thành quy tụ nhiều nông dân yêu nước khắp Nam Kỳ lục tỉnh chống Pháp ở Bảy Thưa – Láng Linh Công cuộc xây dựng đồn được xúc tiến, căn cứ chính đặt tại Hưng Trung (xã Đào Hữu Cảnh, Châu Phú), xung quanh thiết lập các đồn “Hờ” làm tuyến ngăn giặc: Cái Môn (Cái Dầu), Giồng Nghệ (Mặc Cần Dưng), trạm canh Ông Tà (Tri Tôn), đồn Hàng Tràm (Bình Thạnh Đông),… Mỗi đồn trang bị

Trang 34

súng thần công, điễu thương, hoả hỗ với 150 nghĩa quân phụ trách phòng thủ Nghĩa quân tổ chức thành nhiều đội, mỗi đội có người chỉ huy

Năm 1872, thực dân Pháp phát hiện kế hoạch khởi nghĩa Chúng cho mật thám vào Láng Linh để điều tra hoạt động của Đạo Lành Biết căn cứ bại lộ, Trần Văn Thành phất cờ khởi nghĩa, lấy danh hiệu “Binh Gia Nghị” tuyên bố đánh Pháp Tháng 6-1872, quân Pháp mở cuộc tiến công vào căn cứ Bảy Thưa Chúng dùng thuyền nhỏ từ Long Xuyên tiến vào rạch Mặc Cần Dưng đánh đồn Giồng Nghệ và chiếm được đồn này nửa tháng Sau đó, chúng rút lui vì không chịu nổi kiểu đánh du kích của nghĩa quân

Tháng 3-1873, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào Bảy Thưa, chiếm được đồn Giồng Nghệ Cánh quân Pháp từ Châu Đốc đánh xuống chiếm được đồn Hàng Tràm (Phú Tân) Sau đó, chúng đẩy lùi nghĩa quân khỏi đồn Hờ ở Cái Dầu (Châu Phú) Sau vài trận giao chiến, nghĩa quân rút lui để bảo toàn lực lượng Cuối cùng, đồn Hưng Trung thất thủ Thừa thắng, Pháp tấn công vào căn cứ chính Hưng Trung Trần Văn Thành bình tĩnh đối phó Tuy bị bao vây nhưng ông vẫn đứng sau phòng tuyến làm bằng ván với những bao gạo chồng chất, thách thức bọn Pháp, dùng ống loa chửi Pháp thậm tệ Ông hướng về binh sĩ khích lệ tinh thần, quân sĩ hò reo vang rền, chửi rủa bọn Pháp, trống đánh liên hồi Đến tối, đồn Hưng Trung thất thủ, quân Pháp tịch thu vũ khí nghĩa quân Trần Văn Thành hy sinh trong chiến đấu Khởi nghĩa Bảy Thưa nổ ra trong điều kiện khó khăn vì hầu hết các phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ bị đánh dẹp nên thực dân Pháp rảnh tay tập trung lực lượng đàn áp

* Ngô Lợi và đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Sau cuộc khởi nghĩa Mỹ Tho thất bại, Ngô Lợi bí mật đến núi Tượng (Tri Tôn) lập căn cứ chiêu mộ nghĩa binh, lấy thuyết “Hội Long Hoa” và giáo lý “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” để che mắt giặc Mật thám Pháp theo dõi chặt chẽ hoạt động của Ngô Lợi, chúng tiến hành bình định làng An Định, bao vây núi Tượng tìm bắt Ngô Lợi, nhưng không thành

Năm 1884, Ngô Lợi trở lại núi Tượng dựng chùa Tam Bửu Năm 1885, Ngô Lợi ở núi Tượng đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế và làm chủ Tịnh Biên Pháp đem quân đánh dọc kênh Vĩnh Tế và làng An Định Lực lượng nghĩa quân rút về Vườn Dầu (Campuchia) Giặc Pháp đốt chùa, lúa gạo và bố trí đồn bót dọc kênh Vĩnh Tế Ngày 2-6-1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào Vườn Dầu nhưng thất bại Năm 1887, Pháp kéo quân vào An Định, gặp sự kháng cự của nghĩa quân ở núi Trà Sư Chúng tràn vào An Định đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi Pháp ra lệnh giải tán làng An Định, nhập vào làng Vĩnh Lạc (Lạc Quới) và cấm giáo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoạt động Năm 1890, Ngô Lợi mất, phong trào dần tan rã

* Các hoạt động yêu nước ở An Giang đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bước vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế xã hội An Giang Hình thức chống Pháp

Trang 35

cũng thay đổi cho phù hợp với tình hình Nhiều người còn mang nặng tinh thần chống Pháp với hình thức thần bí Ở Châu Đốc, lập ra Hàn Lâm Miếu, thực chất tập hợp nhiều hội viên bàn về thời cuộc chính trị Phong trào “Hội kín” mang màu sắc “Thiên địa hội” Trung Quốc phát triển Phong trào “Hội kín” diễn ra khắp Nam Kỳ Lãnh đạo phong trào như Phan Phát Sanh (Phan Xích Long), Nguyễn Hữu Trí có mối quan hệ gắn bó với các nhà yêu nước ở Thất Sơn

Trong các lãnh tụ Hội kín ở An Giang có Cao Văn Long, ông dựng chùa Phật Lớn ở núi Cấm và đi khắp nơi khuyến giáo, bắt liên lạc với các tổ chức, thu nạp hội viên, trong đó có cả người Khmer Các lãnh tụ Hội kín định tổ chức cuộc khởi nghĩa mới, trung tâm tại chùa Phật Lớn nhưng không thành Tại Láng Linh (Châu Phú), tín

đồ Bửu Sơn Kỳ Hương do Trần Văn Nhu – con trưởng Quản Cơ Trần Văn Thành chủ trương bất hợp tác với giặc, lập trại ruộng, hốt thuốc trị bệnh và thu nạp tín đồ khắp lục tỉnh Lo sợ một cuộc khởi nghĩa mới, Pháp kéo quân vây Bửu Hương Tự (Thạnh

Mỹ Tây) và bắt hết những người có mặt

Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân khởi xướng, nhằm vận động cải tạo văn hoá, xã hội, động viên tinh thần yêu nước trong nhân dân, đấu tranh chống Pháp Từ năm 1921 đến năm 1929, cụ Nguyễn Sinh Sắc có những hoạt động yêu nước

ở Mỹ Tho, Tân An, Bến Tre, Long Xuyên, Châu Đốc… với nghề hốt thuốc Bắc Cụ nhiều lần đến chùa Giồng Thành (Tân Châu), chùa Hoà Thạnh (Tịnh Biên) khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân trong vùng

3.1.1.4 Những chuyển biến của xã hội An Giang khi Pháp đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa trong những năm 1920-1930

* Sự phân hoá các giai tầng trong xã hội

Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp đã làm cho các tầng lớp nhân dân An Giang có sự phân hoá rõ nét:

Tầng lớp địa chủ hình thành từ nhiều thành phần khác nhau như quan lại phong kiến, tay sai Pháp, công chức, tư sản thương nghiệp, cho vay,… Dù xuất thân từ nguồn gốc nào, họ vẫn là thành phần đặc quyền, đặc lợi, gắn bó chặt chẽ với chính quyền thực dân Pháp cả về kinh tế lẫn chính trị và họ tồn tại, làm giàu bằng sự bóc lột, vơ vét

tá điền bởi các loại tô, tức, lao dịch, cống nạp

Tầng lớp tư sản dân tộc ở An Giang chưa hình thành độc lập vì bị tư sản Pháp

và Hoa kiều chèn ép Họ chỉ hoạt động một số ngành phụ thuộc như mua bán, xay xát, dệt, mộc, gạch ngói, nước mắm,…

Tầng lớp tiểu tư sản tri thức phần lớn xuất thân từ nho học, có mối quan hệ gắn

bó với người lao động, sớm tiếp thu tinh thần yêu nước của các phong trào Văn Thân, Cần Vương, Đông Du, Duy Tân,… Họ nhạy bén với thời cuộc, có khả năng tiếp thu

và truyền bá những tư tưởng tiến bộ vào nhân dân

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo và bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất ở

An Giang bởi địa chủ (tô, tức), thực dân (sưu, thuế) và luôn bị thiên tai, dịch bệnh đe

Trang 36

doạ cuộc sống Với truyền thống yêu nước, nhân dân An Giang đã không ngừng chống Pháp dưới ngọn cờ phong kiến nhưng vẫn chưa tìm được con đường giải thoát kiếp trâu, ngựa của mình

Do đặc điểm lịch sử và nền nông nghiệp chi phối, ở An Giang không có giai cấp công nhân, mà hầu hết là tầng lớp thợ thủ công xuất thân từ giai cấp nông dân, từ những người bị bần cùng hoá không còn tư liệu sản xuất

* Những chuyển biến của phong trào yêu nước ở thập niên 20 của thế kỷ

XX

Đầu thế kỷ XX, làn sóng tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào nước ta và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với những người trí thức yêu nước Việt Nam Hoạt động của các phong trào này tác động đến tinh thần đấu tranh của nhân dân Long Xuyên – Châu Đốc, lôi kéo nhiều tri thức, thanh niên, học sinh tham gia

Những năm 1925-1926, phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh, còn gọi “Thanh niên cao vọng đảng”, thu hút một bộ phận thanh niên trí thức Long Xuyên – Châu Đốc, trong đó có Lê Triệu Kiết hoạt động mạnh ở vùng Kiến An, Chợ Mới Hoạt động của hội chủ yếu là bàn luận về thời sự, đọc các sách báo tiến bộ, đặc biệt là tờ “Tiếng chuông rè” của Nguyễn An Ninh và những bài hịch tâm huyết của Phan Bội Châu Trong khoảng thời gian này, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh rầm rộ khắp nơi đã tác động, lôi cuốn nhiều giáo viên học sinh Long Xuyên – Châu Đốc tích cực tham gia Châu Văn Liêm là hạt nhân nòng cốt, tích cực trong phong trào này Châu Văn Liêm là thầy giáo thường đấu tranh về quan điểm và lề lối giảng dạy của bọn cầm quyền ở trường Chợ Thủ (Chợ Mới) Ông được cử làm đại biểu

đi dự lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh ở Sài Gòn Khi về Long Xuyên, ông tổ chức truy điệu cụ tại Mỹ Luông (Chợ Mới) kêu gọi lòng yêu nước và khơi dậy tinh thần đấu tranh chống áp bức bất công

* Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ra đời và hoạt động ở An Giang

Giữa năm 1927, cơ sở Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã xây dựng khắp lục tỉnh Tháng 8-1927, ông Nguyễn Ngọc Ba, một cán bộ Kỳ bộ đến Long Xuyên xây dựng cơ sở Trong thời gian ngắn, ông kết nạp vào tổ chức hai ông Châu Văn Liêm và Ung Văn Khiêm tại Tấn Mỹ (Chợ Mới)

Cuối năm 1927, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu tiên của Long Xuyên – Châu Đốc hình thành tại xã Long Điền (Chợ Mới, Long Xuyên) có Châu Văn Liêm, Bùi Trung Phẩm,…

Tháng 2-1928, Long Xuyên lập Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên gồm Châu Văn Liêm, Nguyễn Văn Cưng,…do Châu Văn Liêm làm bí thư Một thời gian,

tổ chức đã phát triển dọc theo trục giao thông và những vùng đông dân cư ở Chợ Mới, Tân Châu, Hồng Ngự, Lấp Vò,…

3.1.2 Quá trình đấu tranh giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 – 1945)

Trang 37

3.1.2.1 Phong trào cách mạng 1930-1931

* Những chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Tháng 4-1930, chi bộ Cộng sản đầu tiên của Long Xuyên – Châu Đốc được thành lập ở Long Điền (Chợ Mới) gồm Lưu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm,… Có tổ chức chân chính dẫn dắt, quần chúng lao động bị áp bức như được tiếp thêm hơi thở, sức mạnh nhân lên gấp bội Quần chúng

Lê Văn Đỏ đã treo lá cờ búa liềm trên đường dây thép ngang sông Tiền (Long Điền, Chợ Mới) để chào mừng niềm vui trọng đại

Cuối tháng 4-1930, hạt giống cách mạng được nhân ra khắp nơi Nhiều chi bộ được hình thành ở Long Điền, Kiến An, Bình Thạnh, An Phong (Chợ Mới), Tân Huề, Long Thuận (Hồng Ngự), Long Sơn (Tân Châu), Long Xuyên, Lấp Vò,… đánh dấu bước phát triển của tổ chức

Phát huy thắng lợi, ngày 28-5-1930, hàng ngàn đồng bào trong quận Chợ Mới một lần nữa hàng tư, hàng năm đổ về quận lỵ Cờ đỏ búa liềm, biểu ngữ giương cao trong tiếng trống, tiếng hô khẩu hiệu Yêu sách lần này được nâng lên đòi giảm thuế thân, bỏ các thứ thuế vô lý, tăng lương cho thợ thuyền, binh lính Chính quyền thực dân đã có sự chuẩn bị nên tập trung đàn áp và làm tổn thất đến người và của của đồng bào ta

Tháng 6-1930, hàng ngàn quần chúng ở các xã Long Kiến, Kiến Long, Long Điền, Mỹ Luông,… đã tổ chức nhiều cuộc lễ truy điệu tưởng niệm những đảng viên, những quần chúng đã hy sinh

Tháng 7-1930, Quận uỷ Lâm thời Chợ Mới được thành lập, phong trào lan sang vùng Tân Châu, Hồng Ngự Pháp tăng cường khủng bố, nhiều cán bộ lãnh đạo

của tỉnh, quận bị bắt, bị đày, trong đó có Nguyễn Văn Cưng,… Tháng 7-1931, sau khi

bị Đặc uỷ Hậu Giang bị Pháp phá vỡ, Đặc uỷ Long – Châu – Rạch – Hà hình thành, nhằm mục tiêu liên lạc, móc nối, xây dựng lại tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng

3.1.2.2 Đấu tranh củng cố và phát triển lực lượng cách mạng 1932 – 1935

* Khôi phục tổ chức Đảng các cấp

Trang 38

Tháng 01-1932, Đặc uỷ Long – Châu – Rạch – Hà mở hội nghị để đề ra những nhiệm vụ mới: Chọn đại biểu đi dự hội nghị Xứ uỷ để bầu Lâm thời Xứ uỷ; tổ chức lại các bộ phận Đặc uỷ; tổ chức và củng cố lại cơ sở tan rã; huấn luyện, đào tạo Đảng viên; xuất bản tờ báo Đặc uỷ lấy tên “Cùng khổ” Cuối năm 1933, nhiều chi bộ mới được thành lập, phong trào cách mạng dần dần được phục hồi Đặc uỷ Long – Châu – Rạch – Hà giải tán theo chỉ thị của Cấp uỷ Nam Kỳ để hình thành Ban cán sự miền Tây và cử đại biểu dự Đại hội Đảng Trung ương lần I ở Ma Cao, nhằm thúc đẩy phong trào phát triển nhanh hơn

* Giáo dục tinh thần cách mạng thông qua báo chí bí mật

Đầu năm 1932, tờ báo “Cùng khổ” của Đặc uỷ ra đời, tháng 11-1933 đổi tên là

“Lao khổ” Ở Châu Đốc, ngày 30-7-1934 tờ “Bạn nghèo” ra số đầu tiên Mục đích của các tờ báo là vạch ra tội ác của thực dân Pháp, chỉ rõ con đường cách mạng, kêu gọi anh em đoàn kết chống kẻ thù xâm lược Tháng 10-1934, cơ quan in ấn báo “Bạn nghèo” ở Vĩnh Tế (núi Sam) bị địch phát hiện, đánh phá Một số cán bộ, công nhân bị địch xử tử Dù tồn tại một thời gian ngắn nhưng các tờ báo này đã nâng cao trình độ nhận thức của người lao khổ, khuyến khích, cổ vũ phong trào đấu tranh

* Đấu tranh trong các nhà tù

Thực dân Pháp xây dựng ở Châu Đốc một khám lớn dùng làm chỗ giam giữ tù thường phạm từ các nơi đưa về để khai thác đá Đầu 1932, tổng số tù nhân lên hơn 500 người Đây là nhà tù tàn ác nổi tiếng vùng miền Tây Nam Kỳ thời này Tù nhân lao động cực nhọc theo mùa: mùa nắng đội đất, đội đá đắp đường; mùa mưa vào núi Sam đập đá, hai bàn tay phồng rộp, chay sần Ăn uống khổ sở, chỗ ngủ thì chật chội, ngột

ngạt Đời sống của các tù nhân vô cùng khốn khổ nên họ nổi dậy đấu tranh Quá uất

ức, căm phẫn, tù thường phạm đã đánh lại các cai tù hoặc bỏ trốn

Trước tình hình đó, cần phải có sự lãnh đạo thống nhất thì đấu tranh mới giành được thắng lợi Do đó, các tù nhân chủ trương là đoàn kết toàn thể tù nhân đấu tranh nhằm đòi cải thiện đời sống, công việc làm tuỳ theo sức, chống đánh đập Lần đầu tiên, cuộc đấu tranh mang tính tập thể nổ ra khi cai tù đánh một tù chính trị bị trọng thương trong lúc đắp đường Mở rộng quy mô đấu tranh toàn khám, Ban lãnh đạo trong tù tổ chức tuyệt thực đòi yêu sách: ngày làm 8 giờ, việc làm phải tuỳ sức, ăn uống đầy đủ và có vệ sinh,…

Tháng 5-1932, tù nhân các khám đều nằm im không ăn cháo, địch hăm doạ cũng không có kết quả Sang ngày thứ 4, đích thân Chủ tỉnh tới khám gặp đại diện tù nhân để điều đình, cuối cùng chấp nhận nhượng bộ: ngày làm 9 giờ Trong ngày Quốc khánh Pháp 14-7-1933, đã nổ ra cuộc đấu tranh lớn của tù làm đá ở núi Sam Cuộc đấu tranh kéo dài đã trở thành cuộc tuyệt thực Địch cũng nhượng bộ Thắng lợi này đã làm thay đổi không khí khám Các chi bộ Đảng có điều kiện tổ chức học chính trị, văn hoá, ngoại ngữ,… dần dần, nhờ các mối quan hệ tốt với những người lính, các đảng viên trong tù đã liên lạc được với cơ sở và tổ chức bên ngoài

Trang 39

3.1.2.3 Cuộc vận động dân chủ 1936-1939

Ngày 1-9-1936, ở xã Mỹ Luông (Chợ Mới), trên 400 thợ thủ công đình công đòi chủ trại tăng tiền công lên 15% Cuộc đấu tranh có kết quả Tháng 10-1936, 200 nông dân dọc kênh Cái Sắn đòi địa chủ Lê Quang Liêm và 8 địa chủ khác trả lại 1.878

ha đất ở hai bên bờ kênh Cuộc đấu tranh kéo dài, quyết liệt và được sự đồng tình đông đảo của bà con trong và ngoài tỉnh Cũng năm ấy, ông Phan Văn Bạch hướng dẫn 42 gia đình nông dân làng Vọng Thê đòi địa chủ Trần Kim Phụng trả lại 3.200 công đất

và giảm tô Trước sự phản kháng của người dân, Chủ tỉnh ra lệnh cho Trần Kim Phụng phải trả đất, giảm tô Phong trào nông dân đòi đất mạnh mẽ và rộng khắp, khiến địa chủ phải chùng lại không dám hành động

Phong trào của nhân dân Long Xuyên – Châu Đốc đã gây tiếng vang lớn khắp nước Tháng 3-1937, phái đoàn Quốc hội Pháp sang thăm Đông Dương Đại diện cho đồng bào, ông Ung Văn Khiêm tố cáo chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp đối với người dân thuộc địa Để hỗ trợ cho vùng núi, Liên Tỉnh uỷ Long Xuyên cử người vào Tịnh Biên củng cố lực lượng, xây dựng chi bộ hướng dẫn quần chúng sinh hoạt chính trị, phát động đấu tranh Tháng 4-1938, chính phủ Mặt trận Nhân dân bị lật đổ, thực dân Pháp công khai đàn áp phong trào cách mạng, ra lệnh giải tán các Uỷ ban hành động, cấm tổ chức các cuộc hội họp, tịch thu các loại báo chí tiến bộ, bắt giam nhiều cán bộ, đảng viên cộng sản và quần chúng cảm tình Đảng Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ Đế quốc Pháp tham chiến, họ gấp rút thi hành các biện pháp bắt lính và vơ vét, đồng thời tập trung mạnh mẽ khủng bố Đảng Cộng sản Đông Dương Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật

3.1.2.4 Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1939-1945

* Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở Long Xuyên – Châu Đốc (1940)

Căn cứ vào tình hình thực tế, tháng 3-1940, Xứ uỷ Nam Kỳ thông báo đến các địa phương chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa Công việc chuẩn bị hết sức khẩn trương Từng nhóm nhỏ nòng cốt được tổ chức đi tuyên truyền vận động quần chúng

Xứ uỷ ra lệnh khởi nghĩa vào lúc nửa đêm 22-11-1940 Liên Tỉnh uỷ Long Xuyên nhận được lệnh trễ, liền cấp tốc triệu tập cuộc họp ngày 28 và 29-11-1940 tại

xã Long Điền, Chợ Mới, quyết định: dù muộn cũng phải khởi nghĩa để căng kéo địch, không cho chúng tập trung lực lượng đàn áp các nơi khác

Đúng 0 giờ ngày 02-12-1940, khởi nghĩa nổ ra Vùng điểm Chợ Mới chỉ đốt được nhà dây thép quận lỵ và phá cầu, cắt dây thép,… từ Chợ Mới đến kênh Cựu Hội Tân Châu, Hồng Ngự, Long Xuyên không thực hiện được theo kế hoạch do địch phòng

bị chặt Tịnh Biên đưa lực lượng kéo ra tấn công Châu Đốc nửa đường bị lộ phải rút lui Cuộc tấn công vào quận lỵ Chợ Mới không thành công, Lương Văn Cù và một số cán bộ lãnh đạo bị bắt và bị xử bắn

Cuộc khởi nghĩa không thành công, lực lượng cách mạng chỉ làm chủ tình hình

ở một số xã thuộc vùng Tân Châu, Chợ Mới, Hồng Ngự,… Pháp tập trung đàn áp, lực

Trang 40

lượng cách mạng bị thiệt hại Theo báo cáo của Thống đốc Nam Kỳ vào cuối tháng 12-1940, chúng bắt giam 315 người thuộc vùng Long Xuyên – Châu Đốc Nhiều đảng viên, quần chúng bị đánh đập, tra tấn tàn nhẫn, bị kêu án tù và đày đi khắp nơi như

Chí Hoà, Bà Rá, Côn Đảo

* Khôi phục và xây dựng lực lượng cách mạng

Sau cuộc khởi nghĩa thất bại, số đảng viên bị lộ phải chuyển vùng khác, tự móc nối gây cơ sở hoạt động, ở địa phương thì đảng viên bí mật tìm cách liên lạc xây dựng lại chi bộ Tháng 6-1941, các cán bộ còn lại thành lập Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang, năm

1942 dời về Mỹ Hội Đông (Chợ Mới, Long Xuyên) Liên Tỉnh uỷ chủ trương củng cố

và phát triển cơ sở vùng nông thôn, nối liên lạc với các tỉnh và củng cố Đảng các cấp Năm 1942, Long Xuyên – Châu Đốc tiếp thu tinh thần Nghị quyết 8 Trung ương, Cương lĩnh Mặt trận Việt Minh, Điều lệ các tổ chức cứu quốc,… từ Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang và phổ biến đến các cơ sở Cuối năm 1944, một số chi bộ được củng cố và phát triển, hình thức hoạt động công khai hoặc bán công khai

* Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Long Xuyên, Châu Đốc

Từ tháng 5 đến tháng 8-1945, số đảng viên của 2 tỉnh tăng lên đáng kể Ở các nơi, những thanh niên khoẻ mạnh được lập đội tự vệ vũ trang, trang bị vũ khí thô sơ Ngày 13-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và đồng minh không điều kiện, không khí cách mạng lên cao Với tinh thần chủ động và tích cực, dựa vào tình hình địch rệu rã và khí thế đấu tranh của nhân dân lên cao, Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc chủ trương tiến hành vận động các lực lượng tôn giáo, đảng phái và quan chức của bộ máy chính quyền

Ngày 23-8-1945, Tỉnh uỷ Long Xuyên – Châu Đốc nhận được tin là vào ngày 25-8 Sài Gòn tổ chức cuộc biểu tình lớn để lật đổ chính quyền, nên chủ động vạch kế hoạch khởi nghĩa Tỉnh uỷ cử người tiếp xúc, đấu tranh thuyết phục và lực lượng thanh niên đứng trong hàng ngũ của địch là lực lượng đi đầu ủng hộ Việt Minh trong ngày khởi nghĩa Tình hình biến chuyển khiến số lãnh đạo của địch hoang mang, lo ngại, không còn tinh thần chiến đấu Được nội ứng vận động, họ sẵn sàng buông súng đầu

hàng Tỉnh trưởng Long Xuyên ở trong tình trạng “rắn mất đầu”, hoang mang cao độ

Được cán bộ lãnh đạo Tỉnh uỷ đến giáo dục, thuyết phục, Tỉnh trưởng chấp nhận giao chính quyền và cam kết hoàn tất những nhiệm vụ liên quan đến việc giao chính quyền

Sáng sớm ngày 24-8, quận trưởng Chợ Mới giao chính quyền và nộp vũ khí cho lực lượng cách mạng Trong ngày 25-8, tỉnh lỵ Long Xuyên tổ chức cuộc mít-tinh lớn tuyên bố chính quyền thuộc về tay nhân dân Như vậy, đến chiều ngày 25-8, chính quyền cả tỉnh Long Xuyên đều nằm trong tay lực lượng khởi nghĩa Ở Tân Châu (Châu Đốc), sáng ngày 25-8 khởi nghĩa thắng lợi, phối hợp với Hồng Ngự lập các đơn vị vũ trang kéo sang tỉnh lỵ Châu Đốc Ba giờ sáng ngày 26-8, lực lượng xung kích tiến chiếm các công sở và bao vây dinh Tỉnh trưởng Sáng ngày 26-8, lực lượng khởi nghĩa tuyên bố lập chính quyền Nhân dân Cách mạng Ngày 27 và 28-8, lực lượng khởi nghĩa liên tục giành thắng lợi ở Tịnh Biên, Tri Tôn,…

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w