Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường và vốn kiến thức của bản thân cũng như những vấn đề cấp thiết trong việc Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để từng bước nâng cao
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Mặc dù bản thân tôi mới được bổ nhiệm về trường THCS Mường Chùm công tác chưa được lâu song với bản thân tôi tự nhận thấy vấn đề xây dựng bài giảng có ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy tại nhà trường là vấn đề cần thiết, và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Được
sự quan tâm giúp đỡ của Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, các đồng chí cán bộ giáo viên và các đoàn thể trong trường THCS Mường Chùm bản thân tôi đã cảm nhận được sự tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo và các đoàn thể.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường và vốn kiến thức của bản thân cũng như những vấn đề cấp thiết trong việc Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy đáp ứng với yêu cầu hiện nay, bản thân tôi mạnh dạn xây dựng đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học
ở trường THCS Mường Chùm"
Trong quá trình nghiên cứu tôi luôn nhận được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn, các đồng chí cán bộ giáo viên và các đoàn thể trong nhà trường Cho phép tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng chí trong Ban giám hiệu cùng toàn thể các đồng chí cán bộ giáo viên, cán bộ công nhân viên trong nhà trường đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian nghiên cứu tại trường
Mặc dù bản thân đã có rất nhiều cố gắng song đề tài cũng không tránh khỏi thiếu sót Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, bổ xung của các đồng chí trong Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong hội đồng sư phạm nhà trường để nội dung nghiên cứu được hoàn thiện và mang lại hiệu quả cao hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trang 2MỤC LỤC
Lời cảm ơn……….1
A PHẦN MỞ ĐẦU 3
I Lí do chọn đề tài 3
II Mục đích nghiên cứu 9
III Nhiệm vụ nghiên cứu ……….9
IV Phương pháp, biện pháp nghiên cứu 10
V Đối tượng nghiên cứu 11
VI Phạm vi nghiên cứu 11
VII Ý nghĩa thực tiễn………11
B NỘI DUNG ……… 12
I Cơ sở lí luận về “Ứng dụng công nghệ thông tin”………
II Cơ sở thực tiễn:………
III Vị trí, chức năng công nghệ thông tin trong dạy - học
IV Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường phổ thông hiện nay
V Một số biện pháp để dạy học có hiệu quả hơn trong bậc THCS
Biện pháp 1: Ngoài kiến thức chuyên môn giáo viên cần phải trang bị những kiến thức Tin học cơ bản nhất:
Biện pháp 2: Một số quy trình và nguyên tắc khi thực hiện giáo án điện tử
Biện pháp 3: Khai thác và xử lý thông tin, tư liệu phục vụ cho bài giảng
Biện pháp 4: Sử dụng các phần mềm tiêu biểu phục vụ cho công tác giảng dạy
Biện pháp 5: Sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông tin trực tuyến
Biện pháp 6: Trao đổi chuyên môn, chia sẻ tài nguyên trên các mạng xã hội ……
Biện pháp 7: Sử dụng các phần mềm nguồn mở thay cho các phần mềm bản quyền………
VI Kết quả đạt được sau khi áp dụng các biện pháp
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Lý do khách quan
a Tầm quan trọng của công nghệ thông tin:
*) Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo trên Internet
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năng ứngdụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống Tuy nhiên nếu nhưcông dụng của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tínhtoàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được.Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ CNTT&Truyềnthông (ICT) thay vì CNTT (IT)
Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi email
mà nó là kênh kết nối chúng ta với tất cả thế giới Chúng ta có thể tiếp cận toàn bộ trithức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những tổ chức ở xanửa vòng trái đất Mạng máy tính toàn cầu thực sự đã tạo ra một thế giới mới trong
đó cũng có gần như các hoạt động của thế giới thực: thương mại điện tử(ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơi trực tuyến (game online), cácdiễn đàn (forum), các mạng xã hội (social network), các công dân điện tử (blogger),
…
* ) Lợi ích mà thể giới ảo trên Internet mang lại
Tuy gọi là thế giới ảo nhưng nó đem lại lợi ích thực sự cho những người thamgia, thậm chí những lợi ích đem lại còn nhiều hơn so với trong thế giới thật Ví dụnhững cá nhân tham gia thương mại điện tử có thể ngồi ở nhà, thông qua máy tínhnối mạng để buôn bán trao đổi và có thể thu được rất nhiều lợi nhuận Học sinh cóthể tham gia các hệ thống học trực tuyến trên mạng mà không phải tốn một đồng họcphí, mà kiến thức thu được còn nhiều hơn là theo lớp học thật Một học sinh ở Hà
Trang 4Nội có thể thông qua một hệ thống học trực tuyến để theo học một thầy giáo ở tận
TP HCM Một thầy giáo có thể dạy cùng một lúc hàng vạn học sinh
Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, tất cả mọi người có thể trao đổi, chia sẻvới nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc trong đờisống và công việc Ví dụ mọi người có thể chia sẻ các đoạn phim hoặc các bài hát,
có thể chia sẽ các bài viết về những kiến thức khoa học, xã hội, v.v… Ví dụ các bậcphụ huynh trên cả nước có thể chia sẻ kinh nghiệm về cách chăm sóc con cái Cácgiáo viên có thể chia sẻ các tư liệu ảnh, phim, các bài giảng và giáo án với nhau, đểxây dựng một kho tài nguyên khổng lồ phục vụ cho việc giảng dạy của mỗi người.Học sinh cũng có thể thông qua các mạng xã hội để trao đổi những kiến thức về họctập và thi cử
*) Những thế mạnh của thế giới ảo so với thế giới thật
Trong nhiều lĩnh vực, các hoạt động của thế giới ảo trên mạng Internet tỏ ra cónhiều ưu điểm vượt trội so với ở thế giới thực Bởi vì đó là một “Thế giới phẳng”(tên một cuốn sách nổi tiếng của Thomas L.Friedman đã được dịch sang tiếng Việt)nơi mà tất cả mọi người tham gia sẽ ở cùng một điểm xuất phát, không phân biệt vịtrí địa lý, nghề nghiệp, tuổi tác, địa vị xã hội Trong thế giới này, các hoạt động cóthể diễn ra vô cùng lớn mạnh với hàng triệu người tham gia Các kết quả mà thế giới
ảo đạt được có thể không bao giờ làm được trong thế giới thật (ví dụ xây dựng thưviện trực tuyến khổng lồ hoặc các công cụ tìm kiếm tri thức toàn cầu)
Chi phí để vận hành thế giới ảo này hầu như không đáng kể so với thế giới thật,
ví dụ thương mại điện tử sẽ không cần phải có cửa hàng, kho bãi, không cần nhânviên tiếp thị phải đi khắp nơi, học trực tuyến không cần trường học, lớp học, đồ dùngdạy học, v.v hay các diễn đàn hội thảo không cần hội trường, chi phí đi lại ăn ở chocác đại biểu v.v
Mặc dù ở nhiều lĩnh vực thì hoạt động của thế giới ảo trên Internet không thểthay thế, mà chỉ có thể hỗ trợ cho các hoạt động thật, tuy nhiên thực tế nó đang pháttriển mạnh mẽ và ở nhiều lĩnh vực đã lấn át các hoạt động thật (ví dụ đọc báo điện
Trang 5tử, nghe nhạc trực tuyến ) Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, mỗi chúng ta đều phảinhanh chóng thích nghi với những thay đổi mới của thế giới nếu như không muốn tụthậu.
Trong thời đại của chúng ta, sự bùng nổ CNTT đã tác động lớn đến công cuộcphát triển kinh tế xã hội người Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầmquan trọng của tin học và CNTT, truyền thông cũng như những yêu cầu đẩy mạnhcủa ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, mở cửa
và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng - thế giới nói chung
*) Tầm quan trọng của CNTT trong nhà trường
Khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phát ứng dụng công nghệ thôngtin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin họcvào giảng dạy, học tập Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụngCNTT trong giáo dục ở các trường nước ta còn rất hạn chế Chúng ta cần phải nhanhchóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta khôngnên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tậndụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho công việc của mình, mục đích củamình
Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ hông tin có tác dụng mạnh mẽ,làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới “xãhội học tập” Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự pháttriển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT
Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên Nhà nước ta đã đưa môn tinhọc vào trong nhà trường và ngay từ Tiểu học học sinh được tiếp xúc với môn tinhọc để làm quen dần với lĩnh vực CNTT, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học nhữngphần nâng cao trong các cấp tiếp theo
Trang 6Với tầm quan trọng đó, năm học 2008-2009 Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa rachủ đề “ Năm ứng dụng CNTT " trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học,ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổimới phương pháp dạy học ở các môn.
Thực hiện chủ đề năm học của Bộ giáo dục và của Sở giáo dục và đào tạo,nhận thức được rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việc đổi mới phương phápdạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mớiphương pháp dạy học và chắc chắn sẽ được sử dụng rộng rãi trong nhà trường phổthông trong một vài năm tới, tôi đã mạnh dạn học tập và đưa CNTT vào giảng dạyhai năm nay
Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu quả trong các tiết dạy đó là vấn đề
mà bất cứ một giáo viên nào cũng gặp phải khi có ý định đưa CNTT vào giảng dạy.Trong bản sáng kiến này, tôi sẽ đưa ra những ý kiến, kinh nghiệm của cá nhân mìnhtrong các năm học vừa qua để cùng các bạn đồng nghiệp thảo luận tìm ra những giảipháp tốt nhất cho những tiết dạy của mình
b Tác dụng của CNTT trong dạy học ở bậc THCS:
Môn Tin học ở bậc THCS bước đầu giúp học sinh làm quen với một số kiếnthức ban đầu về CNTT như: Một số bộ phận của máy tính, một số thuật ngữ thườngdùng, rèn luyện một số kỹ năng sử dụng máy tính, …
Hình thành cho học sinh một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người laođộng hiện đại như:
+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải
+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động
xã hội hiện đại
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học
Trang 7+ Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập.
+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội
*) Đặc biệt khi học sinh học các phần mềm như:
+ Phần mềm soạn thảo văn bản: Học sinh ứng dụng từ các môn học Tập Làm
Văn để trình bày đoạn văn bản sao cho phù hợp, đúng cách ứng dụng soạn thảo vănbản để soạn thảo giải những bài toán, bài văn đã học ở các môn học khác
+ Phần mềm sử dụng bảng tính: Học sinh ứng dụng từ các môn học như toán,
vật lý để tính toán một cách nhanh chóng, chính xác
+ Phần mềm vẽ: Học sinh ứng dụng trong môn Mỹ thuật, học được từ môn mỹ
thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ
+ Phần mềm tập gõ bàn phím bằng mười ngón tay Mario: Giúp HS luyện tập
cách làm việc với bàn phím một cách chuẩn xác nhanh chóng và hiệu quả cao
+ Trong chương trình tin học THCS thì một số bài học được phân bố xen kẽgiữa các bài vừa học, vừa chơi Điều đó sẽ rèn luyện cho học sinh óc tư duy sáng tạotrong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho học sinh thư giãn saunhững giờ học căng thẳng ở lớp …
2 Lý do chủ quan
Năm học 2008- 2009 là năm Bộ GD&ĐT phát động là năm học ứng dụng côngnghệ thông tin và năm học 2009 – 2010 là năm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thôngtin nhưng tôi không cảm thấy bỡ ngỡ, xa lạ bởi tôi nhận ra những công dụng và íchlợi của việc ứng dụng công nghệ thông tin và bản thân tôi đã có một quá trình trongviệc ứng dụng CNTT trong dạy học
Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dụcnhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của nghành giáo dục, sựủng hộ của giáo viên, học sinh và nhân dân đã có sự phát triển mạnh mẽ, rộng lớn
Trang 8nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn lúng túng, chưa có chiều sâu và chưa mang lạihiệu quả đúng với vai trò của nó.
Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mới cáchdạy và học đã được nhiều Cán bộ giáo viên hưởng ứng tích cực Đây được coi là conđường ngắn nhất để đi đến đích của chất lượng dạy học trong các nhà trường
Xuất phát từ thực trạng giảng dạy của đội ngũ giáo viên trường THCS MườngChùm Mặc dù trình độ giáo viên của trường đạt trên chuẩn cao, số ít vẫn dạy theophương pháp truyền thống, nặng về phương pháp thuyết trình, độc thoại, ngại sửdụng phương pháp mới mà đặc biệt là việc ứng ứng dụng CNTT trong giảng dạy.Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy là việc làm hết sức khó khăn đối với trường.Tuy cơ sở vật chất nhà trường khá đầy đủ có phòng máy tính phục vụ cho giảng dạy,nhưng chưa được kết nối Internet phục vụ cho học sinh, chỉ có 1 máy ở văn phòngđược kết nối Internet phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên Tuy nhiên do sự đam
mê của bản thân và học sinh lớp phụ trách nên bản thân đã bước đầu mạnh dạn ứngdụng CNTT từng bước phục vụ cho giảng dạy và học tập
Trong các năm học tới phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy họcchắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa và đó cũng là yêu cầu cấp thiết của đổi mớitrong nghành giáo dục, trong công tác quản lý và dạy học ở các trường THCS
Xuất phát từ những cơ sở đó tôi mạnh dạn xây dựng đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS Mường Chùm”
II Mục đích nghiên cứu
- Đề tài này nhằm mục đích trao đổi cùng đồng nghiệp vai trò của ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học
Trang 9- Cung cấp kiến thức ban đầu về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảngdạy và việc đổi mới phương pháp dạy học.
- Hình thành những kĩ năng cơ bản khi thực hành trên máy tính và biết vậndụng phương pháp dạy học mới trong giảng dạy
- Luôn say mê và nghiên cứu công nghệ thông tin phục vụ cho giảng dạy
- Thực hiện đề tài này nhằm rút ra được những bài học kinh nghiệm qua thực
tế giảng dạy của bản thân và của đồng nghiệp
- Đồng thời là một số kinh nghiệm cho đồng nghiệp tham khảo, vận dụngtrong quá trình công tác và trong giảng dạy để đảm bảo việc đổi mới phương phápdạy học
- Bên cạnh đó còn góp phần khắc phục những khó khăn cho một số giáo viênkhi sử dụng giáo án điện tử để dạy học
III Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong dạy học
- Tìm hiểu những khó khăn của giáo viên khi soạn giáo án điện tử
- Những yêu cầu cơ bản để soạn được một giáo án điện tử
- Xây dựng quy trình soạn giáo án điện tử
- Đưa ra một số kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong dạy học, đề xuất một sốbiện pháp nâng cao hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học và đẩy mạnh phongtrào ứng dụng CNTT trong năm học mới
IV Phương pháp, biện pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu, tôi vận dụngkết hợp các phương pháp sau:
1 Phương pháp điều tra:
- Tổng hợp điều tra về mức độ học sinh thích học, mức độ học sinh hiểu bàitrong các giờ học có ứng dụng CNTT
Trang 10- Kiểm tra việc học tập của học sinh (bài cũ, bài mới).
- Sử dụng bảng biểu đối chiếu
- Kiểm tra chất lượng sau giờ học
- Tận dụng tối đa các buổi học thực hành để các em được làm quen và luyệntập thật tốt các bài học lý thuyết
2 Xây dựng tư liệu:
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp cho giáo viên xây dựng tư liệu tươngđối phong phú Việc khai thác tư liệu có thể từ nhiều nguồn như: Khai thác thông tintranh ảnh từ mạng Internet, từ sách báo tài liệu, tạp chí, băng hình, phim, các phầnmềm, khai thác hình ảnh tĩnh, động,…
3 Xây dựng giáo án điện tử:
- Tập huấn công nghệ thông tin cho giáo viên: Tổ chức các lớp bồi dưỡngcông nghệ thông tin và phương pháp giảng dạy
- Khuyến khích động viên giáo viên tích cực ứng dụng CNTT (soạn giáo ánđiện tử) và vận dụng vào giảng dạy
- Thực hành trên máy
- Tập huấn phương pháp dạy học
- Dự giờ, xem băng hình
- Trao đổi, chia sẻ, rút kinh nghiệm
V Đối tượng nghiên cứu
- Môn Tin học khối 6, 7
- Học sinh khối 6, 7 trường THCS Mường Chùm - Mường La - Sơn La
VI Phạm vi nghiên cứu:
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các lớp học trong trường THCSMường Chùm
VII ý nghĩa thực tiễn:
Tổng kết đưa ra một số kinh nghiệm để cải tiến phương pháp dạy học bằng ứngdụng công nghệ thông tin trong dạy học thông qua các bài giảng giáo án điện tử
Trang 11B NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận về “Ứng dụng công nghệ thông tin”
- Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 vềviệc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực ápdụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vàodạy và học
- Thông tư số 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 1/4/2002 về việc hướng dẫn quántriệt chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông
- Chỉ thị số 58-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnhứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Chỉ thị 29/CT của Trung Ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường.Chỉ thị 29 nêu rõ : “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ramột bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phươngpháp giảng dạy, học tập và quản lí giáo dục” ” Đẩy mạnh ứng dụng CNTT tronggiáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụngCNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy vàhọc tập ở tất cả các môn học”
- Trong nhiệm vụ năm học 2005 - 2006 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạonhấn mạnh: Khẩn trương triển khai chương trình phát triển nguần nhân lực CNTT từnay đến năm 2010 của chính phủ và đề án dạy Tin học ứng dụng CNTT và truyềnthông giai đoạn 2005 - 2010 của ngành
- Chiến lược phát triển giáo dục 2005 – 2010 chỉ rõ :”Nhanh chóng áp dụngCNTT vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục và quản lí”
- Chỉ thị 08/203 của Bộ bưu chính viễn thông, ngày 02/06/2003 : “ĐưaInternet đến tất cả các trường đại học, cao đẳng, THCN, THPT trên phạm vi cả nước
và kết nối tới các trường THCS và TH ở những nơi có điều kiện”
Trang 12II Cơ sở thực tiễn:
* Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện chuyên đề ở trường THCS Mường Chùm - Mường La - Sơn La.
1 Thuận lợi:
* Nhà trường:
- Tuy môn Tin học mới chỉ là môn học tự chọn nhưng nhà trường đã tạo điềukiện để học sinh có thể học từ khối lớp 6, tạo điều kiện sắm sửa máy móc, trang thiết
bị phục vụ cho việc dạy và học môn Tin học
- Được sự ủng hộ của các cấp Uỷ Đảng - UBND - Các ban ngành
Đa số các em học sinh chỉ được tiếp xúc với máy vi tính ở trường là chủ yếu,
do đó sự tìm tòi và khám phá máy vi tính với các em còn hạn chế, nên đa số họcsinh thực hành vẫn còn chưa được thuần thục
Khả năng đọc, nói Tiếng anh còn hạn chế gây khó khăn trong quá trình họctập
Điện lưới trong khu vực yếu gây khó khăn trong các giờ thực hành
III Vị trí, chức năng công nghệ thông tin trong dạy - học.
Trang 13Công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay làIT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin CNTT là sử dụng máytính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thậpthông tin Ở Việt Nam khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyếtChính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp các phươngpháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuậtmáy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồntài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động củacon người và xã hội.
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vàochương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung vềCNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trườnghọc, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trởthành hiện thực
Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy,học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáodục là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước
IV Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường phổ thông hiện nay
1 Những trở ngại khi sử dụng giáo án điện tử
Phần lớn các giáo viên ngại sử dụng giáo án điện tử, nghĩ rằng sẽ tốn thời gian
để chuẩn bị một bài giảng Việc thực hiện một bài giảng một cách công phu bằng cácdẫn chứng sống động trên các slide trong các giờ học lý thuyết là một điều mà các
Trang 14giáo viên không muốn nghĩ đến Để có một bài giảng như thế đòi hỏi phải mất nhiềuthời gian chuẩn bị mà đó chính là điều mà các giáo viên thường hay tránh Khảo sáthiệu quả từ phía học sinh cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy học truyền thốngvới phấn trắng bảng đen thì hiệu qua mang lại chỉ có 30%, trong khi hiệu quả củaphương pháp multimedia (nhìn - nghe) lên đến 70% Việc sử dụng phương pháp mớiđòi hỏi một giáo án mới Thực ra, muốn “click” chuột để tiết dạy thực sự hiệu quả thìgiáo viên phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống Ngoài kiến thứccăn bản về vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm Power point, Violet,… giáo viêncần phải có niềm đam mê thật sự với công việc thiết kế đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạybén, tính thẩm mỹ để săn tìm tư liệu từ nhiều nguồn.
Hơn nữa trong quá trình thiết kế, để có được một giáo án điện tử tốt, từng cánhân giáo viên còn gặp không ít khó khăn trong việc tự đi tìm hình ảnh minh hoạ, âmthanh sôi động, tư liệu dẫn chứng phù hợp với bài giảng Đây cũng chính là mộttrong những nguyên nhân mà một số giáo viên thường đưa ra để tránh né việc thựchiện dạy ứng dụng CNTT
Trong tổ chuyên môn đa số giáo viên mới nên ngoài việc hoàn thiện về chuyênmôn bên cạnh đó còn phải trang bị cho bản thân những kiến thức Tin học về cácphần mềm ứng dụng trong giảng dạy Mặc dù đã bước đầu soạn giảng nhưng kinhnghiệm xử lí còn nhiều hạn chế
Thường trình chiếu nội dung bài dạy suốt cả tiết học làm cho học sinh mỏi mắt,đưa vào tình trạng mệt mỏi, kém tích cực
Có một số nội dung không nhất thiết phải trình chiếu cũng thể hiện lên Chưachắt lọc được phần kiến thức nào thì dùng phần mềm để hỗ trợ
Một số hoạt động tiếp cận khái niệm, mô tả khái niệm, quy tắc, tiếp cận định lýchưa biết khai thác thế mạnh của các phần mềm ứng dụng như Power point,Sketchpat,
Qua thăm dò, đánh giá học sinh thì các em làm phần trắc nghiệm trả lời rất tốtnhưng cho làm bài toán có tính suy luận thì gặp rất nhiều khó khăn
Trang 15Chính vì những khó khăn trên mà các giáo viên chỉ ứng dụng CNTT khi có nhucầu Tức là chỉ có thao giảng, thì mới sử dụng và việc làm này chỉ mang tính chất đốiphó Tình trạng này cũng phổ biến trong các trường phổ thông Mục đích sử dụngmáy tính phục vụ cho công tác giảng dạy chỉ được áp dụng trong các tình huống này.
2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường hiện nay
Từ khá sớm, các trường học trên nhiều tỉnh thành đã bắt đầu đưa công nghệ thôngtin vào giảng dạy Hầu hết các trường đều có phòng máy tính riêng Tuy nhiên, nhữngtrang thiết bị này thường chỉ nhằm mục đích cho học sinh thực hành môn Tin học (chỉ
là một môn trong rất nhiều môn học), hoặc ứng dụng trong công tác lưu trữ, quản lý
hồ sơ nhân sự hay trợ giúp việc thi cử Như vậy, có thể thấy chúng ta đã bỏ phí rấtnhiều tiềm năng của máy tính, chưa khai thác hết những ứng dụng to lớn của côngnghệ thông tin, mà một trong những ứng dụng đó là việc sử dụng các phần mềm hỗ trợgiảng dạy cho các tiết học trên lớp đối với các môn văn hoá khác như: Toán, Vật lý,Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ v.v
Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng phần mềm trong giảng dạy hiện nay là rất lớn.Hầu hết các giáo viên đều nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần thực hiện ngay Cácsinh viên sư phạm cũng đều coi khả năng thiết kế bài giảng bằng máy tính như mộttiêu chuẩn nâng cao giá trị của mình khi xin việc vào các trường tốt Các lãnh đạotrường cũng như các cơ quan giáo dục đều khuyến khích và coi khả năng sử dụng giáo
án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giáo viên Do đó, các lớp tập huấn Tin học
sử dụng Powerpoint, Violet, thường được các giáo viên tham gia rất đông Trong cáccuộc thi giáo viên dạy giỏi, gần như 100% là các bài giảng là dùng phần mềm Ở cáctỉnh thành lớn, đa số các trường học đều đã trang bị máy chiếu để phục vụ việc giảngdạy bằng máy tính
Trên thực tế thì các phần mềm giáo dục của Việt Nam cũng đã xuất hiện rất
nhiều, phong phú về nội dung và hình thức như: sách giáo khoa điện tử, các website đào tạo trực tuyến, các phần mềm multimedia dạy học, Trên thị trường có thể dễ
dàng lựa chọn và mua một phần mềm dạy học cho bất cứ môn học nào từ lớp một cho
Trang 16đến luyện thi đại học Tuy nhiờn, cỏc "Sỏch giỏo khoa điện tử" khụng tỏ ra nổi trội hơn
SGK truyền thống, Website đào tạo từ xa khú triển khai rộng được vỡ Internet ở VN
cũn là một vấn đề lớn Cỏc phần mềm dạy học cho học sinh, dự đó cú rất nhiều cốgắng về mặt hỡnh thức và nội dung, tuy nhiờn sự giao tiếp giữa mỏy với người chắcchắn khụng thể bằng sự giao tiếp giữa thầy với trũ
Hiện nay, cỏc cụng ty thiết bị giỏo dục cũng thường xõy dựng cỏc video quay cỏctiết giảng mẫu để đưa về cỏc trường Tuy nhiờn định hướng này khú phỏt huy đượchiệu quả, vỡ sản phẩm cũng chỉ như một giỏo ỏn tham khảo trong khi chi phớ để xõydựng rất lớn (vài chục triệu đồng/tiết dạy) mà hầu như khụng thể chỉnh sửa về sauđược Nú thậm chớ cũn cú thể gõy phản tỏc dụng khi tạo ra sự ỏp đặt cho giỏo viờn, tạo
ra tư duy lười suy nghĩ vỡ chỉ cần dạy theo giỏo ỏn mẫu, làm giảm đi sự sỏng tạo củagiỏo viờn trong việc giảng dạy
V Một số biện phỏp để dạy học có hiệu quả hơn trong bậc THCS 1.1.1 Cỏc hỡnh thức ứng dụng CNTT trong dạy học
Hiện nay, trờn thế giới người ta phõn biệt rừ ràng 2 hỡnh thức ứng dụng CNTTtrong dạy và học, đú là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa vào mỏytớnh), và E-learning (học dựa vào mỏy tớnh) Trong đú:
- CBT là hỡnh thức giỏo viờn sử dụng mỏy vi tớnh trờn lớp, kốm theo cỏc trangthiết bị như mỏy chiếu (hoặc màn hỡnh cỡ lớn) và cỏc thiết bị multimedia để hỗ trợtruyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phỏt huy những thế mạnh của cỏc phầnmềm mỏy tớnh như hỡnh ảnh, õm thanh sinh động, cỏc tư liệu phim, ảnh, sự tương tỏcngười và mỏy
- E-learning là hỡnh thức học sinh sử dụng mỏy tớnh để tự học cỏc bài giảng màgiỏo viờn đó soạn sẵn, hoặc xem cỏc đoạn phim về cỏc tiết dạy của giỏo viờn, hoặc cúthể trao đổi trực tuyến với giỏo viờn thụng mạng Internet Điểm khỏc cơ bản của hỡnh
Trang 17thức E-learning là lấy người học làm trung tâm, học viên sẽ tự làm chủ quá trình họctập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho học viên.
Như vậy, có thể thấy CBT và E-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vàodạy và học khác nhau về mặt bản chất Một bên là hình thức hỗ trợ cho giáo viên, lấyngười dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ Còn một bên làhình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm, trong khi giáo viên chỉ làngười hỗ trợ Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều người vẫn bị nhầm lẫn 2 khái niệm này,trong đó có không ít các chuyên gia giáo dục, nên nhiều khi dẫn đến những sai lầmtrong đường hướng chỉ đạo Vì vậy, tôi sẽ phân tích kỹ hơn nhưng mặt mạnh mặt yếucủa CBT và E-learning để có thể hiểu rõ hơn chúng ta đã làm gì, cần làm gì và có th hi u rõ h n chúng ta ã l m gì, c n l m gì vể có thể hiểu rõ hơn chúng ta đã làm gì, cần làm gì và ể có thể hiểu rõ hơn chúng ta đã làm gì, cần làm gì và ơn chúng ta đã làm gì, cần làm gì và đ àm gì, cần làm gì và ần làm gì và àm gì, cần làm gì và àm gì, cần làm gì vànên l m gì trong giai o n hi n nay.àm gì, cần làm gì và đ ạn hiện nay ện nay
Có thể phát triển, cải tiến từ phương
pháp dạy học truyền thống Vẫn dựa
trên những hình thức cơ bản của một
lớp học thông thường
Thay đồi hoàn toàn cách dạy và học.Người học có thể học riêng rẽ, học ở nhàhoặc ở nơi làm việc E-learning khai thácđược tối đa sức mạnh của thế giớiInternet: khả năng phổ biến rất cao (cóthể 1 bài giảng hàng triệu người học),hay có khả năng cập nhật các thông tinmới ngay lập tức
Chi phí đầu tư ban đầu thấp Chỉ cần
trang bị cho lớp học máy tính, máy
chiếu và các thiết bị multimedia
Chi phí đầu tư ban đầu rất cao Mỗi lớphọc phải là một phòng máy tính nối mạngInternet, mỗi học sinh và giáo viên phải
có máy tính riêng và những phần mềmchuyên dụng
CBT là phương pháp kết hợp được cả
những thế mạnh của phương pháp dạy
học truyền thống (dựa trên giao tiếp
Chỉ dựa trên thế mạnh của các bài giảngđiện tử, hầu như không có giao tiếp thầytrò
Trang 18thầy-trò) và khai thác được những ưu
thế của các công nghệ hiện đại (ví dụ
những bài giảng điện tử)
Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông, vì
là ở giáo dục phổ thông, giáo viên
không chỉ dạy kiến thức mà còn phải
theo dõi hướng dẫn cách tư duy Vả lại
học sinh nhỏ tuổi chưa đủ khả năng để
làm chủ được quá trình học tập của
mình
Phù hợp hơn với giáo dục Đại học, Sauđại học và những người đã đi làm
Đây là phương pháp mà các giáo viên ở
Việt Nam hay dùng phổ biến hiện nay
như dùng Powerpoint, Violet để thiết
kế bài giảng và dạy học dùng máy
chiếu Những kết quả thu được là rất
Các công cụ tạo bài giảng cho CBT gọi
là các Authoring Tools như là
Powerpoint, Violet, Impress,
Author-ware
Các công cụ tạo bài giảng cho e-learningthì tuân theo một chuẩn chung để đưa lênmạng, trong đó nổi tiếng nhất là chuẩnSCORM
2 Các giải pháp thực hiện.
1 Tham mưu cùng Tổ chuyên môn và Ban giám hiệu, đề nghị các cấp quản lí
giáo dục tạo điều kiện trang bị những thiết bị cần thiết cho việc thực hiện GAĐT nhưmáy tính, máy chiếu đa năng (Multimedia projector), nối mạng Internet cho phòng
bộ môn tin học
Trang 192 Tổ chức một số buổi học tập về cách sử dụng máy chiếu, thiết lập các hiệu
ứng trong PowerPoint, khai thác mạng Internet cho giáo viên để họ có thể tự thiết kếGAĐT cho mình
3 Tìm hiểu và nghiên cứu thêm những kỹ năng cơ bản và nâng cao trong việc
sử dụng GAĐT, khai thác mạng Internet để làm phong phú thêm những dạng bài tậpkhác nhau
4 Tham gia các buổi thao giảng, hội thảo, tập huấn để thu nhận những góp ý
chân thành từ đồng nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy theo phương phápmới
5 Thăm dò và đánh giá chất lượng học sinh sau giờ học để nắm bắt được thực
chất chất lượng của các em
Tôi nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi dưỡng vềkiến thức tin học, các giáo viên hoàn toàn có thể thiết kế được bài giảng điện tử đểthể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy
Trang 20và cách giảng dạy truyền thống Phải chăng việc dạy bằng GAĐT sẻ giúp người thầy
đỡ vất vả bởi vì chỉ cần “click” chuột? Thực ra muốn “click” chuột để tiết dạy thực
sự hiệu quả thì người dạy cũng phải chịu bỏ nhiều công sức tìm hiểu và làm quen vớicách soạn và giảng bài mới này Cụ thể người thầy cần phải:
- Có một ít kiến thức hiểu biết về sử dụng máy tính
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint2003 ( và đối với môn Toán :Phần mềm Geometer’s Sketchpad, VisuaBasic, Violet, … )
- Biết cách truy cập Internet
- Có khả năng sử dụng được một số phần mềm chỉnh sửa ảnh, cắt phim, làm cácảnh động bằng Plash, cắt các file âm thanh,…
- Biết sử dụng máy chiếu Projector ( Máy chiếu đa năng )
Mới nghe thì có vẻ mới mẻ và phức tạp nhưng thực sự muốn ứng dụng côngnghệ thông tin vào giảng dạy có bắt buộc thì phải thực hiện hết các yêu cầu trên haykhông? Câu trả lời là không Vì nó còn tùy thuộc vào tính chất của mỗi môn học màcác yêu cầu khác nhau được đặt ra cho mỗi giáo viên Tuy nhiên, nếu đáp ứng đượccác yêu cầu trên thì thật là tuyệt vời, lúc đó chất lượng Dạy - học như thế nào thì cácbạn đồng nghiệp tự thảo luận? Tại sao tôi lại đặt ra các yêu cầu đó? Các bạn thửtưởng tượng xem nếu một người nào đó không có khái niệm gì về CNTT thì liệu họ
có bật máy tính lên và chọn cho mình một chương trình làm việc hay không? Liệu họ
có biết được tài liệu của mình nằm ở đâu trên máy tính hay không? Có biết cáchCopy (sao chép) tài liệu từ nơi này sang nơi khác hay Delete( xóa) một tài liệu khikhông dùng nữa? Nghĩa là dù ít hay nhiều thì cũng phải sử dụng được máy tínhtheo ý riêng mình
Ở đây, vấn đề cần đặt ra là từ những giáo án được soạn sẳn trên giấy và được trìnhbày lại trên bảng đen làm thế nào để giáo án đó trở thành GAĐT được trình bày trênmàn chiếu projector? Điều này đòi hỏi người thầy trước hết phải biết sử dụng phầnmềm PowerPoint 2003 ( phần mềm nằm trong bộ MS Office 2003 , hiện nay đã cóPowerPoint trong bộ MS Office 2007) dùng để tạo các trình diển đa dạng trên máy
Trang 21tính Ngoài ra có các phần mềm Cabri (Toán) ,GEOSPACW ( Toán ), GraphCalc(Toán), PhotoFrameShow (xử lí hình ảnh), Geometer’s Sketchpad(GSP) … Nếu chỉdừng ở mức độ soạn thảo những nội dung cần thiết và cộng thêm các thao tác địnhdạng về màu sắc, font chữ tôi nghĩ rằng chắc thầy cô nào cũng có thể làm được Tuynhiên nếu chỉ có làm như thế thì chúng ta chưa thực sự thấy được sức mạnh củaPowerPoint 2003 ( hay PowerPoint 2007) và cũng như một số phần mềm kể trên lúc
đó cũng như chưa phát huy hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới này Ví dụtrong một tiết toán “ Đồ thị hàm số y = ax2 + b (a≠0)” đại số lớp 9 thay vì giáo viênhay học sinh lên bảng lập bảng giá trị và vẽ đồ thị hàm số thì bây giờ trên màn hìnhlớn hiện ra công thức và bảng giá trị, học sinh chỉ cần thảo luận tại chổ và trả lời( phần mềm PowerPoint 2003) và vẽ đồ thị (phần mềm GSP), tiết toán hình học lớp 8
“hình lăng trụ , hình chóp” thay vì giáo viên vẽ trên bảng hay trên bảng phụ thì bâygiờ hiện trên màn hình với những hình rõ nét và chuyển động theo không gian (Cabri,GEOSPACW, GraphCalc,Geometer’s Sketchpad)… .Với môn Lịch sử khi dạy vềcác trận chiến của quân ta và địch, thay vì giáo viên diển thuật các trận đánh dựa trênbảng đồ vẽ sẳn thì bây giờ học sinh nhìn vào trên màn hình lớn các trận đánh sẽ diễn
ra qua các đoạn phim tài liệu mà giáo viên chèn vào …
Với hình thức giảng dạy như thế, tôi tin rằng các em học sinh sẻ cảm nhận và khắcsâu, dể hiểu về bài học, qua đó giáo viên khỏi mất thời gian vẽ hình, không mất thờigian xóa bảng mà chỉ khắc sâu và mở rộng kiến thức cho học sinh ……
Với những nội dung bài giảng, hình ảnh minh họa được đưa vào bài giảng, thaotác cơ bản đòi hỏi người thầy phải nắm được là thiết lập các hiệu ứng để làm sao chobài giảng được sinh động, mang lại không khí học tập sôi động và mới mẻ Vậy cáchiệu ứng đó là gì? Đó là các hoạt cảnh của các đối tượng ( văn bản, hình ảnh, )được thiết lập có thứ tự, có thể là dòng chữ hay hình ảnh này xuất hiện trước dòngchữ hay hình ảnh kia, hay có thể là dòng chữ hay hình ảnh này xuất hiện sang trái,dòng chữ hay hình ảnh xuất hiện sang phải….Chẳng hạn trong giờ học Toán giáoviên (GV) đưa ra bài toán trắc nghiệm (chọn Đúng hoặc Sai: ( Phần mềm VisuaBasic