1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYEN DE ON TAP TOAN 9

5 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 14,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tiết ôn tập không phải là để nhắc lại nội dung các kiến thức đã học, mà thông qua tri thức nội dung, giáo viên quan tâm đặc biệt đến tri thức phương pháp, nhằm giúp học sinh tìm ra mạc[r]

Trang 1

Chuyên đề

“PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG HỌC TẬP

CỦA HỌC SINH TRONG VIỆC HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH HỌC LỚP 9”

Tổ chức tại: Trường THCS Nguyễn Hiền

Ngày 22 tháng 10 năm 2009 Người báo cáo: Tạ Hùng Việt

I LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

Trong quá trình việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “Lấy

học sinh làm trung tâm”, đội ngũ giáo viên toán THCS Nha Trang đã đạt được những

thành công nhất định

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn một số vần đề cần trao đổi thêm, nhằm từng bước hoàn thiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo chỉ đạo của ngành

Trước hết, tôi xin nêu nhận xét chung về những tồn tại đã được chỉ ra qua kiểm tra, thanh tra trong năm học 2008 – 2009 và kết quả thi vào lớp 10 năm học 2007 -2008, 2008 - 2009

Nhìn chung, việc vận dụng phương pháp “Lấy HS làm trung tâm” trong bộ môn

toán THCS Nha Trang là tích cực, đã có những thành công, nhưng mức độ áp dụng chưa đồng đều Một bộ phận giáo viên, nhất là giáo viên mới ra trường, vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học trong giảng dạy chưa thuyết phục

Tồn tại lớn nhất là giáo viên vẫn nặng về Thuyết trình – mô tả - giải thích,

truyền thụ một chiều, khuôn mẫu chủ quan, nặng về trình diễn, thiếu những cơ hội dành cho học sinh tư duy sáng tạo, còn nhầm lẫn kiểu bài ôn tập và kiểu bài luyện tập Những hạn chế đó thể hiện ở từng bài hoặc ở một số đơn vị kiến thức trong chương trình

Nguyên nhân:

- Vẫn có những giáo viên chưa coi trọng việc soạn giáo án Một số giáo viên photo giáo án, việc chuẩn bị cho tiết dạy hời hợt, nên khi giảng dạy, ngay cả giáo viên cũng thiếu tự tin, không làm chủ được tiết dạy Ở những trường hợp này, hệ thống câu hỏi ở một số giáo án chưa được giáo viên chú trọng, thiếu tính khái quát, cá biệt có những câu hỏi chưa hợp lý, thiếu các yếu tố tư duy cần thiết, không xác lập được không gian cho học sinh tư duy

- Bên cạnh đó một bộ phận thầy, cô giáo xử lý tình huống hoặc giải quyết các vấn đề

về kiến thức cũng như kỹ thuật sư phạm chưa tốt, thể hiện rõ nhất và thường gặp nhất

là việc làm phức tạp hóa vấn đề, chưa quan tâm đúng mức đến công tác bồi dưỡng

học sinh giỏi, phù đạo học sinh yếu (đây là nhiệm vụ của giáo viên mà Điều lệ trường

PT quy định)

- Một cách tổng quát: Hiện tượng một bộ phận thầy, cô giáo chỉ quan tâm đến tri thức nội dung mà chưa chú ý đến tri thức phương pháp cho học sinh Chưa chú ý nhiều đến việc khai thác các dạng bài tập nhằm hoạt động hóa người học thông qua việc bài tập hóa những kiến thức cơ bản nhằm định hướng hệ thống hoá, khái quát

hoá các kiến thức đã học cho học sinh và người lại, việc rèn kỹ năng giải toán cho học sinh thường đi sâu vào từng đơn vị kiến thức riêng lẻ, mà chưa chú ý nhiều đến việc liên kết kiến thức, chưa giúp học sinh hướng tới việc mô hình hoá kiến thức

Trang 2

Những nguyên nhân trên đã dẫn tới hệ quả tất yếu là làm cho tiết dạy đơn điệu, nhàm chán, áp đặt, một chiều, giáo viên làm việc nhiều, học sinh thụ động, giáo viên đưa ra kiến thức nhiều, học sinh bội thực kiến thức Hiệu quả tiết dạy thấp Chất lượng

bộ môn chưa cao, mà minh chứng rõ nhất là kết quả môn toán của học sinh thi vào lớp

10 THPT trong 2 năm gần đây, đã có nhiều học sinh được xếp loại giỏi, tiến tiến không thi đậu vào lớp 10 PTTH

Trong chuyên đề này chúng ta sẽ thảo luận vấn đề

“PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

TRONG VIỆC HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH HỌC LỚP 9”

II NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ:

A MỘT GÓC NHÌN HẸP VỀ TIẾT ÔN TẬP TOÁN THCS:

Trong dạy học toán ở trường phổ thông, tiết ôn tập được dùng với những dụng ý nhằm giúp học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa tri thức, kĩ năng sau khi đã học xong một chương, một phần hay toàn bộ chương trình môn học Trong tiết ôn tập giáo viên

không những phải quan tâm đến việc hoàn thiện tri thức nội dung cho học sinh mà còn phải quan tâm đặc biệt đến tri thức phương pháp.

Trong chuyên đề này chúng ta sẽ dành thời gian trao đổi các vấn đề:

- Xác định tri thức nội dung và tri thức phương pháp của tiết ôn tập thông qua hoạt động hoá người học

- So sánh tri thức nội dung và tri thức phương pháp giữa tiết ôn tập và các tiết

dạy khác (đặc biệt là so sánh tiết ôn tập và tiết luyện tập - Thầy Nguyễn Thiện Dũng sẽ trao đổi vấn đề này)

- Định hướng phương án giải quyết tri thức nội dung và tri thức phương pháp để tiết ôn tập nhẹ nhàng và hiệu quả

B TRAO ĐỔI MỘT PHƯƠNG ÁN DẠY TIẾT ÔN TẬP:

B.1. Phương án sử dụng kiến thức đã học để xây dựng và phát triển các mô hình hoá kiến thức

Nếu xét ở góc độ tiết ôn tập thuần tuý mà giáo viên đang thực hiện thì rất khó giải

quyết 2 vấn đề: tri thức nội dung và tri thức phương pháp cho một chương Hiển

nhiên: tri thức nội dung qui định tri thức phương pháp Tri thức phương pháp là công

cụ giúp người học hoàn thiện tri thức nội dung một cách hữu hiệu Do đó, khi dạy tiết

ôn tập cần tham khảo một số kiểu loại về tri thức phương pháp đã được giáo viên sử

dụng khá phổ biến như sau:

Mức 1 : Hệ thống hoá kiến thức phù hợp với nhiều đối tượng học sinh với các

bước như sau:

Bước 1: Tìm tòi, xây dựng và phát triển các mô hình hệ thống hoá kiến thức đã học.

- Tiết ôn tập không phải là để nhắc lại nội dung các kiến thức đã học, mà thông qua tri thức nội dung, giáo viên quan tâm đặc biệt đến tri thức phương pháp, nhằm giúp học sinh tìm ra mạch kiến thức cơ bản, trên cơ sở đó giáo viên định hướng cho học sinh tìm tòi, xây dựng và phát triển các mô hình hệ thống hoá phù hợp với nhiều đối tượng học sinh

Trang 3

Bước 2: So sánh, nhận xét, đánh giá các mô hình hệ thống hoá của học sinh.

- Hướng dẫn học sinh so sánh giữa các mô hình hệ thống hoá kiến thức đã học giữa học sinh với học sinh, chỉ rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ của các đối tượng kiến thức trong mô hình được xem xét để học sinh điều chỉnh, bổ sung nhằm hướng đến một mô hình hoá kiến thức hợp lý do chính học sinh tìm tòi, xây dựng và phát triển

Bước 3: So sánh mô hình hệ thống hoá kiến thức của học sinh và mô hình hệ thống

hoá kiến thức của giáo viên

- Trong quá trình tác nghiệp, giáo viên thường đưa ra khuôn mẫu của người thầy Hầu hết học sinh đều coi mô hình mẫu của giáo viên là phương án tối ưu Và tư duy này hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, để tác động thêm trong không khí tích cực, chủ động học tập của học sinh, giáo viên nên giúp học sinh nhìn lại việc mà các em đã thực hiện bằng cách tạo ra sự so sánh giữa mô hình hoá của thầy và của trò Qua đó, học sinh tìm thấy sự lựa chọn hợp lý trong các mô hình hoá vừa nêu, phù hợp với khả năng của các em với một tâm lý thoải mái, phấn khích, khoa học

Mức 2: Khái quát hoá trên cơ sở mô hình hoá hệ thống kiến thức đã học.

Sau khi đã hoàn thiện mô hình hoá hệ thống kiến thức đã học với những kiến

thức cơ bản, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phương thức tìm tòi các kiến thức phái sinh nhằm hoàn thiện tri thức nội dung, với tinh thần nắm chắc kiến thức cơ bản

cũng đồng nghĩa nắm được toàn bộ tri thức nội dung Đó chính là một cách khái quát hoá những kiến thức đã học Bản chất của mô hình khái quát hoá được coi là hình thức nâng cao của mô hình hệ thống hoá

B.2 : Hoạt động hoá người học thông qua việc bài tập hoá những kiến thức cơ bản.

- Có nhiều cách dạy một tiết ôn tập toán THCS, nhưng trong bất kỳ hình thức nào, việc quan trọng nhất là phải tạo điều kiện tốt nhất cho tất cả mọi học sinh đều i được chủ động, tích cực tham gia vào quá trình ôn tập kiến thức Việc này đòi hỏi

công tác tổ chức thực hiện kiểu bài dạy tiết ôn tập của giáo viên công phu hơn các

kiểu bài dạy khác, đặc biệt khi so sánh kiểu bài ôn tập với kiểu bài luyện tập Trong thực tế nhiều giáo viên, mặc dù biết kiểu bài luyện tập rất khác kiểu bài ôn tập, nhưng vẫn còn một số tiêu chí của chúng chưa được giáo viên nhận diện rõ ràng

- Việc xây dựng mô hình hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức là một loại việc rất cần thiết trong tiết ôn tập Nhưng một việc quan trọng hàng đầu xuyên suốt khác là việc học sinh phải hiểu và sử dụng một cách thành thạo các kiến thức trong các mô hình đã được thiết lập này vào giải quyết các yêu cầu của một bài toán cụ thể Đây chính là kết quả đánh giá quá trình dạy - học của thầy – trò đối với một địa chỉ sư phạm cụ thể của ngành giáo dục Nha Trang Điểm số môn toán của học sinh các trường THCS trên địa bàn khi thi vào lớp 10 PTTH trong các năm gần đây đã trở thành thước đo chuẩn mực nhất

Tại chuyên đề này, tôi xin phép được nhắc lại một số hoạt động tư duy và các gợi ý

sử dụng các loaị bài tập tương ứng với tinh thần “Hoạt động hoá người học thông qua bài tập hoá những kiến thức cơ bản”

Trang 4

Mỗi bài tập, được lựa chọn cho một thời điểm cụ thể, đều chứa đựng sự tường

minh hay tiềm ẩn những chức năng khác nhau như chức năng dạy học, chức năng giáo dục, chức năng phát triển, chức năng kiểm tra Những chức năng này đều hướng

tới việc thực hiện mục tiêu dạy học

Tuy nhiên trên thực tế, những chức năng này không bộc lộ một cách riêng lẻ và tách rời, chỉ có người dạy đôi khi không quan tâm nhiều đến việc gắn kết chúng lại với nhau mà thôi Khi nói đến tên một chức năng, trong bài toán được lựa chọn, có nghĩa là chức năng ấy được thực hiện một cách tường minh, công khai Còn các chức năng khác nằm trong tổng thể bài toán dưới dạng tiềm ẩn

Với HS thì hoạt động học toán ở trường phổ thông cơ bản là giải toán Tuy

nhiên, giải toán không chỉ đơn thuần là tìm đáp số của bài toán đó, mà thông qua các hoạt động giải toán hình thành cho HS những kỹ năng cần thiết cho việc học toán, óc suy đoán logic trong khái quát kiến thức cấp học

Với tinh thần ấy, giáo viên cần xây dựng kịch bản “Các phân khúc của tư duy” trong giáo án và trong các tình huống sư phạm tiềm năng trong tiết dạy, nhằm tạo ra

các phân khúc tư duy hợp lý với các phân khúc thuộc tri thức nội dung, từ đó định ra

tri thức phương pháp phù hợp để giải quyết cùng lúc hai vấn đề: Kỹ năng sử dụng kiến thức đã học để giải toán và Phương án sử dụng kiến thức đã học để xây dựng và phát triển các mô hình hoá kiến thức như mô hình hệ thống hoá và khái

quát hoá đã nêu ở phần đầu chuyên đề này Tôi chọn 3 nội dung tiêu biểu chứa đựng các mục tiêu cơ bản trong các kiểu phân khúc tư duy dưới đây Ở đó, mục tiêu tư duy

và các dạng thức bài tập được xác lập là tương ứng

1 Hoạt động hoá người học thông qua việc bài tập hoá những kiến thức cơ bản nhằm “phân khúc tư duy mang tính kỹ thuật” với 3 nội dung sau

1.1 Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác.

1.1.1 Bài tập có nhiều cách giải

1.1.2 Bài tập có nội dung biến đổi

1.1.3 Loại bài tập khác kiểu

1.1.4 Bài tập thuận nghịch

1.2 Suy nghĩ không dập khuôn

1.2.1 Loại bài tập khác kiểu

1.2.2 Bài tập thuận nghịch

1.2.3 Toán vui, nguỵ biện, câu đố

1.2.4 Bài tập có tính đặc thù

1.3 Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc Nhìn thấy chức năng mới trong điều kiện quen biết.

1.3.1 Bài tập “mở”

2 Hoạt động hoá người học thông qua việc bài tập hoá những kiến thức cơ bản nhằm “phân khúc tư duy với các thuộc tính kỹ năng” với 2 nội dung sau

2.1 Khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau

2.1.1 Bài tập có nhiều kết quả

2.2 Khả năng xem xét đối tượng dưới những khía cạnh khác nhau

2.2.1 Bài tập có nhiều kết quả

2.2.2 Bài tập có nhiều cách giải

2.2.3 Bài tập “câm”

Trang 5

3 Hoạt động hoá người học thông qua việc bài tập hoá những kiến thức cơ bản nhằm “phân khúc tư duy có tính độc đáo” với 3 nội dung sau

3.1 Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới

3.1.1.Bài tập không theo mẫu

3.1.2.Toán vui, nguỵ biện, câu đố

3.2 Nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài tưởng như không có liên hệ với nhau

3.2.1 Bài tập không theo mẫu

3.2.2 Toán vui, nguỵ biện, câu đố

3.3 Khả năng tìm ra giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác.

3.2.1 Bài tập có nhiều cách giải

3.2.2 Bài tập không theo mẫu

3.2.3 Toán vui, nguỵ biện, câu đố

B.3 Phương án đề xuất mang tính tham khảo đối với việc giảng dạy một tiết ôn tập.

- Trước hết xin nhắc lại: Tiết ôn tập không phải là để nhắc lại nội dung các kiến thức

đã học, mà thông qua tiết ôn tập, học sinh thể hiện được thiên hướng kỹ năng trong việc sử dụng kiến thức đã học để giải toán và xây dựng, phát triển các mô hình hoá kiến thức cơ bản

- Với nhiệm vụ nặng nề như thế thì tiết ôn tập không thể giải quyết được

- Để có một tiết ôn tập đúng nghĩa, nhất thiết giáo viên phải cấu trúc lại trong khi

giảng dạy các loại kiểu bài khác ngoài ôn tập, nhằm giảm tải tri thức nội dung của

tiết ôn tập Việc tái cấu trúc các tiết dạy này theo hướng :

1 Đối với các tiết dạy lý thuyết:

- Ngoài các yêu cầu của tiết dạy theo chuẩn kiến thức, giáo viên cần nhấn mạnh

thêm việc xác định kiến thức cơ bản của từng bài.

- Chỉ rõ mối quan hệ giữa kiến thức cơ bản và kiến thức phái sinh, giữa kiến

thức cũ và kiến thức mới

- Bên cạnh sự rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh, giáo viên định hướng

việc thực hiện tìm tòi, xây dựng và phát triển các mô hình hoá kiến thức cơ

bản ở mức thấp (sơ cấp)

2 Đối với các tiết luyện tập:

- Cùng với việc nâng cấp các kỹ năng sử dụng các kiến thức đã học để giải toán cho học sinh, giáo viên cũng nâng cấp việc phát triển các mô hình hoá kiến thức cơ bản ở mức cao hơn (mức trung) theo hình thức “ôn tập” của từng bài,

hoặc nhóm bài theo hướng luỹ tiến

- Sự luỹ tiến ấy sẽ đạt đến mức cao hơn - mức ôn tập với những hoạt động linh

hoạt, nhẹ nhàng, thiết thực

TUY NHIÊN

CÓ NHỮNG ĐIỀU CÀNG GẦN CHÂN LÝ

THÌ CÀNG XA THỰC TẾ

VÀ NGƯỢC LẠI

Hy vọng chuyên đề này có tác dụng thực tiễn trong phạm vi hẹp.

Nha Trang, ngày 18 tháng 10 năm 2009

Người viết

Tạ Hùng Việt

Ngày đăng: 13/04/2021, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w