1. Trang chủ
  2. » Đề thi

Kinh do Hue van de phong thu

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 20,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.3. Hoàng thành là trunh tâm sinh hoạt chính trị và hành chính của đất nước, tuy không có pháo đài như ở kinh thành nhưng cũng được bố trí bảo vệ tại các cửa rất nghiêm ngặt. Tại Ngọ mô[r]

Trang 1

Phần Mở Đầu

1 Lí do chọn đề tài.

Khi Nguyễn Ánh đánh bại vương triều Tây Sơn vào năm 1802 thiết lập một triều đại mới – Nhà Nguyễn Đồng thời xã hội tong thời kỳ này có nhiều biến chuyển mới

Từ năm 1802 Nhà Nguyễn với mưu đồng thống trị một quốc gia thống nhất và rộng lớn nên đã cho tiến hành mở rộng lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau Để thể hiện quyền lực và qui mô của quốc gia thì vấn đề đầu tiên và cũng là yêu cầu hết sức lúc bấy giờ là viêc xây dưng kinh đô của đất nước Nguyễn Ánh đã chọn Huế là nơi đặt kinh đô của triều đại mình và cho tiến hành tu bổ sứa chửa trong vòng 27 năm (từ năm 1805 – 1832)

Mặt khác trên thế giới chủ nghĩa Tư Bản trên thế giới ngày càng phát triển nên vấn

đề thị trường đang trở thành nhu cầu bức thiết Các nước phương Tây đang ráo riết chuẩn bị xâm lược các nước phương Đông trong đó có Việt Nam

Yêu cầu lịch sử đặc ra lúc bấy giờ là bảo vệ quốc gia thống nhất, giữ vững an ninh chính trị phát triển kinh tế, văn hóa “mở cửa” đất nước ra thế giới bên ngoài , kích thích sản xuát hàng hóa và giao lưu trong nước Nhưng hầu hết các ý kiến đòi qui trách nhiệm mắt nước thuộc về triều Nguyễn Khi đề cập đến vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc ở thế kỉ XIX không thực hiện tích cực vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc như: dùng chính sách bế quan tỏa cảng, việc phòng thủ đất nước

Tuy nhiên, theo tôi những cố gắn trong việc phòng thủ đất nước bảo vệ độc lập của triều Nguyễn trong bối cảnh lúc đó lại chưa được nghiên cứu đầy đủ Bởi từ thời Gia Long đến Tự Đức triều Nguyễn không chỉ dùng chính sách ngoại giao tự vệ, mà còn tăng cường sử dụng mọi biện pháp phòng vệ như: cho xây dụng nhiều công trình phòng thủ quân sự trên khắp đất nước nhằm ngăn chặn quân xâm lược và cả những

Trang 2

cuộc nỗi dậy chống lại triều đình Trong đó đặc biệt là tuyến phòng thủ Trung tâm Kinh Thành Huế

Vì những lí do trên đã thôi thúc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kinh Đô Huế - Vấn Đề Phòng Thủ”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này giúp chúng ta có một cái nhìn sâu rộng và cụ thể về vấn đề phòng thủ kinh đô bảo vệ đất nước của triều Nguyễn từ năm 1802 – 1885 nhằm cung cấp thêm tư liệu để chúng ta xem xét đánh giá khách quan hơn về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc bảo vệ độc lập dân tộc

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp lịch sử

Phương pháp logic

Phương pháp hệ thống hóa kiến thức

Phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo

Phương pháp chế biến và sử lí thông tin

4 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm có ba phần:

Phần mở đấu

Phần nội dung:

Chương 1: Tuyến phòng thủ Trung Tâm

Chương 2: Tổ chức vũ khí và lực lượng phòng vệ Kinh Đô

Phần kết luận

Trang 3

5 Đóng góp của đề tài

Qua đề tài tôi hi vọng các bạn có một cái nhìn khách quan hơn về trách nhiêm của triều Nguyễn ttrong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc trước nguy cơ xâm lược của thực dân Phap Các Vua nhà Nguyễn đã làm hết sức mình để bảo vệ và phát triển đất nước Nhung các lựa chọn con đường đi chưa phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Vì vậy, nền độc lập dân tộc bi rơi vào tay của thức dân Pháp đó là điều tất yếu

Đề tài này có thể xem như tài liệu tham khảo nhỏ cho những ai chưa nghiên cứu và chưa hiểu biết về vấn đề này

Tôi xin thành cảm ơn! Ngô Văn Chương

Trang 4

Phần nội dung

Chương 1

TUYẾN PHÒNG THỦ TRUNG TÂM 1.1 Kinh thành

Sau khi được khảo sát, chuẩn bị mọi mặt, kinh thành Huế được khởi công xây dựng vào tháng tư năm Ất Sửu, năm Gia Long thứ tư(30/04/1805) Thành được xây dưng trren mặt bằng của kinh thành cũ thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat, và một phần phủ chính thời Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái cùng đất tám làng: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, Thế Lại, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bữu

Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc Vauban nhưng nó vẫn được kết hợp hài hòa với nghệ thuật kiến trúc Phương Đông Các nhà kiến trúc đã đưa tư tưởng kiến trúc truyền thống dân tộc, triết lý Phương đông trong việc chọn đất, chọn thế sông, thế núi, phương hướng… để tạo nên một thành lũy đặc trưng của Việt Nam Thành được xây dựng với: chu vi vòng thành là 2487 trượng ba thước sáu tấc (tương đương 10571.28m).Kinh thành được xây dựng bằng đất ở giữa, hai bên ốp gạch, xây kề theo kiểu giật cấp rất chắc chắn Với bề dày 21.25m kinh thành trở nên vững chắc, khó có đại bác của đối phương nào có thể chọc thủng (Trên bốn mặt thành được bố trí 2500 khẩu đại bác Các công xưởng trong thành còn dự bị khỏang 4000 khẩu đại bác bằng đồng)

Với các vị vua của triều Nguyễn thì việc xây dựng kinh thành với mục đích chính

là để giữa vững nhà nước, tạo uy thế với các nước lân bang nên đã xây dựng kinh thành thành một pháo đài quân sự lớn nhất và vững chắc nhất ở tuyến phòng thủ trung tâm

Việc tuần phòng kinh thành thì giao cho Hộ thành đảm nhiệm, ( Năm Đồng Khánh thứ nhất(1886) được chuẩn: “ Vào mỗi đêm, đúng giờ sẽ phái một văn một võ ấn quan của nước ta mang theo 40 lính hợp cùng Quí quan đẻ tuần phòng trong và ngoài kinh thành”)

Trang 5

1.1.1 Các cửa thành:

Kinh thành Huế có tất cả 13 cửa, gồm 11 cửa đường bộ và 2 cửa đường thủy Mười một cửa đường bộ gồm mười cửa chính và một cửa phụ là Trấn Bình Môn Mười cửa chính chia đều cho bốn mặt thành mỗi mặt có hai cửa , riêng mặt chính nam ( mặt tiền có bốn cửa) Đó là các cửa: Thể Nhân ( cửa Ngăn), Quảng Đức ( cửa Sập), Chánh Nam ( cửa Nhà Đồ), đông Nam ( cửa Thượng Tứ), Chánh Đông ( cửa Đông Ba), Đông Bắc ( cửa Kẻ Trài), Chánh Tây, Tây Nam ( cửa Hữu), Chánh Bắc ( cửa Hậu), Tây Bắc ( cửa An Hòa)

Các cửa thành được xây dựng bằng đá, gạch vồ và vôi mật, chiều cao của mỗi cửa

là bốn trượng một thước (17.425m) Mỗi cửa đều có hai cánh cửa bằng gỗ đồ sộ rất chắc chắn, bên trong có gắn các cối cửa và cối then bằng đá thanh để giữ lề cửa và gác then cài mỗi khi đóng lại thì đối phương ở bên ngòai khó mà vào được

Riêng Trấn Bình môm không có vọng lâu, chỉ cao 5.355m còn hai cửa đường thủy

là Tây Thành Thủy quan củng được xây dựng khá đẹp hai cửa này không chỉ đảm bảo giao thong thủy trong và ngòai Kinh thành mà còn có vị trí quan trọng về quân sự nên ở Đông Thành Thủy Quan (cửa gần biển)hai bố trí hai mươi khẩu đại bác và hai mươi lính canh gác Tất cả các cửa này được xây dựng chắc chắn nó có chức năng hết sức quan trọng, đảm bảo sự an ninh cho khu vực kinh thành, khi xảy xay sự cố cửa thành chính là nơi bị đơi phương công phá đầu tiên, Vì vậy nó phải được xây dựng kiên cố và nghiêm ngặt

1.1.2.Các pháo đài.

Kinh Thành Huế được xây dựng theo kiểu Vauban, là sự tổng hợp của nhiều kiểu kiến trúc hiện đại nên nó có giá trị phòng thủ rất cao Trong đó, các pháo đài giữa vai trò quan trọng nhất Chung quanh chân thành có 24 đọan được xây dựng lồi ra tạo thành 24 pháo đài với kích thước lớn nhỏ khác nhau tùy theo các vị trí chiến lược của từng nơi Mỗi mặt thành có 6 pháo đài, trong đó có một pháo đài chính hay còn gọi là Giác Bảo

Trang 6

Trên mỗi pháo đài đều có một đặt một pháo xưởng (kho thuốc đạn) xây đằng sau mỗi đột giác của pháo đài, quai mặt về phía thành nội Kích thước của các kho đạn này là: dài 8.85m, rộng 3.80m, và cao 2.55m

Dọc theo tường bắn của pháo đài có những chỗ được xây lõm xuống để đặt sung Những nơi đặt sung đại bác trên mặt thành được gọi là pháo nhãn Tòan bộ 26 pháo đài có tổng cộng 386 pháo nhãn

Ngòai ra, hai cửa đường thủy cũng có vị trí quan trọng nên cũng được bố trí nhiều pháo nhãn (Đông Thành Thủy Quan có 15 pháo nhãn, Tây Thành Thủy Quan có 3 pháo nhãn) nhằm phòng thủ hai cửa sông Ngự Hà Nếu tính ở mỗi vị trí đặt súng (pháo nhãn)

có một khẩu đại bác thì trên mặt thành có tổng cộng 404 khẩu đại bác Còn cả trong lẫn ngòai thành thì lên tới 705 đại bác

Mỗi góc thành đều có một pháo đài chính Có bốn pháo đài chính ở bốn góc đó là; Nam Ninh, Đông Thái, Bắc Định và Tây Thành với tầm bắn rộng hơn nhiều so với các pháo đài còn lại, nên được trang bị đặc biệt hơn những nơi khác với những trọng pháo với những kích cỡ khác nhau

1.1.3 Trấn Bình Đài.

Trấn Bình Đài là một thành phụ của kinh thành được xây dựng vào năm Gia Long thứ tư (1805) lúc đầu thành có tên là Thái Bình đài, tường đài được xây đắp bằng đá, đến năm Minh Mạng thứ ba (1822), được sửa lại xây bằng gạch cả trong và ngoài thành Năm

1832, Thái bình đài được Minh Mạng cho xây đắp thêm độ dày các mặt thành và tu bổ một số nơi Năm Minh Mạng thứ mười bảy (1836) công trìng này lại được tu bổ và đổi tên thành Trấn Bình đài( còn gọi là Mang cá nhỏ)

Trấn Bình đài có chu vi mặt ngòai vòng thành là 1048.648m, cao5.1m, than dày14.875m Trấn Bình môn ở phía tây luôn có 30 lính canh giữ, còn Trường Bình Môn (ở phía nam) là 10 người trấn Bình đài được xây dựng theo kiểu vauban với tường bắn,

Trang 7

pháo nhãn, phòng lộ, hào, thành giai…tạo thành một vành đai bảo vệ bên ngòai như ở kinh thành

Phần tường bắn trên tường thành như một dạng công sự lộ thiên, xây bằng gạch vồ dày 1.3m, bên trong cao 1.72m, bên ngoài cao 1.12m Trên tường bắn mặt phía bắc cứ cách nhau từ 20 – 25m có một pháo nhãn để làm nơi đặt súng, thành phía đông cách 10 đến 15m có một pháo nhãn

Trấn Bình Đài là mộth pháo dài kiên cố, nó có tầm chiến lược rất quan trọng về mặt chiến lược quân sự, với chức năng kiểm soát thương cảng Bao Vinh, bảo vệ phía đông bắc của kinh thành, đồng thời chế ngự tuyến đường thủy từ Thuận An đến Kinh đô Huế Đến 1884 triều Nguyễn phải giao cho thưc dân Pháp cai quản Trấn Bình đài sau hiệp định Patơnốt Do măt vị trí quan trong này nên triều đình mới gặp khó khăn trong các trận chiến sau này

1.1.4 Kỳ Đài

Được xây dưng tháng 11 năm Đinh Mão ( 1807), Với kích thước: nền đài có 3 tầng, cao 18.4875m, cột cờ hai tầng, cao 30.3875m3 Qua các thời Minh Mạng, Thiệu Tri,

kỳ đài được tu bổ nhiều lần vào các năm 1829, 1831, 1840,1846 sau khi tu bổ thì nền kỳ đài cao 18.7m, cột cờ cao31.365m Trên đài có đặt 8 ụ súng đại bác và hai chòi canh Như vậy, so với khi mới xây dựng thời Gia Long cột cờ chỉ cao 30.3875đến thời Thiệu Trị cột

cờ được thay đổi và cao hơn trước (3.5125m) Kỳ Đài là một trong những công trình kiến trúc quan trọng của kinh thành Huế Ngòai chức năng chính là treo cờ, kỳ đài còn được xem như là đài quan sát, một pháo đài ở mặt tiền kinh thành có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự Vì vậy, kình đài cũng là một công trình kiến trúc có tác dụng phòng thủ nhất định đối với kinh đô Huế Kỳ đài với chiều cao tổng cộng là 51.2125m được canh gác nghiêm ngặt với hai chòi canh và được trang bị 8 khẩu đại bác được ở hai tầng trên Mặt tiền và hai bên tầng giữa có tường bắn với 15 pháo nhãn đặt 15 khẩu đại bác.Trên cột cờ

có Vọng Đẩu (đài quan sát) để mỗi ngày đều có người có trách nhiệm đến quan sát bằng óng thiên lý nhìn ra ngoài biểnkiểm sóat tàu bè xâm nhập hải phận, cửa biển Kỳ đài là

Trang 8

một công trình khá lớn, nó có một vị trí rất quan trọng Ngòai chức năng treo cờ, đèn, nó còn được dung để quan sát cửa sông, cửa biển có thẻ báo kịp thời cho triều đình nếu có sự

cố xảy ra ở hải phận, cửa biển Thuận An Kỳ đài còn là một trận địa pháo gồm 23 khẩu đại bác – cụm hỏa lực ở ngay mặt chính nam của kinh thành Do tính chất quan trọng nên

kỳ đài được triều đình giao cho 10 Thị Trung canh giữa

1.2 Tuyến phòng thủ xung quanh Kinh Thành.

1.2.1 Phòng Lộ

Phòng lộ là phần đát thừa ngòai chân thành, dải đất này nằm sát chân thành phía ngoài đến bờ trong của hào, bề rộng 8.5m9 hai trượng chạy men theo chân thành Chu vi của phòng lộ tương đương chu vi của thân thành Đây là con đường hẹp nằm giữa đường kinh thành và hào chạy men theo ngòai chân thành Vì thế phòng lộ được coi là tuyến phòng hộ bên ngòai chân thành theo kiểu thành lũy phương Tây

1.2.2 Hào

Hào là vành đai chướng ngại thứ hai nằm sát ngòai phòng lộ Đó là tuyến phòng thủ bằng đường thủy chạy men theo phòng lộ ngoài kinh thành: Bờ hào chạy quanh 11 cửa thành, rộng 5 trượng bảy thước(24.225m) sâu một trượng(4.25m), ở mỗi cửa đều bắc cầu đá, ngòai cầu đặt một nhà vuông Hai bờ hào được xây bằng đá núi Suốt bốn mặt hào dài 22503 trượng 4 thước 7 tấc (10639.7475m), mực nước sâu trung bình là 1.5m, độ sâu của hào là 4.25m Muốn vào được trong Thành nội phải qua một chiếc cầu vồng xây bằng

đá và gạch bắc ngang trên hào tại 11 cửa thành Vì thế khi kinh thành bị tấn công hào sẽ

là chướng ngại vật hữu hiệu ngăn chặn bước tiến của địch Nếu các cửa thành đều đóng thì quân địch sẽ gặp nhiều khó khăn để vượt qua được tuyến phòng thủ đường thủy quan trọng này vì mặt hào sâu và rộng

Trang 9

1.2.3 Thành giai

Thành giai (hay còn gọi là đường hào ngoài) là phần đất nằm phía ngoài bờ hào ra đến bờ trong của Hộ thành hà bao quanh kinh thành Phía ngoài thành có hộ thành được đắp bằng đá Mặt phải (hữu) dài 338 trượng 5 thước (1438.625m) Hai mặt trái và sau( tả

và hậu) đều dài 715 trượng (3038.75m) Trên thành giai triều đình cho xây dựng một bức tường bắn bằng gạch cao khỏang 1.3m dùng làm chiến lũy để chống lại kẻ thù

Thành giai bao quanh kinh thành, chỉ gián đoạn Đông Thành Thủy quan và Tây Thành Thủy quan được nối bởi hai chiếc cầu Thanh Long và Hoằng Tế Thành giai dài khỏang 11 km, bề rộng tính từ hào đến mé sông, về mặt tiền, dài hơn 42 trượng ( hơn 178.5m), về mặt tả, hữu và hậu đều dài 27 trượng hoặc 25 trượng (rộng từ 106.25m đến 114.75m), không đều nhau

Như vậy, Thành giai không chỉ đơn thuần là giải đất trống bao quanh kinh thành

Nó được dùng làm chiến lũy đầu tiên mà các xạ thủ có thể dựa vào đó để bắn ngăn chặn đối phương khi đã vượt qua được Hộ thành hà Đồng thời cũng là con đường để cho lính

đi tuần phòng phía vòng nkinh thành

1.2.4 Hộ thành hà

Hộ thành hà là tuyến phòng thủ bằng đường thủy quan trọng nằm bên ngoài thành giai Hộ thành hà bao quanh bốn mặt thành, mặt trước là một đọan của Sông Hương rộng tới 400m chảy ngang trước mặt thành Gia Long đã cho xây dựng khu vực này để làm tuyến phòng thủ đường thủy Năm 1805, Gia Long cho đào ba con sông ở ba mặt tả, hữu

và hậu nối với mặt tiền là một đọan sông Hồng tạo thành tuyến phònh thủ đường thủy bao quanh kinh thành dài 12km Ba đoạn sông đào ở phía bắc là sông An Hòa, phía đông là sông Đông Ba, phía tây là sông Kẻ Vạn có chiều dài hơn 7km Hệ thống sông này được đào từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng mới được áp đá ở hai bên bờ sông dày khỏang 1.5m rất chắc chắn Hộ thành hà không đều, nơi hẹp nhất là 13.5m, nơi rộng nhất là 86m

Trang 10

Mục đích cho đò Hộ thành hà là nhằm tạo tuyến phòng thủ bằng đường thủy, một chướng ngại vật to lớn và đảm bảo ngăn chặn được bộ binh của đối phương vượt qua để vào kinh thành Hộ thành hà có tác dụng là một dòng nước sâu cuộn chảy bảo vệ kinh thành

Để đảm bảo cho tuyến phòng thủ trung tâm tại kinh thành đạt hiệu quả cao, triều đình nghiêm cấm việc xây dựng nhà ở những nơi có hệ thống phòng ngự quân sự và các chân thành Từ các đường quanh hộ thành hào phía ngoài đến chân kinh thành, không được dựng liều quán, nếu làm trái sẽ bị phạt 50 roi và bắt buộc tháo dỡ, bồi hòan mặt bằng Các sông ở bốn phía mặt thành (hộ thành hà) vừa lưu thông vận chuyển vừa có giá trị quân sự, nghiêm cấm việc trồng trọt ở hai bên dòng nước Ai phạm điều này phạt 100 trượng và đem thị chúng một tháng Tất cả những điều đó được quy định và thực hiện chặc chẽ

1.3 Hoàng thành

Hòanh thành có chu vi 4 dặm, cao một trượng năm thước, dày 2 thước 6 tấc được xây bằng gạch, mặt nam và bắc đều dài 151 trượng 5 thước( 643.875m), mặt đông và tây đều dài 155 trượng 5 thước ( 660.875m), bốn cửa đều mở Như vậy, Hoàng thành hình chữ nhật, chu vi là 2609.5m, chiều dài mặt bắc nam là 643.875m, chiều dài mặt đông tây

là 660.875m

Hoàng thành là trunh tâm sinh hoạt chính trị và hành chính của đất nước, tuy không có pháo đài như ở kinh thành nhưng cũng được bố trí bảo vệ tại các cửa rất nghiêm ngặt Tại Ngọ môn thường xuyên có một viên suất đội cùng bốn mươi biền binh thay phiên nhau phònh thủ Mỗi khi có đại lễ, Vua đến dự thì tăng cường thêm quân bảo vệ ở phía trên nền đài Ngọ môn nơi đặt thiết ngự tọa Để canh phòng Hoàng thành chặt chẽ, năm 1813 Gia Long định lệ đóng cửa Hoàng thành vào lúc đồng hồ điểm hai canh và bắn hai tiếng súng , mở lúc đồng hồ điểm năm canh và bắn hai tiếng súng Riêng hai cửa Hiển Nhân và Chương Đứcchỉ đóng cửa khi quan quân dự chầu đã về hết Năm 1824, Minh Mạng ban vụ cho phép mở hai cửa ở Hòang Thành vào dip Tết ( 30, mồng 1 và mồng 2

Ngày đăng: 13/04/2021, 18:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w