Như vậy, cung cấp và mở rộng hiểu biết về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ra trong đời sống xã hội hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dân đối với cộng đồng trong mỗi học si[r]
Trang 1Dàn ý
A mở đầu
I lí do chọn đề tài
II giới hạn nghiên cứu
III mục đích nghiên cứu
B nội dung nghiên cứu
I cơ sở lí luận
II cơ sở thực tiễn
1 Thực trạng học môn Văn của học sinh.
2 Thực tế giảng dạy của giáo viên.
3 Nguyên nhân của thực trạng.
III MỘT SỐ kinh nghiệm dạy học văn bản nhật dụng
1 Nắm bắt hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn
2 Xác định đặc điểm nội dung và hình thức của VBND
3 Xác định mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng
4 Chuẩn bị cho bài dạy
5 Xác định phương pháp dạy học
6 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đặc trưng của phân môn Văn học
IV Minh hoạ qua một bài dạy
c kết luận
I kết luận chung
II một số đề xuất kiến nghị
1 Đối với phụ huynh
2 Đối với phòng giáo dục
3 Đối với địa phương
III Lời kết
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2
A Phần mở đầu
I Lí do chọn đề tài
Năm học 2008 - 2009 là năm thứ sáu dạy học sinh theo sách giáo khoa Ngữ văn mới trên phạm vi cả nước Trong bối cảnh toàn ngành Giáo dục và Đào tạo
đang nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong hoạt động học tập để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trước tình hình đó đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng
ta phải không ngừng đổi mới nội dung phương pháp để trong mỗi tiết dạy bình thường ở trường phổ thông trung học, học sinh chúng ta được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con
đường chủ động chiếm lĩnh nội dung học tập
Xuất phát từ thực tế đó, là một giáo viên trực tiếp dạy Ngữ văn trong quá trình giảng dạy từ sự tìm tòi học hỏi của bản thân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi nhận thấy khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, giáo viên cần chú ý đến phương pháp giảng dạy mới như đảm bảo nguyên tắc tính tích hợp, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tình huống tự bộc lộ Vai trò của người thầy trong phương pháp mới này sẽ là sức hút kỳ diệu biến giờ học văn đơn điệu trước đây trở nên thi vị hứng thú, phong phú, sâu sắc hơn, làm cho các em yêu thích học môn Văn hơn
Trong môn Ngữ văn, phần văn bản luôn chiếm số tiết nhiều hơn cả (2 tiết một tuần) Phần văn bản thường là những tiết học đầu tiên của mỗi tuần nên thực sự
có ý nghĩa Nó không chỉ là cơ sở cung cấp ngôn ngữ mới cho phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn mà còn rèn cho học sinh năng lực tổng hợp: nghe, nói, đọc, viết Từ năm 2002 - 2003 đến nay trong nội dung thay sách đã đưa vào loại văn
bản mới có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong việc giáo dục học sinh đó là Văn
bản nhật dụng Vậy cần có phương pháp dạy kiểu văn bản mới này như thế nào
để đạt hiệu quả cao là vấn đề nhiều giáo viên còn băn khoăn, trăn trở Từ thực tế giảng dạy tôi chọn đề tài " Một số kinh nghiệm dạy học văn bản nhật dụng”
làm vấn đề mong các đồng nghiệp đóng góp ý kiến
Trang 3II.GIỚI HẠN NGHiêN CỨU:
Từ khi thực hiện giảng dạy theo chương trình Ngữ văn mới, tôi đã tham gia giảng dạy các lớp 6,7, 8 Trong quá trình giảng dạy tôi và các đồng nghiệp trong tổ nhóm đã trao đổi và bàn bạc để đưa ra những phương pháp phù hợp với kiểu văn bản nhật dụng Chớnh vỡ thế trong sỏng kiến kinh nghiệm này, tụi chỉ
đề cập đến một số kinh nghiệm dạy học văn bản nhật dụng ở các lớp 6,7,8
Do điều kiện và thời gian nờn phạm vi nghiờn cứu của sỏng kiến kinh nghiệm chỉ áp dụng ở đối tượng học sinh của trường THCS Cổ Loa- Đông Anh-
Hà Nội
III Mục đích nghiên cứu
Trong bài viết này, tôi muốn đưa ra hướng giải quyết một số khúc mắc về kiến thức và phương pháp dạy học, từ đó có thêm kinh nghiệm để dạy tốt phần văn bản nhật dụng, đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình Ngữ văn THCS hiện nay
B NỘI DUNG nghiên cứu
I Cơ sở lý luận
M Goóc- Ki đã từng nói:“Văn học là nhõn học” Là một môn học thuộc
nhóm khoa học xã hội, môn Văn có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người Hơn bất cứ hoạt động ý thức tinh thần nào, Văn học có khả năng đặc biệt trong việc phát hiện và diễn tả sự bí ẩn, huyền diệu và vô tận của đời sống tâm linh, tính cách của con người Đồng thời
là môn học thuộc nhóm công cụ, môn Văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác Học tốt môn Văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Văn Điều đó đặt ra yêu cầu trong dạy học là tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống Càng ngày Đảng và nhà nước ta càng quan tâm tới sự nghiệp giáo dục chung Nghị quyết số 02/NQ-HNTW khoá VIII của Đảng đã nêu bật yêu cầu:
"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học"
Định hướng chung về đổi mới PPDH đó được qui định trong “Luật giỏo
dục” và được cụ thể hoỏ trong những định hướng xõy dựng chương trỡnh và
Trang 4biờn soạn sỏch giỏo khoa THCS Định hướng đú là: “phương phỏp giỏo dục phổ
thụng phải phỏt huy tớnh tớch cực, tự giỏc, chủ động, sỏng tạo của học sinh; phự hợp với đặc điểm của từng lớp học, mụn học; bồi dưỡng phương phỏp tự học, rốn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tỏc động đến tỡnh cảm, đem lại niềm vui, hứng thỳ học tập cho học sinh”.
Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng chương trình biên soạn lại SGK các môn học theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp dạy học Đặc biệt trong chương trình Ngữ văn THCS mới hiện nay được xây dựng theo tinh thần tích hợp Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí kiểu văn bản và tương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm chứ không phải là sự lựa chọn theo lịch sử văn học về nội dung Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng, phù hợp với tâm lý lứa tuổi THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại những vấn đề quen thuộc, gần gũi hàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quân tâm đến
Văn bản Nhật dụng trong chương trình ngữ văn THCS mang nội dung “gần
gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại”, hướng người học tới những vấn đề thời sự hằng ngày mà mỗi
cá nhân, cộng đồng đều quan tâm như môi trường, dân số, sức khoẻ cộng đồng quyền trẻ em Do đó, những văn bản này giúp cho người dạy dễ dàng đạt được mục tiêu: tăng tính thực hành, giảm lý thuyết, gắn bài học với thực tiễn
Xuất phát từ thực tế đó tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn để trang bị cho mình PPDH có hiệu quả những văn bản nhật dụng
II Cơ sở thực tiễn
1 Thực trạng học tập môn Ngữ văn của học sinh.
Hiện nay học sinh còn xem nhẹ những môn xã hội nói chung, môn Ngữ văn nói riêng Cũng chính vì thế mà chất lượng học văn chưa cao Học sinh không say mê, yêu thích môn học mà say mê vào những môn mang xu hướng thời cuộc như tiếng Anh, Tin học…Vẫn còn rất nhiều học sinh chưa có ý thức tự giác trong học tập, mải chơi, bị lôi cuốn vào các trò chơi điện tử làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em Các em học sinh vẫn còn thói quen thụ động, ghi nhớ máy móc những gì giáo viên nói, chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học Đa số học sinh chưa chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng của văn học vào thực tế cuộc sống, ít biết liên hệ giữa thực tế cuộc sống với văn học Từ
đó dẫn đến việc học sinh ít nắm bắt, quan tâm hoặc thờ ơ với những vấn đề nóng
Trang 5hổi bức thiết của đời sống xã hội trong và ngoài nước Chính vì thế lại càng đòi hỏi người giáo viên đặc biệt là giáo viên Ngữ văn phải tạo được giờ học thu hút học sinh, làm cho học sinh mong chờ đến giờ học Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với nghề nghiệp, tìm ra được những thuận lợi - khó khăn trong giờ học để kịp thời uốn nắn, rút kinh nghiệm cho mình
2 Thực tế giảng dạy của giáo viên
Chương trình SGK THCS đưa vào học một số văn bản mới, đó là văn bản nhật dụng Văn bản này chiếm số luợng không nhiều (chỉ chiếm 10% trong chương trình SGK THCS), nhưng trước đó lí luận dạy học chưa từng đặt vấn đề PPDH văn bản nhật dụng Cho nên giờ giảng dạy và học tập văn bản nhật dụng gặp không ít khó khăn Nhiều ý kiến cho rằng: “chất văn” trong văn bản nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biến giờ Ngữ văn thành bài thuyết minh
về một vấn đề Lịch sử, Sinh học hay Pháp luật, dẫn đến hiệu quả các tiết dạy học các loại văn bản này chưa cao
Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình Ngữ văn thay sách 5 năm, tôi nhận thấy mình và các đồng nghiệp còn bộc lộ một số hạn chế cả về phương pháp và kiến thức, nhất là phương pháp dạy các văn bản nhật dụng Cụ thể là: + Còn một số giáo viên coi các văn bản này là một thể loại cụ thể giống như truyện, kí
+ Giáo viên thuờng chú ý khai thác và bình giá trên nhiều phương diện của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chú trọng đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh
+ Quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản với đời sống mà giáo viên chú ý nhiều tới liên hệ thực tế, dẫn đến việc khai thác kiến thức cơ bản chưa
đầy đủ
+ Vốn kiến thức của một số giáo viên còn hạn chế, thiếu sự mở rộng
+ Giáo viên chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biện pháp tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho HS
+ Về phương tiện dạy học mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ, tranh ảnh minh hoạ trong khi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem những đoạn
băng ghi hình sẽ sinh động hơn rất nhiều Ví dụ như văn bản “ Động Phong Nha”, “Ca Huế trên sông Hương” nhưng còn một số giáo viên chưa chú ý đến
vấn đề này
+ Một số giáo viên còn có tâm lý phân vân không biết có nên sử dụng phương pháp giảng bình khi dạy những văn bản này không và nếu có thì nên sử dụng ở mức độ như thế nào?
Trang 6+ Giờ dạy còn đơn điệu, chưa thực sự thu hút sự chú ý của học sinh.
3 Nguyên nhân của thực trạng trên là:
- Văn bản nhật dụng mới được đưa vào giảng dạy, số lượng văn bản không nhiều nên giáo viên còn thấy mới mẻ, ít có kinh nghiệm, lúng túng về phương pháp
- Một số giáo viên chưa có kĩ năng sử dụng bài giảng điện tử nên việc mở rộng kiến thức cho các em bằng âm thanh, hình ảnh còn hạn chế
Chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng
- Chưa có ý thức sưu tầm tư liệu có liên quan đến văn bản như tranh ảnh, văn thơ , nhạc để bổ sung cho bài học thêm phong phú
- Học sinh còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mà chưa có ý thức chuẩn
bị bài ở nhà, chưa chủ động sưu tầm tài liệu có liên quan tới bài học…
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Một số
kinh nghiệm trong giảng dạy văn bản nhật dụng ở trường THCS” để góp
phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản nhật dụng và để học sinh yêu thích giờ học Văn hơn
Trang 7III Một số kinh nghiệm dạy học văn bản nhật dụng
1 Nắm bắt hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS
Để có thể dạy tốt các văn bản nhật dụng, người giáo viên trước tiên cần phải nắm chắc các văn bản nhật dụng sẽ dạy ở các khối lớp.Ví dụ như bảng thống kê dưới đây:
văn bản
Ngữ văn 6
- Cầu Long Biên-chứng nhân lịch sử
- Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
- Động Phong Nha
- Di tích lịch sử
- Quan hệ giữa thiên nhiên và con người
- Danh lam thắng cảnh
Ngữ văn 7
- Cổng trường mở ra
- Mẹ tôi
- Cuộc chia tay của những con búp bê
- Ca Huế trên sông Hương
- Nhà trường
- Người mẹ
- Quyền trẻ em
- Văn hoá dân tộc
Ngữ văn 8
- Thông tin về ngày trái đất năm 2000
- Ôn dịch, thuốc lá
- Bài toán dân số
- Môi trường
-Tệ nạn xã hội
- Dân số
Ngữ văn 9
- Đấu tranh cho một thế giới hoà bình
- Phong cách Hồ Chí Minh
- Tuyên bố thế gíới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
- Bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh
- Hội nhập với thế giới
và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc
- Quyền sống của con người
Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản nhật dụng được phân phối dạy học
đều khắp ở các khối lớp, bình quân mỗi khối lớp được học đọc – hiểu 3 văn
Trang 8bản ý nghĩa nội dung các văn bản này đều là những vấn đề gần gũi, quen thuộc, bức thiết đối với con người và cộng đồng xã hội hiện đại Cùng với sự phát triển
về tâm lý và nhận thức của học sinh, các vấn đề đựơc đề cập trong các văn bản nhật dụng ngày một phức tạp hơn Bởi vậy việc nắm bắt những nội dung cơ bản của các văn bản nhật dụng trên sẽ giúp người giáo viên có định hướng phù hợp khi dạy kiểu văn bản này ở các khối lớp
2 Xác định đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản nhật dụng
* Đặc điểm chung
Văn bản nhật dụng là gì? Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hay kiểu văn bản Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản
Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK ngữ văn THCS tồn tại dưới nhiều kiểu văn bản khác nhau Đó có thể là văn bản thuyết minh “Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử”, “Ca Huế trên sông Hương”, “Động Phong Nha”, văn bản
biểu cảm “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”, “Mẹ tôi”, “Cổng trường mở ra”, văn bản
nghị luận “ Đấu tranh cho một thế giới hoà bình”, “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” Đó có thể là một bài báo
thuyết minh khoa học “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”, “ Ôn dịch, thuốc lá”, nhưng cũng có thể là một văn bản Văn học thuộc loại tự sự “Cuộc chia tay của những con búp bê” Từ các hình thức đó, những vấn đề thời sự cập nhật của
cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ đánh thức và làm giàu tình cảm
và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi người học giúp các em dễ hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sống
* Đặc điểm riêng của từng văn bản
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 6.
“Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” là văn bản mở đầu cho cụm bài văn
bản nhật dụng được dạy học ở lớp 6 Đây là bài viết giới thiệu cây cầu Long Biên, một di tích lịch sử nổi tiếng và quen thuộc ở thủ đô Hà Nội với vai trò là nhân chứng đau thương của việc thực dân Pháp xây dựng cây cầu sắt với quy mô lớn, nhằm phục vụ cho cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của chúng, nhất là nhân chứng lịch sử gian lao và hào hùng của dân tộc ta trong suốt hai cuộc
Trang 9kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Bằng các sự kiện, các tư liệu chính xác về cây cầu, lồng trong các hình ảnh nhuần thấm cảm xúc suy tư của tác giả, cầu Long Biên đã hiện lên như một hình tượng sống động và chân thực, vừa gần gũi vừa thiêng liêng trong cảm nhận của mỗi người đọc Việt Nam thuộc nhiều thế
hệ, nhất là thế hệ trẻ, bồi đắp thêm không chỉ tình yêu đối với cầu Long Biên mà còn khơi dậy ở họ lòng tự hào cùng ý thức giữ gìn và quảng bá đối với các di tích lịch sử trên đất nước yêu quý của chúng ta
Nội dung ấy toát lên từ lối văn thuyết minh đan cài tư liệu với hình ảnh và cảm xúc của người viết, mà nếu nhìn từ góc độ phương thức biểu đạt thì đó sẽ là kiểu thuyết minh có kết hợp miêu tả và biểu cảm, nếu quan niệm về thể loại văn học thì đây là bài bút kí
“ Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” là bức thư của thủ lĩnh Xi–at-tơn trả lời tổng
thống thứ 14 của nước Mĩ, được xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên và môi trường Nhìn dưới góc độ phương thức biểu đạt thì đây là văn bản biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự Văn bản đã toát lên một ý nghĩa sâu sắc: Con người phải sống hoà hợp với thiên nhiên, phải chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ chính mạng sống của mình
“ Động Phong Nha” là bài giới thiệu về “Đệ nhất kì quan” của tỉnh Quảng
Bình với bảy cái nhất : hang động dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, bãi cát bãi đá rộng và đẹp nhất, có những hồ ngầm đẹp nhất, hang khô rộng và đẹp nhất, thạch nhũ tráng lệ và đẹp nhất, sông ngầm dài nhất Phương thức biểu đạt thuyết minh kết hợp với miêu tả và biểu cảm không chỉ cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết tỉ mỉ về danh thắng Phong Nha mà còn gợi tưởng tượng và ham muốn khám phá một không gian thiên tạo kì thú đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà thám hiểm, khách du lịch trong và ngoài nước
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 7.
“ Cổng trường mở ra”là bài văn ghi lại tâm trạng hồi hộp của một người mẹ
trong đêm chuẩn bị cho con khai trường để vào lớp Một Phương thức biểu đạt chính của văn bản này là biểu cảm
Vậy ý nghĩa nhật dụng của bài văn là gì? Người mẹ đã hồi hộp trong cái đêm trước ngày con vào lớp Một đâu chỉ vì lo lắng cho con mà còn có niềm vui về ngôi trường thân yêu đã lưu giữ bao kỉ niệm thân thương của đời mẹ, niềm hi vọng vào con, mái trường thân yêu sẽ mở ra ánh sáng và tương lai cho mỗi con người Đó là ý nghĩa cập nhật của văn bản nhật dụng này
“ Mẹ tôi”được trình bày dưới dạng một bức thư Từ việc phạm lỗi của đứa con
đối với mẹ mà người cha bộc lộ cảm xúc và suy tư về tình sâu nghĩa nặng của
Trang 10người mẹ Xét về thể loại thì đây là bài tuỳ bút, còn xét về phương thức biểu đạt thì đây là văn bản biểu cảm
Từ những lời tâm tình, khuyên nhủ của người cha đã hiện lên hình ảnh một người mẹ cao cả và lớn lao Người mẹ ấy đã thức suốt đêm khi con bị ốm và đau
đớn quằn quại vì lo sợ mất con Người mẹ ấy có thể làm tất cả, có thể chịu mọi
đau khổ bất hạnh để cho con đỡ đau đớn, để cho con sống hạnh phúc Vì thế “
ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ, và tình cảm thiêng liêng cao quý hơn cả là tình cảm yêu thương kính trọng đối với cha mẹ” Đó cũng là nội
dung cập nhật của văn bản này
“Cuộc chia tay của những con búp bê” là truyện ngắn Thành công của văn
bản này là sự kết hợp nhuần nhuyễn của phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả
và biểu cảm Truyện viết về nỗi đau tinh thần tuổi thơ sống thiếu tình cảm của cha mẹ Nhưng chính từ bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng vị tha, tình cảm anh em càng thêm gắn bó Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn bó trong sự tan vỡ của gia đình, truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” toát lên vấn đề quyền sống của trẻ em đang bị đe doạ trong một xã
hội hiện đại đang cần đến sự quan tâm của mọi người
“Ca Huế trên sông Hương” là văn bản thuyết minh giới thiệu một nét đẹp
trong văn hoá cổ truyền xứ Huế, đó là dân ca Huế Đặc sắc của dân ca Huế không chỉ là sự phong phú của các điệu hò, điệu lí , không chỉ là sự hoà nhập của hai dòng nhạc dân gian và nhạc cung đình mà còn là cách sinh hoạt độc đáo của nó: thời gian ban đêm, không gian trên sông Hương, người đàn, người hát và nghe cùng ngồi trên thuyền
Đọc bài văn này, học sinh hiểu thêm rằng cố đô Huế không chỉ có các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng mà còn nổi tiếng bởi các làn điệu dân
ca và âm nhạc cung đình Ca Huế là một sản phẩm tinh thần đáng trân trọng cần
được bảo tồn và phát triển Từ đó học sinh có nhu cầu mở rộng hiểu biết dân ca các vùng miền đất nước và củng cố thêm tình yêu đối với truyền thống văn hoá dân tộc
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 8.
“Thông tin về ngày trái đất năm 2000” là văn bản thuyết minh trình bày về
tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khoẻ con người Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận lại thói quen dùng bao bì ni lông để có hành động thiết thực bảo vệ môi trường sống của chúng ta bằng cách hưởng ứng lời kêu gọi:
“Một ngày không dùng bao bì ni lông” Thông điệp này chính là nội dung nhật
dụng của văn bản “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”