MỤC LỤC 1.Tổng quan MARC 1.1 Sự cần thiết của MARC 1.2. Lịch sử hình thành 1.3. Đặc điểm MARC 2.Cấu trúc 2.1. Cấu trúc biểu ghi 2.2. Phạm vi ứng dụng của khổ mẫu thư mục MARC 2.3. Loại bản ghi thư mục 2.4. Thành phần của biểu ghi 2.4.1 Đầu biểu 2.4.2Danh mục 2.4.3.Các trường độ dài biến động. 3. MARC 21 3.1 Phạm vi áp dụng của khổ mẫu thư mục 3.2 Thành phần của biểu ghi MARC 21 3.3 Một số quy ước 3.4 Nguyên tắc phát triển 3.5 Các tiêu chuẩn thông dụng 4. Các ứng dụng của MARC 5. Tổng quan về MARC XML 5.1. Đặc điểm 5.2. Tính năng và sử dụng
Trang 12.1 Cấu trúc biểu ghi
2.2 Phạm vi ứng dụng của khổ mẫu thư mục MARC
2.3 Loại bản ghi thư mục
2.4 Thành phần của biểu ghi
2.4.1 Đầu biểu
2.4.2Danh mục
2.4.3.Các trường độ dài biến động.
3 MARC 21
3.1 Phạm vi áp dụng của khổ mẫu thư mục
3.2 Thành phần của biểu ghi MARC 21
Trang 21 Tổng quan MARC
1.1.Sự cần thiết của MARC
Việc ứng dụng máy tính điện tử vào hoạt động thông tin- thư viện đã dẫn đến sự rađời của các khổ mẫu mô tả tài liệu thư viện máy tính tính đọc được (machine-readable) Rất nhiều nước trên thế giới đã phát triển các khổ mẫu MARC (viết tắt
từ MAchine Readable Cataloguing) cho hệ thống thư viện của mình từ nhiều nămnay Cộng đồng thông tin-thư viện ở Việt Nam đã bắt đầu hoạt động tin học hoácông tác thông tin thư viện từ giữa những năm 1980 với việc xây dựng các cơ sở
dữ liệu (CSDL) thư mục, trong đó có những CSDL về sách, tạp chí, báo cáo kếtquả nghiên cứu, luận án/luận văn, Do nhiều nguyên nhân khác nhau như chưa cókinh nghiệm, sự phát triển mang tính tự phát, thiếu sự phối hợp, v.v nên cácCSDL thư mục ở Việt Nam có cấu trúc mang tính cục bộ, không thống nhất, khôngtuân thủ những khổ mẫu quốc tế Vì thế ảnh hưởng không nhỏ đến việc trao đổi dữliệu, đến sự phát triển hoạt động tiêu chuẩn hoá của ngành thông tin-thư viện Nhậnthức được vai trò của công tác chuẩn hoá khổ mẫu thư mục nhằm tạo điều kiện choviệc trao đổi dữ liệu thư mục giữa các tổ chức thông tin thư viện, từ một vài nămnay Trung tâm Thông tin Thông tin Tư liệu KHCN Quốc gia đã đầu tư nghiên cứuphát triển khổ mẫu MARC làm cơ sở cho việc tiến tới xây dựng một khổ mẫu thưmục thống nhất cho các tổ chức thông tin và thư viện ở Việt Nam
- Khổ mẫu được xây dựng dựa trên nền tảng khổ mẫu MARC 21, do đó để thể hiệnđây là một dạng MARC 21, nên có phần trong trên có chữ MARC 21
- Khổ mẫu được phát triển phù hợp cho Việt Nam, do đó nên chứa cụm từ "Việt Nam"
Trang 3- Ðây không phải là một khổ mẫu đầy đủ các trường mà MARC 21 đề xuất, mà chỉbao gồm những trường quan trọng, dựa trên nền tảng MARC 21 Lite, do đó nên có cụm từ "Rút gọn".
1.2 Lịch sử hình thành
Khổ mẫu MARC
• Machine Readable Cataloguingcó nghĩa là biên mục đọc được bằng máy
• Machine Readeble “có thể đọc được bằng máy” có nghĩa là một loại máy
cụ thể, một máy tính có thể đọc và diễn giải dữ liệu theo khổ mẫu biên mục
• Cataloguing Record “khổ mẫu biên mục” có nghĩa là một biểu ghi thư mụchoặc những thông tin trên một tấm phiếu mục lục truyền thống
• Năm 1966 lần đầu tiên Thư viện Quốc hội Mỹ xuất bản tập quy tắc của khổmẫu MARC MARC là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Machine ReadableCataloging có nghĩa là biên mục đọc được bằng máy Khổ mẫu MARC làmột mô tả có cấu trúc, dành riêng cho các dữliệu thư mục được đưa vào máytính điện tử Nó là khổ mẫu cho phép máy tính lưu giữ và truy xuất thôngtin Khổ mẫu MARC do Thư viện Quốc hội Mỹ xây dựng đầu tiên và sửdụng nên còn gọi là USMARC Sau khi được chỉnh lý vào năm 1968, formatMARC là cơ sở cho sự ra đời của một loạt các format quốc gia như:CAN.MARC của Canada, UK.MARC của Anh, AUS.MARC của Úc,INTERMARC của Pháp, IBERMARC của Tây Ban Nha Mỗi hệ thống biênmục sử dụng format MARC đều có hướng dẫn riêng về hệ thống phân cách
và hình thức trình bày các biểu ghi của mình Năm 1997 USMARC của Thưviện Quốc hội Mỹ kết hợp với CANMARC của Thư viện Quốc gia Canadatạo thành MARC21 và trở thành format chuẩn được nhiều phần mềm quảntrị thư viện sử dụng
• Bao gồm 4 phần:
- Mô tả (Description)
Trang 4- Điểm truy cập chính và những điểm truy cập thêm (main entry and add entries)
- Đề mục chủ đề (Subject Headings)
- Số để gọi biểu ghi (MFN – Call number)
• Nó là khổ mẫu cho phép máy tính lưu trữ và truy xuất thông tin Mục lục thưmục hóa bao gồm các biểu ghi theo khổ mẫu MARC
Hai nhóm chịu trách nhiệm chính về MARC 21:
• Uỷ ban Thông tin thư mục đọc máy MARBI (Machine ReadableBibliographic Information Committee), của ALA
• Uỷ ban Tư vấn về MARC: gồm các đại diện của các thư viện quốc gia, các
tổ chức thư mục, các nhóm cung cấp dịch vụ sản phẩm
• Năm 1997, TVQH Mỹ ban hành tài liệu "MARC 21 - Những đặc tả cho cấutrúc biểu ghi, bộ mã kỹ tự, và phương tiện trao đổi" (MARC 21 -Specifications for Record Structure, Character sets, and Exchange Media)Mục đích của MARC21
• Khổ mẫu MARC 21 là chuẩn để trình bày và trao đổi thông tin thư mục vềcác tài liệu văn bản được in và bản thảo, tệp tin, bản đồ, xuất bản phẩmnhiều kỳ, tài liệu nghe nhìn và những thông tin liên quan dưới dạng máy tínhđọc được (machine-readable)
• Được sử dụng để làm khổ mẫu biên mục cho các nước trên thế giới
2 Cấu trúc
2.1 Cấu trúc biểu ghi:
MARC 21 Việt Nam được thiết kế dựa trên Tiêu chuẩn Quốc tế Khổ mẫu trao đổiThông tin ISO 2709 Tiêu chuẩn này mô tả những yêu cầu về khổ mẫu tổng quáttrao đổi dữ liệu có thể phù hợp với việc mô tả dữ liệu của mọi loại hình tư liệu có
Trang 5thể cần mô tả thư mục cũng như những thông tin liên quan như các tệp kiểm soátnhập tin, phân loại, thông tin công cộng, thông tin về lưu kho.
Cấu trúc biểu ghi MARC 21 Việt Nam bao gồm các phần như sau:
- Chỉ dẫn đầu biểu ghi (tiếng Anh gọi là LEADER): là một trường dữ liệu đặc biệt
có độ dài cố định 24 ký tự chứa các thông tin về quá trình xử lý biểu ghi
- Danh bạ (tiếng Anh gọi là DIRECTORY): là phần tiếp sau ngay phần Thông tinđầu biểu, là một loạt nhóm dữ liệu chỉ dẫn về các trường dữ liệu có trong biểu ghi
- Các trường dữ liệu: là những trường dữ liệu có trong biểu ghi và chứa các dữ liệu
mô tả Các trường dữ liệu là trường có thể là loại có độ dài biến động (VariableFields) hoặc có độ dài cố định (Fixed-Length Field)
Bên trong vùng các trường dữ liệu, mỗi trường dữ liệu có hai loại mã xác định nộidung là: Chỉ thị (gồm hai ký tự, nếu có) và dấu phân cách trường con (gồm 2 kýtự) Giữa các trường sẽ có mã kết thúc trường Cuối mỗi biểu ghi có mã kết thúcbiểu ghi
Cấu trúc tổng quát của biểu ghi MARC 21 Việt Nam có thể được thể hiện như sau :Chỉ dẫn đầu biểu ghi
Danh bạ KTTTrường 2 KTT
Trường n KT TTrường KTTTrường 1 KTTKTBG
Trong đó:
Trang 6* KTT là mã kết thúc trường
* KTBG là mã kết thúc biểu ghi
Dữ liệu trong biểu ghi MARC được trình bày nối tiếp nhau, theo dòng dữ liệu KTBG
2.2 Phạm vi ứng dụng của khổ mẫu thư mục MARC
MARC 21 được sử dụng để làm một công cụ chứa thông tin thư mục về các tài liệuvăn bản in và bản thảo, tệp tin, bản đồ, bản nhạc, xuất bản phẩm nhiều kỳ, tài liệunghe
nhìn và các tài liệu hỗn hợp Khổ mẫu thư mục chứa các yếu tố dữ liệu cho các loạihình tài liệu sau:
- Sách - sử dụng cho các tài liệu văn bản được in, bản thảo và các tài liệu vi hình
có bản chất chuyên khảo
- Xuất bản nhiều kỳ - sử dụng cho tài liệu văn bản được in, bản thảo và các tài liệu
vi hình mà nó được sử dụng rộng rãi ở dạng từng phần với phương thức xuất bảnlặp lại (như ấn phẩm định kỳ, báo, niên giám…)
- Tệp tin - sử dụng cho phần mềm máy tính, dữ liệu số, các tài liệu đa phương tiệnđịnh hướng cho sử dụng bằng máy tính, hệ thống hay dịch vụ trực tuyến Các
loại thông tin điện tử khác đã mã hóa theo khía cạnh quan trọng nhất của chúng
- Bản đồ - sử dụng cho tài liệu bản đồ được in, bản thảo và vi hình bao gồm tậpbản đồ, bản đồ riêng lẻ và bản đồ hình cầu Tài liệu có thể có bản chất chuyênkhảo hay xuất bản nhiều kỳ
- Âm nhạc – sử dụng bản nhạc in, bản thảo và vi hình cũng như nhạc ghi âm vànhững tài liệu ghi âm không phải nhạc khác Tài liệu có bản chất chuyên khảohay xuất bản nhiều kỳ
- Tài liệu nhìn-sử dụng cho những loại tài liệu chiếu hình, không chiếu hình, đồhọa hai chiều, vật phẩm nhân tạo hay các đối tượng gặp trong tự nhiên ba chiều,
Trang 7các bộ tài liệu Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hay xuất bản nhiều kỳ.
- Tài liệu hỗn hợp - sử dụng chủ yếu cho những sưu tập lưu trữ và bản thảo củahỗn hợp các dạng tài liệu Tài liệu có thể có bản chất chuyên khảo hay xuất bảnnhiều kỳ
2.3 Loại bản ghi thư mục
Biểu ghi thư mục MARC 21 Việt Nam rút gọn được phân biệt với những loại biểu ghi đặc biệt khác ở mã ghi trong vị trí số 06 của vùng đầu biểu, trong đó xác định các loại hình biểu ghi sau:
- Tư liệu ngôn ngữ
- Ghi âm không phải âm nhạc
- Ghi âm âm nhạc
- Tư liệu chiếu
- Vật phẩm hai chiều không chiếu được
- Vật phẩm nhân tạo 3 chiều hoặc đối tượng tự nhiên
- Bộ tư liệu (Kit)
- Tư liệu hỗn hợp
2.4 Thành phần của biểu ghi
Một biểu ghi thư mục MARC bao gồm 3 thành phần chủ yếu: đầu biểu, danh mục
và các trường độ dài biến động Những thông tin sau đây giới thiệu tóm tắt cấu trúcmột biểu ghi MARC Chi tiết đầy đủ hơn được trình bày trong tài liệu Đặc tả
Trang 8MARC 21 cho cấu trúc biểu ghi, bảng mã ký tự và môi trường trao đổi (tại website
http://www.loc.gov/marc/specifications)
2.4.1 Đầu biểu
Những yếu tố dữ liệu cung cấp thông tin cho việc xử lý biểu ghi Các yếu tố dữ liệu phần này chứa các con số hoặc giá trị mã hoá và được xác định bởi vị trí ký tự tương đối Phần đầu biểu có độ dài cố định 24 ký tự và đây là trường đầu tiên của một biểu ghi MARC
2.4.2 Danh mục
Một loạt những mục trường trong đó mỗi mục chứa nhãn trường thông tin, độ dài,
vị trí bắt đầu của mỗi trường có độ dài biến động trong biểu ghi Mỗi mục trường
có độ dài 12 ký tự Những mục trường danh mục của các trường kiểm soát có độ dài biến động được trình bày trước và theo trình tự nhãn trường tăng dần Tiếp sau
là những mục trường của các trường có độ dài biến động, được xếp theo thứ tự tăng dần theo ký tự đầu tiên của nhãn trường Trình tự lưu trữ của các trường dữ liệu có độ dài biến động trong biểu ghi không nhất thiết phải trùng hợp với thứ tự của các mục trường trong vùng Danh mục Những nhãn trường lặp lại được phân biệt bằng vị trí của những trường tương ứng trong biểu ghi Danh mục được kết thúc bằng một ký tự kết thúc trường (một mã ASCII 1E hex)
2.4.3.Trường dữ liệu
Dữ liệu trong bản ghi thư mục MARC được tổ chức thành trường có độ dài biếnđộng, mỗi trường được xác định bằng một nhãn trường ba ký tự Nhãn này
được lưu trong mục trường tương ứng của trường tại vùng Danh mục Mỗi
trường kết thúc bằng một ký tự kết thúc trường Trường có độ dài biến động
cuối cùng trong bản ghi được kết thúc bằng một ký tự kết thúc trường và một ký
tự kết thúc bản ghi (mã ASCII 1D hex)
Trang 9Trường dữ liệu bao gồm hai loại:
- Trường kiểm soát có độ dài biến động
Các trường kiểm soát được ký hiệu là Nhóm trường 00X (trong đó X có thể là các
số từ 1 đến 9) Những trường này được xác định bằng một nhãn trường trong Danhmục Các trường kiểm soát không có chỉ thị và trường con Những trường kiểm soát
có độ dài biến động có cấu trục khác với trường dữ liệu có độ dài biến động
Chúng
có thể chứa hoặc một yếu tố dữ liệu đơn trị hoặc một loạt những yếu tố dữ liệu có
độ dài cố định được quy định cụ thể cho từng vị trí ký tự tương ứng
- Trường dữ liệu có độ dài biến động
Trường dữ liệu có độ dài biến động bao gồm những trường còn lại được xác địnhtrong khổ mẫu Các trường này cũng được xác định bằng một nhãn trường dài ba ký
tự trong Danh mục Ngoài ra, khác với trường kiểm soát, các trường dữ liệu có độdài biến động có hai vị trí chỉ thị ở đầu của mỗi trường và mã trường con dài hai ký
tự trước mỗi trường dữ liệu con bên trong trường
Trường dữ liệu có độ dài biến động sắp xếp thành khối trường và có thể nhận
biết theo ký tự đầu tiên của nhãn trường Ký tự này, ngoại trừ một vài ngoại lệ, xácđịnh yếu tố của dữ liệu bên trong bản ghi Kiểu thông tin chi tiết hơn của từngtrường được xác định bằng hai ký tự còn lại của nhãn trường
Bảng 1: Các khối trường của MARC 21
Trang 10Nhan đề và thông tin liên quan đến nhan đề (nhan đề, lần
xuất bản, thông tin về in ấn)
3 KHỔ MẪU THƯ MỤC RÚT GỌN MARC 21 VN
Khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn cho dữ liệu thư mục được thiết kế để nhập các thông tin thư mục về các dạng tư liệu in hoặc bản thảo, tài liệu điện tử, tệp tin máy tính, bản đồ, bản nhạc, tư liệu nghe nhìn, tài liệu đa phương tiện và tư liệu hỗnhợp Khổ mẫu bao gồm những chuẩn để trình bày và trao đổi thông tin thư mục và những thông tin liên quan dưới dạng máy tính đọc được giữa các tổ chức thông tin
và thư viện của Việt Nam
3.1 Phạm vi áp dụng của khổ mẫu thư mục:
Trang 11Dữ liệu thư mục thông thường chứa các thông tin về nhan đề, tên người hoặc tổ chức, chủ đề, phụ chú, thời gian xuất bản, nhà xuất bản, nơi xuất bản, thông tin về đặc trưng vật lý của đối tượng mô tả,v.v Khổ mẫu này được thiết kế để chứa các thông tin thư mục cho các loại hình tư liệu sau:
tố cơ bản cần có, có tính đến sự tương hợp quốc tế Trong quá trính ứng dụng thực
tế, sẽ xem xét việc tiếp tục bổ sung những yếu tố cần thiết do đòi hỏi của thực tế hoạt động biên mục yêu cầu
Tài liệu vi hình (Vi phim, vi phiếu), dù là nguyên bản hay là được tạo ra từ nguyên bản, không được xác định như một loại biểu ghi Dạng Biểu ghi cảu vi hình xác định dựa vào nguyên bản mà nó chứa thông tin (thí dụ là tài liệu ngôn ngữ nếu là viphiếu của một quyển sách)
3.2.Thành phần của biểu ghi MARC 21
Biểu ghi của MARC 21 Việt Nam bao gồm 3 thành phần quan trọng:
- Cấu trúc biểu ghi
- Mã xác định nội dung
- Nội dung dữ liệu
Trang 12Cấu trúc biểu ghi MARC 21 Việt Nam (Record Structure) là một phát triển ứng dụng dựa trên cơ sở tiêu chuẩn quốc tế ISO 2709 về Khổ mẫu trao đổi thông tin (Format for information exchange ISO 2709).
Mã xác định nội dung (Content Designators) là các mã và những quy định được thiết lập để xác định một cách rõ ràng các yếu tố dữ liệu có trong biểu ghi và hỗ trợviệc xử lý những dữ liệu này Mã xác định nội dung là nhãn trường, dấu phân cách trường con, v.v
Nội dung Dữ liệu (Content data) được xác định bởi các chuẩn bên ngoài khổ mẫu như chuẩn mô tả ISBD, chuẩn mã ngôn ngữ, chuẩn mã nước, từ điển từ
chuẩn Một số mã được xác định bởi chính khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn.Khổ mẫu MARC 21 Việt Nam rút gọn là một tập hợp các mã thông tin và các mã xác định nội dung được quy định để mã hoá biểu ghi thư mục máy tính đọc được phục vụ trao đổi thông tin
3.3 Một số quy ước
Những quy ước đánh máy sau sử dụng trong tài liệu này:
0 - Ký tự này thể hiện số không (zero) trong nhãn trường, vị trí cố định của ký tự,
vị trí của chỉ thị
# - Ký tự đồ hoạ # thể hiện khoảng trống (hex 20) trong những trường mã hoá, vị trí không xác định của chỉ thị hoặc trong những tình huống đặc biệt mà ký tự
khoảng trống có thể gây nhầm lẫn
$ - Ký tự $ (hex 1F) được sử dụng để thể hiện dấu phân cách trường con đi trước
ký hiệu trường con Thí dụ $a thể hiện dẫu phân cách trường con a
3.4 Nguyên tắc phát triển
Số lượng trường trong khổ mẫu sẽ không cố định mà có thể bổ sung để đáp ứng nhu cầu phát triển Những nhãn trường và trường con quy định trong khổ mẫu này
Trang 13là tập hợp cơ bản cho các biểu ghi thư mục để các tổ chức có liên quan nghiên cứu
áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của tổ chức mình
Các tổ chức, cá nhân chấp nhận sử dụng khổ mẫu này có thể đưa thêm vào những trường và trường con khác nhưng phải tuân thủ nguyên tắc sau:
- Nếu trường dữ liệu cần bổ sung thêm đã có trong bản MARC21 đầy đủ do Thư viện Quốc hội Mỹ ban hành thì sử dụng những nhãn trường và trường con đã được quy định trong MARC21
- Nếu trường dữ liệu cần bổ sung có tính đặc thù và cục bộ của riêng tổ chức, không mang tính chất chung cho tất cả tổ chức khác thì lựa chọn nhãn trường thuộcnhóm số X9X và 9XX: nhãn trường cục bộ
3.5.Một số chuẩn, tiêu chuẩn MARC
MARC 21
Các khổ mẫu MARC 21 là những tiêu chuẩn để trình bày và trao đổi dữ liệu thư mục và các thông tin có liên quan theo một định dạng mà máy tính có thể đọc được Các chuẩn MARC 21 được Thư viện Quốc hội Mỹ duy trì
UNIMARC
Chuẩn MARC do Liên đoàn các Hiệp hội Thư viện Quốc tế (IFLA) xây dựng vàduy trì từ năm 1977 Tuy nhiên, xét về phạm vi ứng dụng toàn cầu, UNIMARC không phổ biến như MARC 21 UNIMARC được Pháp coi là chuẩn MARC quốc gia (3)
CÁC TIÊU CHUẨN VÀ TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN KHỔ MẪU
Khổ mẫu MARC 21 cho dữ liệu thư mục nên được sử dụng với các tiêu chuẩn và các tài liệu liên quan sau Tại những trường phải sử dụng tiêu chuẩn, tên tiêu chuẩn
sẽ được ghi rõ kèm theo số hiện tiêu chuẩn để trong ngoặc
Các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia