Trong vài thập niên qua chúng ta đã và đang chứng kiến sự bùng nổ thông tin, lượng tài liệu gia tăng nhanh chóng. Thêm vào đó là xu hướng hợp tác hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi các cơ quan thông tin thư viện cần đẩy mạnh hợp tác. Để có thể hợp tác và có thể tiếp cận một cách thuận lợi các thông tin thư mục thì vấn đề đặt ra cho các cơ quan thông tin thư viện là phải chuẩn hóa công tác biên mục
Trang 1BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN:
THƯ VIỆN SỐ
ĐỀ TÀI: MARC 21 VÀ MARC XML
MỤC LỤC CHƯƠNG 1 : KHỔ MẪU BIÊN MỤC MARC 21
1.1. Khái quát về khổ mẫu biên mục MARC 21………
1.1.1. MARC là gì ?
1.1.2. Khổ mẫu biên mục MARC 21………
1.2. Cấu trúc khổ mẫu biên mục đọc máy MARC 21………
1.2.1. Cấu trúc biểu ghi………
1.2.2. Chỉ định nội dung………
1.2.3. Các trường cơ bản trong MARC 21………
1.3. Những đặc trưng cơ bản của khổ mẫu biên mục MARC 21…………
CHƯƠNG 2: MARC- XML………
2.1 Tổng quan về XML
2.2 MARC – XML
Trang 2CHƯƠNG 1: KHỔ MẪU MARC 21 1.1 Khái quát về khổ mẫu Marc 21
1.1.1 MARC là gì?
*Khái niệm
Trong vài thập niên qua chúng ta đã và đang chứng kiến sự bùng nổthông tin, lượng tài liệu gia tăng nhanh chóng Thêm vào đó là xu hướng hợptác hóa, quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi các cơ quan thông tin thư việncần đẩy mạnh hợp tác Để có thể hợp tác và có thể tiếp cận một cách thuậnlợi các thông tin thư mục thì vấn đề đặt ra cho các cơ quan thông tin thư viện
là phải chuẩn hóa công tác biên mục
Năm 1960 cùng với sự cố gắng của tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO/TC
46 và sự hỗ trợ cử Hiệp hội Thư viện Quốc tế (IFLA), quy tắc mô tả thư mụctheo tiêu chuẩn quốc tế ISBD được biên soạn ISBD là tập hợp các quy trìnhtrình bày dữ liệu thư mục theo một quy định chặt chẽ cùng với các dấu hiệudung để xác định chúng Nó phân chia các dữ liệu thư mục thành từng vùng
và vùng con với những thuyết minh đủ chính xác về các vùng đó
Trong nỗ lực nhằm chuẩn hóa công tác biên mục, ngoài quy tắc mô tảthư mục ISBD còn có một số quy tắc của những tổ chức khác như AFNORcủa các nước nói tiếng Pháp, biên soạn và xuất bản các tập sách hướng dẫnviệc ghi chú thư mục Trong các nước nói tiếng Anh có quy tắc mô tả thưmục Anh- Mỹ AACR2( )…tạo thuận lợi cho việc sử dụng mục lục để tìm tàiliệu
Những năm 60 của thế kỷ XX, tin học được ứng dụng vào hoạt độngthư viện khiến cho nghề thư viện có sự thay đổi cả về lượng và chất hoạtđộng thư viện gắn với hoạt động thông tin, công tác lưu trữ thông tin gắn vớicông tác thông tin thư mục, biên mục được tự động hóa Trong quá trình biênmục tự động, những quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế ISBDchưa hoàn toàn thích nghi với xử lý tin học Các phương pháp xử lý tin họcđòi hỏi dữ liệu phải được cấu trúc hóa để máy tính có thể nhận biết được các
dữ liệu thư mục, các chỉ dẫn không những phải tuân theo quy trình chặt chẽ
Trang 3mà còn phải được trình bày theo một khổ mẫu thống nhất Biên mục đọc máyxuất hiện vào năm 1966 với khổ mẫu MARC đầu tiên của Thư viện Quốc hộiMỹ.
MARC là từ viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh là “ Machine readablecataloguing” Thuật ngữ này có nghĩa là biên mục có thể đọc bằng máy ”.còn khổ mẫu biên mục đọc máy được dịch đầy đủ từ thuật ngữ Machinereadable cataloguing format Theo giáo trình tin học trong hoạt động thôngtin thư viện của PGS.TS Đoàn Phan Tân thì khổ mẫu MARC được địnhnghĩa là một mô tả có cấu trúc riêng, dành riêng cho các dữ liệu được đưavào máy tính điện tử
*Vai trò
Trong vài thập niên qua MARC trở thành cộng cụ không thể thiếuđược của hoạt động biên mục tự động Dó là công cụ cần thiết để chuẩn hóabiên mục, chuẩn hóa việc tổ chức lưu trữ dữ liệu Những chỉ dẫn của khổmẫu MARC và các dấu hiệu quy ước giúp chương trình đọc biểu ghi và xử lý
dữ liệu đúng yêu cầu, bởi MARC là sự sắp xếp và trình bày theo một quy tắcnhất định, đảm bảo khả năng truy nhập, lưu trữ các dữ liệu và tìm tin bằngmáy tính Nghĩa là khổ mẫu biên mục đọc máy được xây dựng giúp các thưviện xây dựng các CSDL về tư liệu thư viện, qua đó tạo nên một bướcchuyển biến lớn trong hoạt động quản lý tài liệu và tra tim tài liệu Đây chính
là thành công lớn của quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong công táclưu trữ và tìm kiếm tài liệu, gắn với quá trình thực hiện tự động hóa công tácbiên mục trong quá trình xử lý thông tin Nếu như trước kia công tác biênmục được diễn ra một cách thủ công và mất nhiều thời gian bởi khi biên mụccán bộ thư viện phải đồng thời thể hiện các thông tin thư mục trên các phiếu
mô tả, đồng thời cũng phải xử lý lại chính những thông tin ấy để tạo lập thưmục thì nay, từ một CSDL các thông tin thư mục chỉ cần được xử lý cập nhậtmột lần, lưu trữ dưới một hình thức là các thông tin mã hóa, mã sổ trong máy
mà vẫn được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau
Vì vậy, có thể nói biên mục đọc máy đã giải quyết kịp thời những hạnchế: giảm bớt các thao tác trùng lặp, tiết kiệm thời gian cho cán bộ thư việntrong việc xử lý tài liệu, quản lý, phổ biến, trao đổi tài liệu Cụ thể là cácMARC được diễn đạt chi tiết thành tờ khai Worsheet, các tờ khai này thể
Trang 4hiện các trường cần nhập tin và các thông tin để nhập máy Khi có tờ khaiWorsheet, cán bộ thư viện đưa các dữ liệu mô tả vào các bản khai này đâychính là hoạt động xử lý tiền máy Thông tin sau khi được xử lý tiền máy sẽđược nhập máy với các chương trình đã được tạo lập của máy tính, các thôngtin có thể được lưu giữ, hiện hình, in ấn, tra cứu, cập nhật…theo yêu cầu củathư viện, qua đó tạo ra một bước thay đổi căn bản trong việc tìm kiếm tài liệucủa bạn đọc Bạn đọc có phương thức mới để có thể tra tìm tài liệu nhanhchóng thuận lợi Hơn nữa việc xây dựng CSDL còn giúp các thư viện có thểtrao đổi thông tin thư mục, giới thiệu CSDL của mình trên các mạng thôngtin trực tuyến, mở rộng không gian tra cứu cho bạn đọc, bạn đọc có thể tracứu tài liệu cũng như các thông tin thư mục cần thiết trên một mạng thông tinchung như mạng Interet nếu CSDL đó được kết nối mạng.
Tóm lại khổ mẫu biên mục đọc máy MARC là công cụ không thểthiếu được trong quá trình biên mục tự động Khổ mẫu cho phép máy tínhsắp xếp và lựa chọn dữ liệu biên mục theo một quy tắc thống nhất Nói cáchkhác MARC cho phép các thư viện chuẩn hóa các dữ liệu biên mục, tích hợptrao đổi dữ liệu, mở rộng các phương thức tiếp cập và tra tìm tài liệu thuậnlợi Chính MARC là một phương tiện thích hợp nhanh chóng đưa các thưviện xích lại gần nhau
1.1.2. Khổ mẫu MARC21
Khổ mẫu MARC 21 được chính thức ra đời từ năm 1997 Là một khổmẫu biên mục ra đời sau, song bản chất của MARC 21 không hề thay đổi ,
đó là bước phát triển tiếp theo của khổ mẫu MARC
Năm 1964, Thư viện Quốc hội Mỹ bắt đầu triển khai dự án thử nghiệmMARC, nhằm phân phối hàng tuần các băng đọc bằng máy cho 16 thư việnđược chọn lọc Các thư viện này xử lý các băng đọc bằng máy qua cácphương tiện thiết bị máy tính của bản thân họ, với yêu cầu chung lúc bấy giờ
là sản xuất mục lục bằng máy
Năm 1967, dự án nối tiếp là MARC II được thực hiện với sự tham giaban đầu của khoảng 50 thư viện đặt mua băng đọc bằng máy Phương ánMARC II chính thức ra đời vào năm 1968 đã đưa ra một khái niệm rất quantrọng về trao đổi dữ liệu trên những vật mang tin từ tính Cùng năm đó, Thư
Trang 5mục Quốc gia Anh bắt đầu hoạt động sau khi phát triển hệ thống MARC ởAnh và các băng đọc máy cũng được phân phối cho các thư viện cho đếnnăm 1969 MARC II đã khắc phục một số hạn chế của MARC I, làm cho khổmẫu của biểu ghi linh hoạt và mềm dẻo hơn MARC II sử dụng các trường
có độ dài thay đổi, mỗi biểu ghi có thể chứa một khối lượng thông tin rất lớn(6.000) ký tự và một số lượng đáng kể các yếu tố dữ liệu Ngoài các thôngtin có trong một mô tả thư mục đầy đủ theo AACR2, còn có thêm nhiềutrường nữa như ký hiệu phân loại thập tiến Dewey và ký hiệu phân loại củaThư viện Quốc hội Mỹ(LCC), các chỉ số chủ đề,… Tất cả các yếu tố này đều
có thể sử dụng làm điểm truy cập (access point) MARC II cũng dành chỗcho các thông tin bổ sung có tính chất cục bộ như ký hiệu xếp giá và phụ chú
về hiện trạng vốn tài liệu của từng thư viện cụ thể
Khổ mẫu MARC được sử dụng cho nhiều loại hình tài liệu như: sách,xuất bản phẩm nhiều kỳ, bản đồ, tài liệu điện tử,… MARC không chỉ thôngdụng trong phạm vi hai nước Anh, Mỹ và còn được sử dụng với những cảibiên nhất định ở các nước như: Úc, Canada, Pháp, Đức, Ha Lan, Nhật, NamPhi,…
Sau khi được chỉnh lý vào năm 1968, khổmẫu MARC đã là cơ sở cho
sự ra đời hàng loạt các khổ mẫu quốc gia như CANMARC của Canada,UKMARC của Anh, INTERMARC của Pháp, AUSMARC của Úc,IBERMARC của Tây Ban Nha, UNIMARC do Hiệp hội Thư viện Thế giới(IFLA) soạn thảo, MARC của Mỹ được gọi là USMARC,…
Năm 1997, Thư viện Quốc hội Mỹ và Thư viện Quốc gia Canada đãthống nhất USMARC và CANMARC để tạo thành MARC 21 (FormatMARC for 21st century - khổ mẫu MARC dùng cho thế kỷ 21) Từ đó đếnnay, MARC 21 đã trở thành khổ mẫu nổi tiếng và được sử dụng rộng rãi trênthế giới như một chuẩn quốc tế trong lĩnh vực thông tin – thư viện Một khốilượng khổng lồ các biểu ghi theo MARC 21 hiện đang được lưu trữ và traođổi thông tin qua các mục lục liên hợp của Hoa Kỳ (800 triệu biểu ghi), củamạng OCLC (50 triệu biểu ghi), của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ(20 triệubiểu ghi) Hầu hết các hệ quản trị thư viện lớn và nhỏ trên thị trường đều sửdụng MARC 21 như một lựa chọn chủ yếu Mới đây hệ thống ISSN quốc tế
Trang 6cũng đã quyết định sử dụng MARC 21 làm cơ sở để biên mục và trao đổi dữliệu về các xuất bản phẩm định kỳ trên phạm vi toàn cầu
Hai nhóm chịu trách nhiệm chính về MARC 21 là:
- Uỷ ban Thông tin Thư mục Đọc máy (Machine ReadableBibliographic Information committee – MARBI) của ALA
- Uỷ ban Tư vấn về MARC: gồm các đại diện của các thư viện quốcgia, các tổ chức thư mục, các nhóm cung cấp dịch vụ sản phẩm(bán hàng)
Cùng năm 1997, Thư viện quốc hội Mỹ đã ban hành tài liệu “MARC
21 – Những đặc tả cho cấu trúc biểu ghi, bộ mã ký tự và phương tiện traođổi” Cơ quan ban hành là Văn phòng Phát triển mạng và chuẩn MARC(Office of Network development and MARC standard)
MARC 21 hiện nay gồm 5 phần hoàn chỉnh hỗ trợ và bổ sung lẫn nhau
để hoàn chỉnh việc biên mục và kiểm soát dữ liệu:
- MARC 21 format for classification data: khổmẫu MARC 21 cho dữliệu phân loại
- MARC 21 format for holdings data: khổmẫu MARC 21 cho dữliệu
về vốn tài liệu
cho thông tin cộng đồng
dữ liệu thư mục, phần này nước ta đang tiến hành ứng dụng)
21 cho thông tin cộng đồng)
Ngoài ra còn có các tài liệu hỗ trợ khác như:
- MARC 21 code list for countries: danh mục mã nước
- MARC 21 code list for geographic: danh mục mã các khu vực địa
lý
- MARC 21 code list for languages: danh mục mã ngôn ngữ
- MARC 21 code list for organization: danh mục mã các tổ chức
Trang 7- MARC 21 code list for relators, sources and descriptiveconventions: danh mục mã cho các yếu tố liên quan, nguồn và quyước mô tả
- MARC 21 specifications for record structure, character sets andexchange media: các đặc tả cấu trúc biểu ghi, chuỗi ký tự vàphương tiện trao đổi
Bên cạnh đó MARC 21 cũng không ngừng mở rộng phạm vi ứng dụng
và liên kết Mặc dù trong thành phần của MARC 21 có thêm nhiều thànhviên nhưng khổ mẫu thư mục MARC 21 vẫn giữ nguyên vai trò chủ đạo.Khổ mẫu này có một cấu trúc hoàn thiện, có những ưu điểm và đặc điểm nổibật vì vậy nó thu hút được sự quan tâm của cộng đồng thư viện thế giới nóichung và của các thư viện Việt Nam nói riêng
Để luôn giữ vai trò là khổ mẫu trao đổi có tính chất quốc tế ở thế kỷ
21, MARC 21 luôn có sự thay đổi và hoàn thiện hơn nữa Trong quá trìnhphát triển, MARC 21 cũng xác định cho mình 3 tiêu chí riêng để phát triển,
đó là:
- Đảm bảo mục đích của khổ mẫu: là chuẩn để trình bày và trao đổithông tin, không áp đặt những chuẩn lưu trữ dữ liệu bên trong hệthống và chuẩn trình bày dữ liệu, việc trình bày dữ liệu là quy địnhriêng của từng hệ thống riêng biệt sử dụng MARC 21
- Cấu trúc của khổ mẫu: đảm bảo 3 thành phần cấu trúc biểu ghi, chỉđịnh nội dung và nội dung dữ liệu, ứng dụng những chuẩn quốc giacủa Mỹ là ANSIZ39.2, ISO 2709, AACR2
- Thông tin lưu trữ trong biểu ghi: mọi thông tin lưu trữ trong biểughi MARC được lưu trữ dưới dạng ký tự ASCH Biểu ghi đượctrao đổi mã hóa theo ký tự trong bảng mã ASCH mở rộng
Những nguyên tắc trên đảm bảo cho MARC 21 phát triển mà vẫnđảm bảo tính thống nhất và không mất đi khả năng tương thích
1.2. Cấu trúc của khổ mẫu MARC 21
Biểu ghi MARC 21 gồm 3 thành phần cơ bản , được xây dựng theotiêu chuẩn của quốc gia Mỹ các quy định của MARC 21 được thể hiện cụthể trong từng phần chính của biểu ghi
Trang 8Phần I: cấu trúc biểu ghi
Bản chất của một biểu ghi MARC là một bản thiết kế mà theo đó các
dữ liệu được sắp xếp, biểu diễn theo một quy tắc nhất định, đảm bảo khảnăng truy nhập, xuất hay lưu trữ dữ liệu và tìm dữ liệu bằng máy tính điện tử.Ngoài ra MARC 21 còn có hệ thống bảng mã hóa ký hiệu được xây dựngtheo tiêu chuẩn quốc tế có tính chất sử dụng thống nhất, được kế thừa và pháttriển từ USMARC bao gồm:
- Bảng mã tên quốc gia
- Bảng mã các khu vực địa lý
- Bảng mã ngôn ngữ và một số bảng định danh khác…
1.2.2. Cấu trúc biểu ghi MARC 21
Các trường điều khiểnCác trường dữ liệu
Trường Các dấu hiệu phân cáchChỉ thị thực hiện yêu cầu
Trang 9Một biểu ghi MARC 21 thường có 3 phần chính: đầu biểu, danh mục
và các trường
Đầu biểu (leader)
Đầu biểu của một biểu ghi MARC 21 bao gồm các phần tử cho phépchương trình xử lý các phần còn lại của biểu ghi (thư mục, các trường…).Đầu biểu là một chuỗi liên tục gồm 24 ký tự ứng với 24 vị trí, mỗi vị trí nàyđược gán cho một ý nghĩa xác định và thể hiện bằng một mã (chữ in thường,chữ số hoặc khoảng trống) cho ta biết các thông tin về trạng thái và các thuộctính của biểu ghi:
Vị trí 00 - 04 : Độ dài biểu ghi: Độ dài của biểu ghi là số lượng ký tự
của toàn bộ biểu ghi, kể cả những ký hiệu kết thúc trường và kết thúc biểughi Do có 5 vị trí, độ dài tối đa của biểu ghi sẽ là 99999 Dữ liệu này thườngđược máy tính tự động khi chuẩn bị dữ liệu để trao đổi
Vị trí 05 : Trạng thái biểu ghi: Sử dụng các mã sau để chỉ thị tình
trạng biểu ghi như sau:
c = Biểu ghi đã sửa đổi (corrected record)
d = Biểu ghi bị xóa (deleted record)
n = Biểu ghi mới (new record)
Vị trí 06 : Loại biểu ghi
a = Văn bản (bao gồm cả tài liệu in, vi phim, vi phiếu, điện tử đọcđược ở dạng chữ viết)
Trang 10g = Tài liệu chiếu hình hay video ( phim cuộn, phim đèn chiếu (slide),giấy chiếu trong, phim nhựa, băng hoặc đĩa ghi hình…)
i = Băng hoặc đĩa ghi âm không phải nhạc (như ghi âm bài phát biểu,tiếng nói…)
j = Băng hoặc đĩa ghi âm là nhạc
k = Tài liệu đồ họa hai chiều (ảnh, bản vẽ thiết kế,…)
l = Tài liệu điện tử, tài liệu tên nguồn điện tử
m = Tài liệu đa phương tiện (multimedia)
o = Bộ tài liệu (kit), chứa tập hợp chứa nhiều thành phần trên cácdạng khác nhau
Trang 11# = Bộ mã ký tự không xác định.
a = Bộ mã UCSIUNICODE
Vị trí 10 : Số lượng chỉ thị: Giá tri vị trí này luôn luôn là 2.
Vị trí 11 : Độ dài mã trường con: Giá vị trí này luôn luôn là 2
Vị trí 12 – 16 : Địa chỉ gốc phân dữ liệu: Mã này được chương trình
máy tính tạo ra tự động
Vị trí 17 : Cấp mã hóa: Cấp mã hóa cho biết tình hình sử dụng tài
liệu khi tạo lập biểu ghi
#= Cấp đầy đủ: Tài liệu được mô tả trong biểu ghi có trong tay khi xử
lý đưa vào cơ sở dữ liệu
1= Cấp 1: Tài liệu được mô tả trong biểu ghi không có trong tay khi
sử lý đưa vào biểu ghi mà chỉ dựa vào nguồn thông tin cấp 2 khác u không
có thông tin
Vị trí 18 : Quy tắc biên mục áp dụng
i = Biểu ghi tuân thủ quy tắc ISBD
a = Biểu ghi tuân thủ quy tắc AACR2 11
u = Không rõ quy tắc mô tả
Vị trí 19 : Yêu cầu về biểu ghi liên kết: Mã cho biết có cần biểu ghi
liên kết hay không
# - Không cần biểu ghi liên kết
Vị trí 20 – 23 : Sơ đồ thông tin về trường: Được chương trình máy
tính tạo ra tự động
Ví dụ: giả sử một biểu ghi MARC có đầu biểu:
Trang 12 Ý nghĩa cơ bản của nó là:
Như vậy thông qua đầu biểu ta đã có được những thông tin khái quátnhất về biểu ghi thư mục này Đây là một biểu ghi thư mục của tài liệu dạngvăn bản (dạng sách), đã được hiệu đính, được mô tả theo quy tắc biên mụcAACR2
Trang 13Đầu biểu là trường đầu tiên của biểu ghi, đầu biểu được máy tính tựđộng tạo lập sau khi các dữ liệu của biểu ghi được nhập Cũng nhờ đầu biểunày mà máy tính có thể nhận dạng được các ký tự trùng lập theo yêu cầucùng một số thông tin cần thiết khác ở một số trường điều khiển để tích hợp
và liên kết các biểu ghi khác Trong các dãy ký tự đầu biểu của MARC 21 tavẫn nhận thấy còn ký tự trống, ký tự không xác định, ký tự này có thể dùng
để thiết lập những yêu cầu mới nếu có dạng tài liệu mới phát sinh Đây là ưuđiểm của đầu biểu MARC 21
Danh mục (directory)
Danh mục của một biểu ghi thư mục MARC 21 là một chuỗi mục có
độ dài cố định theo ngay sau đầu biểu để xác định nội dung của biểu ghi.Danh mục được tạo ra bởi máy tính, căn cứ vào biểu ghi thư mục, cho thấytrong biểu ghi thư mục bao gồm các nhãn trường nào, vị trí bắt đầu củatrường, độ dài của trường Danh mục không phải là phần hiển thị cho ngườilàm công tác biên mục cũng không phải cho người tra cứu Danh mục chỉđược sử dụng bởi người lập trình máy tính Khác với đầu biểu, nội dung củadanh mục chỉ được mã hóa bằng chữ số
Ví dụ: Đoạn tiểu dẫn sau đây trong danh mục
“245003600354250001200390260003700402 ”
Có nghĩa là: trong biểu ghi có trường với nhãn 245, có độ dài là 36 ký
tự và bắt đầu từ vị trí thứ 354 Tiếp theo là trường có nhãn 250, có độdài 12
ký tự và bắt đầu ở vị trí thứ 390 (36 + 354 = 390) Tiếp theo nữa là trường cónhãn 260, có độdài 12 ký tự, bắt đầu từ vị trí 402 (402 = 12 + 390) Như vậyđoạn tiểu dẫn trên trong danh mục có cấu trúc và ý nghĩa như sau:
Trang 14có các trường dành cho đề mục chủ đề, ký hiệu phân loại của TVQH Mỹ, kýhiệu phân loại DDC… các trường này có thể chia nhỏ thành các trường con.
Vì tên của trường khá dài nên trong biểu ghi MARC 21 mỗi trường đượcbiểu thị bằng một nhãn trường gồm 3 chữ số
Khổ mẫu MARC 21 có khoảng trên 200 trường, không tính trườngcon Để tiện trình bày ngươi ta chia chúng vào thành từng khối trường tùyvào chức năng Theo bản MARC 21 đầy đủ cho dữ liệu thư mục MARC 21
6XX : Các trường về truy cập chủ đề, từ khoá
7XX : Tiêu đề bổ sung, trường liên kết
8XX : Vốn tài liệu, nơi lưu trữ,…
Trang 159XX : Dành cho thông tin nội bộ
Bên trong các khối trường 1XX, 4XX, 6XX, 7XX, 8XX có dự phòngmột số cặp định nội dung Những nội dung sau, ngoại trừ một ngoài ngoại lệđược dành cho 2 ký tự cuối của nhãn trường:
Nếu phân chia theo chức năng có hai khối trường là chính là:
- Trường điều khiển: là các trường chứa mã thông tin được sử dụng trong xử
lý các biểu ghi đọc máy
- Trường dữ liệu: là các trường chứa các thông tin thư mục của biểu ghi
Nếu phân chia theo tính chất có hai khối trường chính là:
- Trường có độ dài cố định: là các trường chỉ chứa một lượng thông tin nhấtđịnh đã được mã hóa theo một số lượng ký tự cụ thể, ví dụ như trườngđầu biểu chứa 24 ký tự
- Trường có độ dài thay đổi: các trường này quy định số lượng ký tự mã hóathông tin không cố định Các trường này chỉ xác định độ dài tối đa củatrường chứ không quy định độ dài bắt buộc
Do vậy việc phân chia được kết hợp giữa các hình thức sao cho phùhợp nhất
Trang 161.2.3. Chỉ định nội dung
Chỉ định nội dung chỉ ra các yếu tố dữ liệu tạo nên biểu ghi MARC.Chỉ định nội dung bao gồm các ký tự quy ước, các ký tự này do người lậptrình đặt ra và là quy định riêng của mỗi khổ mẫu MARC khác nhau Nhữngchỉ định này bao gồm: các mã xác định trường, các mã xác định trường con,chỉ thị trường, dữ liệu đi kèm với trường con, mã kết thúc trường con
Nhãn trường: do tên trường quá dài nên MARC 21 quy định mỗi
trường có một nhãn trường, mỗi nhãn trường gồm 3 ký tự Các trường cónhãn bắt đầu bằng số 0 thuộc nhóm trường 0XX là các trường điều khiển,các chỉ số nhận dạng và phân loại, các trường có nhãn bắt đầu bằng số 1thuộc nhóm trường 1XX là các trường tiêu đề chính(tên cá nhân, tên tập thể,
…)
Một số nhãn trường hay được sử dụng là:
010 đánh dấu số kiểm soát của Thư viện Quốc Hội (LCCN)
020 Đánh dấu số sách theo tiêu chuẩn quốc tế (ISBN)
100 Đánh dấu tên của tác giả
245 Đánh dấu thông tin về nhan đề (bao gồm cả nhan đề chính,nhan
đề phụ và thông tin về nhan đề)
250 Đánh dấu số lần xuất bản
260 Đánh dấu thông tin về xuất bản
300 Đánh dấu phần mô tả vật lý (như miêu tả sách bao gồm số trang,
khổ, cỡ, minh hoạ)
440 Đánh dấu xuất bản phẩm nhiều kỳ
520 Đánh dấu phần chú giải hoặc tóm tắt
650 Đánh dấu phần đề mục chủ đề
Trang 17700 Đánh dấu tên của những người liên quan (đồng tác giả, người đính
chính hoặc người minh hoạ)
Ví dụ: nhãn trường 100, xác định nó là trường về tác giả
100 1# $aPirsigRobert M
Trường con và mã trường con: mỗi khối trường lớn đều chứa các
trường nội dung chính, nhưng thực tế là các dữ liệu và thông tin đều nằmtrong các trường con của các trường này Khi đó mỗi trường con sẽ đượcbiểu thị bởi một mã trường con Những mã này giúp cho máy tính nhận dạngđược mọi đơn vị thông tin tạo nên biểu ghi Như vậy hệ thống có thể tìmthấy một thông tin nào đó mà nó muốn Nói cách khác cấu trúc trường củaMARC là cấu trúc hình cây và thông tin nằm trong các tệp cụ thể
Mã trường con thường được mã hóa bởi hai ký tự, một ký tự phâncách và một ký tự nhận dạng yếu tố dữ liệu Ví dụ: $a, $b, $c…trong đó:
- $: chỉ dấu phân cách tiêu chuẩn dùng trong MARC
- Ký tự a, b, c: là ký tự nhận dạng dữ liệu trong MARC 21 các ký tự nhậndạng trường con là các ký tự chữ cái từ a đến z, được sắp xếp thứ tự trìnhbày cũng theo cấu trúc này Nhưng không phải trường hợp nào các trườngcon cũng lần lượt là a, b, c… mà các trường con này được quy định theo
ký tự chữ cái cụ thể theo chức năng của các trường
Trong một trường, các trường được trình bày một cách chặt chẽ, giữacác trường con không có dấu ngắt, giữa mã trường con và dữ liệu cũngkhông có khoảng cách Đối với các trường lặp, các trường mà có thể nhậnnhiều giá trị cùng một lúc thì chúng ta dùng dấu % để ngăn cách giữa các dữliệu các trường lặp viết tắt là R (repeatability), trường không lặp là NR(nonrepeatability)
Ví dụ: trường 240: tiêu đề mô tả bổ sung cho nhan đề thống nhất
Trang 18$a Nhan đề thống nhất(NR)
$d Ngày ký hiệp ước (R)
$f Năm công bố, năm xuất bản (NR)
Dấu phân cách: Các chương trình phần mềm khác nhau dùng các ký
tự khác nhau để hiển thị dấu phân cách trên màn hình hoặc bản in Trong khổmẫu AACR2, các yếu tố dữ liệu được phân tách bởi các dấu ngắt tiêu chuẩn.Trong khổ mẫu MARC, các trường con được phân tách bởi các ký hiệu gọi làcác dấu phân cách, ở đây chúng ta sử dụng $, các ký hiệu khác cũng đượcdùng như là dấu phân cách
Ví dụ: trong trường thông tin xuất bản, phân phối sau đây, mã trườngcon là a,b,c và các dấu phân cách giữa các trường con
260 $aCanberra :$bDoc Matrix$c1999
Chỉ thị trường: đôi khi chúng ta muốn máy tính làm việc nhiều hơn
là lưu trữ thông tin,Ví dụ như trường nhan đề, chúng ta muốn chỉ ra khi nàothì nhan đề sẽ được sử dụng như một điểm truy cập thông tin trong mục lục,hay muốn máy tính bổ qua một số ký tự đầu nhan đề khi máy sắp xếp nhan
đề Vì thế chúng ta cần có các chỉ thị để máy tính nhận biết được yêu cầu vàthực hiện yêu cầu đó Các chỉ thị trường đứng ngay sau mã trường, được sửdụng nhằm mục đích cung cấp thêm thông tin về cách xử lý dữ liệu trong
Trang 19trường Các chỉ thị trường trong khổ mẫu MARC 21 được mã hóa bằng haichữ số từ 0 đến 9 và ký tự “#”
Ví dụ: Trường 245: Thông tin về nhan đề
Chỉ thị thứ 1: Bổ sung tiêu đề mô tả
Chỉ thị thứ 2: Các ký tự bắt đầu không sắp xếp
Số ký tự bắt đầu không xử lý sắp xếp
1.2.4. Các trường cơ bản của MARC 21
*Các trường điều khiển
Các trường điều khiển bắt đầu với nhãn trường 0XX, đó là các trườngchứa biến số điều khiển Các thông tin trong trường này đều do máy tính tựtạo ra, các trường này đều không có trường con và chỉ thị Trong biểu ghi củaMARC 21 có một số trường tiêu biểu sau: 001, 003, 005, 006, 007, 008
Trường 001: chứa số điều khiển bản ghi, nó có thể là bất cứ số nào
được cung cấp bởi hệ thống cho bản ghi nhập vào
Trường 003: cho ký hiệu của tổ chức có số điều khiển hệ thống được
ghi trong trường 001
Trường 005: thể hiện ngày giờ gần nhất của giao dịch xử lý bản ghi Trường 006: thể hiện các tính chất thêm vào của tài liệu
Trường 007: trường mô tả dạng vật lý cố định của tài liệu
Trường 008: trường này được sử dụng cho các yếu tố có độ dài cố
định.Nó cung cấp mã thông tin về biểu ghi một cách toàn thể và đặc biệt vềkhía cạnh thư mục của tài liệu Phụ thuộc vào hệ thống của biểu ghi, chỉ cómột vài phần tử của trường này có thể là bắt buộc và một vài phần tử có thể
Trang 20trống Một số dữ liệu cũng thể được cung cấp như là giá trị mặc định-nghĩa
là hệ thống có thể mã hoá một số thông tin trong trường này qua việc sửdụng thông tin khác trong biểu ghi
Có 40 vị trí ký tự trong trường 008, đánh số từ 00-39 Các vị trí khôngxác định có thể chứa đựng các dấu trống (#) hoặc các ký tự lấp đầy Vị trí 00-
17 và 35-39 là thống nhất cho toàn bộ các dạng tài liệu, các vị trí ký tự từ
18-34 xác định riêng với mỗi loại tài liệu Dưới đây là nội dung trường 008 dànhcho sách:
00-05: Chứa ngày nhập vào tệp tin Nó được cung cấp bởi máy tính và
sử dụng định dạng Năm, Tháng, Ngày (yy,mm,dd), ví dụ 000102 là ngày 02tháng 01 năm 2000
06: Là kiểu của ngày-tình trạng xuất bản
b = không có ngày; b,c không có ngày liên quan
e = ngày chi tiết
s = một ngày được biết đến/ có thể là ngày xuất bản
m = nhiều ngày
r = ngày in ấn (ngày của lần xuất bản) hoặc ngày xuất bản lần đầu
n = những ngày khác liên quan chưa được biết đến
q = ngày chưa chắc chắn
t = ngày phát hành hoặc sao bản quyền
| = không có mã
07-10: Thể hiện Date 1- năm xuất bản.
11-14: Thể hiện Date 2 Date 2 được sử dụng cho xuất bản phẩm nhiều
kỳ hay tác phẩm nhiều phần
Trang 2115-17: Cung cấp thông tin về nơi xuất bản, sản xuất hay ấn hành Mã
này được lấy ra từ USMarc code list for countries Một số thư viện sử dụng
mã cho bang, tỉnh…hơn là cho nước Một vài nơi sử dụng các mã chi tiếthơn cho các vùng, địa phương
Ví dụ: pk# = Pakistan
cau = California (US)
18-34 : Được xác định đặc trưng cho mỗi loại tài liệu Các vị trí này là
tương đương với các vị trí từ 01-17 trong trường 006 Bảng dưới đây chothấy các mã chỉ định cho chuyên khảo trong trường 008 và 006