1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh tế học vi mô nâng ca

87 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 752,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, khi thu nhập tăng thì cầu của người tiêu về đa số các mặt hàng đều tăng nhưng không phải cầu của tất cả các mặt hàng đều tăng.. - Nếu biểu thị mối quan hệ giữa lượng cầu hàng hoá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI Khoa Kinh tế và Quản lý

(Biên soạn lần thứ nhất cho lớp cao học kinh tế TN & MT 16K)

Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Thế Hòa

Hà Nội -2010

Trang 2

Mục lục

Chương 1: Cầu, cung, cân bằng thị trường

Chương 2: Độ co giãn của cầu

Chương 3: Độ co giãn của cung

Chương 4: Đánh thuế và sự can thiệp của chính phủ

Chương 5: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Chương 6: Thị trường độc quyền bán

Chương 7: Cạnh tranh độc quyền, Độc quyền nhóm và Định giá chiến lược

Trang 3

Chương 1 Cầu, cung, và cân bằng thị trường

1.1 Cầu

1.1.1 Cầu cá nhân và cầu thị trường

Cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các

mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định với các yếu tố khác không đổi

Lượng cầu là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua

ở một mức giá đã cho trong một thời gian nhất định Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa

lượng cầu về một hàng hoá và giá của nó

Mối quan hệ giữa tổng lượng hàng hoá được cầu và giá của hàng hoá đó trong thị trường

gọi là cầu thị trường

Mối quan hệ giữa lượng hàng hoá được cầu bởi một cá nhân và giá của hàng hoá đó gọi là

cầu cá nhân

Cầu thị trường về một hàng hoá đơn giản là tổng của tất cả cầu cá nhân về hàng hoá đó

Ví dụ, trên thị trường chỉ có hai người tiêu dùng về xem phim là An và Bình Cầu thị

trường là tổng cầu của An và Bình, số liệu cho trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Cầu cá nhân và cầu thị trường

Gía vé (1000 VND /chiếc) An Lượng phim được cầu Bình Thị trường

Tại mức giá vé 30 nghìn VND/1chiếc, An cầu 5 phim một tuần và Bình cầu 2 phim, nên

tổng lượng được cầu trên thị trường là 7 phim một tuần

Các đường cầu về phim ở phần (a) và (b) được cộng theo chiều ngang để ra đường cầu thị

trường ở phần (c)

Đường cầu thị trường là tổng các đường cầu cá nhân theo chiều ngang được tính bằng

cách cộng các lượng được cầu của mỗi cá nhân tại mỗi mức giá

Để có cầu một hàng hoá nào đó, bạn phải:

• Có nhu cầu về hàng hóa đó

• Có khả năng thanh toán cho nó

• Có kế hoạch mua nó

Trang 4

Đôi khi, số lượng hàng hoá cầu lớn hơn số lượng hàng hoá sẵn có, do đó số lượng hàng hoá mua nhỏ hơn số lượng cầu Lượng cầu được xác định bằng số lượng hàng hoá trong một khoảng thời gian nhất định

Hình 1 1: Các đường cầu cá nhân và cầu thị trường

Cầu cá nhân

Cầu của An

7=5+2

0 1 2 3 4 5 6 7 8

1.1.2 Các y ếu tố ảnh hưởng đến cầu

• Giá của hàng hoá (P)

• Giá của các hàng hoá có liên quan: giá hàng hóa thay thế PR hay giá hàng hóa bổ sung PC

Sự thay đổi cầu

Khi các yếu tố khác ngoài giá hàng hóa thay đổi chúng làm cầu thay đổi

1 Thu nhập: Thu nhập cũng là một yếu tố có ảnh hưởng đến cầu Khi các yếu tố khác không thay

đổi, nói chung thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì họ sẽ mua nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn Còn khi thu nhập của họ giảm xuống thì họ mua ít hàng hoá và dịch vụ hơn Mặc dù, khi thu nhập tăng thì cầu của người tiêu về đa số các mặt hàng đều tăng nhưng không phải cầu của tất cả các mặt hàng đều tăng Những hàng hoá mà cầu về nó tăng lên khi thu nhập tăng được gọi là hàng hoá bình thường Còn những hàng hoá mà cầu về nó giảm xuống khi thu nhập tăng lên được gọi là hàng hoá thứ cấp Ví dụ về các mặt hàng thứ cấp là quần áo cũ hay cá ươn, thịt cuối ngày Khi thu nhập tăng lên thì cầu về các mặt hàng này luôn luôn giảm xuống vì người tiêu dùng sẽ

Trang 5

Giá của các hàng hoá có liên quan: Lượng cầu về bất kỳ một hàng hoá hay dịch vụ nào mà người

tiêu dùng có kế hoạch mua đều phụ thuộc vào giá của hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung Hàng hoá thay thế là hàng hoá mà có thể sử dụng để thay thế cho hàng hoá khác Ví dụ, chúng ta

có thể đi lại bằng xe buýt thay vì đi lại bằng taxi hoặc xe máy trong thành phố Như băng nhạc chẳng hạn, mặt hàng thay thế là điã CD Nếu giá của đĩa CD tăng thì người tiêu dùng sẽ mua nhiều băng hơn Điều này còn tác động cả đến những người sử dụng đĩa CD khác Do vậy, cầu về băng tăng lên

Tức là, giá một hang hóa tăng lên làm cầu hang hóa thay thế tăng; và ngược lại giá một hàng hóa giảm thì cầu về hang hóa thay thế của nó giảm

Hàng hoá bổ sung là hàng hoá được sử dụng kết hợp với những hàng hoá khác Ví dụ, hai loại hàng hoá bổ sung cho nhau là xe hơi với xăng dầu hay máy tính và phần mềm hệ điều hành hoặc máy cát sét với băng đĩa Nếu giá của một trong các mặt hàng bổ sung tăng lên thì người tiêu dùng thường mua ít mặt hàng đó hơn Ví dụ, nếu giá của băng và đĩa tăng lên thì người tiêu dùng mua ít máy cát sét hơn Do vậy, cầu về máy cát sét giảm xuống

Tức là, giá một hang hóa tăng lên làm cầu hang hóa bổ sung của nó giảm; và ngược lại giá một hàng hóa giảm thì cầu về hàng hóa bổ sung của nó tăng

3 Giá kỳ vọng trong tương lai: Nếu giá của một hàng hoá nào đó được kỳ vọng là sẽ tăng lên

trong tương lai và hàng hoá này có thể tích trữ được thì chi phí cơ hội cho việc có được hàng hoá này ở hiện tại để tiêu dùng trong tương lai sẽ thấp hơn so với việc có được hàng hoá này trong tương lai để tiêu dùng khi giá đang tăng lên Cho nên người tiêu dùng sẽ mua nhiều hàng hoá này trước khi giá kỳ vọng và cầu về nó tăng Tương tự như vậy, nếu giá của một hàng hoá nào đó giảm xuống trong tương lai, thì chi phí cơ hội cho việc có nó bây giờ giảm xuống Cho nên người tiêu dùng sẽ mua ít hàng hoá này bây giờ để tăng mua nó trong tương lai khi đó cầu về nó sẽ giảm xuống ở hiện tại

4 Dân số: Cầu cũng phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu của dân số: Khi các yếu tố ảnh hưởng khác

không thay đổi, dân số càng lớn thì cầu về hàng hoá và dịch vụ càng cao Ngược lại, dân số càng nhỏ thì cầu về hàng hoá và dịch vụ cũng càng nhỏ

5 Sở thích: Cuối cùng, cầu còn phụ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng Sở thích là những

khuynh hướng và thị hiếu cá nhân của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ Ví dụ, thanh niên thường thích những nơi sôi động, ồn ào và náo nhiệt Còn người già thường thích sự yên tĩnh, thanh bình Do đó, nếu có cùng một mức thu nhập, thì cầu về băng nhạc của thanh niên và người già sẽ khác nhau Thanh niên sẽ có cầu cao về các loại băng nhạc POP, ROCK, RAP, trong khi người già lại có cầu cao về các loại băng nhạc trữ tình, tình ca, tình khúc

1.1.3 Mô tả cầu

Bằng biểu cầu: Biểu đồ cầu là một bảng gồm hai cột; cột thứ nhất ghi các mức giá thị

trường của một hang hóa Cột thứ ghi lượng cầu thị trường hoặc của cá nhân về hàng hóa

đó Với hàng hóa thông thường, biểu cầu mô tả rất rõ luật cầu

Bằng đồ thị: Đồ thị cầu một hàng hóa là một đường nối các điểm minh họa các số liệu

trong biểu cầu- gọi là đường cầu; trong đó trục hoành là lượng cầu, trục tung là các mức

giá hang hóa đang xem xét Đường cầu cũng mô tả luật cầu

Bằng hàm cầu:

Trang 6

- Nếu biểu thị mối quan hệ giữa lượng cầu hàng hoá với các yếu tố nói trên bằng hàm số thì hàm này có dạng tổng quát như sau:

hiếc)

Lượng (triệu chiếc mỗi tun)

1.1.4 Sự thay đổi cầu làm dịch chuyển đường cầu

Mô hình đã cho chúng ta thấy cầu thay đổi như thế nào theo giá của hàng hoá Nhưng chúng ta cũng đã biết cầu còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như giá của các hàng hoá có liên

Trang 7

Sự di chuyển dọc theo đường cầu khác với sự dịch chuyển của đường cầu

Khi các yếu tố ảnh hưởng đến cầu thay đổi thì sẽ gây ra sự di chuyển dọc theo đường cầu hoặc là sự dịch chuyển của đường cầu

Sự di chuyển dọc theo đường cầu là khi giá của hàng hoá và dịch vụ thay đổi nhưng các yếu tố

khác vẫn giữ nguyên

S ự dịch chuyển của đường cầu là khi có một yếu tố ảnh hưởng đến cầu thay đổi, trừ giá của hàng

hoá dich vụ đó Ví dụ, khi giá của những chiếc Walkman giảm xuống thì sẽ có sự tăng lên trong cầu về mặt hàng băng nhạc cho loại cát sét này, có sự dịch chuyển của đường cầu về mặt hàng băng nhạc cho Walkman sang bên phải Bất chấp giá băng nhạc cao hay thấp, nếu giá Walkman giảm xuống thì người tiêu dùng sẽ mua nhiều băng nhạc hơn tại mỗi mức giá Hình 1.3 minh hoạ cho sự dịch chuyển này Theo hình này, khi giá Walkman giảm xuống thì đường cầu về băng nhạc cho loại cát sét này dịch chuyển sang phải

Hình 1.3 Sự thay đổi của cầu khác với sự thay đổi về lượng cầu

Mỗi một điểm trên đường cầu đều cho thấy lượng cầu ở một mức giá đã biết Sự di chuyển dọc theo một đường cầu thể hiện sự thay đổi về số lượng cầu Trong khi đó, một sự dịch chuyển của đường cầu thể hiện sự thay đổi cầu của người tiêu dùng Hình 1.3 cho thấy những sự khác biệt này Ví dụ, khi thu nhập tăng lên, đường cầu của người tiêu dùng sẽ dịch chuyển sang phải (từ đường cầu D0đến D2trong Hình vẽ) Điều này thể hiện cho sự tăng lên của cầu Khi thu nhập giảm xuống, đường cầu sẽ dịch chuyển sang trái (từ đường cầu D0 đến D1trong Hình vẽ) Điều này thể hiện cho sự giảm xuống của cầu Đối với hàng hoá thứ yếu thì khi thu nhập giảm xuống, tác động có thể ngược lại so với hàng hoá thông thường

1.2 Cung

1.2.1 Khái niệm cung

Cung là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định với các yếu tố khác không đổi

Lượng cung là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán

ở một mức giá đã cho trong một thời gian nhất định Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung về một hàng hoá và giá của nó

Một hãng muốn sản xuất và bán các hàng hoá và dịch vụ thì hãng đó phải có đủ các điều kiện sau đây:

• Có các nguồn lực và công nghệ để tiến hành sản xuất ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ

L-îng

CÇu t¨ng CÇu gi¶m

L-îng cÇu t¨ng

L-îng cÇu gi¶m D 1 D 0 D 2

Lượng cầu tăng

Lượng cầu giảm Cầu giảm Cầu tăng

Lượng

Trang 8

• Có khả năng thu lợi nhuận từ việc sản xuất đó

• Có kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hãng

Cung phản ánh những quyết định về việc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ mà khả thi về mặt công nghệ Lượng cung hàng hoá và dịch vụ là số lượng hàng hoá và dịch vụ mà người sản xuất

có kế hoạch bán ứng với một mức giá trong một khoảng thời gian nhất định Nhưng lượng cung cũng không nhất thiết phải giống với lượng hàng hoá thực tế bán được Nếu người tiêu dùng không muôn mua số lượng mà người sản xuất có kế hoạch bán, thì kế hoạch bán hàng sẽ đổ vỡ Tương tự như lượng cầu, lượng cung cũng có thể biểu thị bằng số lượng trên một đơn vị thời gian

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung

• Giá của hàng hoá (P)

• Giá của các yếu tố đầu vào cho sản xuất PINPUTs)

• Giá của các hàng hoá có liên quan (Pr)

• Giá kỳ vọng trong tương lai (Pf)

• Số lượng các nhà cung cấp mặt hàng đó (NF)

• Công nghệ sản xuất (Tech)

Luật cung

Luật cung được phát biểu như sau:

Khi các yếu tố khác không thay đổi, giá càng tăng thì lượng cung càng lớn

Tại sao giá cao hơn lại làm tăng lượng cung? Nguyên nhân là do chi phí biên hay chi phí

cơ hội của hàng hoá đó tăng lên Hàng hoá sẽ không bao giờ được sản xuất ra, nếu giá bán nó không đủ bù đắp chi phí biên để sản xuất ra nó Cho nên các nhà sản xuất chỉ sẵn sàng chấp nhận chi phí biên cao hơn để tăng thêm cung khi giá của hàng hoá tăng lên và các yếu tố khác giữ nguyên

Trang 9

Hình 1.4 Đường cung và biểu cung

Sự thay đổi cung

Ta đã thấy cung thay đổi như thế nào khi chỉ có giá thay đổi Nhưng bây giờ, chúng ta đã biết cung còn thay đổi khi có sự biến động của một số yếu tố khác như:

1 Giá của các yếu tố đầu vào

2 Giá của các hàng hoá liên quan

3 Giá kỳ vọng trong tương lai

4 Số lượng các nhà cung cấp

5 Công nghệ

1.2.3 Mô tả cung

Bằng biểu cung: Biểu cung là một bảng gồm hai cột; cột thứ nhất ghi các mức giá thị

trường của một hàng hóa Cột thứ hai ghi lượng cung thị trường hoặc của cá nhân về hang

hóa đó Biểu cung mô tả rất rõ luật cung

Bằng đồ thị: Đồ thị cung một hàng hóa là một đường nối các điểm minh họa các số liệu

trong biểu cung- gọi là đường cung; trong đó trục hoành là lượng cung, trục tung là các

mức giá hang hóa đang xem xét Đường cung cũng mô tả luật cung

Trang 10

Hình 1.6 Sự thay đổi của cung khác với sự thay đổi của lượng cung

Biểu cung và đường cung

Bảng trong Hình 1.4 cho chúng ta thấy một biểu đồ cung về mặt hàng băng nhạc Một biểu đồ cung cho thấy những số lượng hàng hoá cung tại mỗi mức giá khác nhau, khi tất các các yếu tố khác có ảnh hưởng đến lượng mà nhà sản xuất có kế hoạch bán không thay đổi Ví dụ, nếu giá của một chiếc băng là 3 nghìn VNĐ, thì không có chiếc băng nào được cung cấp Nhưng nếu giá của một chiếc băng là 12 nghìn VNĐ, thì sẽ có 5 triệu chiếc băng được cung cấp mỗi tuần

Hình 1.4 cho thấy đường cung về băng Một đường cung cho thấy mối quan hệ giữa số lượng cung và giá của một đơn vị hàng hoá, khi mọi thứ khác không thay đổi Các điểm trên đường cung trong Hình 1.4 biểu thị biểu đồ cung trong Bảng 1.4 Ví dụ điểm d thể hiện lượng cung là 5 triệu băng mỗi tuần ở mức giá 12 nghìn VNĐ một chiếc

Mức giá cung tối thiểu Cũng giống như đường cầu, đường cung cũng có hai vấn đề rõ ràng Một

là, nó cho thấy số lượng mà nhà sản xuất có kế hoạch bán tại mỗi mức giá Hai là, nó cho biết mức giá tối thiểu mà ở mức giá này thì đơn vị sản phẩm cuối cùng sẽ được cung cấp Đối với người sản xuất, họ sẵn sàng cung cấp đến chiếc băng thứ 3 triệu mỗi tuần nếu giá của băng là 6 nghìn VNĐ một chiếc Hoặc người sản xuất sẵn sàng cung cấp đến chiếc đĩa thứ 5 triệu trong một tuần nếu giá của nó thấp nhất là 12 nghìn VNĐ một chiếc

Lượng Giá

Cung tăng

Trang 11

11

1.2.4 Sự thay đổi cung làm dịch chuyển đường cung

Sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến kế hoạch bán hàng của các nhà sản xuất sẽ gây ra hoặc

là dự di chuyển dọc theo một đường cung hoặc là sự di chuyển của đường cung

Di chuyển dọc theo một đường cung

Nếu giá của một hàng hoá thay đổi trong khi các yếu tố khác không đổi, thì dẫn đến sự di chuyển dọc theo một đường cung

Sự dịch chuyển của đường cung

Nếu có sự thay đổi của ít nhất một trong các yếu tố ảnh hưởng đến kế hoạch bán hàng của nhà sản xuất ngoài giá, thì sẽ xuất hiện sự dịch chuyển của đường cung

Mỗi sự di chuyển dọc theo một đường cung phản ánh sự thay đổi về lượng cung Còn một sự dịch chuyển của đường cung phản ánh sự thay đổi về cung

Khi giá của hàng hoá tăng lên thì lượng

cầu về hàng hoá đó giảm xuống và lượng cung

của nó tăng lên Giá điều phối các lựa chọn của cả

người mua và người bán, hướng đến trạng thái

cân bằng trên thị trường

Mỗi cân bằng là một trạng thái trong đó các sức

ép ngược chiều cân bằng lẫn nhau, dẫn đến không

có xu hướng thay đổi Cân bằng thị trường xuất

hiện khi giá cả thị trường cân bằng cả kế hoạch

mua của người mua và kế hoạch bán của người

bán Giá cân bằng là giá mà tại đó lượng cầu bằng

lượng cung Còn lượng cân bằng là lượng mua và

bán tại mức giá cân bằng Thị trường luôn hướng

đến trạng thái cân bằng của nó vì:

+ Giá điều phối các kế hoạch mua và bán

+ Giá điều chỉnh lại khi các kế hoạch mua

-bán không tương xứng

Giá như là một công cụ điều tiết

Giá của một hàng hoá điều chỉnh cả lượng

cầu và lượng cung Nếu giá quá cao thì lượng

cung lớn hơn lượng cầu Nếu giá quá thấp thì

lượng cầu lớn hơn lượng cung Như vậy sẽ có một

mức giá và chỉ một mức giá mà tại đó lượng cầu

vừa đúng bằng lượng cung

Hình 1.7 minh hoạ thị trường băng nhạc Bảng dưới Hình 1.7 thể hiện biểu đồ cầu và cung của mặt hàng này Nếu giá là 3 nghìn VNĐ/chiếu thì lượng cầu là 9 triệu bản đĩa mỗi tuần, nhưng lại

Hình 1.7 Cân bằng thị trường

0,00 0,30 0,60 0,90 1,20 1,50 1,80

Lượng cầu (triệu chiếc mỗi tuần)

Lượng cung (triệu chiếc mỗi tuần)

Trang 12

không có nhà sản xuất nào muốn bán ở mức giá thấp như thế này nên lượng cung bằng không Tại mức giá 3 nghìn VNĐ trên một đĩa này, lượng cầu lớn hơn lượng cung Nếu giá của một chiếc đĩa nhạc là 6 nghìn VNĐ/chiếc thì lượng cầu là 6 triệu bản trên tuần, trong khi lượng cung

là 3 triệu bản trên tuần, do đó lượng thiếu hụt cung hay dư cầu là 3 triệu bản Điều này sẽ gây sức

ép tăng giá trên thị trường Và nếu giá là 12 nghìn VNĐ/chiếc thì lượng thì lượng cầu là 3 triệu bản, còn lượng cung là 5 triệu đĩa trên tuần Khi này, tình hình đã đảo ngược, lượng cầu nhỏ hơn lượng cung, do đó dẫn đến cung vượt cầu một lượng là 2 triệu bản trên tuần, dẫn đến tình trạng thiếu hụt cầu và dư cung Khi này, có sức ép làm giảm giá trên thị trường để tăng cầu Chỉ có một mức giá là mức giá mà tại đó không có tình trạng dư cầu hay dư cung và mức giá ấy là 9 nghìn VNĐ trên một chiếc đĩa – là mức giá cân bằng của lượng cung và lượng cầu trên thị trường Tại mức giá này, lượng cầu và lượng cung đều bằng 4 triệu bản đĩa mỗi tuần

Sự điều chỉnh của giá cả

Chúng ta đã biết rằng sự thiếu hụt cung tăng lên khi giá ở dưới mức giá cân bằng và sự dư cung tăng lên khi giá ở trên mức giá cân bằng Nhưng tại sao sự thay đổi của giá lại khử được sự

dư cung và thiếu hụt cầu hay sự thiếu hụt cung và dư cầu Giá sẽ thay đổi khi có sự dư cung hay thiếu hụt cung

Thiếu hụt cung đẩy giá tăng lên Chúng ta thấy rõ trong phần phân tích Hình 1.7 là khi lượng cầu lớn hơn lượng cung, tức là tình trạng thiếu hụt cung hay dư cầu xuất hiện thì xuất hiện sức ép đẩy giá tăng lên Trong ví dụ trên, giả sử mức giá là 6 nghìn VNĐ/ chiếc, thì sự thiếu hụt của cung là 3 triệu bản đĩa nhạc mỗi tuần Sự thiếu hụt này là yếu tố làm tăng giá trên thị trương

và khi giá tăng thì các nhà sản xuất sẽ tăng thêm lượng hàng hoá bán trên thị trường Như vậy sự điều chính hướng đến trạng thái cân băng với giá là 9 nghìn VNĐ/chiếc và lượng cân bằng là 4 triệu bản đĩa nhạc mỗi tuần

Ngược lại, dư cung kéo giá xuống Nếu giá khởi điểm là 12 nghìn VNĐ/chiếc, thì xuất hiện dư cung một lượng là 5 triệu bản đĩa nhạc mỗi tuần Việc cung quá nhiều dẫn đến không tiêu thụ hết lượng đĩa sản xuất ra, do đó xuất hiện sức ép làm giá giảm xuống để cầu tăng lên sự điều chỉnh hướng đến trạng thái cân băng đã nói ơ trên

Tình trạng tốt nhất cho cả người mua và người bán là trạng thái không có dư cầu – thiếu cung hay thiếu cầu – dư cung, nên không có sức ép làm cho giá thay đổi Đây là trạng thái cân bằng mà giá là 9 nghìn VNĐ trên một chiếc và lượng là lượng cần bằng (4 triệu bản)

Cả sự thiếu hụt và sự dư cung đều dẫn đến sự thay đổi của giá Trong ví dụ về thị trường băng nhạc, giá bị ép thay đổi tăng lên rồi giảm xuống cho đến khi đạt đến mức 9 nghìn VNĐ một chiếc Tại sao người mua từ chối mua khi giá tăng lên? Người mua trả các mức giá cao hơn là bởi

vì họ đánh giá giá trị của hàng hoá cao hơn mức giá hiện tại Tại sao người bán lại từ chối bán ở các mức giá thấp? Người bán tiếp tục bán khi giá hàng hoá giảm xuống là bởi vì giá cung tối thiểu thấp hơn mức giá hiện tại Tại mức giá cân bằng, lượng cầu và lượng cung bằng nhau và không có người mua và người bán nào có thể tìm được mức giá tốt hơn Người tiêu dùng trả mức giá cao nhất, là mức giá mà tại đó, họ sẵn sàng mua đơn vị hàng hoá cuối cùng được mua và người sản xuất chấp nhận mức giá thấp nhất, là mức giá mà tại đó họ sẵn sàng cung cấp đơn vị hàng hoá cuối cùng được bán

Trang 13

13

Khi người ta được tự do trả giá và khi người mua tìm được mức giá thấp nhất và người bán tìm được mức giá cao nhất, thì giá cân bằng là giá mà tại đó việc mua bán diễn ra Tại mức giá này lượng cầu bằng lượng cung Giá điều chỉnh các kế hoạch của người mua và người bán

Sự thay đổi của giá xuất phát từ sự thay đổi của cầu hoặc của cung hoặc của cả hai cầu và cung

Sự thay đổi của cầu

Điều gì xảy ra với giá và lượng băng nhạc nếu cầu về mặt hàng này tăng lên? Hình 1.8 cho thấy những ảnh hưởng của việc cầu tăng lên Cụ thể là tại mỗi mức giá lượng cầu tăng thêm 4 triệu bản mỗi tuần Sự tăng lên này của cầu được thể hiện bằng sực dịch chuyển sang phải của đường cầu Khi này, tại mức giá cân bằng trước là 9 nghìn VNĐ/chiếc Lượng cung vẫn giữ ở mức 4 triệu chiếc/tuần trong khi đó, lượng cầu đã tăng từ 4 lên 8 triệu chiếc/tuần, do đó lại xảy ra tình trạng thiếu hụt cung Cân bằng mới được thiết lập tại mức giá là 15 nghìn VNĐ/chiếc và lượng cân bằng cung cầu là 6 triệu chiếc/tuần Như vậy, khi cầu tăng trong khi các yếu tố khác không đổi thì sẽ làm cho giá và lượng cân bằng tăng lên

Những phân tích về vấn đề này cho phép rút ra hai kết luận như sau:

1 Khi cầu tăng, cả giá và lượng mua bán trên thị trường đều tăng

2 Khi cầu giảm, cả giá và lượng mua bán trên thị trường đều giảm

Sự thay đổi của cung

Khi cung tăng, thể hiện bằng sự dịch chuyển của đường cung sang bên phải, có ảnh hưởng đến giá và lượng cân bằng trên thị trường Bảng dưới Hình 1.8 thể hiện cả biểu đồ cung trước và sau khi tăng, gọi là lượng cung cũ và mới Tại mức giá cân bằng trước khi có sự gia tăng của cùng là

9 nghìn VNĐ/chiếc, lượng cầu vẫn giữ nguyên không thay đổi, nhưng lượng cung giờ đây tăng lên tới 8 triệu chiếc/tuần, dẫn đến dư cung trên thị trường, tạo sức ép làm cho giá giảm xuống Cuối cùng, cân bằng mới được thiết lập tại mức giá thấp hơn là 9 nghìn VNĐ/chiếc và lượng cân bằng mới của cung và cầu là 6 triệu

chiếc/tuần Như vậy có thể thấy rằng khi

cung tăng làm cho giá giảm và lượng cân

bằng tăng

Các phân tích về trường hợp này cho phép

rút ra hai kết luận sau:

(1) Khi cung tăng, lượng mua bán trên thị

trường tăng, còn giá thị trường giảm

(2) Khi cung giảm, lượng mua bán trên thị

trường giảm, còn giá thị trường tăng

Sự thay đổi ở cả cung và cầu

Điều gì xảy ra nếu cả cung và cầu đều thay

đổi? Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng

ta xem xét trường hợp cầu và cung cùng thay

đổi theo một hướng - cùng tăng hoặc cùng

Hình 1.8 Những ảnh hưởng do sự thay đổi của cung

0,00 0,30 0,60 0,90 1,20 1,50 1,80

Trang 14

giảm Sau đó, chúng ta xem xét đến trường hợp cung và cầu thay đổi ngược chiều nhau - cầu giảm và cung tăng hoặc cầu tăng và cung giảm

Cầu và cung thay đổi cùng chiều

Chúng ta biết rằng khi cầu tăng lên sẽ làm cho giá và lượng trao đổi mua bán tăng theo Chúng ta cũng biết khi cung tăng lên sẽ làm giảm giá và tăng lượng mua bán Bây giờ chúng ta xét xem điều gì sẽ xảy ra trong mô hình của chúng ta khi mà cả cầu và cung cùng thay đổi

Bảng số liệu của Hình 1.10 cho thấy các lượng cung và cầu ban đầu và lượng cung và cầu mới khi giá giảm xuống và chất lượng của hàng hoá được cải thiện nhờ cải tiến công nghệ Các số liệu của Bảng được biểu thị bằng đồ thị phía trên Bảng Cung và cầu ban đầu cắt nhau ở mức giá là 9 nghìn VNĐ và lượng mua bán là 4 triệu chiếc mỗi tuần Đường cung và cầu mới cắt nhau ở điểm giá là 9 nghìn VNĐ và lượng mua bán là 8 triệu chiếc mỗi tuần

Khi cung và cầu tăng sẽ làm cho lượng mua bán tăng lên Nhưng khi cầu tăng sẽ làm tăng giá, còn khi cung tăng sẽ làm giảm giá, do đó chúng ta không thể khẳng định được là giá sẽ thay đổi khi cả cầu và cung cùng tăng Trong ví dụ của chúng ta sự tăng giá do cầu tăng đã bị khử bởi sự giảm giá do cung tăng, kết quả là giá không thay đổi Nhưng cũng cần chú ý rằng nếu cầu tăng lên nhiều hơn thì giá cân bằng mới sẽ cao hơn Nếu cung tăng lên nhiều hơn thì giá cân bằng mới thấp hơn

Chúng ta có thể kết luận như sau:

1 Khi cả cầu và cung cùng tăng lên thì lượng mua bán trên thị trường tăng và giá có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi

2 Khi cả cầu và cung cùng giảm xuống thì lượng mua bán trên thị trường giảm và giá có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi

Cầu và cung thay đổi ngược chiều

Hai đường cung và cầu cắt nhau tại mức giá cân bằng là 15 nghìn VNĐ và lượng mua bán là 6 triệu chiếc mỗi tuần Đường cung và cầu mới giao nhau tại mức giá là 6 nghìn VNĐ và lượng

Hình 1 10 Những ảnh hưởng do sự tăng lờn của cả Cầu và Cung

0,00 0,30 0,60 0,90 1,20 1,50 1,80

Trang 15

Sự giảm của cầu và sự tăng lên của cung làm cho giá thấp hơn Do vậy khi cầu giảm và cung tăng cùng đồng thời xảy ra thì giá sẽ giảm xuống

Cầu giảm làm cho lượng giảm xuống và cung tăng làm cho lượng tăng lên, do đó chúng ta không thể khẳng định được là lượng mua bán sẽ thay đổi khi cầu giảm và cung tăng cùng đồng thời xảy

ra Trong ví dụ này, lượng giảm do cầu giảm gây ra bị khử bằng lượng tăng do cung tăng gây ra, cho nên kết quả là lượng mua bán cân bằng không thay đổi Chúng ta cần nhớ rằng nếu cầu giảm nhiều hơn như chúng ta thấy trong Hình 1.11 thì lượng cân bằng sẽ thấp hơn Nếu cung tăng nhiều hơn như chúng ta thấy trong Hình 1.11 thì lượng cân bằng cao hơn

Có thể tóm tắt như sau:

1 Khi cầu giảm và cung tăng thì giả giảm và lượng có thể tăng, giảm hoặc không đổi

2 Khi cầu tăng và cung giảm thì giả tăng và lượng có thể tăng, giảm hoặc không đổi

Trên đây là nhưng phân tích cơ bản về cầu, cung và cân bằng cầu và cung Phần tiếp theo đề cập đến thặng dư của người tiều dùng – gọi tắt là thặng dư tiêu dùng( của người mua) và thặng dư của người sản xuất, gọi tắt là thặng dư sản xuất ( của người bán)

1.5 Thặng dự tiêu dùng

Giá trị, sự sẵn sàng thanh toán và cầu

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường nói đến ‘việc có được giá trị bằng tiền’ Khi chúng

ta sử dụng cách biểu đạt này, chúng ta phải phân biệt giữa giá trị và giá cả Giá trị là những gì chúng ta có, còn giá cả là cái mà chúng ta thanh toán

Giá trị của một đơn vị hàng hoá hay dịch vụ có thêm chính là lợi ích biên của nó Lợi ích biên có thể được biểu thị như là giá tối đa mà người ta sẵn sàng trả cho thêm một đơn vị hàng hoá hay

Hình 1 11 Những ảnh hưởng do cầu giảm xuống và cung tăng lờn

0,00 0,30 0,60 0,90 1,20 1,50 1,80

Cung (triệu chiếc mỗi tuần)

Cầu (triệu chiếc

m ỗi tuần)

Cung (triệu chiếc mỗi tuần

Nguồn: Parkin và cỏc tỏc giả, 2000

Trang 16

dịch vụ nữa Sự sẵn sàng thanh toán cho một đơn vị hàng hoá hay dịch vụ xác định đường cầu về hàng hoá và dịch vụ đó

Hình 1.12 Cầu, sự sẵn sàng thanh toán, và lợi ích biên

Trong Hình 1.12(a) đường cầu cho biết lượng cầu tương ứng tại mỗi mức giá Ví dụ, khi giá là 3 nghìn VNĐ thì lượng cầu là 10 Còn trong Hình 1.12(b) đường cầu cho thấy giá tối đa mà người

ta sẵn sàng trả ở mỗi mức số lượng cho trước Ví dụ, khi số lượng là 10 thì người mua sẵn sàng trả giá là 3 nghìn VNĐ Đường cầu này cũng còn cho biết lợi ích biên từ việc tiêu dùng đơn vị hàng hoá thứ 10 là 3 nghìn VNĐ

Một đường cầu cho chúng ta biết số lượng hàng hoá và dịch vụ khác mà người ta sẵn sàng từ bỏ

để có được thêm một đợn vị của một hàng hoá hay dịch vụ nào đó Đây cũng là những gì mà một đường lợi ích biên cho chúng ta biết Cho nên, một đường cầu chính là một đường lợi ích biên Không phải chúng ta luôn luôn thanh toán với giá tối đa mà chúng ta sẵn sàng trả Khi chúng ta mua hàng hoá, chúng ta thường mặc cả

Thặng dư tiêu dùng

Khi người ta mua cái gì đó mà giá của nó

nhỏ hơn giá trị nó mang lại thì người ta nhận

được một thặng dư tiêu dùng Thặng dư tiêu

dùng là phần chênh lệch giữa giá trị của

hàng hoá và giá cả mà người ta thanh toán

khi mua hàng h oá đó

Để hiểu thêm về thặng dư tiêu dùng, chúng

ta xem xét Hình 1.13 Trong Hình vẽ là một

mặt hàng được ưa thích, nhưng lợi ích thu

được từ tiêu dùng hàng hoá này giảm xuống

khi lượng tiêu dùng tăng lên Nếu các chi

Hình 1.13 Cầu của một người tiêu dùng

và thặng dư tiêu dùng

0,00 1,00 2,00 3,00 4,00 5,00 6,00

Giá thị trường

Lượng đã thanh toán

0,00 1,00 2,00 3,00 4,00 5,00 6,00

(a) Giá xác định lượng cầu (b) Lượng xác định khả năng thanh toán

D=MB

D

Trang 17

người tiêu dùng mua một đơn vị; nếu giá là 3 nghìn VNĐ thì người tiêu dùng mua 2 đơn vị; nếu giá là 1 nghìn VNĐ thì người tiêu dùng mua 4 đơn vị hàng hoá này Đường cầu của người tiêu dùng về hàng hoá này cũng chính là đường sẵn sàng thanh toán và đường lợi ích biên

Hình 1.13 còn cho thấy thặng dư tiêu dùng từ việc tiêu dùng hàng hoá này khi giá là 3 nghìn đồng một chiếc Tại mức giá này, người tiêu dùng mua 2 đơn vị Giá 3 nghìn đồng là giá cao nhất mà người tiêu dùng này sẵn sàng trả cho đơn vị hàng hoá thứ hai, cho nên lợi ích biên của nó chính xác là giá mà người tiêu dùng thanh toán cho nó Nhưng với đơn vị hàng hoá thứ 1 thì người tiêu dùng nhận được lợi ích biên là 4 nghìn đồng, do đó với đơn vị hàng hoá này người tiêu dùng nhận được một thặng dư tiêu dùng là 1 nghìn đồng Để tính toán thặng dư tiêu dùng của người tiêu dùng này, chúng ta phải tính thặng dư tiêu dùng của từng đơn vị hàng hoá một sau đó cộng lại với nhau Tổng này được biểu thị bằng phần diện tích tam giác mầu hồng trong Hình vẽ 1.13 - là 2 nghìn đồng Phần diện tích hình chữ nhật mầu xanh nằm dưới tam giác mầu hồng là tổng thanh toán của người tiêu dùng cho hai đơn vị hàng hoá - 6 nghìn đồng

Để thu được lợi nhuận các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải bán sản phẩm của họ ở mức giá cao hơn các chi phí sản xuất tạo ra nó

Chi phí, Giá cung tối thiểu và cung

Kiếm được lợi nhuận có nghĩa là thu được doanh thu từ bán hàng lớn hơn so với các chi phí sản xuất tạo ra các sản phẩm Cũng giống như những người tiêu dùng phân biệt giữa giá trị và giá cả, những người sản xuất cũng phân biệt giữa chi phí và giá cả Chi phí là những gì mà nhà sản xuất

bỏ ra, còn giá cả là cái mà nhà sản xuất nhận được

Chi phí để sản xuất ra thêm một đơn vị hàng hoá hay dịch vụ là chi phí biên của nó Và chi phí biên là mức giá tối thiểu nhà sản xuất phải nhận được để khuyến khích họ sản xuất thêm một đơn

vị hàng hoá nữa Giá tối thiểu có thể chấp nhận xác định cung

Trong Hình 1.14(a), đường cung cho thấy lượng cung hàng hoá tại mỗi mức giá khác nhau Ví

dụ, tại mức giá là 3 nghìn đồng, lượng cung tương ứng là 10 đơn vị sản phẩm Trong Hình

1.14(b) đường cung lại cho thấy mức giá tối thiểu mà nhà sản xuất nhận được để sản xuất số lượng pizza cho trước Ví dụ, giá tối thiểu mà các nhà sản xuất chấp nhận để họ sản xuất ra 10

Hình 1.14 Cung, Giá và Thặng dư sản xuất

S

0,00 1,00 2,00 3,00 4,00 5,00 6,00

Trang 18

đơn vị sản phẩm là 3 nghìn đồng Cách nhìn thứ hai này về đường cung có nghĩa biết chi phí biên của chiếc pizza thứ 10.000 là 3 nghìn đồng

Vì giá cả là giá tương đối nên một đường cung cho chúng ta biết số lượng các hàng hoá và dịch

vụ khác mà nhà sản xuất phải bỏ qua để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm hàng hoá này Nhưng đường chi phí biên cũng cho chúng ta thấy số lượng hàng hoá và dịch vụ khác mà các nhà sản xuất phải bỏ qua để có thêm một đơn vị hàng hoá này Do đó, đường cung chính là đường chi phí biên

Nếu giá cả mà nhà sản xuất nhận được lớn hơn

chi phí sản xuất mà họ phải gánh chịu, thì họ thu

được thặng dư sản xuất

Thặng dư sản xuất

Khi giá cả lớn hơn chi phí biên thì nhà sản xuất

thu được thặng dư sản xuất Thặng dư sản xuất là

phần chênh lệch giữa giá bán hàng hoá hay dịch

vụ với chi phí cơ hội để sản xuất ra đơn vị sản

phẩm hàng hoá hay dịch vụ đó

Người sản xuất này có thể sản xuất bánh Pizza

hay bánh Mỳ Để sản xuất thêm một chiếc bánh

Pizza thì anh ta phải giảm

bớt một số bánh mỳ Chi phí cơ hội của bánh Pizza là giá trị của số bánh mỳ phải từ bỏ Chi phí

cơ hội này tăng lên khi anh này gia tăng sản xuất bánh Pizza Nếu giá của bánh Pizza chỉ là 10 nghìn VNĐ trên một chiếc thì anh ta không sản xuất chiếc bánh Pizza nào Thay vào đó, anh ta sản xuất một mặt hàng bánh Mỳ Nhưng nếu giá của một chiếc bánh Pizza là 20 nghìn đồng thì anh ta sẽ sản xuất đến 50 chiếc Pizza mỗi ngày và nêu giá cao hơn nữa - 30 nghìn đồng- thì anh ta

sẽ tăng sản lượng bánh Pizza đến 100 chiếc mỗi ngày

Đường cung bánh Pizza của người sản xuất này cũng chính là đường giá cung tối thiểu Nó cho chúng ta thấy rằng nếu anh này chỉ có thể bán được một chiếc bánh Pizza mỗi ngày thì tối thiểu giá của chiếc bánh mà anh ta bán cũng phải là 10 nghìn đồng Nếu anh ta có thể bán được 50 chiếc mỗi ngày thì giá tối thiểu mà anh ta chấp nhận bán đến chiếc bánh thứ 50 phải là 20 nghìn đồng trên một chiếc

Hình 7.15 cho thấy thặng dư sản xuất của người sản xuất này Khi giá thị trường là 30 nghìn đồng trên một chiếc bánh Pizza thì người sản xuất này lập kế hoạch tạo ra và cung ứng đến 100 chiếc mỗi ngày Giá tối thiểu mà anh ta phải nhận được từ chiếc bánh thứ 100 là 30 nghìn đồng Do vậy, chi phí cơ hội của chiếc bánh này chính xác là bằng giá mà anh ta nhận được từ bán nó Nhưng chi phí cơ hội của chiếc thứ nhất chỉ là 10 nghìn đồng Do vậy chiếc bánh thứ nhất đem về cho người sản xuất này một khoản lợi nhuận là 20 nghìn đồng Điều này có nghĩa là anh này đã nhận được thặng dư sản xuất từ chiếc Pizza thứ nhất là 20 nghìn đồng Phần thặng dư sản xuất từ chiếc bánh tứ hai trở đi sẽ ngày càng nhỏ đi và nhỏ hơn 20 nghìn đồng vì giá bán là 30 nghìn đồng - không thay đổi nhưng chi phí cơ hội thì tăng theo sự gia tăng của sản lượng

Trong Hình 7.15, toàn bộ thặng dư sản xuất của người sản xuất này được thể hiện bằng tam giác

Hình1.15 Cung và thặng dư sản xuất của một người sản xuất

0,00 1,00 2,00 3,00 4,00 5,00 6,00

Thặng dư sản xuất

từ đơn vị hàng hoá thứ 50

Giá thị trường Chi phí sản xuất

S

Trang 19

1.7 Hiệu quả của thị trường cạnh tranh

Hình 1.15 thể hiện thị trường bánh Pizza Đường D thể hiện

cầu về bánh Pizza và đường S thể hiện cung của bánh Pizza

Thị trường cân bằng tại mức giá là 30 nghìn đồng một chiếc

Pizza và số lượng mua bán là 10.000 chiếc mỗi ngày Chúng

ta đã biết khi giá lệch ra khỏi mức giá cân bằng nói trên thì

các lực lượng của thị trường sẽ kéo giá và lượng thị trường

hướng tới các giá trị cân bằng của chúng Nhưng cân bằng

cạnh tranh đó có hiệu quả hay không? Nó có tạo ra số lượng

pizza hiệu quả hay không?

Cân bằng trong Hình 1.16 là hiệu quả Các nguồn lực đang được sử dụng để sản xuất số lượng pizza mà mọi người đánh giá là cao nhất Không thể sản xuất nhiều pizza hơn mà không phải từ

bỏ hàng hóa và dịch vụ khác có giá trị cao hơn Và nếu sản xuất một lượng pizza nhỏ hơn thì các nguồn lực được sử dụng để sản xuất hang hóa khác không được đánh giá cao bằng số pizza bị bỏ qua

Để thấy tại sao cân bằng trong Hình 1.16 là hiệu quả, hãy nghĩ đến cách diễn giải đường cầu như

là một đường lợi ích biên và đường cung như là một đường chi phí biên Đường cầu cho ta biết lợi ích biên của pizza Đường cung cho ta biết chi phí biên của pizza Nên khi đường cầu và đường cung cắt nhau thì lợi ích biên và chi phí biên bằng nhau

Nhưng điều kiện này - lọi ích biên bằng chi phí biên - lại chính là điều kiện tạo ra việc sử dụng các nguồn lực hiệu quả Nó đưa các nguồn lực vận hành theo những hoạt động để tạo ra giá trị lớn nhất có thể Vì vậy một cân bằng cạnh tranh là hiệu quả

Nếu sản xuất ít hơn 10.000 chiếc pizza một ngày, thì chiếc pizza cuối cùng có giá trị cao hơn chi phí cơ hội của nó Nếu sản xuất nhiều hơn 10.000 chiếc pizza một ngày, thì chiếc pizza cuối cùng

có chi phí sản xuất lớn hơn giá trị mà người tiêu dung đặt cho nó Chi khi sản xuất đúng 10.000 chiếc một ngày thì giá trị của chiếc pizza cuối cùng đúng bằng chi phí của nó Thị trường cạnh tranh đẩy số lượng pizza được sản sản xuất tới mức hiệu quả của nó là 10.000 chiếc một ngày Nếu sản xuât ít hơn 10.000 chiếc một ngày thì sự thiếu hụt làm tăng giá, điều này kích thích tăng sản xuất Nếu sản xuât nhiều hơn 10.000 chiếc một ngày thì sự dư thừa làm giảm giá, điều này làm giảm sản xuất

Trong một cân bằng cạnh tranh, các nguồn lực được sử dụng hiệu quả để sản xuất hang hóa và dịch vụ mà mọi người đánh giá cao nhất Và khi thị trường cạnh tranh sử dụng các nguồn lực hiệu quả thì tổng tặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất là cực đại

Người mua và người bán đều cố gắng làm tốt nhất mà họ có thể làm cho chính bản thân họ và không ai lên kế hoạch cho việc đạt được hiệu quả tổng thể cho xã hội Những người mua luôn tìm kiếm các mức giá thấp nhất có thể và những người bán lại luôn tìm kiếm các mức giá cao nhất có thể Nhưng kết cục thì xã hội lại đạt được hiệu quả

Hình 1.16 Hiệu quả của thị trường cạnh tranh

0 1 2 3 4 5 6

Thặng dư tiêu dùng

Chi phí biên Lợi ích biên

Lượng hiệu quả

S

D

Trang 20

Chương 2

Co giãn của cầu

Co giãn là khái niệm phản ánh mức độ nhậy cảm của một biếu số này trước sự thay đổi

của một biến số khác Co giãn của cầu theo giá là một khái niệm chỉ sự thay đổi bao nhiêu phần

trăm của lượng cầu của một hàng hoá bất kỳ trước sự thay đổi một phần trăm về giá của chính nó

khi các yếu tố khác không đổi

Ký hiệu EPDlà độ co giãn của cầu theo giá của một hàng hoá Khi đó:

EPD = (∆Q/Q)/(∆P/P) = (∆Q/∆P).(P/Q)

Vấn đề ở đây là giá P và lượng Q nào? tại điểm mới hay trung bình? Để khắc phục vấn đề này

người ta phân chia làm hai trường hợp co giãn của cầu như sau:

quan hệ nghịch: khi giá tăng lên thì lượng cầu giảm xuống và khi giá giảm xuống thì lượng cầu

tăng lên

Hình 2.1 cho thấy 3 đường cầu phủ kín tất cả các trường hợp có thể có về sự co giãn của

cầu Trong phần hình vẽ 2.1(a), lượng cầu là cố định và không phụ thuộc vào giá Nếu lượng cầu

không thay đổi khi giá thay đổi thì độ co giãn của cầu theo giá là luôn luôn bằng không và trong

trường hợp này, cầu được gọi là hoàn toàn không co giãn

Nếu phần trăm thay đổi của lượng cầu nhỏ hơn phần trăm thay đổi của giá thì độ lớn của độ co

giãn của cầu theo giá nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và ta gọi là cầu không co giãn Nếu phần trăm

thay đổi của lượng cầu lớn hơn phần trăm thay đổi của giá thì giá trị tuyệt đối của độ co giãn của

cầu lớn hơn 1 và ta gọi là cầu co giãn Nằm giữa hai trường hợp trên là trường hợp mà trong đó

phần trăm thay đổi của lượng cầu vừa đúng bằng phần trăm thay đổi của giá và độ co giãn của

cầu bằng 1, gọi là cầu co giãn đơn vị Đường cầu trong hình 2.1(b) là một ví dụ cho trường hợp

Trang 21

Nếu lượng cầu thay đổi vô cùng lớn trước sự thay đổi của giá thì độ lớn của độ co giãn của cầu theo giá cũng là vô cùng lớn và cầu trong trường hợp này được gọi là cầu hoàn toàn co giãn (Hình vẽ 2.1(c))

2 0 > EDP > -1 Cầu không co giãn

Độ co giãn của cầu phụ thuộc vào ba yếu tố chính dưới đây:

1- Các hàng hoá thay thế

2- Phần thu nhập chi tiêu cho hàng hoá

3- Khoảng thời gian từ khi giá thay đổi

2.3.1 Các hàng hóa thay thế

Khả năng thay thế càng mạnh thì mức độ co giãn càng cao Ví dụ nhà ở có rất ít hàng hoá

có khả năng thay thế (khách sạn hay nhà nghỉ; nhà bạn bè hay người thân; và đường phố) Do đó, cầu về nhà là không co giãn Ngược lại, các kim loại có nhiều hàng hoá có khả năng thay thế cao,

ví như nhựa và đi lại bằng xe hơi có các hàng hoá thay thế là đi lại bằng các phương tiện công cộng như xe buýt, tầu điện hay đi bộ cho nên cầu về các mặt hàng này là co giãn

Trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày, chúng ta gọi một số hàng hoá, như lương thực và nhà ở là hàng hoá thiết yếu và một số hàng hoá khác, như nghỉ ngơi, giải trí là hàng hoá xa xỉ Các hàng hoá thiết yếu là những hàng hoá ít có khả năng thay thế chúng và chúng là những thứ cốt yếu bảo đảm sức khoẻ và hạnh phúc của chúng ta Cho nên nói chung chúng là những hàng hoá có cầu không co giãn Các hàng hoá xa xỉ là những hàng hoá thường có nhiều hàng hoá thay thế, cho nên chúng thường là những hàng hoá có cầu co giãn

Trang 22

Mức độ thay thế của hai hàng hoá cho nhau cũng còn thuy thuộc vào việc chúng ta xác định chúng khác nhau đến mức nào Ví dụ như dầu mỏ không có mặt hàng nào thay thế rất gần nào, nhưng nếu phân chia dầu mỏ thành các loại khác nhau theo vị trí địa lý thì các loại dầu mỏ khác nhau là những hàng hoá thay thế rất gần cho nhau Dầu mỏ của Saudi Arabian, một loại dầu đặc biệt, là một hàng hoá thay thế rất gần cho một loại dầu đặc biệt khác ở vùng Alaskan North Slope Nếu là một nhà cố vấn kinh tế của Saudi Arabian (hay như một nhà chiến lược kinh tế của

tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC), bạn sẽ không chỉ chú ý đến giá sự tăng lên đơn thuần của giá cả Thậm chí loại dầu này của Saudi Arabian có một vài đặc tính duy nhất mà không loại nào khác có được, thì các loại dầu mở khác vẫn cứ dễ dàng thay thế cho nó và hầu hết những người mua sẽ phản ứng với giá của nó một cách tương ứng khi giá của các loại dầu khác thay đổi

Do đó cầu về dầu của Saudi Arabian là co giãn mạnh

Khi các yếu tố khác không thay đổi, phần thu nhập được chi tiêu cho một hàng hoá nào đó càng lớn thì cầu về hàng hoá đó càng co giãn Nếu chỉ có một phần rất nhỏ của thu nhập được chi tiêu cho một hàng hoá nào đó thì khi giá cả của hàng hoá này thay đổi sẽ chỉ có tác động rất nhỏ đến tổng ngân sách của người tiêu dùng Ngược lại, khi có sự tăng lên rất ít của giá cả của một hàng hoá nào đó mà đòi hỏi phải cần đến phần lớn ngân sách chi tiêu của người tiêu dùng thì làm cho người tiêu dùng phải đánh giá lại những chi tiêu của mình

Khoảng thời gian xem xét càng dài thì cầu càng co giãn Khi giá cả thay đổi, người tiêu dùng thường vẫn tiếp tục mua lượng hàng như trước trong một khoảng thời gian nữa Nhưng với một khoảng thời gian đủ dài, họ sẽ chuyển sang mua những hàng hoá thay thế chấp nhận được và ít tốn kém hơn Như vậy tiến trình thay thế bắt đầu xuất hiện Lượng mua của loại hàng hoá mà bắt đầu trở lên đắt hơn sẽ dần dần giảm xuống Điều này có nghĩa là, theo thời gian, người tiêu dùng

có thể tìm được những hàng hoá thay thế có hiệu quả hơn cho những hàng hoá mà giá cả của nó đang tăng lên Người tiêu dùng cũng có thể tìm được các sử dụng có hiệu quả hơn đối với hàng

hoá mà giá của nó đang giảm xuống

Dự tính xu thế thay đổi của doanh thu (TR) Khi giá thay đổi làm cho lượng cầu thay đổi,

do đó doanh thu sẽ bị ảnh hưởng

Trang 23

STT Giá trị của độ co

1 EDP < -1 Doanh thu (TR) tăng khi giá giảm và ngược lại

2 0>EDP > -1 Doanh thu (TR) giảm khi giá giảm và ngược lại

3 EDP = -1 Doanh thu (TR) không đổi khi giá thay đổi

Số lượng của bất kỳ hàng hoá nào mà người tiêu dùng dự kiến mua phụ thuộc vào giá cả của các hàng hoá thay thế và bổ sung chúng ta đo lường những ảnh hưởng này bằng việc sử dụng khái niệm co giãn chéo của cầu Co giãn chéo của cầu đo lường sự nhạy cảm của cầu đối với sự thay đổi của giá hàng thay thế hoặc bổ sung trong khi các yếu tố khác không thay đổi Biểu thức xác định độ co giãn chéo của cầu là:

Y

X D

Độ co giãn chéo của cầu là một

số dương đối với hàng hoá thay thế và là

một số âm đối với hàng hoá bổ sung

Hình 5.2 sẽ cho thấy tại sao lại như vậy

Khi giá của than - một mặt hàng thay thế

cho dầu mỏ- tăng lên thì cầu về dầu mỏ

cũng tăng lên và đường cầu về dầu mỏ

dịch chuyển sang phải từ D0 đến D1 Vì

sự gia tăng của giá than dẫn đến sự gia

tăng của cầu về dầu nên độ co giãn chéo

của cầu về dầu và giá than là số dương

Khi giá của xe hơi - một hàng hoá bổ

sung của dầu - tăng lên, thì cầu về dầu

giảm xuống và đường cầu dịch chuyển

sang trái từ D0 đến D2 Vì sự gia tăng của giá xe hơi dẫn đến sự giảm xuống của cầu về dầu nên

độ co giãn chéo của cầu về dầu và giá của xe hơi là một số âm Do vậy, các giá trị dương của độ

co giãn chéo của cầu cho biết đó là hàng hoá thay thế và các giá trị âm cho biết đó là hàng hoá bổ sung

Khi thu nhập tăng thì cầu về một mặt hàng nào đó thay đổi như thế nào? Câu trả lời là tuỳ thuộc vào co giãn của cầu theo thu nhập về mặt hàng ấy Co giãn của cầu theo thu nhập đo lường

sự nhạy cảm của cầu trước sự thay đổi của thu nhập khi các yếu tố khác không đổi Biểu thức xác định độ co giãn của cầu theo thu nhập như sau:

Hình 2.3 Co giãn chéo của cầu

Độ co giãn dương

Giá hàn g bổ sung (xe hơi) tăng Độ co giãn âm

Trang 24

Co giãn của cầu theo thu nhập có thể rơi vào ba khả năng sau:

1 Lớn hơn 1 đối với hàng bình thường và cầu co giãn theo thu nhập

2 Nằm giữa 0 và 1 với hàng bình thường và cầu không co giãn theo thu nhập

3 Nhỏ hơn không đối với hàng hoá thấp cấp

Nguồn: Parkin và các tác giả, 2000

Hình 2.4 minh hoạ cho ba trường hợp nói trên Phần (a) của hình vẽ cho thấy trường hợp

độ co giãn của cầu theo thu nhập lớn hơn 1 Khi thu nhập tăng, lượng cầu cũng tăng, nhưng lượng cầu tăng nhanh hơn so với thu nhập Ví dụ về các hàng hoá co giãn theo thu nhập là các mặt hàng

xa xỉ như du lịch quốc tế, đồ trang sức và các tác phẩm nghệ thuật Nhưng cũng có rất nhiều các hàng hoá không thiết yếu là các mặt hàng co dãn theo thu nhập, ví như dịch vụ cắt tóc, làm đầu, hay kế toán

Phần (b) cho thấy trường hợp độ co giãn của cầu theo thu nhập nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Đối với trường hợp này, lượng cầu tăng lên khi thu nhập tăng, nhưng thu nhập tăng nhanh hơn so với lượng cầu Ví dụ, các hàng hoá như lương thực, quần áo, đồ dùng gia đình, tạp chí là những mặt hàng thuộc loại này

Phần (c) cho thấy trường hợp độ co giãn của cầu theo thu nhập nhỏ hơn không (âm) Trong trường hợp này, lượng cầu tăng lên khi thu nhập tăng ở giai đoạn đầu cho đến khi nó đạt giá trị cực đại tại điểm m Từ điểm này trở đi, khi thu nhập tiếp tục tăng lên thì lượng cầu không ngừng giảm xuống Độ co giãn của cầu là dương nhưng nhỏ hơn 1 cho đến mức thu nhập m Trên mức thu nhập m, độ co dãn của cầu theo thu nhập nhỏ hơn 0 Ví dụ cho trường hợp này là các hàng hoá như mặt hàng khoai tây, gạo, bánh mỳ hay xe mô tô loại nhỏ, xe đạp Những người tiêu dùng

có thu nhập thấp mua hầu hết các hàng hoá này Tại các mức thu nhập thấp, cầu về các mặt hàng như vậy tăng lên khi thu nhập tăng Nhưng khi thu nhập tăng đến mức lớn hơn m, những người tiêu dùng thay vì mua những mặt hàng này, ho sẽ mua những hàng hoá khác Ví dụ, xe hơi loại nhỏ thay cho xe mô tô và xe đạp; rau, quả tươi và thịt, cá thay cho khoai tây, gạo và bánh mì, nhất là trong xu thế ăn kiêng

Co giãn âm theo thu nhập

cau luong doi thay tram Phan

Trang 25

Chương 3

Co giãn của cung

3.1 Co giãn cung

Trước tiên chúng ta thấy, giả sử khi quy mô sản xuất của ngành công nghiệp chế tạo máy

móc thiết bị được mở rộng thì nhu cầu về thép sẽ tăng lên Như vậy sẽ có một sự thay đổi về cầu

của thép Sự thay đổi này sẽ dẫn đến sự thay đổi về lượng cung mặt hàng thép trên thị trường

Xuất hiện sự di chuyển dọc theo đường cung về thép Để hình dung xem giá cả và số lượng sẽ

thay đổi như thế nào thì chúng ta cần phải biết lượng cung sẽ phản ứng như thế nào đối với sự

thay đổi của giá cả Điều này có nghĩa là, chúng ta cần phải biết sự co giãn của cung theo giá là

như thế nào (Pindyck, et al., 2001)

Co giãn của cung phản ánh sự nhậy cảm của lượng cung của một hàng hoá đối với sự thay đổi

của giá cả của nó Co giãn của cung theo giá được ký hiệu là E P S

Độ co giãn của cung theo giá được tính bằng tỷ lệ giữa phần trăm thay đổi của lượng cung và

phần trăm thay đổi của giá Biểu thức xác định là như sau:

Vấn đề là giá P và lượng Q nào? là P và Q tại điểm mới hay là P và Q trung bình? Để giải quyết

vấn đề này, người ta phân ra làm hai trường hợp của co giãn của cung là:

Nhận xét: Độ co giãn của cung luôn là số dương vì quan hệ P và Q là thuận

Có hai trường hợp co dãn của cung theo giá Trường hợp thứ nhất là lượng cung cố định, không

bị thay đổi theo sự thay đổi của giá cả Đường cung là đường thẳng đứng Trong trường hợp này,

độ co giãn của cung theo giá bằng không Sự thay đổi của giá không dẫn đến sự thay đổi về lượng

cung Cung hoàn toàn không co giãn Trường hợp thứ hai là đường cung nằm ngang tại một mức

giá nhất định Nếu giá nằm dưới mức giá đó thì không có một đơn vị hàng hoá nào được cung

cấp, còn tại mức giá nói trên thì các nhà cung cấp sẵn sàng cung cấp bất kỳ số lượng cầu nào

Trong trường hợp này, độ co giãn của cung theo giá là không xác định (bằng vô cùng) Một sự

giảm xuống rất nhỏ của giá cả cũng làm cho lượng cung giảm từ vô cùng lớn xuống bằng không

Cung trong trường hợp này là cung hoàn toàn co giãn Mức độ co giãn của cung phụ thuộc vào

các yếu tố sau:

- Khả năng thay thế của các yếu tố nguồn lực

Trang 26

- Khoảng thời gian cho quyết định về cung

3.2 Khả năng thay thế của các yếu tố đầu vào

Theo Parkin (2000), một số loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra từ duy nhất một hoặc rất ít các yếu tố đầu vào Các loại hàng hoá và dịch vụ này có mức độ co giãn của cung rất thấp, thậm chí bằng không Trong khi các hàng hoá và dịch vụ khác lại cần nhiều hơn các yếu tố đầu vào thông thường mà có thể được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau Những hàng hoá như vậy thường có mức độ co giãn của cung cao

Ví dụ như một bức tranh của hoạ sỹ nổi tiếng thế giới Van Gogh được sản xuất bằng duy nhất sức lao động của chính ông chứ không thể bằng của người khác hay các nguồn lực khác Thực tế chỉ

có duy nhất một bức tranh mỗi loại mà ông vẽ, do đó đường cung của bức tranh mỗi loại là đường thẳng đứng và độ co giãn của đường cung là bằng không Ngược lại, đối với mặt hàng gạo thì lại có rất nhiều người trồng lúa và bán gạo, nên đường cung về gạo gần như nằm ngang và mức độ co giãn của nó là vô cùng lớn Tương tự như vậy, khi một mặt hàng nào đó mà nhiều

quốc gia cung sản xuât như đường, sữa, thịt bò thì mức độ co giãn của cung theo giá là rất lớn

Cung của hầu hết các hàng hoá và dịch vụ nằm giữa hai hàng hoá nói trên Lượng hàng hoá sản xuất có thể tăng lên nhưng sẽ chỉ làm cho chi phí sản xuất tăng mà thôi Nếu giá mức giá cao hơn thì lượng cung sẽ tăng lên Những hàng hoá như vậy sẽ có mức co giãn nằm giữa 0 và vô cùng

3.3 Co giãn của cung và khoảng thời gian ra quyết định cung

Để nghiên cứu ảnh hưởng của khoảng thời gian từ khi giá cả thay đổi, chúng ta cần phân biệt ba khoảng thời gian về cung như sau:

1 Cung hiện thời

2 Cung ngắn hạn

3 Cung dài hạn

Cung hiện thời

Khi giá cả của hàng hoá tăng lên hoặc giảm xuống, đường cung hiện thời sẽ thể hiện thay đổi ban đầu về lượng cung Đường cung hiện thời cho thấy sự phản ứng tức thì của lượng cung đối với sự thay đổi của giá Đối với một vài mặt hàng như hoa quả và rau cung hiện thời hoàn toàn không co giãn - đường cung là đường thẳng đứng Các số lượng cung phụ thuộc vào các quyết định về cơ cấu cây trồng ở đầu mùa vụ

Đối với một số loại hàng hoá khác như dịch vụ điện thoại đường dài có cung hiện thời là co giãn Khi nhiều người đồng thời thực hiện cuộc gọi thì sẽ dẫn đến cầu đột ngột tăng làm cung cácc dich

vụ có liên quan của nhà cung cấp tăng mạnh nhưng giá không thay đổi

Cung ngắn hạn

đường cung ngắn hạn cho thấy lượng cung phản ứng như thế nào đối với sự thay đổi của giá cả trong điều kiện chỉ có một vài sự điều chỉnh có thể có về mặt công nghệ đối với quá trình sản xuất được thực hiện Thông thường sự điều chỉnh đầu tiên được thực hiện là sự điều chỉnh về

Trang 27

thường giảm giờ làm việc hoặc sa thải bớt người lao động Thời gian qua đi, các hãng có thể tiến hành thêm một số điều chỉnh, có lẽ đào tạo cho số công nhân được tuyển dụng thêm, hoặc mua thêm máy móc công cụ và thiết khác Phản ứng của lượng cung trong ngắn hạn trước sự thay đổi của giá cả không giống như những thay đổi hiện thời và những thay đổi dài hạn, nó không chỉ đơn thuần là phản ứng với sự thay đổi của giá cả mà còn là một chuỗi những điều chỉnh

Cung dài hạn

Đường cung dài hạn cho thấy sự nhậy cảm

của lượng cung trước sự thay đổi của giá cả sau khi

tất cả các phương án khả thi về mặt công nghệ để

điều chỉnh lượng cung đã được sử dụng Ví dụ đối

với rượu vang, dài hạn là khoảng thời gian cần thiết

để một vườn nho lớn và chín hoàn toàn - khoảng 15

năm Đối một số trường hợp khác, sự điều chỉnh dài

hạn xuất hiện chỉ sau khi nhà máy sản xuất mới

hoàn toàn được xây dựng xong và công nhân được

đào tạo xong để vận hành nhà máy đó - nói chung

quá trình này cần đến vài năm

Ba đường cung

Hình 3.1 cho thấy ba đường cung tương ứng

với ba khoảng thời gian xem xét Đây là những đường cung trên thị trường thế giới về mặt hàng nho ở một ngày cụ thể mà có giá nho là 20 nghìn VNĐ một kg và tổng lượng nho cung cấp là 3 triệu kg Cả ba đường cung đều đi qua điểm có giá bằng 20 nghìn VNĐ một kg và lượng là 3 triệu kg nói trên Đường cung hiện thời là đường hoàn toàn không co giãn và được biểu thị bằng đường MS thẳng đứng Theo thời gian lượng cung trở nên nhạy cảm hơn đối với giá cả nên được biểu thị bằng đường cung ngắn hạn SS Trong khoảng thời gian dài hơn đường cung chuyển thành đường cung dài hạn LS, là đường cung co giãn nhất trong ba đường cung nói trên

Đường cung hiên thời MS cho thấy lượng cung thay đổi như thế nào trước sự thay đổi của giá cả hiện tại Đường cung hiên thời ở đây là hoàn toàn không co giãn Đường cung ngắn hạn SS cho thấy lượng cung thay đổi như thế nào trước sự thay đổi của giá cả sau khi đã tiến hành một số điều chỉnh về sản xuất Đường cung dài hạn LS cho thấy lượng cung thay đổi như thế nào trước

sự thay đổi của giá cả khi những điều chỉnh về mặt công nghệ đối với quá trình sản xuất được thực hiện

Đường cung hiện thời thẳng đứng là bởi vì ở ngày cụ thể nói trên không có sự thay đổi về giá nho nên người những người sản xuất cũng không thay đổi về sản lượng Họ thu hoạch đóng gói và chuyên chở sản phẩm ra thị trường với số lượng có sẵn có và cố định ở ngày xem xét nói trên Đường cung ngắn hạn dốc lên bởi vì các nhà sản xuất có thể hành động một cách nhanh chóng để thay đổi lượng cung cho phù hợp với sự thay đổi của giá cả Ví dụ họ có thể ngừng ngay việc thu hoạch và chuyển nho vào cất trữ bảo quản nếu giá cả giảm xuống đáng kể Hoặc họ

có thể sử dụng thêm các loại phân bón và cải thiện việc tưới tiêu để tăng năng suất trên những diện tích trồng nho hiện có khi giá cả tăng lên Trong dài hạn, họ có thể trồng thêm nho và tăng thêm lượng cung về nho, thậm chí ngay cả ở mức giá hiện thời (Parkin và các tác giả, 2000 và Pindyck và các tác giả, 2001)

Hình 3.1 Cung: Hiện thời, Ngắn hạn và Dài hạn

LS

SS MS

3

2

1

Trang 28

Các trường hợp co giãn của cung theo giá

Bảng dưới đây tập hợp các trường hợp co giãn của cung theo giá của hàng hoá và dịch vụ:

Trang 29

Chương 4 Đánh thuế và sự can thiệp của chính phủ

4.1 Thặng dự sản xuất và tiêu dùng

Ở phần kinh tế học vi mô cơ bản ta đã biết đường cầu mô tả các cá nhân sẽ sẵn sàng thanh toán bao nhiêu cho mỗi lượng hàng hóa, đường cung mô tả các nhà sẽ cung ứng chấp nhận giá bao nhiêu cho mỗi lượng hàng hóa Trong hình 4-1(a) một người tiêu dùng sẽ sẵn sàng thanh toán 8$ cho mỗi đơn vị trong 2 đơn vị hàng hóa đó Nhà cung ứng sẵn sàng bán 2 đơn vị với 2 $ mỗi đơn vị

Nếu người tiêu dùng này trả ít hơn mức anh ta sẵn sàng thanh toán thì anh ta được lợi hơn Vì vậy, khoảng cách giữa đường cầu và giá anh ta trả là một lợi ích ròng đối với người tiêu dùng Các nhà kinh tế gọi lợi ích ròng này là thặng dư tiêu dùng – giá trị người tiêu dùng có được

từ việc mua một một sản phẩm thấp hơn giá của nó Nó thể hiện bằng diện tích nằm dưới đường cầu và trên mức giá mà người tiêu dùng trả Do đó, với mức giá cân bằng (5$), thặng dư tiêu dùng thể hiện bằng diện tích tam giác phía trên

Tương tự, nếu người sản xuất nhận được nhiều hơn mức giá anh ta sẵn sàng bán, thì chị ta cũng nhận được một lợi ích ròng Các nhà kinh tế gọi lợi ích ròng này là thặng dư sản xuất – mức giá người tiêu dùng bán một sản phẩm trừ đi chi phí sản xuất ra nó Nó thể hiện bằng diện tích nằm trên đường cung và dưới mức giá mà người người sản xuất nhận được Do đó, với mức giá cân bằng (5$), thặng dư sản xuất thể hiện bằng diện tích tam giác phía dưới

Cân bằng thị trường đưa ra một tổ hợp các thặng dự tiêu dùng và sản xuất lớn nhất có thể được Để thấy được điều này, hãy giả sử rằng vì lý do nào đó giá cân bằng là 6$ Người tiêu dùng

sẽ chỉ cầu có 4 đơn vị hàng hoá này, và một số người sản xuất không thể bán hết số hàng họ muốn bán Tổ hợp thặng dự tiêu dùng và sản xuất sẽ giảm, như chỉ ra trong hình 4-1(b) Tam giác nhỏ bên phải thể hiện thặng dự tiêu dùng và sản xuất bị mất đi Nói chung, sự chệch khỏi cân bằng của giá làm giảm đi tổ hợp các thặng dự tiêu dùng và sản xuất Đó là một trong những lý do

mà các nhà kinh tế ủng hộ thị trường và tại sao chúng ta lại sử dụng mô hình cung/cầu Nó cho ta cho ta thấy ý nghĩa trực giác tính ưu việt của thị trường ở chỗ: Bằng việc cho phép trao đổi thương mại thì các thị trường cực đại hóa thặng dự tiêu dùng và sản xuất

Trang 30

Hình 4- 1 Thặng dự tiêu dùng và thặng dự sản xuất

(a)

(b)

4.2 Phân tích phạm vi ảnh hưởng của thuế và trợ cấp

Ta thấy cân bằng thị trường cực đại hóa giá trị thặng dư sản xuất và tiêu dùng Bất cứ một hạn chế thương mại tự nguyện nào đều làm thị trường mất cân bằng và giá trị này bị giảm đi

và làm thay đổi sự phân bổ thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng, trong đó có thuế Mọi người không thích đóng thuế Nhưng chính phủ cần thuế để vận hành, và thị trường cũng cần đến chính phủ Nếu chính phủ không có hệ thống thuế vận hành tốt, thì nó không thể đưa ra cấu trúc thể chế

cần thiết để thị trường vận hành theo mong muốn của xã hội

Thặng dư sản xuất

Thặng dư sản xuất Thặng dư tiêu dùng

Trang 31

4.2.1 Lợi ích của việc đánh thuế

Lợi ích của việc đánh thuế là những thành quả đối với xã hội có được từ những hàng hóa

và dịch mà chính phủ cung cấp, cụ thể là:

1 Đưa ra bộ luật và thể chế ổn định

2 Khuyến khích cạnh tranh khả thi và hiệu quả

3 Chỉnh sửa các ngoại ứng

4 Đảm bảo ổn định kinh tế và tăng trưởng

5 Cung ứng hàng hóa công cộng

6 Điều chỉnh những kết quả không mong muốn của thị trường

4.2.2 Ai chịu gánh nặng của thuế?

Ai cũng muốn chuyển thuế cho ai đó Không ai muốn đóng thuế, và thường xuyên có những cuộc tranh cãi chính trị lớn về việc chính phủ cần đánh thuế ai và đánh thuế cái gì Vấn đề

ai chịu gánh nặng của thuế là rất phức tạp và thường gây tranh cãi Ở đây ta nghiên cứu trường

hợp ảnh hưởng của thuế đối với loại thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế

đánh vào một hàng hóa cụ thể Khoản thuế tiêu thụ đặc biệt có thể được đánh vào ai, người tiêu dùng hay người bán hàng Ảnh hưởng của thuế trên mỗi đơn vị hàng hóa có thể được nghiên cứu bằng mô hình toán của phân tích cung-cầu

Tuy nhiên, một người nộp tiền thuế không nhất thiết phải là người chịu gánh nặng của thuế Ai chịu gánh nặng của thuế (hay còn gọi là phạm vi ảnh hưởng của thuế) phụ thuộc vào ai

có khả năng tốt nhất thay đổi hành vi của mình để phản ứng lại với thuế Độ co giãn và phân tích cung/cầu dẫn ta trả lời câu hỏi “Ai sẽ là người cuối cùng chịu gánh nặng của thuế?” (hay “Đâu là

phạm vi ảnh hưởng của thuế”) Câu trả lời là gánh nặng của thuế phụ thuộc vào độ co giãn tương đối của cung và cầu từ phân tích dưới đây

Xét một hàng hóa có mô hình cung cầu:

cầu là một hàm phụ thuộc vào giá: QD = D(p)

cung là một hàm phụ thuộc vào giá: QS = S(p)

Tại cân bằng cung cầu khi chưa đánh thuế có: pD = pS; QD = QS

Giả sử chính phủ đánh một mức thuế t trên mỗi đơn vị hàng hóa bán ra Khi đó chênh lệch giữa giá người mua phải trả pD và giá người bán nhận được pSđúng bằng t dưới dạng:

Trang 32

Nhân cả tử và mẫu của vế phải (4.5) với P/Q và vì giá và lượng của cung và cầu tại cân bằng tương ứng bằng nhau, nên ta có:

S P

E E

S P

E E

D P

E E

D P

E E

Trang 33

là người trực tiếp nộp thuế (người mua hay người bán), mà nó nó phụ thuộc vào độ co

giãn tương đối của cung và cầu

2 Co giãn tương đối của cầu kém hơn cung thì người tiêu dùng chịu phần thuế lớn hơn

3 Co giãn tương đối của cầu lớn hơn cung thì người bán chịu phần thuế lớn hơn

4 Nếu cầu không co giãn hoàn toàn thì người tiêu dùng hoàn toàn chịu gánh nặng của

thuế

5 Nếu cầu co giãn hoàn toàn thì người bán hoàn toàn chịu gánh nặng của thuế

6 Nếu cung không co giãn hoàn toàn thì người bán hoàn toàn chịu gánh nặng của thuế

7 Nếu cung co giãn hoàn toàn thì người tiêu dùng hoàn toàn chịu gánh nặng của thuế

4.2.3 Phân tích phúc lợi

Hình 4.2 cho phép phân tích phúc lợi do ảnh hưởng của thuế Mức thuế t trên mỗi đơn vị hàng hóa tạo ra một khoảng cách theo trục tung giữa đường cầu và đường cung đúng bằng mức chện lêch giữa giá người mua thanh toán và giá người bán nhận được, và lượng giao dich giảm xuống Q** Người tiêu dùng mất đi một lượng thặng dư tiêu dùng bằng diện tích PDFEP*, trong

đó lượng bằng PDFHP* được chuyển cho chính phủ là phần chịu thuế của người tiêu dùng trong tổng doanh thu thuế Người sản xuất cũng dùng mất đi một lượng thặng dư sản xuất bằng diện tích P*EGPS, trong đó P*HGPS là phần chịu thuế của người sản xuất trong tổng doanh thu thuế (PDFGPS) Lưu ý lượng giảm giá trị tổng thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất lớn hơn giá trị tổng doanh thu từ thuế bằng diện tích FEG Diện tích này thể hiện “mất không” phúc lợi xuất hiện từ các giao dịch lợi ích lẫn nhau do thuế gây ra Nói chung, độ lớn của tất cả các diện tích khác nhau minh họa trong hình 4.2 còn phụ thuộc vào các độ co giãn có liên quan Để xác định phạm vi ảnh hưởng cuối cùng của thuế đối với phần chịu thuế của người sản xuất còn cần đến một phân tích tường minh về thị trường các đầu vào – gánh nặng của thuế có thể được phản ánh trong việc giảm giá thuê các đầu vào khi cung kém co giãn Như vậy, một phân tích tổng thể về phạm vi ảnh hưởng của thuế còn cần tới một mô hinh cân bằng tổng quát để có thể xử lý nhiều thị trường cùng một lúc

4.2.4 Mất không phúc lợi và độ co giãn

Tất cả các loại thuế không phải là thuế cả gói đều gây ra mất không vì chúng làm biến đổi hành vi của các tác nhân kinh tế Độ lớn của mất không như vậy phụ thuộc vào các độ co giãn cung cầu trên thị trường theo một cách thức khá phức tạp Xấp xỉ tuyến tính đối với mất không này khi có một lượng thuế nhỏ dt được cho bởi:

S P E E

E

− .dt. P00

Q

(4.14) Thế (4.14) vào (4.12), ta có:

Trang 34

S P D P E E

E E

E = -1,2 và ES p = 1 Lượng chi tiêu ban đầu cho ô tô P0Q0 tính được xấp xỉ

126 tỉ $ Nếu thuế ô tô là 2,64 nghìn $ mỗi chiếc thì lượng mất không do thuế là:

DW = 0,5

2

87,9

64,2

1.2,1+ 126 = 2,46 tỉ $ (4.16)

4.2.5 Chi phí giao dịch

Tuy thảo luận này là lý thuyết về phạm vi ảnh hưởng của thuế, nhưng các mô hình liên quan tới khoảng cách giữa giá người mua và giá người bán có rất nhiều ứng dụng khác nhau trong kinh tế học Có lẽ quan trọng nhất của các chi phí đó liên quan tới việc tạo ra các giao dịch thị trường Trong một số trường hợp các chi phí này ở dạng hiện Ví dụ, hầu hết các giao dịch về bất động sản liên quan tới người môi giới thứ ba Người môi giới đặt ra một khoản phí làm dịch

vụ đưa người mua và người bán đến với nhau Các phí giao dich ở dạng hiện tương tự như trong buôn bán cổ phiếu, trái phiếu, thuyền, máy bay và thực tế là bất cứ thứ gì được xem là chắc chắn khi đấu giá Trong tất cả những tình huống như vậy người mua và người bán sẵn sàng thanh toán một mức phí ở dạng hiện cho người môi giới hay ai đó tạo điều kiện cho giao dịch Trong các giao dịch khác chi phí có thể lại ở dạng ẩn Ví dụ, mọi người cố gắng đi mua xe ô tô cũ sẽ mất nhiều thời gian và nỗ lực đọc quảng cáo và kiểm tra phương tiện, và các hoạt động đó là rốt cuộc

là một chi phí ẩn để tạo ra giao dịch

Để đánh giá các chi phí giao dịch dựa trên mỗi đơn vị (như trong các ví dụ về bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu), thì việc áp dụng chính xác như trong việc đánh thuế của chúng ta ở trên Từ góc độ người mua và người bán, thì có rất ít khác biệt giữa việc t thể hiện mức thuế trên mỗi đơn vị hay phí giao dịch trên mỗi đơn vị, vì phân tích ảnh hưởng của mức phí trên thị trường cũng giống như vậy Có nghĩa, mức phí cũng được phân chia cho người mua và người bán phụ thuộc vào các độ co giãn cụ thể có liên quan Lượng giao dịch sẽ nhỏ hơn so với trường hợp không có phí như vậy Tuy nhiên, việc phân tích sẽ khác đi nếu chi phí giao dịch là chi phí cả gói cho mỗi lần giao dịch Khi đó mọi người sẽ tìm cách giảm số lần giao dịch, chứ sự tồn tại của phí giao dịch không tác động tới cân bằng cung-cầu Ví dụ, chi phí hoạt động đối với siêu thị chủ yếu

là chi phí giao dịch cả gói đi vào mua hàng Sự tồn tại một chi phí như vậy không tác động đáng

Trang 35

của riêng họ) nhưng phí đó sẽ làm mọi người giảm số lần đi mua, và mỗi lần mua số lượng nhiều hơn để tích trữ trong nhà của họ so với trường hợp không mất khoản phí như vậy

cụ thể đều làm giảm sức mua của một người và bóp méo các lựa chọn của họ vì các giá nhân tạo được kết hợp lại trong những kiểu như vậy Vì vậy, thuế hay trợ cấp thu nhập nói chung được ưa chuộng hơn nếu hiệu quả là một tiêu chuẩn trong chính sách xã hội

Hình 4.3: Nguyên lý đánh thuế gộp

Nguyên lý đánh thuế gộp khi áp dụng để đánh thuế được minh họa trong hình 4.3 Ban đầu, một người có thu nhâp I lựa chọn tiêu dùng là bộ hàng hóa (x*1, x*2 ) Thuế đánh vào hàng hóa 1 làm tăng giá của nó, và lựa chọn cực đại hóa lợi ích sẽ dịch chuyển tới bộ hàng hóa (x1, x2 ) Thu nhập thuế là t.x1 (t là mức thuế đánh vào hàng hóa 1) Cách khác, thuế thu nhập làm dịch chuyển đường giới hạn ngân sách vào phía trong tới I’ cũng có cùng lượng thu nhập thuế đó Nhưng lợi ích mang lại với thuế thu nhập (U2) lớn hơn lợi ích mang lại với thuế đánh riêng vào hàng hóa 1 (U1) Như vậy, lợi ích mất đi do thuế thu nhập là nhỏ hơn Tương tự, có thể thấy tính ưu việt hơn của trợ cấp thu nhập so với trợ cấp hàng hóa cụ thể

4.2.7 Ảnh hưởng tới các thuộc tính giao dịch

Nói chung, thuế hay chi phí giao dịch có thể tác động tới một số thuộc tính giao dịch nhiều hơn so với những thứ khác Trong mô hình hình thức, chúng ta giả sử những chi phí như vậy dựa trên lượng hàng hóa được bán thực tế Mong muốn của người mua và người bán để cực

Trang 36

tiểu hóa chi phí vì vậy dẫn tới giảm lượng hàng hoá thương mại Khi các giao dịch liên quan tới một số phương diện (như chất lượng, rủi ro, hay thời gian), thì thuế hay chi phí giao dịch có thể tác động đến một số hay tất cả các phương diện này, tùy thuộc vào cơ sở để đánh giá chi phí đó

Ví dụ, thuế đánh vào số lượng có thể làm cho hãng nâng cao chất lượng sản phẩm, chi phí giao dịch dựa trên thông tin có thể khuyến khích hãng sản xuất ít rủi ro hơn, tiêu chuẩn hóa hàng hóa Tương tự, chi phí mỗi giao dịch (đi đến cửa hàng) có thể làm cho mọi người đi mua ít hơn nhưng giao dịch lớn hơn (và tích trữ nhiều hơn) Những khả năng thay thế khác nhau như vậy rõ ràng còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của các giao dịch

Tuy nhiên, do mục đích điều tiết đôi khi chính phủ tìm cách kiểm soát giá dưới mức giá cân bằng thị trường – còn gọi là chính sách giá trần Mặc dù thông qua những chính sách như vậy

có thể dựa trên những động cơ tốt đẹp, nhưng việc kiểm soát giá ngăn cản đáp ứng cung dài hạn

và tạo ra mất không phúc lợi cho cả người tiêu dùng và người sản xuất

Như hình 4.4 minh họa, ban đầu cân bằng thị trường dài hạn tại P1,Q1(điểm E) Khi cầu tăng lên

từ D tới D’ làm cho giá tăng tới P2trong ngắn hạn và khuyến khíchh các hãng mới nhập ngành Giả sử trong dàị hạn do nhập ngành giá thị trường hạ xuống cuối cùng đạt tới mức giá P3 Nếu những thay đổi giá đó là không mong muốn, về nguyên tắc chính phủ có thể ngăn chúng lại bằng cách đặt ra một mức giá trần P1 ép buộc theo luật Điều đó làm cho các hãng tiếp tục cung mức ban đầu của họ (Q1), và người tiêu dùng muốn mua bây giờ một lượng Q4, nên có sự thiếu cung một lượng bằng Q4-Q1

Hình 4-4 Kiểm soát giá và thiếu cung

4.3.1 Đánh giá phúc lợi

Hậu quả về phúc lợi của chính sách kiểm soát giá này có thể ước lượng bằng cách so sánh các giá trị thặng dư tiêu dùng và sản xuất dưới chính sách này với những giá trị thặng dư tiêu

Giá

P2

P3

P1

Trang 37

là diện tích P3CEP1; do họ có thể mua hàng hoá này với mức giá thấp hơn so với ở thị trường không bị kiểm soát giá Lợi ích này là sự chuyển giao thuần tuý của người sản xuất từ lượng thặng dư sản xuất khi không có kiểm soát Lượng người tiêu dùng được là lượng mất đi của người sản xuất Mặc dù chuyển giao này không thể hiện sự mất đi phúc lợi chung, nhưng nó ảnh hưởng rõ ràng đến phức lợi tương đối của những người tham gia thị trường

Thứ hai, diện tích AE’C thể hiện giá trị thặng dư tiêu dùng tăng thêm đáng ra có được khi không kiểm soát Tương tự, diện tích CE’E thể hiện giá trị thặng dư sản xuất tăng thêm đáng ra

có được khi không có kiểm soát Tổng hai diện tích này (AE’E) thể hiện tổng giá trị của các giao dịch lợi ích lẫn nhau bị ngăn cản bởi chính sách kiểm soát giá của chính phủ Vì vậy, đó là giá trị chi phí phúc lợi thuần tuý của chính sách này

4.3.2 Hành vi bất cân bằng

Phân tích phúc lợi mô tả trong hình 1.3 cũng còn cho thấy một số kiểu hành vi có thể xảy

ra do hậu quả của chính sách kiểm soát giá Giả sử người cung ứng bằng lòng với mức đầu ra Q1

nhưng với người có cầu thì không vì họ buộc phải chấp nhận tình trạng dư cầu Họ có động cơ phát tín hiệu chưa thoả mãn của mình tới nhà cung ứng bằng cách đưa ra giá cao hơn Việc đưa ra giá như vậy không những xúi giục các nhà cung ứng trong ngành bán hàng bất hợp pháp với mứcgiá cao hơn so với giá được phép,mà còn khuyến khích những người nhập ngành mới tham gia buôn bán như vậy Đậy là kiểu hành động dẫn tới việc phổ biến các chợ đen trong hầu hết các trường hợp kiểm soát giá Mô hình hóa các giao dịch buôn bán này rất khó vì hai lý do Thứ nhất, các giao dịch buôn bán này liên quan tới hành vi không chấp nhận giá vì giá của mỗi cuộc mua bán được mặc cả bởi cá nhân hơn là bởi “thị trường” Thứ hai, các giao dịch bất cân bằng thường liên quan tới thông tin không hoàn hảo

Đôi khi chính phủ thực thi chính sách hạn chế số lượng hàng bán trên thị trường, chẳnh hạn hạn chế số lượng hàng bán ô tô trên thị trường để kiểm soát khí thải gây ô nhiễm Phạm vi ảnh hưởng của một chính sách hạn chế thương mại tự nguyện như vậy cũng gây ra mất không giống như việc kiểm soát giá hay đánh thuế

Khi cung cầu là các đường tuyến tính thì diện tích mất không là một tam giác gọi là tam giác mất không phúc lợi Ví dụ, nếu cho đường cầu QD = 10 - P và đường cung QS = P – 2 thì cân

bằng thị trường tại điểm P* =6, Q* = 4 Nếu hạn chế lượng hàng bán Q’ = 3 sẽ tạo ra khoảng

cách giữa giá người tiêu dùng sẵn sàng thanh toán (PD = 10 – Q’ = 10 - 3 = 7) và giá người bán yêu cầu (PS = 2 + Q’ = 2 + 3 = 5) Tam giác mất không phúc lợi có đáy là mức chênh lệch giá bằng 2 (=7-5) và chiều cao bằng 1 (khoảng cách giữa Q* và Q’) Thì lượng mất không là một $ nếu P tính bằng $ trên một đơn vị và Q tính bằng đơn vị

Trong các nghiên cứu thường sử dụng các đường cung cầu có độ co giãn không đổi, thì mất không có thể được tính xấp xỉ qua tam giam mất không phúc lợi Lấy lại ví dụ về thị trường ô

tô có đường cầu QD =200.P−1,2 và đường cung QS=1,3.P với giá P tính bằng nghìn $ và Q tính bằng triệu chiếc Cân bằng thị trường tại Q* = 12,8 và P* = 9,87 Giả sử chính sách chính phủ bây giờ là hạn chế lượng bán ô tô 11 triệu chiếc để kiểm soát khí thải gây ô nhiễm

Với Q’ = 11 thì PD = (11/200)−0,83= 11,1, và PS = 11/1,3 = 8,46 Vì vậy “tam giác” mất không phúc lợi tính được là:

0,5.( PD-PS).(Q*-Q’) = 0,5.(11,1-8,46).(12,8-11) = 2,38 tỉ $

Trang 38

Vì vậy, giá trị mất không phúc lợi xấp xỉ 2,4 tỉ $ là sự đánh đổi lại lợi ích kỳ vọng từ việc kiểm soát ô nhiễm

Trong trường hợp này, mất không phúc lợi được phân phối cho người tiêu dùng và người sản xuất

Phần mất không của người tiêu dùng xấp xỉ bằng:

Hình 4.5: Mở cửa thương mại quốc tế làm tăng tổng phúc lợi

4.4.1 Lợi ích từ thương mại quốc tế

Hình 4.5 minh họa các đường cung cầu trong nước của một hàng hóa cụ thể, chắng hạn là giầy khi không có thương mại quốc tế giá và lượng giầy cân bằng là P* và Q* Dù cho cân bằng này đã tận dụng hết tất cả các giao dịch lợi ích lẫn nhau của các nhà sản xuất và tiêu dùng trong nước, thì mở cửa thương mại quốc tế vẫn đưa ra nhiều lựa chọn tăng thêm Nếu giá giầy thế giới

PWthấp hơn giá nội địa phổ biến P*, thì mở cửa thương mại sẽ làm giảm giá xuống mức của thế giới Sự giảm giá này làm cho lượng cầu tăng lên đến Q1, trong khi lượng cung của các nhà sản xuất trong nước sẽ giảm xuống Q2 Lượng giầy nhập khẩu là Q1-Q2 Tóm lại, lượng giầy nhà sản

Trang 39

Dự dịch chuyển cân bằng từ E0 tới E1làm tăng thặng dư tiêu dùng lên rất lớn bằng diện tích P*E0E1Pw Một phần lợi ích phản ánh sự chuyển giao từ nhà sản xuất trong nước (diện tích P*E0APw), một phần thể hiện rõ ràng phúc lợi dành được (diện tích E0E1A) Nguồn lợi ích tiêu dùng có được ở đây là rõ ràng vì người mua có được giầy với giá thấp hơn so với cung ứng ở thị trường trong nước trước đây Như trong phân tích về thuế, sự mất không thặng dư sản xuất gây ra bởi các đầu vào làm cho đường cung dài hạn có độ dốc đi lên Chẳng hạn nếu ngành giầy trong nước mở rộng sản xuất thì phải tăng chi phí để tăng lương cho người sản xuất giầy; việc giảm sản lượng từ Q* xuống Q2do hậu quả của thương mại chính là sự đảo ngược quá trình này, làm cho lương người sản xuất giầy giảm

4.4.2 Bảo vệ bằng thuế quan và chính sách thương mại

Nói chúng thuế nhập khẩu làm tăng giá hàng hóa, giảm lượng cầu nhập khẩu đồng thời kích thích tăng sản xuất trong nước

Người sản xuất giầy không muốn mất lương do giầy nhập khẩu ép xuống Thay vao đó,

họ sẽ gây áp lực với chính phủ để bảo vệ ngăn dòng giầy nhập khẩu Do mất không thặng dư sản xuất chỉ bởi số người tương đối nhỏ gánh chịu trong khi lợi ích thặng dư tiêu dùng có được từ thương mại lại trải ra cho rất nhiều người mua giầy, nên người sản xuất giầy có động cơ mạnh hơn rất nhiều nhằm tổ chức chống lại nhập khẩu giầy so với người tiêu dùng có thể tổ chức để giữ cho thương mại tự do Kết quả là các biện pháp bảo hộ được thông qua

Hình 4.6: Ảnh hưởng của thuế nhập khẩu

Trong lịch sử, biện pháp bảo hộ quan trọng nhất được sử dụng là biểu thuế quan, một loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu Ảnh hưởng của loại thuế nhập khẩu như vậy được minh họa trong hình 4.6 Cân bằng tự do thương mại ban đầu tại điểm E1 Đánh mức thuế nhập khẩu T trên mỗi đơn vị vào giầy đối với người mua trong nước làm tăng giá lên PW + T = PR Việc tăng giá này làm cho lượng cầu giảm từ Q1 xuống Q3, trong khi sản xuất trong nước mở rộng từ Q2 lên Q4 Tổng lượng giầy nhập khẩu giảm từ Q1-Q2 xuống Q3-Q4 Do mỗi đôi giầy nhập khẩu đều phải đóng thuế, nên tổng doanh thu thuế cho bởi diện tích BE2DC bằng t.(Q3-Q4)

Áp thuế nhập khẩu giầy tạo ra rất nhiều ảnh hưởng phúc lợi khác nhau Tổng thặng dư tiêu dùng giảm đi bằng diện tích PRE2E1Pw Một phần trong số đó chuyển sang doanh thu thuế và

B

Trang 40

một phần chuyển thành thặng dư sản xuất trong nước (PRBAPw) Hai tam giác còn lại là BCA và

E2E1D thể hiện những mất không thặng dư tiêu dùng không chuyển sang được cho ai; những diện tích này là mất không phúc lợi do thuế nhập khẩu, tương tự như gánh nặng phải chịu thêm như bất cứ loại thuế nào Tất cả các diện tích này có thể đo được nếu sẵn có ước lượng thực nghiệm của các độ giãn cung cầu trong nước đối với loại hàng hóa nhập khẩu như trình bày dưới đây

4.4.3 Ước lượng mất không phúc lợi do thế nhập khẩu

Gọi phần trăm đánh thuế là t với T = t.Pw; do PR = (1+t)Pwnên tỉ lệ thay đổi lượng cầu do giá tăng là:

1

1 3

p

EES p có độ lớn như nhau (về giá trị tuyệt đối), thi có thể thấy DW1 chiếm phần lớn hơn trong tổng hai phần mất không phúc lợi này Các mất không phúc lợi này đôi khi lớn hơn cả phần chuyển giao cho người sản xuất (diện tích

PRBAPw), và khi đó dẫn đến “chi phí “ do thuế nhập khẩu lớn hơn giá trị lợi ích của sản xuất trong nước có được do thuế này

Tóm lại, thuế nhập khẩu gây ra 3 tác động cơ bản sau:

- Đối với các nhà sản xuất trong nước , sản xuất của họ sẽ được mở rộng dưới sự bảo trợ về giá của thuế nhập khẩu

- Đối với người tiêu dùng h ay người sản xuất trong nước , họ phải đối mặt với giá cả cao hơn và tiêu dùng suy giảm, tính cạnh tranh của hàng hóa yếu đi

- Chính phủ có được thu nhập từ thuế nhập khẩu

4.4.4 Các biện pháp bảo hộ thương mại khác

Có nhiều biện pháp hạn chế thương mại khác có thể được minh hoạ thích ứng với mô hình thuế nhập khẩu đã trình bày trong hình 1.5 Chẳng hạn chính phủ dùng quota để hạn chế nhập khẩu Quota là lượng hàng hóa được chính phủ cho phép nhập khẩu vào nước mình Về thực chất quota cũng có tác động giống như thuế nhập khẩu Tuy nhiên, thuế nhập khẩu tạo ra một khoản doanh thu cho ngân sách nhà nước , và có thể cho phép giảm các loại thuế khác , vì vậy có thể bù đắp một phần thiệt hại cho tiêu dùng trong nước Còn quota lại dành khoản lợi nhuận do chênh lệnh giá cho các nhà nhập khẩu may mắn có được giấy phép nhập khẩu

Trong hình 1.5 quota làm hạn chế lượng nhập khẩu xuống còn Q3-Q4có ảnh hưởng tương

tự như đã trình bày về thuế nhập khẩu: giá thị trường tăng lên P ; một phần thặng dư tiêu dùng

Ngày đăng: 12/04/2021, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w