Hiện trạng trên là do nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan mà chúng ta đều đã biết như: địa hình phức tạp, giao thông cách trở, thiếu cán bộ nghiên cứu, thiếu kinh phí đầu tư th[r]
Trang 1NỘI DUNG TÀI LIỆU:
I VIỆC DẠY HỌC SỬ ĐỊA PHƯƠNG (THCS, THPT).
II VIỆC DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 7 (chương trình mới).
III THIẾT KẾ BÀI HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG.
IV LỊCH SỬ ĐẮK LẮK CÁC DANH NHÂN, ĐỊA DANH, DI TÍCH.
và đề cao “chiến lược con người” Để thực hiện được chiến lược này, rõ ràngkhông thể xem nhẹ việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc
và đặc biệt là thái độ của lớp trẻ đối với lịch sử, đối với cội nguồn, đó chính là
những viên đá đặt nền móng cho sự nghiệp hiện đại hoá - công nghiệp hoá để
đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, trở thành giàu mạnh và phồnvinh
Trang 2b Chủ trương của đảng và nhà nước trong việc gìn giữ và phát huy vốn văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc.
Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, trong nghị quyết của mình, Đảng tachỉ ra rằng cần thiết phải xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc theo định hướng XHCN Tiếp đó, đại hội lần thứ VIII của Đảng cũng đãnhận định: trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa giao lưu, mở rộng quan
hệ quốc tế có rất nhiều sự tác động tiêu cực từ bên ngoài làm ảnh hưởng xấu đến
tư tưởng, đạo đức, lối sống và cách nghĩ của nhiều người, nhất là giới trẻ Vìvậy, cần phải có những chính sách, giải pháp kịp thời và khả thi trong việc giáodục truyền thống tốt đẹp của cha ông, của đất nước đối với lớp trẻ Mỗi côngdân trong tương lai phải ý thức được rằng tất cả những gì chúng ta có được ngàynay đều được đánh đổi bằng xương máu của cha ông chúng ta, do đó chúng takhông ai được phép quên đi nguồn cội của mình Để làm được điều này, nghịquyết của Đảng cũng chỉ ra rằng cần phải khôi phục, tôn tạo và giữ gìn những ditích Lịch sử - Văn hoá của dân tộc
c Vị trí - vai trò của Lịch sử địa phương
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có một mối quan hệ biện chứngkhông thể tách rời, nằm trong cặp phàm trù “cái chung và cái riêng” Tri thứclịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động và đa dạng của tri thức lịch sửdân tộc Lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc Nói cáchkhác, lịch sử dân tộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch sửđịa phương đã được khái quát và tổng hợp ở mức độ cao
Chúng ta đều biết rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy rađều mang tính chất địa phương, vì nó gắn với một vị trí không gian cụ thể củamột địa phương nhất định dù rằng các sự kiện đó có tích chất, quy mô và mức
độ ảnh hưởng khác nhau Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng ảnhhưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp nhưng cũng có những sự kiện, hiện tượng mà tácđộng của nó vượt ra khỏi khung giới địa phương, mang ý nghĩa quốc gia, thậmchí là ý nghĩa quốc tế Mặt khác, tìm hiểu về lịch sử địa phương không chỉ là
Trang 3việc riêng của các nhà nghiên cứu mà còn là nhu cầu của mỗi con người Từ thời
cổ đại, Xixirôn - một chính trị gia nổi tiếng của La Mã đã nói: “Lịch sử là côgiáo của cuộc sống” Chính vì lẽ đó, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc còn bao hàm
cả sự am tường cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về quê hương, xứ sở,nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối quan hệ giữa lịch sử địa phương vàlịch sử dân tộc Chính Bác Hồ kính yêu, vừa là vị lãnh tụ thiên tài, vừa là nhà sửhọc đã dạy rằng:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
(Hồ Chí Minh – Lịch sử nước ta)
d Chủ trương kế hoạch đổi mới chương trình sách giáo khoa lớp 1 – 6.
Năm 2002, nhằm từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới sự nghiệp giáodục, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã trình lên Quốc hội và được Quốc hội phêchuẩn kế hoạch đổi mới chương trình sách giáo khoa lớp, bắt đầu từlớp 1 và lớp
6 cho đến hết Việc thay sách được triển khai thực hiện theo hình thức cuốnchiếu Cho đến nay, chủ trương và kế hoạch này mặc dùđã được thực hiện quahai năm học nhưng vẫn còn hết sức mới mẻ,thậm chí còn nhiều ý kiến tranh luậnsôi nổi, đòi hỏi cần phải có thời gian thể nghiệm và kiểm chứng để có cơ sở thựctiễn tốt hơn cho việc hoàn thiện thay sách giáo khoa
đã được xã hội hoá, thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhiều tầng lớp và
Trang 4nhiều ngành, trong đó ngành công nghiệp du lịch là đáng kể nhất Đặc biệt,trong thời kỳ đổi mới và mở rộng giao lưu quốc tế, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểulịch sử địa phương lại càng được chú trọng
Ở nước ta, việc nghiên cứu lịch sử địa phương, với tư cách là một ngànhkhoa học được bắt đầu từ sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc Từ sau ngàymiền Nam giải phóng, công tác này được tiến hành trên phạm vi cả nước Hầuhết các tỉnh đã biên soạn được lịch sử của tỉnh và kể cả của huyện, xã Tuynhiên, việc dạy và học lịch sử địa phương chưa được tiến hành đều khắp trongphạm vi cả nước mà mới chỉ dừng lại ở một số điển hình như các trường THPT
ở Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định…Đối với các tỉnh miền núi thìcông tác này hầu như chưa được coi trọng Hiện trạng trên là do nhiều nguyênnhân, cả khách quan lẫn chủ quan mà chúng ta đều đã biết như: địa hình phứctạp, giao thông cách trở, thiếu cán bộ nghiên cứu, thiếu kinh phí đầu tư thíchđáng; chế độ, chính sách đối với những người làm công tác nghiên cứu chưa hợplý… Trong điều kiện đó, tôi thiết nghĩ rằng việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sửđịa phương là trách nhiệm của đội ngũ giáo viên dạy bộ môn lịch sử
b Thực tiễn hết sức phong phú của nguồn tư liệu kiến thức lịch sử địa phương:
Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta, mỗi tấc đất đều thắm đượmmáu cha ông và ghi dấu những trang oanh liệt của cuộc đấu tranh dựng nước vàgiữ nước Mỗi tên đất, tên người đều là một niềm tự hào của cả dân tộc Có thểkhẳng định rằng: không một địa danh nào của dân tộc ta là không gắn liền vớimột sự kiện lịch sử nào đó Người ngoại quốc đã phải thốt lên rằng:
“…Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng,
Đến em thơ cũng hoá những anh hùng
Đến ong dại cũng hoá thành chiến sĩ
Và hoa trái cũng trở thành vũ khí…”
(Tố Hữu tuyển tập – NXB Văn học)
Trang 5Ở Dak Lak, mảnh đất chứa đựng trong lòng nó tính đặc sắc của nền vănhoá các dân tộc thiểu số cũng là một kho tư liệu hết sức phong phú về lịch sử địaphương (Xem phần phụ lục) Vì lẽ đó, không có lí do nào để chúng ta - nhữngngười dạy sử lại bỏ trống mảng này Cá nhân tôi cho rằng, với nguồn tư liệu sửđịa phương hết sức phong phú như vậy thì hai tiết trong phân phối chương trìnhquả là quá ít bởi vì chúng ta có quá nhiều điều cần giảng dạy cho các em và các
em cũng có quá nhiều điều chưa biết
II MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1 Thứ nhất, đề tài nhằm đáp ứng phần nào yêu cầu cấp bách của giáo viên
dạy Lịch sử THCS về mặt tài liệu phương pháp giảng dạy Trong điều kiện tàiliệu hướng dẫn của Bộ cũng như của Sở GD & ĐT chưa có thì giáo sinh và kể
cả giáo viên đang dạy chỉ biết hy vọng vào người thầy của họ Do vậy, tôi hyvọng đề tài của tôi sẽ giúp các em phần nào khắc phục được khó khăn trong việcgiảng dạy chương trình SGK mới, phần Lịch sử địa phương Ngay từ khi mớitập huấn về vấn đề thay sách, rất nhiều giáo viên tìm gặp tôi để hỏi ý kiến vàmượn tài liệu về phần này Đó chính là vấn đề chủ yếu thôi thúc tôi thực hiện đềtài này càng sớm càng tốt
1 Thứ hai, Thông qua việc giảng dạy Lịch sử địa phương, đề tài góp phần
nâng cao sự hiểu biết của các em học sinh về nguồn kiến thức lịch sử địaphương hết sức phong phú và quý giá Chính những kiến thức đó có ngay xungquanh các em, các em bắt gặp, tiếp xúc thường xuyên nhưng các em chưa hiểuđược hoặc chưa có ai giảng giải cho các em hiểu được một cách tường tận vềnguồn gốc, nội dung cũng như ý nghĩa của từng sự kiện, hiện tượng lịch sử đó
Để làm được điều này không phải là ngày một, ngày hai song chúng ta hoàntoàn tin tưởng rằng, sự đóng góp của chúng ta sẽ là viên gạch dần dần hoàn thiệnbức tường Tâm lý chung của con người, nhất là người Á đông chúng ta làhướng về nguồn cội Ai cũng có một quê hương, một nơi chôn nhau cắt rốn và aicũng tự hào về nơi ấy
1 Thứ ba, Thông qua việc giảng dạy Lịch sử địa phương, đề tài sẽ góp phần
Trang 6giáo dục các em học sinh ở độ tuổi mới lớn lòng tự hào, tình yêu quê hương, yêu
xứ sở của mình Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi hai lẽ Trước hết, các emhọc sinh lớp 6 vừa ra khỏi cấp tiểu học bước vào một cấp học mới, lần đầu tiêntiếp xúc với Lịch sử với tư cách là một môn học chính khoá Việc đặt nhữngviên gạch nền móng ban đầu cực kỳ có ý nghĩa đối với các em trên con đườnghình thành cách nhìn, thái độ đúng đắn đối với quê hương, xứ sở của mình Mặtkhác, chúng ta không thể không nhắc tới một thực tế đau lòng là trong nhiềunăm gần đây, DakLak chúng ta cũng như nhiều tỉnh khác đang có hiện tượng màngười ta quen gọi là “chảy máu chất xám” về các thành phố lớn Các em họcsinh học giỏi, thành đạt trên con đường học vấn thì bằng cách này hay cách khác
ở lại công tác, lập nghiệp tại những thành phố, trung tâm lớn Gạt sang một bênnhững nguyên nhân thuộc về chế độ, chính sách thì thử hỏi chúng ta có tráchnhiệm gì không trước thái độ ngoảnh mặt, thờ ơ với quê hương của các em
IV LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Về Lịch sử địa phương cũng như phương pháp sưu tầm, nghiên cứu và biênsoạn Lịch sử địa phương đã có rất nhiều nhà khoa học cũng như nhà sư phạm đềcập đến Riêng phần Lịch sử DakLak, đáng kể nhất là các công trình:
+ “Sơ thảo lịch sử đảng bộ tỉnh Daklak” – Ban NCLS đảng DakLak- xuấtbản năm 1981
+ “Tây nguyên sử lược”- T/s Phan Văn Bé- xuất bản năm 1993
+ “Việc dạy học lịch sử địa phương ở các trườngTHPT tỉnh DakLak”- Luận
án SĐH của Phan Văn Bé
+ Các bài viết của các học giả Phan Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang… vềLịch sử Daklak đăng trên tạp chí nghiên cứu Đông nam Á, tạp chí nghiên cứuLịch sử…
+ Các công trình nghiên cứu lịch sử huyện đảng bộ của các huyện KrôngAna, Krông Pắc…
Nhìn chung, các công trình, bài viết về Lịch sử địa phương Daklak đã có
Trang 7cho tới hiện nay hầu hết là những công trình mang tính khảo cứu.
V PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
1 Như đã xác định, đối tượng, phạm vi vận dụng của đề tài là chương trìnhLịch sử lớp 11, cụ thể là phần Lịch sử địa phương Vì vậy, trước hết cần phảinghiên cứu kỹ chương trình sách giáo khoa
2 Tiến hành sưu tầm, tập hợp tất cả những sử liệu lịch sử địa phương (cả lýthuyết và thực tế) theo yêu cầu của phần gợi ý liên liên quan đến phần giới hạnnội dung Đây là một vấn đề rất khó Kiến thức lịch sử địa phương thì cả mộtrừng, một biển Vấn đề quan trọng và cần thiết là khai thác những cái nào, khaithác như thế nào để vừa đạt được cái chung (lịch sử dân tộc) và làm nổi bật cáiriêng (lịch sử địa phương) Đó mới là cái đích của vấn đề
3 Thiết lập tài liệu hướng dẫn giảng dạy (sơ thảo) cho một số giáo viênTHPT, trước hết là cho giáo viên trường mình tham khảo và ứng dụng, nếu cóthể, kết hợp dự giờ để kiểm nghiệm mức độ hiệu quả của sáng kiến, từ đó rútkinh nghiệm để hoàn thiện hơn
B PHẦN NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ DAKLAK TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN THỜIBẮC THUỘC:
1 Khái quát về điều kiện tự nhiên-xã hội
Tỉnh DakLak nằm về hướng phía tây dãy Trường sơn, trải dài từ 14 độđến
13 độ 45 phút vĩ tuyến Bắc, trải rộng từ 107 độ 12 phút đến 108ˆ độ 54 phútkinh đông Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, nam giáp Lâm Đồng, Bình Phước, đônggiáp Phú Yên, Khánh Hoà, tây giáp vương quốc Campuchia Với tổng diện tích
tự nhiên là 19800 km vuông, DakLak là tỉnh lớn nhất Việt Nam
Dak Lak nằm ở độ cao trung bình 536m nên khí hậu mát mẻ, ôn hoà Nhiệt
độ trung bình là 20oC Tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất chỉ chênh nhau
2-3oC Rừng chiếm 4/5 diện tích đất đai, có rất nhiều gỗ quý hiếm như thuỷ tùng,cẩm lai, cà te, hương, sao, trẩu… cùng với nhiều loại thú rừng quý hiếm như
Trang 8voi, bò tót, hổ, gấu, hươu, nai… Lượng mưa trung bình hàng năm là 2050mm.Trong hơn 40 dân tộc thì người Ê đê, Mơ nông là cư dân bản địa lâu đời nhất ởDak Lak.
Dak Lak được xếp là vùng Trung Cao nguyên với bạt ngàn rừng núi trênnền đất đỏ bazan phì nhiêu, trù phú Tuy đất đai trù phú, màu mỡ như vậy nhưngphương pháp canh tác của đồng bào ở đây còn đơn giản, lạc hậu Đồng bào sốngthành những đơn vị cơ sở là buôn Hợp thành buôn là những gia đình theo chế
độ mẫu hệ với những quan hệ thân tộc khiến cho cộng đồng được duy trì khábền vững
Con người Dak Lak thật thà, chất phác và giàu tình cảm, rất mến khách,thậm chí khách của một người nào đó cũng được coi là khách của làng Tôngiáo, tín ngưỡng của các dân tộc ở đây bắt nguồn từ tín ngưỡng nguyên thủy,thờ cúng Yàng và các thần linh Yàng có một quyền lực rất lớn trong đời sốngtâm linh của cư dân các dân tộc ở đây Tuy chữ viết xuất hiện muộn nhưng vănhọc dân gian của đồng bào Dak Lak nói riêng và Tây nguyên nói chung khá pháttriển và đặc sắc Những trường ca như Đam San, Xinh Nhã… không những làniềm tự hào của các dân tộc ở đây mà còn là những viên ngọc quý trong khotàng văn học Việt Nam
Bên cạnh những vẻ đẹp truyền thống, đồng bào Dak Lak còn duy trì khánhiều phong tục, tập quán lạc hậu, nhất là trong ma chay, cưới hỏi Từ khi đấtnước độc lập, thống nhất và đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, được sự quantâm đầu tư đúng mức của Đảng và nhà nước, DakLak đang từng ngày thay dađổi thịt, trở thành một vùng đất đầy hứa hẹn, giàu tiềm năng
2 Vài nét về văn hoá Ốc Eo:
Những năm 40 của thế kỉ này, L.Marlleret-nhà khảo cổ học người Pháp đãphát hiện ra nền văn hoá Ốc Eo Từ ấy đến nay, những kết quả khai quật, khảo
cổ của giới khoa học đã làm nền văn hoá Ốc Eo dần dần hiện ra những dáng vẻđẹp đẽ, đặc sắc và lộng lẫy của nó
Trang 9Vào những thế kỉ đầu công nguyên, đồng bằng châu thổ sông Cửu Long
là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái phức tạp Các dòngsông thay dòng đổi nhánh Cư dân Ốc Eo đã trụ lại trên vùng đất này Những ditích liên quan đến chủ nhân của nền văn hoá Ốc Eo, hiện tại phân bố ở các vùng:
tứ giác Long Xuyên với khu di tích Ốc Eo-Ba Thê; vùng Đồng Tháp Mười với
di tích Gò Tháp; vùng U Minh-Năm Căn với khu di tích Cạnh Đền; vùng rừngSác Duyên Hải với khu di tích Cần Giờ; vùng ven biển Đông với di tích Trà Cú,
Gò Thành; vùng Đông Nam Bộ với khu vực hạ lưu sông Đồng Nai, Bình Tả,Thanh Điền Sự phân bố các di tích ấy, chứng tỏ thời xưa, cư dân đã cư trú trênmột diện rộng ở châu thổ sông Cửu Long Nối tiếp dòng chảy của cư dân ĐồngNai, cư dân Ốc Eo đã mở rộng địa bàn cư trú, triển khai ngành nghề và tổ chứccuộc sống ở vùng sinh thái đầy biến động phức tạp
Trước hết, cư dân Ốc Eo vẫn là cư dân nông nghiệp sống với phương thứctrồng lúa Dù còn có tranh luận về các loại lúa, nhưng các nhà khoa học trong vàngoài nước đều thống nhất, cư dân Ốc Eo có nhiều giống lúa khác nhau Nghềtrồng lúa nước phát triển, một nền văn minh nông nghiệp lúa nước bắt đầu hìnhthành Cùng với trồng lúa, cư dân Ốc Eo còn trồng mía, cau, dừa Hoạt độngchăn nuôi thuần dưỡng đã phát triển Căn cứ vào các hiện vật tìm thấy ở các ditích khi khai quật như hạt chuỗi hình ống, hình thoi, hình nút áo… Kích thước
và màu sắc khác nhau, được làm bằng các loại đá quý, đá màu, thuỷ tinh và đấtnung, như vòng tay, khuyên tai, nhẫn, lục lạc, xập xoã… các nhà khoa học đãkhẳng định kỹ thuật chế tác của cư dân Ốc Eo đã đạt đến trình độ cao, tinh xảo,nhất là gia công đồ trang sức bằng vàng, bằng đá quý
Mặt khác, đồ gốm cũng là loại vật dụng trong sinh hoạt khá phổ biến hàngngày của cư dân Ốc Eo Gốm Ốc Eo đều đã được làm bằng bàn xoay Nếu như ởvăn hoá Đồng Nai, đồ đá được sử dụng nhiều thì ở văn hoá Ốc Eo sự sử dụng đồ
đá đã giảm xuống Nhưng đồ sắt lại có sự tiếp nối giữa hai thời kỳ văn hoá Với
cư dân Ốc Eo, đồ sắt được dùng phổ biến
Ngoài các hoạt động sản xuất, hoạt động trao đổi buôn bán cũng khá phát
Trang 10triển ở cư dân Ốc Eo Khảo sát các di tích, các nhà khoa học đã cho biết: “ Có
12 đồng tiền và mảnh cắt của tiền đã được phát hiện ở các di tích” (văn hoá Ốc
Eo, những khám phá mới, Lê Xuân Diệm, Đào Linh Sơn, Võ Sĩ Khải, NxbKHXH, H.1995, Tr.337)
Về mặt cư trú, cư dân Ốc Eo có hai kiểu cư trú: thứ nhất lối cư trú nhàsàn; thứ hai lối cư trú trên nền đất đắp, của cá thể và gia đình Trong khi đó, đềnthờ, đền thánh, nói cách khác là những di tích của cộng đồng được xây cất bằngnhững vật liệu nặng Chẳng hạn đền tháp ở Bình Tả, Thanh Điền Đồng thời, các
đô thị cũng xuất hiện nhiều trên đồng bằng sông Cửu Long thời này
3 Khái lược về thời công xã nguyên thuỷ ở Dak Lak
Cho tới hiện nay, nguồn gốc của các tộc người ở Tây nguyên đang là vấn đềquan tâm nghiên cứu của các nhà Sử học, Dân tộc học và Khảo cổ học Dựa vàonhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy khác nhau: những vết tích trong lòng đất quacác cuộc khai quật khảo cổ học ở Lak, DakR’lấp, Dak Nông… trong các huyềnthoại, trong các địa danh, các nhà khoa học đưa ra ý kiến xác đáng về tổ tiên xaxưa của cư dân Tây nguyên Đó là những người thuộc đại chủng Ôxtralôit, mộtgiống người lùn, da đen, tóc quăn, hiện nay không còn nữa Họ chỉ còn lưu lạinhững vết tích nhân chủng trên người hiện đại do sự hoà huyết của hai chủngÔxtralôit và Môngôlôit với hai ngành Anhđônêdiêng và Nam Á
DakLak cũng nằm trong tổng thể chung của toàn bộ vùng Tây nguyên Đểminh chứng và giúp chúng ta hình dung rõ nét hơn về thời cổ đại của Tâynguyên, chúng ta hãy nhìn nhận kết quả của đợt khai quật khảo cổ mới nhất vềTây nguyên Đó là di chỉ Lung Leng (Sa Thầy, Kon Tum) đã làm xôn xao giớinghiên cứu khảo cổ học
Với mục đích giải phóng lòng hồ phục vụ tích nước cho nhà máythuỷ điện Yaly, thu thập di tích và di vật khảo cổ, góp phần dựng lại bức tranhtoàn cảnh về quá khứ xa xưa của các cộng đồng cư dân cổ đã cư trú ở khu vưc
xã Sa Bình, huyện Sa Thầy; được sự đồng ý của Bộ Văn hóa - Thông tin, từ đầutháng 6-2001, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sử, Trưởng phòng nghiên
Trang 11cứu Thời đại đá (Viện khảo cổ học) làm trưởng đoàn cùng hầu hết chuyên giahàng đầu của ngành khảo cổ học Việt Nam đã có mặt tại Lung Leng Chỉ riêngViện khảo cổ học Việt Nam đã cử tới đây hơn 40 người, với 2 phó giáo sư, 12tiến sĩ, còn lại đều là thạc sĩ chuyên ngành Vào thời điểm này tại Lung Lengcũng có hơn 600 lao động làm việc thường xuyên trên công trường cùng vớinhiều trang thiết bị hiện đại Trên một diện tích khai quật hơn 10.000m2,các nhàkhảo cổ học đã mở được gần 100 hố, mỗi hố có diện tích 100m2.
Qua hai đợt khai quật, các nhà khoa học đã thu được gần 30 tấn hiện vật,gồm 8000 tiêu bản đá, hàng triệu mảnh gốm, trên 100 mộ nồi vò, gần 40 khubếp, lò nung, cùng với các hiện vật như chuỗi đã, rìu, chận đèn, bát… Trongtầng văn hoá, các nhà khoa học còn tìm thấy một số đồ gốm sứ có niên đại từ thế
kỷ XIV trở lại, trong đó có cả gốm sứ Việt Nam Đó là kết quả các nhà khảo cổhọc thu được ở di chỉ khảo cổ Lung Leng (thuộc xã Sa Bình, huyện Sa Thầy,tỉnh Kon Tum) Đây là vết tích văn hoá từ thời đại đá cũ, đến hậu kỳ đá mới và
sơ kỳ kim khí
Căn cứ vào những gì đã khai quật và xác định niên đại, các nhà khoa học
đã dựng lại một bức tranh toàn cảnh về người tiền sử Việt Nam thuộc nhiều giaiđoạn khác nhau Sớm nhất là dấu ấn văn hoá của người tiền sử hậu kỳ đá cũ Đó
là những cư dân chế tác và sử dụng đá cuội ghè đẽo Tiếp đến là lớp cư dân tiền
sử hậu kỳ đá mới, sơ kì kim khí với những công cụ đá mài rất sắc nét, hoàn thiệnnhư rìu, bàn mài, chân đèn Đặc biệt các nhà khảo cổ đã tìm thấy những viên đácuội tròn dẹt, được đục lỗ và chế tác đến độ tinh xảo thời đó Các chuyên giacũng nhận định, qua nghiên cứu những di vật thu lượm được thì cư dân tiền sửvùng Lung Leng này không chỉ đạt trình độ cao về kỹ thuật mài đá, chế tác công
cụ, mà họ còn là những người thợ chế tác gốm rất giỏi Từ thời sơ khai đó, họ đãbiết pha chế một tỉ lệ đất sét thích hợp với cát, bã thực vật và hiểu rõ kỹ thuậtđắp lò nung gốm để chế tác từng loại vật dụng sinh hoạt như chén, bát, chânđèn, đồ trang sức với nhiều nghệ thuật, kích thước khác nhau., Phó Giáo sư -Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sử cho biết đây là một trong những di tích khảo cổ học cótầng văn hoá dày, có quy mô lớn và chứa đựng vết tích văn hoá nhiều thời đại
Trang 12Chính toàn bộ những tư liệu khai quật của đợt này sẽ góp phần nghiên cứu thời
kỳ quá khứ xa xưa của Tây Nguyên, để minh chứng Tây Nguyên trong quá khứ
là một vùng năng động và có sự giao lưu rộng mở Ở đây đã chứa đựng vết tíchvăn hoá của những cư dân từ xa xưa cho đến giai đoạn bước vào văn minh Khaiquật di chỉ lần này chính là giải phóng khỏi lòng hồ của thuỷ điện Yaly một ditích quan trọng để các nhà làm điện ở Việt Nam có thể yên tâm trữ nước, chủđộng các vấn đề phát điện và cung cấp điện cho đồng bào các dân tộc bản địabiết được di tích văn hoá lịch sử của mình và càng thêm yêu quý mảnh đất quêhương của chính mình
4 DakLak thời kỳ Bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập:
Theo ý kiến của các nhà sử học Ke-nơ (Kern, người Đức), Ca-ba-tông(Cabaton, người Pháp), Hô-lơ (D.G.E.Hall, giáo sư sử học đại học Luân Đôn),vào thế kỉ II trước công nguyên, những người Hindu (Ấn Độ) từ khu vực phíatây thiên di đến lập nghiệp tại vùng hạ lưu sông Mê Kông Là một dân tộc cónền văn minh lâu đời, họ không gặp khó khăn khi tập hợp một số bộ lạc sống rảirác trong vùng lập thành vương quốc Phù Nam, vương đô đóng ở ỐcEo mà ôngvua đầu tiên là Kaudinya Những người M’nông sống xa vương đô hơn, khôngchịu khuất phục sự cai trị của người Hindu, đã tìm cách chuyển cư dần dần vàovùng nội địa, tây Trường Sơn Tuy nhiên, từ thế kỉ I đến thế Kỉ V, vương quốcPhù Nam trở thành một quốc gia hùng cường đầu tiên ở vùng Đông Nam Á, màbiên cương của nó chạy dài từ bở biển Đông sang vịnh Ben-gan (Ấn Độ) Dovậy khu vực nội địa Trường Sơn của người M’nông và các cư dân khác ở DakLak không tránh khỏi sự thống trị của đế quốc Phù Nam
Đến thế kỉ VI, Chetoseuna, quốc vương xứ Chân Lạp - một chư hầu của
đế quốc Phù Nam (nằm ở khu vực Lục Chân Lạp sau này) - đã hưng binh, tiêudiệt đế quốc Phù Nam và lên ngôi vua, lấy hiệu là Bhavaraman Chân Lạp trởthành một đế quốc hùng mạnh, thôn tính toàn bộ đất đai của đế quốc Phù Nam.Đến đây, người M’nông và các dân cư ở Dak Lak lại chịu sự thống trị của ChânLạp
Trang 13Đối với cư dân nói tiếng Malayô-Pôlinêxia (tức người Êđê, Gia rai, Chăm,Raglay Churu), họ lại xuất phát từ ven biển Quảng Đông (Trung Quốc) trànxuống vùng Đông Nam Á và Đông Dương, từ thiên niên kỉ thứ II trước côngnguyên hay sớm hơn, bằng nhiều con đường khác nhau Những người Malayô-Pôlinêxia sau khi dừng lại ven bờ biển Đông trở thành tổ tiên người Chàm, một
số tiếp tục thiên di lên vùng núi Trường Sơn, chinh phục và hoà huyết với cưdân bản địa tại Cao nguyên Dak Lak và Cao nguyên Plâycu
Sau khi thiết lập vương quốc Phù Nam, người Hindu tiếp tục tiến về phíađông dọc theo các sườn đồi tràn xuống vùng đất người Chàm áp đặt nền vănminh Ấn Độ lên vùng đất này Đến cuối đời nhà Hán, một người Chàm gốc Ấntên là Khu Liên (Kiu Liên) ở Tượng Lâm nổi dậy tiêu diệt huyện lệnh nhà Hán,thiết lập vương quốc Lâm Ấp (có sách viết là Lin-ye) vào năm 192 Biên cươngcủa Lâm Ấp lúc này kéo từ quận Nhật Nam vào giáp ranh giới Chân Lạp (Tức
từ Quảng Bình, Quảng Trị đến vịnh Cam Ranh) Không chịu được sự thống trịcủa người Hindu, một số người Malayô-Pôlinêxia từ bỏ nước Lâm Ấp thiên dilên vùng núi Trường Sơn chinh phục và hoà huyết với dân cư bản địa, hìnhthành người Êđê, Gia rai hiện đại khai phá Cao nguyên Dak Lak-Plâycu
Cho đến thế kỉ VII, sau những cuộc giao tranh với vương quốc Chân Lạp,Chiêm Thành chiếm lĩnh thung lũng sông Mê kông, sông Sêsan, sông Ba và cácnúi non phụ cận Họ chiếm đóng từ tây Trường Sơn sang tận bờ tả ngạn sông
Mê Kông và từ Stung-Treng sang đến sông Mun Bắt đầu từ đấy, cư dân TâyNguyên rơi vào sự đô hộ của Chiêm Thành, cho mãi đến thế kỉ XV
Trong giai đoạn này, các vương triều Ăngko và Chiêm Thành đã tiếnhành nhiều cuộc chiến tranh và lôi kéo cư dân ở Tây Nguyên vào những cơn lốcchinh chiến triền miên, buộc họ phải chịu những gánh nặng thuế má, phu phen,cống nộp Giai cấp thống trị đã cướp bóc của họ vô số vàng bạc, ngà voi, sừng têgiác, nhựa thông, hổ phách, gỗ, trầm hương, các cây thuốc quý, đồng thời bắt họlao động sản xuất, phục dịch nặng nề
Trước sự giày xéo, cướp bóc dã man của quân xâm lược, nhân dân Tây
Trang 14Nguyên đã vùng dậy đấu tranh anh dũng Xuất phát từ bản năng tự vệ, từ tinhthần quả cảm, từ mối dây ràng buộc huyết thống trong cộng đồng thị tộc, họ tổchức chống lại ách thống trị của ngoại bang “Làng chiến đấu” và các “liên minhquân sự” giữa các bộ lạc - những khái niệm mà các nhà dân tộc học thường haynói đến - chính là dấu tích truyền thống chống ngoại xâm từ xa xưa còn tồn tạicho đến ngày nay.
Cuộc tiếp xúc với văn hoá nước ngoài, do điều kiện chiến tranh và sinhsống cũng ảnh hưởng không giống nhau giữa các tộc người ở Tây Nguyên xưa.Người M’nông chuyển cư vào trú ẩn ở vùng rừng già tây Trường Sơn, xây dựngcác làng chiến đấu vững chắc Do đó, sự tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ của họkhông sâu sắc Những cuộc đổi chác, mua bán của người M’nông với người Hoa(trực tiếp hay gián tiếp qua thương lái từ sông Mê kông sang) không đượcthường xuyên, nên văn hoá Trung Quốc cũng không ảnh hưởng sâu đậm gì đến
họ Vì vậy, cho đến khi Pháp xâm lược, cuộc sống người M’nông vẫn còn mangnhiều màu sắc nguyên thuỷ
Trong khi đó, người Ê đê, Gia rai trên cao nguyên Dak Lak, Plâycu lại bị
sự thống trị trực tiếp của các thế lực phong kiến Chiêm Thành và Chân Lạp Họchịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ tương đối sâu đậm hơn người M’nông.85% ngôn ngữ Êđê, Gia rai đều mang dấu ấn sâu sắc nền văn minh Chàm Do
đó, trình độ văn minh của hai dân tộc này cao hơn so với các dân tộc khác ở TâyNguyên
Vào khoảng thế kỉ VII-XV, trong xã hội Tây Nguyên nói chung cũng dầndần hình thành bộ máy nhà nước sơ khai, có người đứng đầu, như hiện tượngcác Patau Ia “Vua Nước”, Patau Pui “Vua Lửa”
II GỢI Ý GIẢNG DẠY
1 Chuẩn bị:
1 Thiết kế giáo án giảng dạy:
Như trên đã trình bày, kiến thức lịch sử địa phương rất phong phú, đa dạng
Trang 15và cũng rất phức tạp Trong cái mênh mông đó, người giáo viên phải chọn lựa,sàng lọc ra những sự kiện, những vấn đề cần thiết để khai thác và sử dụng Đặcbiệt khung thời gian lịch sử trong chương trình lớp 6 là từ cội nguồn cho đến thế
kỷ X Phần này, như chúng ta đã biết là giai đoạn rất phức tạp, còn nhiều vấn đềchưa thống nhất Đối với tỉnh DakLak chúng ta, do có chung biên giới vớiCampuchia nên vấn đề này rất nhạy cảm Khai thác như thế nào cho đúng mức
và hiểu như thế nào để không sai lệch, méo mó là cả một vấn đề Hơn nữa, thờilượng mà phân phối chương trình quy định chỉ có 2 tiết dạy, đòi hỏi người giáoviên phải biết vận dụng hợp lý Theo chúng tôi, trong điều kiện thiếu thốn tàiliệu, lại mới tiếp xúc với nội dung này ở chương trình lớp 6 nên rất có thể diễn
ra hai khuynh hướng đối với giáo viên: một là không biết giảng gì cả; hai làgiảng sa vào kể chuyện ôm đồm Để tránh được tình trạng này, theo chúng tôi,trước hết giáo viên phải định hình ra được cái “ sườn” cho từng tiết dạy Nóicách khác là phải trả lời được câu hỏi: trong tiết này, ta sẽ dạy cho các em cáigì? “ Sách Giáo viên” về phần này chỉ là vài dòng gợi ý rất chung Theo chúngtôi, từ gợi ý đó kết hợp với vốn kiến thức Lịch sử địa phương mà mình có (tỉnh,huyện, xã), chúng tôi đề xuất cách thiết kế như sau:
Tiết thứ nhất: Giảng khái quát về lịch sử tỉnh DakLak bao gồm những nội
dung và bố cục chúng tôi đã trình bày ở trên Việc còn lại của giáo viên là tómlược những ý chính, thật gọn và khái quát Có thể chia ra làm các mục:
1 Khái quát về điều kiện tự nhiên (Có sử dụng bản đồ)
1 Vài nét về Daklak thời đại nguyên thuỷ
1 Tình hình Daklak thời kỳ Bắc thuộc và đấu tranh giành độclập
Tiết thứ hai:Giảng về lịch sử của Huyện (nơi trường mình dạy) Ở tỉnh ta,
theo chúng tôi được biết thì không tính đến một số huyện mới thành lập nhưBuôn Đôn, DakSong, hầu hết các huyện đều đã có Lịch sử huyện do các huyệnđảng bộ biên soạn Theo chúng tôi, bố cục tiết này có thể chia thành các mục:
1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của huyện (ta)
Trang 161 Tình hình sơ lược huyện từ thời nguyên thủy đến thế kỷ X.
1 Giới thiệu một di tích Văn hoá, hay di tích lịch sử của huyện, xã ở địaphương (nếu có)
Chúng ta đều biết Daklak chúng ta có một kho tàng Văn hoá tổng hợp hếtsức phong phú và đa dạng Cho đến tháng 5 năm 1997, Bộ Văn hoá và thông tin
đã công nhận 6 di tích ở Daklak gôm 3 di tích Lịch sử cách mạng, 1 di tích kiếntrúc tôn giáo và 2 danh lam thắng cảnh Trong đợt tổng kiểm kê di tích toàn tỉnh(1996) đã khảo sát được 71 di tích thuộc các loại hình, trong đó có 23 di tích lịch
sử cách mạng, 13 di tích kiến trúc nghệ thuật và kiến trúc tôn giáo, 2 di tích lịch
sử văn hoá, 8 di tích khảo cổ và 25 di tích danh thắng Nhằm giúp cho các giáosinh cũng như giáo viên có nguồn tư liệu dồi dào, chúng tôi đã tập hợp và giới
thiệu cụ thể ở phần Phụ lục Do tính chất của đề tài, phần Phụ lục chúng tôi
thực hiện khá công phu và coi đó là một nội dung rất quan trọng, không thểthiếu của đề tài Đó là những nội dung kiến thức khá phong phú để giáo viênkhai thác và sử dụng
Để thực hiện phần soạn giảng, chuẩn bị được tốt hơn, giáo viên cần đề xuấtphương hướng của mình đối với 2 tiết này lên cán bộ phụ trách chuyên môn củatrường xin ý kiến Cán bộ chuyên môn của trường lại xin ý kiến chỉ đạo của cán
bộ chuyên môn Phòng, Sở Có như vậy thì giáo viên sẽ tự tin hơn trong côngviệc của mình
3.Đề xuất một giáo án (1tiết) cụ thể:
Giáo án tiết thứ nhất: TỈNH DAKLAK (Từ cội nguồn đến thế kỷ X
A Mục đích yêu cầu:
vNhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết khái quát về tỉnh DakLak từ
cội nguồn cho đến thế kỷ X
vThông qua đó, giáo dục các em lòng yêu quê hương mình, lòng tự hào về
quá khứ dựng nước và giữ nước của cha ông
vGóp phần rèn luyện kỹ năng nhận thức Lịch sử qua bản đồ, tranh ảnh.
Trang 17B Các bước lên lớp:
1 Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ:(7 phút)
a Vì sao nói: trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 là một chiến thắng vĩ
đại của dân tộc ta?
a Trình bày bài tập chuẩn bị ở nhà: Lập bảng thống kê những sự kiện lớn đáng ghi nhớ của Lịch sử nước ta từ khi dựng nước đến năm 938
Mỗi câu gọi một học sinh trả lời Câu b có thể gọi thêm các học sinh khác bổsung Giáo viên nhận xét và củng cố phần trả lời của các em rồi cho điểm côngkhai trước lớp
2.Giảng bài mới: (35 phút)
a.Khái quát về điều kiện tự nhiên-xã hội: (7 phút)
Tỉnh DakLak nằm về hướng phía tây dãy Trường sơn Phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, nam giáp Lâm Đồng, Bình Phước, đông giáp Phú yên, Khánh Hoà, tây giáp vương quốc Campuchia Diện tích tự nhiên 19800 km vuông.
Dak Lak có rất nhiều gỗ quý hiếm như thuỷ tùng, cẩm lai, cà te, hương, sao, trẩu… cùng với nhiều loại thú rừng quý hiếm như voi, bò tót, hổ, gấu, hươu, nai… Trong hơn 40 dân tộc thì người Ê đê, Mơ nông là cư dân bản địa lâu đời nhất ở Dak Lak (Giáo viên sử dụng bản đồ hành chính để giới
thiệu phần này)
b.Sơ lược về thời công xã nguyên thuỷ ở Dak Lak (10 phút)
Dựa vào nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy khác nhau: những vết tích trong lòng đất qua các cuộc khai quật khảo cổ học ở Lak, DakRlấp, Dak Nông… trong các huyền thoại…người ta khẳng đinh rằng: cư dân Tây nguyên nói chung và Daklak nói riêng là các dân tộc Êđê, Mơ nông, Giarai…
có mặt từ thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên hoặc sớm hơn Họ ở thành buôn, làng, dựa vào rừng núi, sống bằng săn bắn, hái lượm, trồng trỉa trên nương rẫy.
Trang 18Họ vừa phải kiếm ăn, xây dựng buôn làng vừa phải chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương.
c DakLak thời kỳ Bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập:(18 phút)
Theo ý kiến của các nhà khoa học, vào thế kỉ 2 trước công nguyên, những người Hindu (Ấn Độ) từ phía tây thiên di đến lập nghiệp tại vùng hạ lưu sông Mê Kông,lập thành vương quốc Phù Nam Từ thế kỉ 1 đến thế Kỉ 5, vương quốc Phù Nam trở thành một quốc gia hùng cường đầu tiên ở vùng Đông Nam Á Do vậy, cư dân Tây nguyên nói chung và Daklak nói riêng đã rơi vào sự thống trị của đế quốc Phù Nam.
Đến thế kỉ 6, Chân Lạp - một chư hầu của đế quốc Phù Nam đã tiêu diệt đế quốc Phù Nam Chân Lạp trở thành một đế quốc hùng mạnh, thôn tính toàn bộ đất đai của đế quốc Phù Nam Đến đây, người Mơ nông và các dân cư ở Dak Lak lại chịu sự thống trị của Chân Lạp.
Sau khi thiết lập vương quốc Phù Nam, qua hàng nghìn năm hoà huyết giữa các tộc người đã hình thành nên người Êđê, Gia rai, Mơ nông hiện đại khai phá Cao nguyên Dak Lak - Plâycu.
Cho đến thế kỉ 7, sau những cuộc giao tranh với vương quốc Chân Lạp, Chiêm Thành chiếm lĩnh toàn bộ khu vức này Bắt đầu từ đấy, cư dân Tây Nguyên rơi vào sự đô hộ của Chiêm Thành, cho mãi đến thế kỉ 15.
Trong giai đoạn này, các vương triều Ăngko và Chiêm Thành đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh và lôi kéo cư dân ở Tây Nguyên vào những cơn lốc chinh chiến triền miên, buộc họ phải chịu những gánh nặng thuế má, phu phen, cống nộp Giai cấp thống trị đã cướp bóc của họ vô số vàng bạc, ngà voi, sừng tê giác, nhựa thông, hổ phách, gỗ, trầm hương, các cây thuốc quý, đồng thời bắt họ lao động sản xuất, phục dịch nặng nề.
Trước sự giày xéo, cướp bóc dã man của quân xâm lược, nhân dân Tây Nguyên đã vùng dậy đấu tranh anh dũng Xuất phát từ bản năng tự vệ, từ tinh thần quả cảm, từ mối dây ràng buộc huyết thống trong cộng đồng thị tộc,
Trang 19họ tổ chức chống lại ách thống trị của ngoại bang Làng chiến đấu” và các liên minh quân sự” giữa các bộ lạc - chính là dấu tích truyền thống chống ngoại xâm từ xa xưa con tồn tại cho đến ngày nay.
-Cuộc tiếp xúc với văn hoá nước ngoài, do điều kiện chiến tranh và sinh sống cũng ảnh hưởng không giống nhau giữa các tộc người ở Tây Nguyên xưa Người Mơ nông chuyển cư vào trú ẩn ở vùng rừng già tây Trường Sơn, xây dựng các làng chiến đấu vững chắc
Vào khoảng thế kỉ 7, trong xã hội Tây Nguyên nói chung cũng dần dần hình thành bộ máy nhà nước sơ khai, có người đứng đầu, là Vua Nước, Vua Lửa.
3.Củng cố, dặn dò: (3 phút)
Nhắc lại và nhấn mạnh lại kiến thức cần ghi nhớ
Dặn dò các em ôn tập và chuẩn bị bài cũ
Nếu có thể, giới thiệu các em tìm đọc một số tài liệu Lịch sử đại phương(tuỳ chọn)
Trên đây là một giáo án giới thiệu Chúng tôi chủ yếu thiên về phần chuẩn kiến thức Tùy điều kiện từng trường, có thể tổ chức cho các em tham quan, học
tập một số di tích, địa danh quan trọng (Ví dụ, các trường THCS trong T.PBuôn Ma Thuột có thể cho các em tham quan viện bảo tàng tỉnh DakLak) Còn
về vấn đề phương pháp thì ngoài những phương pháp truyền thống là thuyếttrình, giáo viên phải đặc biệt chú ý sử dụng hợp lý tối đa đồ dùng trực quan mà
chúng tôi đã chuẩn bị ở phần Phụ lục và giáo viên chuẩn bị ở nhà Phần chúng
tôi in nghiêng được xem như là phần ghi nhớ (ghi chép) đối với học sinh Tấtnhiên không phải là máy móc tuyệt đối
III PHẦN KẾT LUẬN
v Đây là một đề tài mới và thú vị và cũng là một vấn đề khó vì tính đa dạng,
phức tạp của nó Với phương châm đã nêu ở phần lý do chọn đề tài, chúng tôi cốgắng đem hết tâm huyết và vốn hiểu biết của mình để hoàn thành đề tài Bên
Trang 20cạnh việc xây dựng một hướng đi chung, chúng tôi cũng đã cố gắng thiết kế và
đề xuất phần hướng dẫn cụ thể Chúng tôi thiết nghĩ đây là một vấn đề có ýnghĩa rất thiết thực nhất là trong thời điểm hiện nay
v Dự định của chúng tôi thì rất lớn Trong thời gian tới, cùng với các đồng
nghiệp và sự chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn và chức nătag trên cơ sở điều
kiện cho phép,chúng tôi sẽ xây dựng một đề tài “ Hướng dẫn giảng dạy phần lịch sử địa phương ở các trường THCS tỉnh DakLak” và tập giáo án giới thiệu.
Tại thời điểm này, chúng tôi tạm bằng lòng và dừng lại trong khuôn khổ đề tàitrên Để hoàn thành được công trình này, một lần nữa chúng tôi xin chân thànhcảm ơn các đồng nghiệp: thạc sỹ Lê Xuân Diệu, cử nhân Lê Xuân Mợi cùng vớicác đồng nghiệp, bạn bè khác đã gợi ý, góp ý và giúp đỡ chúng tôi Chắc chắnkhông tránh khỏi những hạn chế, kính mong các bạn bè, đồng nghiệp góp ý chânthành để chúng tôi hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Buôn Ma Thuột, Tháng 02 năm 2004
Trang 21PHỤ LỤC
F Năm 1899, thực hiện chính sách bình định Cao Nguyên, Tổng thống Pháp cử viên cai Bu-rơ-goa (Bourgeois) từ phía bắc theo sông Mê-công rẽ vào sông Sêrêpôk đến vùng đất Buôn Đôn, chọn nơi này làm đại lý, với mục đích làm thí điểm trong cuộc bình định Cao Nguyên Trung phần Tại đây, Bu-rơ-goa chọn một số tù trưởng sơn cước làm cố vấn, đó là Phét Lasa và Y Thu Knul (Khun Zu Nốp) người M’nông-Lào, coi họ là những cộng sự trung thành của các viên khâm sứ ở Dak Lak Tuy vậy, việc chọn Buôn Đôn làm đại lý của người Pháp đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của đồng bào nơi đây Bu-rơ-goa không tài nào mở rộng được vùng đất cai trị của mình
mà còn bị mất uy tín với nhân dân bản địa.
Ngày 22/12/1904, thực dân Pháp chuyển đại lý từ Buôn Đôn về Buôn
Ma Thuột và chọn nơi này làm thủ phủ của Cao nguyên Dak Dak (thuộc tỉnh Kon Tum), đồng thời giao cho triều đình Việt Nam phối hợp với người Pháp để cai quản.
Ngày 02/7/1923, toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định tách phần đất Dak Lak ra khỏi KonTum và thành lập tỉnh riêng Lúc mới thành lập, dak lak chưa có huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng dựa theo các buôn có sẵn của các dân tộc bản địa, như Ê đê có 151 làng, M’nông có 117 làng, Gia rai
có 11 làng, Bih có 24 làng, M’dhur có 120 làng…
Năm 1931, Pháp làm cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, địa bàn tỉnh Dak Lak được chia làm 5 quận là Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Dak Song, Lak và M’drăk, gồm 440 làng Tỉnh lỵ đóng tại Buôn Ma Thuột Từ
đó cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 và suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, về mặt hành chính trên địa bàn tỉnh Dak Lak không
có gì thay đổi lớn Ngày 15/10/1950, Bảo Đại ban hành Dụ số 6, đặt các tỉnh Cao nguyên, trong đó có Dak Lak làm Hoàng triều Cương thổ, có quy chế cai trị riêng.
Sau Hiệp định Genève, chính quyền Ngô Đình Diệm huỷ bỏ quy chế
Trang 22Hoàng triều Cương thổ và đặt tỉnh Dak Lak cũng như các tỉnh khác thuộc Cao nguyên Trung phần của “Việt Nam Cộng hoà” Nghị định số 158 BNV/NĐ ngày 08/8/1957 chuyển đổi thị trấn Buôn Ma Thuột thành xã Lạc Giao thuộc quận Buôn Ma Thuột Nghị định số 356 BNV/NĐ ngày 2/7/1958
ấn định các đơn vị hành chính của tỉnh Dak Lak gồm 5 quận, 21 tổng, 77
xã Riêng Buôn Ma Thuột có các tổng Ea Tam (10 xã), Cư Keh (4 xã), Cư Ewi (6 xã), Drai Sáp (5 xã).
Ngày 20/12/1963, chính quyền Sài Gòn ban hành nghị định số 262 BNV/HC/NĐ thành lập thêm một quận mới của tỉnh Dak Lak, lấy tên là quận Phước An Lúc bấy giờ Dak Lak gồm có 4 quận: Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ, Lạc Thiện, Phước An Quận Buôn Ma Thuột không còn tổng nữa, có các xã: Cư Ebu Math, Cư Edru Math, Cư Kphong Math, Cư M’gar Math, Cư Ming Math, Cuôr Dang Math, Chi Lăng, Đạt Lý, Ea Ana Math,
Ea Emaih Math, Ea Hbong Math, Ea Hding Maath, Ea Net Math, Ea Kwang Math, Ea Madong Math, Ea Mdhar Math, Ea Kmat Math, Ea Knir Maath, Ea Ktur Math, Ea Pac Math, Ea Bour Math, Kmrong Prông Math, Lạc Giao, Quảng Nhiêu, Tân Điền, Thọ Thành.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975), chính quyền Cách mạng đã sắp xếp lại địa bàn hành chính của Dak Lak gồm 5 huyện và
1 thị xã: Krông Buk, Krông Pawc, Dak Mil, Dak Nông, Lak, thị xã Buôn
Ma Thuột.
Ngày 21/1/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 08-NĐ/CP, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố trực thuộc tỉnh Dak Lak, lập thêm hai phường mới, chuyển 3 xã qua huyện Ea Súp, 3 xã khác qua huyện Cư Jút, 1 xã về huyện Krông Păc, Nghị định số 71/CP ngày 18/11/1996 của Chính phủ cho phép việc thành lập thêm 4 phường mới thuộc thành phố Buôn Ma Thuột Như thế, trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột tính từ thời điểm này có 18 phường, xã.
Đến nay, tỉnh Dak Lak có diện tích tự nhiên 19.599km 2 , dân số gần 2
Trang 23triệu người, 44 dân tộc anh em, được phân bố trên 18 huyện, 1 thành phố,
đó là: Buôn Ma Thuột, Huyện M’drăc, Ea Kar, Krông Păc, Krông Bông, Lak, Ea H’leo, Krông Năng, Krông Buk, Cư M’gar, Buôn Đôn, Ea Súp, Krông Ana, Cư Jút, Krông Nô, Dak Mil, Dak Song, Dak Nông, Dak R’lấp.
FHuyền thoại về Hồ Lak:
Đã từ lâu lắm rồi, thanh niên và dân làng đi săn, săn được nhiều thú rừng họ cùng nhau ăn uống, nghỉ ngơi và chia thuốc hút, nhưng không có ai
có lửa Y Biên là một chàng trai nhanh nhẹn, khoẻ mạnh đã tìm cách làm ra lửa để hút thuốc Thấy vậy, mọi người thách nhau: Y Biên làm ra lửa, vậy
đố ai làm cháy được nước?
Mọi người ồ lên: Làm sao mà cháy được nước?…
Dân làng nói như vậy, nhưng hai thanh niên Y Lắc và Y Liêng đã làm cho nước cháy được Dân làng bắt đầu lo sợ vì không còn nước để uống như ngày xưa nữa Từ đó họ phải uống nước sương, và bắt Y Lắc, Y Liêng phải làm nô lệ cho dân làng.
Vì không quen làm nô lệ cho dân làng nên hai người bàn việc trốn đi Đang lúc nằm ngủ trên tảng đá to, Lắc và Liêng đã được Giàng đến mách bảo:
-Ơ các con “Nếu các con biết chặt cây m’ô thì có nước trong đó để uống các con ạ!”
Được Giàng mách bảo, hai chàng thức dậy vội vã đi tìm cây m’ô Chặt một cây, chặt hai cây đã có nước, chặt ba cây thấy bên trong có một chú lươn Y Lắc và Y Liêng mừng lắm bèn đem nước và lươn về nuôi, và họ không còn muốn bỏ buôn làng đi nữa Ơ một ngày, một đêm, tới chiều con lươn đã lớn Lươn ở nồi đất, nồi đất chật, ở nồi đồng, nồi đồng cũng không chứa nổi Cuối cùng Lắc và Liêng phải đào sâu dưới đất làm chỗ ở cho lươn Con lươn ngày càng to, nước trong nhà mỗi ngày một nhiều Sợ nước
Trang 24tràn ra ngoài, Y Lắc và Y Liêng càng đào rộng và sâu mãi Khi đã được nhiều nước, hai chàng không nói cho ai hay, dân làng cũng không ai hay.
Một lần do mải chơi với con lươn nên có con chó đến ăn vụng cơm của hai chàng Nhờ vậy, dân làng mới biết rõ Lắc và Liêng đã có nhiều nước, nấu được nhiều cơm, nên họ mừng lắm Để có được nước, dân làng đổi hết nồi đồng, nồi đất, đổi hết chiêng ché cho Lắc và Liêng nên hai chàng bỗng trở nên giàu có Họ được trả tự do, và hồ nước đã trở thành của chung, không ai còn phải đổi chác gì nữa.
Con lươn của Lắc và Liêng mỗi ngày một lớn nên chỗ ở của nó ngày càng trở nên chật chội Một hôm lươn bảo với hai chàng trai: “Hãy làm cho tôi hai cái sừng sắt cắm vào đầu tôi” Hai chàng trai cùng họp với dân làng nhưng chẳng ai làm ra vật bằng sắt được, chỉ có Y Biên, kẻ làm ra lửa nên nung được sắt Con lươn nhờ có sừng nên làm cho chỗ ở ngày càng rộng hơn.
Chỗ ấy ngày nay là hồ Lak xinh đẹp và giàu có, trong xanh như chiếc gường soi xinh xắn cho mọi người đến du ngoạn và nghỉ ngơi.
FDray H’Linh: (Thác nước mang tên nàng H’linh)
Chuyện xưa kể lại rằng: tại một buôn làng Ê đê có đôi trai gái yêu nhau say đắm Chàng trai tên là Dam Yông, tuy nghèo khó nhưng siêng năng, dũng cảm Nàng H’Linh xinh đẹp có bờ tóc dài chấm gót như dòng suối chảy, tính tình nết na, hiền hậu Nhưng tình yêu của họ đã không vượt qua được phong tục có tự ngàn đời do cả hai đều nghèo, không đủ trâu bò
để mời làng, không có nhiều ché rượu để cúng làng xin làm đám cưới.
Thế rồi, dưới bóng cây Kơnia đầu làng, Dam Yông đã chia tay H’Linh để quyết chí ra đi tìm cách làm lụng ra nhiều của cải để trở vể cưới nàng H’Linh Nàng H’Linh đã chảy không biết bao nhiêu dòng nước mắt trong ngày tiễn biệt.
Trang 25Một, hai, ba mùa làm rẫy, họ vẫn biệt tin nhau Bao nhiều lần bồ câu núi bay đi bay về, mà tin chàng Dam Yông vẫn mãi biệt tăm H’Linh vẫn ngóng trông với nỗi nhớ khắc khoải và thất vọng.
Nàng cất bước ra đi để tìm chàng nơi xa Hết núi cao, sông sâu, buôn
xa, vượt qua hàng ngàn con suối nhưng vẫn không thấy bóng Dam Yông Bóng ông mặt trời, tiếng vọng của rừng in bóng, vọng lời gọi của H’Linh Khi đến một dòng sông lớn, nàng cất tiếng gọi tên chàng trong thất vọng, và
đã gieo mình xuống dòng sông ấy.
Chàng Dam Yông, sau bao lần đi khắp buôn này, làng nọ, bao lần nương rẫy bị thất bại, bao mùa rẫy đi qua mà của cải cải cũng chẳng có là bao Chàng trở về buôn cũ thì được tin nàng đã đi tìm chàng Chàng chạy
đi khắp nơi rừng sâu, núi cao, nhưng vẫn không gặp được nàng Cuối cùng, chàng cũng đến được bờ sông, nơi nàng đã gieo mình Tiếng gọi của chàng vọng trong lòng sông, lời suối, nhưng dòng sông vẫn ào ào tuôn trôi Chạng
đã gieo mình xuống dòng sông ấy Họ đã tron nghĩa thuỷ chung, kết nên một tình yêu đẹp làm rung động lòng người Chỗ ấy ngày nay gọi là thác Dray H’Linh, trên dòng sông Sêrêpôk Một công trình thuỷ điện mang tên mối tình chung thuỷ, một tình yêu bất tử đã được xây dựng tại đây, tạo nên dòng điện thắp sáng cho mọi buôn làng.
FDray-Sáp (Thác Khói):
Là một ngon thác cao vút, nước từ trên cao đỏ xuống tạo nên làn sương khói kỳ ảo giữa những làn nước Truyền thuyết về Dray Sáp được kể như sau: Có một cô gái tên là Hơ Mi vẫn ngày ngày đi làm rẫy Nàng và một chàng trai của buôn làng hàng ngày bên nhau Một hôm, trong lúc họ đang ngồi nghỉ trên một hòn đá, bỗng thấy một con quái vật đầu to như quả núi, mắt lớn tựa nồi đồng, râu dài, răng nhọn, toàn thân có vảy lấp lánh như bạc hiện ra trên bầu trời rồi bất ngờ nó sà xuống đất Chiếc vòi của con quái vật cắm sâu vào đất Bỗng một cột nước lớn từ dưới đất phun lên Con
Trang 26quái vật xòe đôi cánh lớn lượn mấy vòng, rồi phun nước tạo thành những đám mưa dữ dội và bay đi mất Cô gái sau giây phút khiếp đảm, giờ đã tan biến trong lớp mây mù Chàng trai thì đã biến thành một gốc cây lớn, cắm sâu vào ghềnh đá Chỗ ấy ngày nay là một dòng thác lớn cách thành phố Buôn Ma Thuột 30 cây số, gọi là thác Khói, tiếng Ê đê là Dray Sáp.
FKrông Buk-Dòng sông mái tóc
Krông nghĩa là sông, Buk là tóc Ngày nay, nó trở thành tên gọi của một huyện lỵ ở Dak Lak Chuyện kể rằng: ngày xưa có H’Rinh và H’Rao là hai cô gái xinh đẹp nổi tiếng trong vùng Thân thể của H'Rinh đúc bằng vàng, thân thể của H'Rao đúc bằng bạc Mọi người đứng trước hai cô gái như đứng trước bông hoa pơ lang, ngắm nhìn mãi không chán Nhìn đằng trước thấy dễ nhớ, nhìn đằng sau thấy dễ thương Các chàng trai dềi mơ ước, được cùng ăn chung mâm, được ở cùng nhà, được cùng chung chăn gối với họ.
Chiều chiều, hai nàng rủ nhau ra bến nước, ra bờ suối hái rau, bắt cá, hát múa, vui đùa Một hôm H'Rinh và H'Rao tưởng thấy mắt mình như mờ
đi, bởi ngay trên mặt nước một chàng trai như đúc từ ánh trăng đã hiện lên
ở đó, rồi lên bờ ngồi câu cá Chung quanh chàng hoa nở thơm ngát, chim hót vang lừng Trong giây phút đó, cả đôi bên đều sững sờ Chàng trai đã cùng hai cô gái ngồi nói chuyện với nhau Họ đã làm quen nhau như vậy.
Trời tối lúc nào họ cũng không hay Những câu chuyện thơm như hoa trái, nhiều như suối nguồn cứ tuôn mãi như không bao giờ dứt được Họ thấy có tình yêu rạo rực trong người.
Qua nhiều tháng, nhiều ngày, khi hai nàng H'Rinh, H'Rao mới biết tên chàng trai là Y Krông, con của thần nước Hai thế giới khác biệt như chim trời, cá nước Họ buồn lắm, Thần bến nước cũng không cho họ thấy nhau Sau bảy lần thương, chín lần nhớ, nước mắt chảy tràn, họ đành phải chia tay nhau.
Trang 27Chàng trai Y Krông được hai cô gái cắt nửa mái tóc của mình để làm
kỉ niệm Y Krông nắm lấy lọn tóc nhảy xuống dòng nước xiết để về với quê hương thần nước Hai nàng H'Rinh, H'Rao về nhà, ăn hạt cơm không vô bụng, nước mắt cứ như từ trong hang đá tuôn trào Bảy đêm không ngủ, bảy ngày không ăn, H'Rinh chết hoá thành hoa sen trắng, H'Rao chết hoá thành rau dezamea-tang mọc dọc bờ suối để mong có ngày gặp lại chàng trai Y Krông Đến nay vùng đất đó mang tên Krông Buk.
FBuôn Ma Thuột-Vùng đất được phát hiện từ công cụ
Người ta kể rằng: xưa kia vùng đất này còn hoang sơ lắm, chỉ có dăm
ba ngôi làng của đồng bào Ê đê sinh sống Nhưng họ cũng chẳng được yên bởi những cuộc xâm lược chinh plục lẫn nhau giữa các nước láng giềng Ngày đó, ở một làng Ê đê Kpă có một gia đình ngày ngày lên nương Những lúc rảnh rỗi, chú bé tên là Thuột thường men theo bờ suối nhỏ dạo chơi Một lần, chú phát hiện được một con dao cạnh bờ suối Chuyện tìm được con dao quý, làm được nông cụ tốt, khiến cho mọi người tụ tập đến sinh sống tại vùng đất này ngày càng nhiều Năm 1904 Buôn Ma Thuột được Pháp đặt làm Đại lý hành chính Ama là cha, Thuột là tên con.
FKrông Nô (Krông là sông, Nô-đực)
Đó là địa danh của một vùng đất mà nay cũng đã trở thành một huyện của tỉnh Dak Lak Đó cũng là tên một con sông Có lẽ xuất phát từ câu chuyện cổ tích được lưu truyền lại ở vùng này: Chuyện 7 anh em nhà Krông Pha kể rằng: xưa kia có một cô gái Ê đê khoẻ mạnh và xinh đẹp Cô gái đi rừng khát nước, liền cầm dao chặt bảy ống nứa, trong đó mỗi ống chỉ
có một ngụm nước uống Về nhà cô gái có mang và sinh được 7 chàng trai
kì lạ Mới lọt lòng họ đã to lớn như những chàng dũng sĩ Bảy người nhảy qua 7 ngọn núi, 7 con sông xong mới chịu về để mẹ cắt rốn.
Sau đó các chàng trai dùng chân đạp xuống đất cho phun nước lên để uống, dùng đôi bàn tay của mình để rung cho quả rụng xuống để ăn Bảy
Trang 28anh em Krông Pha đã lập được nhiều chiến công to lớn, trừ được hạn hán,
dẹp được lũ lụt, diệt trừ lũ mtao độc ác để cứu sống các cô gái xinh đẹp và
bảo vệ cuộc sống của cộng đồng.
Câu chuyện trên phản ánh mơ ước về việc đấu tranh chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội, chống lại các thế lực ác độc, xây dựng và phát triển buôn làng cộng đồng Tên gọi trên còn phản ánh sức sống mãnh liệt của một vùng đất.
FThác nước la Ly (Thác nước nàng Ly)
Thuở xa xưa có nàng Ly cùng đem lòng yêu thương hai chàng trai Rook và Seek (là hai anh em) Nàng Ly lại không thể bắt cung lúc hai người làm chồng mình nên đêm đêm Ly nằm bên đống lửa thổi đinh yơng Tiếng đing yơng cùng làm cho hai chàng trai ngơ ngẩn Rook và Seek hai anh em rất thương nhau nên cái gì họ cũng nhường nhau, cũng lo cho nhau Họ thương nhau nhiều hơn đá núi, cùng nhau lên rừng bắt cọp, xuống thác bắt con cá chình, cùng nhau bắn gãy cánh con chồn bay, bắt con rắn độc… Vậy nhưng tình yêu với nàng Ly thì không ai nhường cho ai cả Nàng Ly nói:
“Anh Rook, em ưng chặn dòng nước Sê San lại quá!”, lập tức chàng Rook vươn sức vai trẻ lên tận núi nhà trời Rầm một cái, đỉnh núi chuyển mình nơi chàng ghé vai vào Núi lở lấp dòng Sê San…
Nàng Ly lại nói: “Ơ anh Seek, em ưng khơi lại dòng Sê San cho nước chảy về hướng tây quá!”, thế là chàng Seek oằn lưng, vươn sức vai trẻ lên tận đất nhà trời Một lằn chớp xé ngang chân núi, tiếng nứt đá lở ầm ầm, rồi dòng Sê San bị lấp giờ uốn mình vươn lên hướng tây, chảy ào ào dưới chân dãy núi lớn bao đời khô khát.
Nhưng tình yêu như tấu lên điệu nhạc của âm thanh đinh yơng và họ chẳng thể tranh giành với nhau Hai chàng trai Rook và Seek dường như cùng một lúc hoá thành hai hòn núi lớn đứng sừng sững bên dòng Sê San, bên này là hòn núi Rook, bên kia là hòn núi Seek Còn nàng Ly thì ngã giữa
Trang 29hai đỉnh non cao ấy, thành ra con thác với tên gọi la Ly.
FDựng lại thời tiền sử từ lòng đất Tây Nguyên
Với mục đích giải phóng lòng hồ phục vụ tích nước cho nhà máy thuỷ điện Yaly, thu thập di tích và di vật khảo cổ, góp phần dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá khứ xa xưa của các cộng đồng cư dân cổ đã cư trú ở khu vưc xã Sa Bình, huyện Sa Thầy; được sự đồng ý của Bộ Văn hoá-Thông tin,
từ đầu tháng 6-2001, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sử, Trưởng phòng nghiên cứu Thời đại đá(Viện khảo cổ học) làm trưởng đoàn cùng hầu hết chuyên gia hàng đầu của ngành khảo cổ học Việt Nam đã có mặt tại Lung Leng Chỉ riêng Viện khảo cổ học Việt Nam đã cử tới đây hơn 40 người, với
2 phó giáo sư, 12 tiến sĩ, còn lại đều là thạc sĩ chuyên ngành Vào thời điểm này tại Lung Leng cũng có hơn 600 lao động làm việc thường xuyên trên công trường cùng với nhiều trang thiết bị hiện đại Trên một diện tích khai quật hơn 10.000m 2 ,các nhà khảo cổ học đã mở được gần 100 hố, mỗi hố có diện tích 100m 2
Qua hai đợt khai quật, các nhà khoa học đã thu được gần 30 tấn hiện vật, gồm 8000 tiêu bản đá, hàng triệu mảnh gốm, trên 100 mộ nồi vò, gần 40 khu bếp, lò nung, cùng với các hiện vật như chuỗi đã, rìu, chận đèn, bát… Trong tầng văn hoá, các nhà khoa học còn tìm thấy một số đồ gốm sứ có niên đại từ thế kỳ 14 trở lại, trong đó có cả gốm sứ Việt Nam Đó là kết quả các nhà khảo cổ học thu được ở di chỉ khảo cổ Lung Leng (thuộc xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) Đây là vết tích văn hoá từ thời đại đá
cũ, đến hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí.
Căn cứ vào những gì đã khai quật và xác định niên đại, các nhà khoa học đã dựng lại một bức tranh toàn cảnh về người tiền sử Việt Nam thuộc nhiều giai đoạn khác nhau Sớm nhất là dấu ấn văn hoá của người tiền sử hậu kỳ đá cũ Đó là những cư dân chế tác và sử dụng đá cuội ghè đẽo Tiếp đến là lớp cư dân tiền sử hậu kỳ đá mới, sơ kì kim khí với những công cụ đá
Trang 30mài rất sắc nét, hoàn thiện như rìu, bàn mài, chân đèn Đặc biệt các nhà khảo cổ đã tìm thấy những viên đá cuội tròn dẹt, được đục lỗ và chế tác đến
độ tinh xảo thời đó Các chuyên gia cũng nhận định, qua nghiên cứu những
di vật thu lượm được thì cư dân tiền sử vùng Lung Leng này không chỉ đạt trình độ cao về kỹ thuật mài đá, chế tác công cụ, mà họ còn là những người thợ chế tác gốm rất giỏi Từ thời sơ khai đó, họ đã biết pha chế một tỉ lệ đất sét thích hợp với cát, bã thực vật và hiểu rõ kỹ thuật đắp lò nung gốm để chế tác từng loại vật dụng sinh hoạt như chén, bát, chân đèn, đồ trang sức với nhiều nghệ thuật, kích thước khác nhau., Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sử cho biết đây là một trong những di tích khảo cổ học có tầng văn hoá dày, có quy mô lớn và chứa đựng vết tích văn hoá nhiều thời đại Chính toàn bộ những tư liệu khai quật của đợt này sẽ góp phần nghiên cứu thời kỳ quá khứ xa xưa của Tây Nguyên, để minh chứng Tây Nguyên trong quá khứ là một vùng năng động và có sự giao lưu rộng mở Ơ đây đã chứa đựng vết tích văn hoá của những cư dân từ xa xưa cho đến giai đoạn bước vào văn minh Khai quật di chỉ lần này chính là giải phóng khỏi lòng hồ của thuỷ điện Yaly một di tích quan trọng để các nhà làm điện ở Việt Nam có thể yên tâm trữ nước, chủ động các vấn đề phát điện và cung cấp điện cho đồng bào các dân tộc bản địa biết được di tích văn hoá lịch sử của mình và càng thêm yêu quý mảnh đất quê hương của chính mình.
Cho đến cuối tháng 8, công việc khai quật di chỉ khảo cổ học Lung Leng đã gần hoàn tất Ngày 16-8 vừa qua,, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sử, Trưởng đoàn khai quật cho biết, các chuyên gia Viện khảo cổ học
và Bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum còn phát hiện thêm 9 điểm có khả năng là di chỉ, trong đó một điểm đã được kiểm tra và xác nhận là có tính chất khảo cổ giống Lung Leng, với tên gọi mới là Lung Leng 2 Với kết quả này cho thấy di chỉ Lung Leng là một trong những phát hiện bất ngờ nhất của ngành Khảo cổ học Việt Nam trong những năm gần đây.
Trang 31 Di tích lịch sử cách mạng:
1 Ngã ba Tuy Đức, thuộc địa bàn 2 xã: Quảng Trực và Dak Bul So, huyện Dak R'Lấp Đây là chứng tích của cuộc khởi nghĩa của Nơ Trang Lơng-thủ lĩnh của nghĩa quân M’nông-Stiêng hồi đầu thế kỉ XX.
1 Ngục Dak Mil, thị trấn Dak Mil Nơi giam giữ, đày ải các chiến sĩ cách mạng giai đoạn 1936-1943, có mối liên hệ với Nhà đày Buôn Ma Thuột.
1 Buôn Cháy, thuộc xã EEEa Mró, huyện Cư M’gả Buôn căn cứ cách mạng của tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ.
1 Nhà số 57, Lý Thường Kiệt, Buôn Ma Thuột-nơi tổ chức hội nghị khẩn cấp của Ban lãnh đạo lâm thời tỉnh Dak Lak trong cách mạng tháng Tám năm 1945.
1 Nhà số 04, Nguyễn Du, thành phố Buôn Ma Thuột Trụ sở Hội đồng cách mạng của tỉnh trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
1 Đình Lạc Giao, số 45 Phan Bội Châu-Buôn Ma Thuột, nơi gặp gỡ đầu tiên giữa người Kinh và người Thượng Nơi ra mắt Uỷ ban quân quản đầu tiên sau giải phóng 1975.
1 Nhà đày Buôn Ma Thuột, số 18 Tán Thuật, Buôn Ma Thuột-nơi đày
ải giam giữ các chiến sĩ cách mạng thời kì 1930-1045 Nơi gieo hạt mầm cách mạng đầu tiên cho tỉnh Dak Lak.
1 Đèo Phượng Hoàng, km 114-upload.123doc.net, quốc lộ 26, xã Ea Trang, M’drak-nơi diễn ra trận đánh lịch sử giữa ta và địch mở ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam.
1 Hang đá buôn Dak Tuôr, xã Cư Pui, huyện Krông Bông-căn cứ cách mạng của tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ.
1 Buôn Dliê Ya, xã Dliê Ya, huyện Krông Năng-căn cứ cách mạng của tỉnh thời chống Pháp.
Trang 321 Căn cứ H3 và H7, buôn Dliê Ya, xã Dliê Ya, huyện Krông Năng, căn
cứ cách mạng của ta qua hai cuộc kháng chiến.
1 CADA, xã Ea Yoong, huyện Krông Păc, nơi hình thành và ra đời giai cấp công nhân, chi bộ Đảng, lực lượng vũ trang đầu tiên ở Dak Lak.
1 Hang đá Khuê Ngọc Điền, thôn 2, xã Khuê Ngọc Điền, huyện Krông Bông-cơ quan đầu não của tỉnh trong kháng chiến chống Mỹ.
1 Hang đá Buôn Lung, thôn 2, xã Hoà Sơn, huyện Krông Bông-căn cứ cách mạng của Thành uỷ thành phố Buôn Ma Thuột.
1 Buôn Trinh, xã Ea Bang, huyện Krông Buk-căn cứ cách mạng của tỉnh qua hai cuộc kháng chiến.
1 Cây đa T50 (cây đa liên lạc), thôn 1, xã Hòa Phong, huyện Krông Bông Nơi làm hòm thư bí mật của lực lượng vũ trang và tổ chức Đảng của tỉnh tong kháng chiến chống Mỹ.
1 Đồi Chư Cúc, xã Ea Kmút, Ea Kar Nơi đây, năm 1975 diệt 2 đại đội Bảo an, bắn rơi máy bay chở chuẩn tướng Lê Trung Lương, tư lệnh F23 nguỵ.
1 Tượng đài Mậu Thân, km5, ngã ba Hoà Bình, phường Tân Hoà, Buôn Ma Thuột-tưởng nhớ những bà mẹ anh hùng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
1 Căn cứ kháng chiến Nam Nung, xã Nam Nung, huyện Krông Nô.
1 Đồi Mậu Thân (cao điểm 722) thôn Thọ Hoàng, xã Dak Sắc, Dak Mil
có trên 300 chiến sĩ giải phóng hy sinh Đặc biệt là nơi diễn ra trận đánh không cân sức giữa ta và địch trong xuân Mậu Thân 1986, 85 chiến sĩ đã hy sinh trong trận này.
1 Hộp thư giao liên (hành lang Dak Mil)-điểm liên lạc thông đường từ Khu 5 đến miền Đông nam bộ.
1 Đồi Trung Đoàn, nơi diễn ra trận đánh mở đầu để giải phóng Đức
Trang 33Lập, xuân 1975 tại thị trấn Dak Mil, huyện Dak Mil.
1 Hang Ba tầng, xã Krông Nô, huyện Lak, là căn cứ địa cách mạng của tỉnh từ 1958-1963.
Di tích lịch sử văn hoá:
2 Buôn 1 và 2 xã Ea Súp-làng văn hoá.
3 Chùa Hoà Khai, thôn Quảng Hoà, xã Đạo Nghĩa, Dak R’lấp, nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng của bà con khu vực dinh điền Đạo Nghĩa từ năm
1960 đến nay.
Di tích kiến trúc nghệ thuật-kiến trúc tôn giáo:
4 Tượng đài thành quả, thị trấn Ea Knốp, Ea Kar.
5 Đài tưởng niệm Ea Phê, xã Ea Phê, Krông Pắc.
6 Tượng đài Bác Hồ, thị trân Buôn Hồ, Krông Buk
7 Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột, ngã 6
8 Chùa Khải Đoan, đường Phan Bội Châu, phường Thống Nhất.
9 Chùa An Lạc, thôn An Lạc, TT Buôn Hồ, Krông Buk
10 Chùa Pháp Hoa, xã Quảng Thành, Dak Nông
11 Tháp Yang Prong, xã Ea Rôk, huyện Ea Súp
12 Đền thờ Trần Hưng Đạo, thôn An Lạc, TT Buôn Hồ, Krông Buk
13 Mộ thầy giáo Y Jut, buôn Păn Lăm, phường Tân Lập, Buôn Ma Thuột
14 Mộ Khun Ju Nốp, xã Krông Ana, Buôn Đôn.
15 Nhà dài Ê đê, buôn Păn Lăm, phường Tân Lập, Buôn Ma Thuột.
16 Nhà cổ kiến trúc Lào, Krông Ana, Buôn Đôn.
Di tích khảo cổ:
17 Di chỉ khảo cổ học Kiến Đức, Dak R’lấp
Trang 3418 Khu mộ táng Ea Knuếch, xã Eea Ktuôr, Krông Ana
19 Mộ Chăm cổ, thôn 2, xã Hoà Sơn, Krông Bông.
20 Phế tích Chăm, thôn 3, xã Hoà Thành, Krông Bông
21 Đồi ông Hoàng, thôn Quảng Trụ, xã Buôn Triết, Lak
22 Vườn nhà ông Nam thôn 13, xã Ea Riêng, M’drak-nơi phát hiện trống đồng
23 Vườn nhà ông hoá thôn 13, xã Ea Bal, Ea Kar-nơi phát hiện trống đồng
24 Bãi đá Kang Giang, suối Eea Kmốc, xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo.
Danh lam thắng cảnh:
25 Thác Diệu Thanh, xã Nhơn Cơ, Dak R’lấp
26 Thác Ba tầng, lâm trường Nghĩa Tín, Dak Nông
27 Thác Gia Long, xã Ea Na, Krông Ana
28 Thác Khói (Dray Sáp), xã Dak Sô, Krông Nô
29 Thác Trinh Nữ, Thị Trấn Ea T’linh, Cư Jut
30 Thác Dray H’linh, xã Hoà Phú, Cư Jut
31 Thác Ba Tầng (Dray Dlon), xã Ea M’rốc, Cư M’gar
32 Đồi Cư H’lâm, Xã Ea Pôk, Cư M’gar
33 Thác Suối Mơ, Xã Ea Vi, Huyện Ea H’leo
34 Vườn quốc gia Yook Đôn, Xã Krông Ana, Buôn Đôn
35 Rừng thuỷ tùng, Xã Ea Ral, Huyện Ea H’leo
36 Thắng cảnh hồ Lak, thị trấn Liên Sơn, Lak
37 Thác Krông Kma, Xã Khuê Ngọc Điền, Krông Bông
38 Thác Thuỷ Tiên, xã Tam Giang, Krông Năng
39 Rừng thuỷ tùng xã Ea Hồ, Krông Năng
Trang 3540 Hồ Ea Súp, xã Ea Súp, huyện Ea Súp
41 Hồ Trúc, Thị Trấn Ea T’linh, Cư Jut
42 Thác Drai Si, Xã Ea Ta, Cư Jut
43 Thác Sương Mù (Drai Dhul), Xã Ea Tul, Cư M’gar
44 Thác Ea M’năng, Xã Ea M’năng, Cư M’gar
45 Hồ Doãn Văn, thôn 2 xã Dak Rtik, Dak R’lấp
46 Ea Đờn, Xã Quảng Điền, Krông Ana
47 Hồ Sa Nô, Xã Dak Rồ, Krông Nô
1 Thác Dak Tel, Xã Dak Mol, Dak Mil
1 Hồ Tây, Thị Trấn Dak Mil, Dak Mil
đề giáo dục, khoa học và công nghệ được đặt đúng vị trí và được quan tâm mộtcách thích đáng Tiếp đó, Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX lần lượt củng
Trang 36cố và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới trong đó coi giáo dục là quốc sáchhàng đầu và đề cao “chiến lược con người” Đổi mới giáo dục trước hết là đổimới phương pháp dạy – học Lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cựchọc tấp của học sinh là hướng chủ đạo về đổi mới phương pháp Để thực hiệnđược chiến lược của đảng và nhà nước, rõ ràng không thể xem nhẹ việc giáo dụclòng yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc và đặc biệt là thái độ của lớp trẻđối với lịch sử, đối với cội nguồn, đó chính là những viên đá đặt nền móng cho
sự nghiệp hiện đại hoá-công nghiệp hoá để đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo
nàn, lạc hậu, trở thành giàu mạnh và phồn vinh
b Chủ trương của đảng và nhà nước trong việc gìn giữ và phát huy vốn văn hoá truyền thống và bản sắc dân tộc.
Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, trong nghị quyết của mình, Đảng tachỉ ra rằng cần thiết phải xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc theo định hướng XHCN Tiếp đó, đại hội lần thứ VIII của Đảng cũng đãnhận định: trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa giao lưu trong quan hệquốc tế có rất nhiều sự tác động tiêu cực từ bên ngoài làm ảnh hưởng xấu đến tưtưởng, đạo đức, lối sống và cách nghĩ của nhiều người, nhất là giới trẻ Vì vậy,cần phải có những chính sách, giải pháp kịp thời và khả thi trong việc giáo dụctruyền thống tốt đẹp của cha ông, của đất nước đối với lớp trẻ Mỗi công dântrong tương lai phải ý thức được rằng tất cả những gì chúng ta có được ngày nayđều được đánh đổi bằng xương máu của cha ông chúng ta, do đó chúng ta không
ai được phép quên đi nguồn cội của mình Để làm được điều này, nghị quyết củaĐảng cũng chỉ ra rằng cần phải khôi phục, tôn tạo và giữ gìn những di tích lịchsử-văn hoá của dân tộc
c Vị trí - vai trò của Lịch sử địa phương
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có một mối quan hệ biện chứngkhông thể tách rời nằm trong cặp phàm trù “cái chung và cái riêng” Tri thứclịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động và đa dạng của tri thức lịch sửdân tộc Lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc Nói cách
Trang 37khác, lịch sử dân tộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch sửđịa phương đã được khái quát và tổng hợp ở mức độ cao.
Chúng ta đều biết rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy rađều mang tính chất địa phương, vì nó gắn với một vị trí không gian cụ thể củamột địa phương nhất định dù rằng các sự kiện đó có tích chất, quy mô và mức
độ ảnh hưởng khác nhau Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng ảnhhưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp nhưng cũng có những sự kiện, hiện tượng mà tácđộng của nó vượt ra khỏi khung giới địa phương, mang ý nghĩa quốc gia, thậmchí là ý nghĩa quốc tế Mặt khác, tìm hiểu về lịch sử địa phương không chỉ riêng
là việc của các nhà nghiên cứu mà còn là nhu cầu của mỗi con người Từ thời cổđại, Xixirôn - một chính trị gia nổi tiếng của La Mã đã nói: “Lịch sử là cô giáocủa cuộc sống” Chính vì lẽ đó, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả
sự am tường cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về quê hương, xứ sở, nơichôn nhau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch
sử dân tộc Chính Bác Hồ kính yêu, vừa là vị lãnh tụ thiên tài, vừa là nhà sử học
đã dạy rằng:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
(Hồ Chí Minh – Lịch sử nước ta)
d Chủ trương kế hoạch đổi mới chương trình sách giáo khoa lớp 7
Năm 2002, nhằm từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới sự nghiệp giáodục, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã trình lên Quốc hội và được Quốc hội phêchuẩn kế hoạch đổi mới chương trình sách giáo khoa lớp 1 và lớp 6 thực hiện từnăm học 2002-2003 Theo đó, năm học 2003-2004 này tiếp tục thay Sách giáokhoa lớp 7 và sẽ lần lượt “cuốn chiếu” cho đến hết cấp THPT Đến nay, chủtrương và kế hoạch này đã và đang được thực hiện qua năm học thứ hai songvẫn còn hết sức mới mẻ, đòi hỏi cần phải có thời gian thể nghiệm và kiểm chứng
để có cơ sở thực tiễn tốt hơn cho việc hoàn thiện thay sách giáo khoa 8,9 trongnhững năm tiếp theo Như vậy, đối với giáo viên trung học cơ sở, đây chính là