Trong dạy học sinh học hiện nay, nhiều giáo viên mới chỉ tập trung vào việc truyền tải cho hết kiến thức của bài, chưa có suy nghĩ làm cách nào để cho học sinh tự tìm ra kiến thức từ đó
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THỦY NGUYÊN
TRƯỜNG
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
“Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực tự học trong môn Sinh học 9”.
LĨNH VỰC: Dạy học môn Sinh học 9
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ: Giáo viên Nơi công tác: Trường THCS
Ngày tháng năm 2021
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Năm học 2020 - 2021 Kính gửi: Hội đồng khoa học huyện
Họ và tên:
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, trường THCS
Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực tự học trong môn Sinh học 9”
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn Sinh học 9
1 Tóm tắt trình trạng giải pháp đã biết:
Kiến thức ở các cấp học hiện nay, trong đó có cấp THCS liên tục có sự đổi mới nhưng cũng nhấn mạnh tính kế thừa, nối tiếp giữa các năm học với nhau Để lĩnh hội hiệu quả nguồn tri thức mới và vận dụng tốt vào thực tế, học sinh phải liên tục huy động kho tàng trí nhớ những vấn đề có liên quan, tạo ra mối liên hệ giữa cái đã có với cái chưa có, sắp có Sẽ là vô cùng khó khăn nếu học sinh cứ loay hoay với câu hỏi làm thế nào để kiến thức này có thể nạp thêm vào bộ nhớ của mình? Tại sao mình học mãi mà vẫn chẳng nhớ được gì?
Việc hiệu quả ghi nhớ kém như đề cập ở trên một phần do phương pháp học của học sinh chưa phù hợp, song phần còn lại cũng cần nhắc đến vai trò của giáo viên Trong giáo dục ở nhà trường thì giáo viên chính là người định hướng, đưa ra con đường để học sinh đến được với kiến thức Sẽ không sai khi nói rằng hiệu quả học tập của học sinh phụ thuộc vào cách thức, đường đi mà người thầy đã chỉ ra Trong dạy học sinh học hiện nay, nhiều giáo viên mới chỉ tập trung vào việc truyền tải cho hết kiến thức của bài, chưa có suy nghĩ làm cách nào để cho học sinh tự tìm ra kiến thức từ đó hiểu bài, nhớ các nội dung của bài học nhanh hơn, hiệu quả hơn Đặc biệt, so với các lớp 6, 7, 8 thì chương trình Sinh học 9 chứa đựng rất nhiều vấn đề mới mẻ, có những vấn đề khó về mặt tư duy đối với học sinh, để hiểu bài và nhớ được các nội dung của bài học không hề đơn giản Nếu giáo viên có thói quen yêu cầu học sinh trả lời đúng từng câu, từng chữ trong sách giáo khoa mà không tạo ra tính lôgic giữa các phần hay các bài với nhau thì học sinh sẽ hình thành thói quen học vẹt
Việc đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm của đổi mới giáo dục, phương pháp dạy học được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tính chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm thích ứng với các kĩ năng sống, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và phát triển năng lực của học sinh Đổi mới phương pháp dạy học là hướng học sinh hoạt động học tập theo tính chủ động, chống lại cách học tập thụ động, hình thành các năng lực và kĩ năng tự học tập cho học sinh
Theo chương trình nội dung đổi mới, nhằm kích thích học sinh tự tìm tòi ra kiến thức để vận dụng vào thực tiễn, vì vậy phương pháp dạy học cũng đổi mới theo để phát huy tính tích cực của học sinh đưa học sinh từ cách học tập thụ động sang cách học tập tích cực, tự học và phát triển năng lực Cho nên quá trình dạy và học cũng có sự thay đổi
để có sự thu hút toàn bộ học sinh tập trung vào giờ học, chú ý vào bài giảng của giáo viên, từ đó giúp học sinh tiếp thu bài và hiểu bài nhanh hơn, nắm được nội dung kiến thức bài học, gây một cảm giác thoải mái thích thú trong giờ học
Trang 3Còn ngược lại thì gây cho học sinh có tính thụ động, phụ thuộc vào giáo viên, dựa vào giáo viên ghi nội dung lên bảng thì mới có nội dung bài học, không chủ động tự học, tìm tòi kiến thức mới, cho nên không theo kịp những kiến thức cơ bản, vẫn đến từ đó gây
ra sự chán nản, không hiểu bài Như vậy dạy học phát huy tính cực – chủ động góp phần giúp học sinh học tập theo hướng tích cực và tự phát triển năng lực của chính mình, nhằm khắc sâu kiến thức lâu hơn, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn một cách phù hợp
Từ thực trạng được nêu ra ở trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy và học bộ
môn Sinh học 9, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực
tự học trong môn Sinh học 9”
2 Tóm tắt nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến:
- Tính mới, tính sáng tạo:
Đề tài đưa ra một số giải pháp trong dạy học Sinh học 9 nhằm giúp học sinh phát triển năng lực tự học Những kinh nghiệm trong đề tài đã phát huy hiệu quả đáng kể trong quá trình áp dụng, giúp cho học sinh phát hiện ghi nhớ, vận dụng nhiều nội dung kiến thức Sinh học lớp 9 tốt hơn, hiệu quả và hứng thú học tập của học sinh đối với môn học qua đó cũng được nâng lên
- Khả năng áp dụng, nhân rộng:
Qua thực tế áp dụng cho thấy, những giải pháp được đưa ra trong đề tài tương đối đơn giản, dễ dàng thực hiện Việc triển khai những nội dung trong đề tài không cầu kỳ, phức tạp, không đòi hỏi kinh phí tốn kém, cũng không yêu cầu quá cao về khả năng nhận thức của học sinh Những giải pháp được đưa ra vừa sức và phù hợp với sự phát triển của học sinh lớp 9 Vấn đề cốt lõi là cả giáo viên và học sinh cần kiên trì thực hiện, giáo viên cần truyền được cảm hứng và lòng yêu thích bộ môn đến với học sinh Sẽ không thể có hiệu quả cao nếu như học sinh thờ ơ, thiếu nhiệt tình học tập
- Hiệu quả, lợi ích thu được áp dụng giải pháp:
Khi được triển khai trong thực tiễn dạy học, đề tài giúp học sinh phát triển năng lực tự
học, việc phát hiện, ghi nhớ kiến thức của học sinh không thụ động nữa mà trên cơ sở hiểu được bản chất vấn đề Học sinh được trang bị thêm nhiều năng lực, kĩ năng cần thiết cho quá trình học tập bộ môn Sinh học nói riêng và các bộ môn nói chung như: năng lực
tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) kĩ năng đọc, kĩ năng xây dựng sơ đồ tư duy, kĩ năng vận dụng sự liên tưởng để ghi nhớ,… Sự tích cực, hứng thú của học sinh tăng lên rõ rệt, không khí giờ học thoải mái hơn
CƠ QUAN ĐƠN VỊ ………., ngày tháng 03 năm 2021
ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Người viết đơn
(Ký tên, đóng dấu)
Trang 4
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực tự học trong
môn Sinh học 9”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy học môn Sinh học 9
3.Tác giả:
Họ và tên:
Ngày/tháng/năm sinh:
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, trường THCS
Điện thoại:
4 Đồng tác giả: Không có
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS
Địa chỉ:
Điện thoại:
I Mô tả giải pháp đã biết:
Kiến thức ở các cấp học hiện nay, trong đó có cấp THCS liên tục có sự đổi mới nhưng cũng nhấn mạnh tính kế thừa, nối tiếp giữa các năm học với nhau Để lĩnh hội hiệu quả nguồn tri thức mới, học sinh phải liên tục huy động kho tàng trí nhớ những vấn đề có liên quan, tạo ra mối liên hệ giữa cái đã có với cái chưa có, sắp có Sẽ là vô cùng khó khăn nếu học sinh cứ loay hoay với câu hỏi làm thế nào để kiến thức này có thể nạp thêm vào bộ nhớ của mình? Tại sao mình học mãi mà vẫn chẳng nhớ được gì?
Việc hiệu quả ghi nhớ kém như đề cập ở trên một phần do phương pháp học của học sinh chưa phù hợp, song phần còn lại cũng cần nhắc đến vai trò của giáo viên Trong giáo dục ở nhà trường thì giáo viên chính là người định hướng, đưa ra con đường để học sinh đến được với kiến thức Sẽ không sai khi nói rằng hiệu quả học tập của học sinh phụ thuộc vào cách thức, đường đi mà người thầy đã chỉ ra Trong dạy học sinh học hiện nay, nhiều giáo viên mới chỉ tập trung vào việc truyền tải cho hết kiến thức của bài, chưa có suy nghĩ làm cách nào để cho học sinh hiểu bài, nhớ các nội dung của bài học nhanh hơn, hiệu quả hơn Đặc biệt, so với các lớp 6, 7, 8 thì chương trình Sinh học 9 chứa đựng rất nhiều vấn đề mới mẻ, có những vấn đề khó về mặt tư duy đối với học sinh, để hiểu bài và nhớ được các nội dung của bài học không hề đơn giản Nếu giáo viên có thói quen yêu cầu học sinh trả lời đúng từng câu, từng chữ trong sách giáo khoa mà không tạo ra tính lôgic giữa các phần hay các bài với nhau thì học sinh sẽ hình thành thói quen học vẹt
Việc đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm của đổi mới giáo dục, phương pháp dạy học được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tính chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm thích ứng với các kĩ năng sống, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và phát triển năng lực của học sinh Đổi mới phương pháp dạy học là hướng học sinh hoạt động học tập theo tính chủ động, chống lại cách học tập thụ động, hình thành các năng lực và kĩ năng tự học tập cho học sinh
Theo chương trình nội dung đổi mới, nhằm kích thích học sinh tự tìm tòi ra kiến thức để vận dụng vào thực tiễn, vì vậy phương pháp dạy học cũng đổi mới theo để phát
Trang 5huy tính tích cực của học sinh đưa học sinh từ cách học tập thụ động sang cách học tập tích cực, tự học và phát triển năng lực Cho nên quá trình dạy và học cũng có sự thay đổi
để có sự thu hút toàn bộ học sinh tập trung vào giờ học, chú ý vào bài giảng của giáo viên, từ đó giúp học sinh tiếp thu bài và hiểu bài nhanh hơn, nắm được nội dung kiến thức bài học, gây một cảm giác thoải mái thích thú trong giờ học
Còn ngược lại thì gây cho học sinh có tính thụ động, phụ thuộc vào giáo viên, dựa vào giáo viên ghi nội dung lên bảng thì mới có nội dung bài học, không chủ động tự học, tìm tòi kiến thức mới, cho nên không theo kịp những kiến thức cơ bản, vẫn đến từ đó gây
ra sự chán nản, không hiểu bài Như vậy dạy học phát huy tính cực – chủ động góp phần giúp học sinh học tập theo hướng tích cực và tự phát triển năng lực của chính mình, nhằm khắc sâu kiến thức lâu hơn, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn một cách phù hợp
Việc tiếp thu trên lớp của học sinh là vô cùng quan trọng, nếu giáo viên có những cách thức làm cho kiến thức trở nên đơn giản hơn, gần gũi hơn, sinh động hơn,… hay nói cách khác là cách thức làm cho tri thức trở nên dễ nhớ, dễ hiểu hơn với học sinh thì hiệu quả ghi nhớ đã có ngay tại lớp Sau vài lần củng cố, học sinh đã có được những kiến thức nằm tương đối chắc chắn trong bộ nhớ của mình
Từ thực trạng được nêu ra ở trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy và học bộ môn
Sinh học 9, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh phát triển năng lực tự học trong môn Sinh học 9”
II Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến
II.0 Nội dung giải pháp mà tác giả đề xuất
Trên cơ sở phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực, từ đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy ở học sinh Tôi đã thực hiện đổi mới phương pháp dạy học thể hiện qua bốn đặc trưng cơ
bản sau:
1 Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh
Dạy học theo hướng tích cực là lấy học sinh làm trung tâm, ở toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, hứng thú của học sinh Mục đích là nhằm phát triển ở học sinh năng lực độc lập và tự giải quyết các vấn đề Vai trò người giáo viên chủ yếu là người thiết kế, tạo ra các tình huống có vấn đề, giúp học sinh nhận biết các vấn đề, lập giả thiết, tự chứng minh và rút kết luận nên yêu cầu tất cả học sinh đều phải tham gia tích cực các hoạt động trên lớp và tập trung vào bài học Học sinh học tập tích cực bằng hành động của chính mình, tự mình tìm ra các nội dung kiến thức chưa biết, tự khám phá, tự tìm ra kiến thức mới Muốn tổ chức hoạt động dạy học như vậy, giáo viên cần chuẩn bị trước cho học sinh những tình huống học tập, hệ thống câu hỏi để học sinh tự đặt mình vào các tình huống đó, tự quan sát, suy nghỉ, tra cứu, làm thí
nghiệm, đặt giả thuyết, phán đoán, làm thử, tự giải quyết vấn đề để tìm ra kiến thức mới, tham gia làm việc hợp tác theo nhóm, tự học thông qua việc tham khảo thông tin từ sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, các phương tiện thông tin và từ thực tiễn cuộc sống hàng ngày Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,
Trang 6- Gây ấn tượng trong quá trình dẫn dắt vào bài mới hoặc vào một mục nào đó của bài, để kích thích sự tò mò thích khám phá, tăng cường tính trải nghiệm cho học sinh Giáo viên có thể sử dụng những bức tranh, hình ảnh, những câu thơ, những điểm đặc biệt, gây bất ngờ thú vị
Ví dụ: Khi dạy bài 31 – Công nghệ tế bào, mục II.1 Nhân giống vô tính trong ống nghiệm (vi nhân giống) ở cây trồng, giáo viên có thể chiếu hình ảnh gây sự chú ý của học sinh để đặt vấn đề vào mục:
Giáo viên: Các em hãy quan sát hình ảnh và những con số sau, từ đó hãy trả lời câu hỏi: “Em có suy nghĩ gì?”
Sau khi học sinh đã quan sát, nhận xét, cá nhân các em sẽ cảm thấy tò mò, đặt ra câu hỏi “Làm thế nào?” thì giáo viên sử dụng tranh vẽ (hình 31) để học sinh tiếp tục trao đổi nhóm tìm hiểu
- Gây ấn tượng trong quá trình tìm hiểu nội dung bài học:
Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ (hình 2.1 – Sơ đồ thụ phấn nhân tạo trên hoa đậu Hà Lan) để hình thành nội dung kiến thức, giáo viên có thể dẫn dắt bằng bài thơ tự sáng tác:
Chúng tôi là đậu Hà Lan Hoa trắng, hoa đỏ nhị vàng giống nhau
Dù tự thụ phấn từ lâu Nhưng nay muốn đổi trước sau vài lần Hạt phấn tôi tặng cho “anh”
Phần “anh” làm “mẹ”, “bố” dành cho tôi
Đến đây, giáo viên đặt câu hỏi: Giữa hai cây hoa trắng và đỏ, cây nào đóng vai trò
cơ thể bố, cây nào đóng vai trò cơ thể mẹ? → Học sinh quan sát kĩ tranh và kết hợp đoạn dẫn của giáo viên để trả lời
Giáo viên tiếp tục: Hỏi sao chưa được “anh” ơi?
Vì “anh” có phấn, chín rồi rụng ngay
2000 triệu mầm giống,
đủ trồng trên 40 ha
8 tháng
Trang 7Muốn tôi “sang” được lần này
“Anh” phải cắt nhị từ ngày còn non Vậy là mọi thứ vuông tròn Giao phấn F 1 là con chúng mình.
Giáo viên: Tại sao hoa của cơ thể được chọn làm mẹ lại phải khử nhị từ khi còn non? Hãy tóm tắt lại các bước của quá trình thụ phấn nhân tạo ở đậu Hà Lan
Học sinh dựa vào thông tin trong bài thơ kết hợp với phân tích tranh vẽ để trả lời Học sinh có thể học thuộc bài thơ để hình dung lại nội dung tranh vẽ và qua đó nhớ được quy trình thụ phấn nhân tạo
2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,
2.1.Tăng cường công tác độc lập với sách giáo khoa:
Để tích lũy cho bản thân nhiều thông tin, kiến thức thì học sinh cần tích cực đọc sách, trong đó có sách giáo khoa Tuy nhiên, không phải cứ đọc là sẽ nhận được và nhớ được những thông tin cần thiết Trong quá trình dạy trên lớp, giáo viên cần quan tâm đến việc làm sao để học sinh tích cực đọc sách giáo khoa và đọc sách có hiệu quả hơn Để làm được điều này, giáo viên chú ý đến việc đặt ra những câu hỏi rõ ràng về yêu cầu để học sinh tìm kiếm, khai thác thông tin; quan sát hình ảnh, sơ đồ… trong sách Bên cạnh
đó giáo viên cần lưu ý học sinh một số kĩ năng:
- Hãy bắt đầu đọc mỗi bài từ phần tóm tắt kiến thức, qua đó học sinh có thể hình dung ra những đơn vị kiến thức của mỗi bài học, thuận lợi cho quá trình đọc chi tiết sau này
- Trong quá trình đọc chi tiết, nên đọc một lúc từng cụm 5 – 7 từ để cải thiện tốc độ
- Tập trung vào những từ khóa có liên quan đến chủ đề của bài học, tiêu đề của từng mục
Ví dụ: Khi dạy bài 54 – Ô nhiễm môi trường, mục II.5 Ô nhiễm do vi sinh vật gây bệnh, trong sách giáo khoa có viết:
“Bên cạnh các sinh vật có ích, nhiều nhóm sinh vật gây bệnh cho người và các sinh vật khác Nguồn gốc gây ô nhiễm sinh học chủ yếu là do các chất thải như phân, rác, nước thải sinh hoạt, xác chết của sinh vật, nước và rác thải từ các bệnh viện,… không được thu gom và xử lí đúng cách đã tạo môi trường cho nhiều sinh vật gây hại cho người và động vật phát triển”.
Để ghi nhớ hết những thông tin trong đoạn văn trên sẽ khó khăn hơn việc ghi nhớ những từ khóa Hãy thử kiểm tra bằng đoạn thông tin ở dưới:
“…, nhiều nhóm sinh vật gây bệnh Nguồn gốc … chủ yếu là do các chất thải (hữu cơ)… không được thu gom và xử lí đúng cách …”.
- Đánh dấu vào những thông tin chính có trong mỗi đoạn để tránh mất thời gian trong quá trình xem lại sau này
Trang 8Việc đọc bài mới nên được thực hiện trước mỗi buổi học, được vậy sẽ giúp học sinh biết được vấn đề mà bản thân còn chưa rõ trong nội dung của bài để tập trung sự chú
ý, làm cho tốc độ thu nhận kiến thức được nhanh hơn
Đối với hoạt động trên lớp, để nâng cao hiệu quả công tác độc lập của học sinh với sách giáo khoa thì điều quan trọng là giáo viên cần giao nhiệm vụ, chỉ ra địa chỉ cụ thể cho các em tìm kiếm Đó có thể là câu hỏi cần trả lời, bảng biểu cần hoàn thành,… và thông tin có được từ mục số I hay mục số II,… qua đó học sinh xác định được nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của việc đọc thông tin trong sách Cần chú ý đến các câu hỏi có sẵn trong sách, ở mỗi mục bởi những câu hỏi này thường đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều hơn với sách giáo khoa, phải đọc và quan sát nhiều hơn để tìm câu trả lời, qua đó sự ghi nhớ cũng tốt hơn
Ngoài làm việc với sách giáo khoa ở trên lớp vào mỗi buổi học, giáo viên cũng có thể giao nhiệm vụ liên quan đến bài mới để học sinh thực hiện tại nhà Đây có thể coi như khâu soạn bài, áp dụng với những nội dung kiến thức mà học sinh dễ dàng tìm kiếm thông tin từ sách giáo khoa để thực hiện yêu cầu của giáo viên Căn cứ vào khả năng của học sinh, giáo viên có thể thiết kế nhiệm vụ cho nhóm hoặc từng cá nhân, nêu rõ địa chỉ
cụ thể để học sinh tìm kiếm thông tin Làm được việc này thì tốc độ của các hoạt động trên lớp sẽ nhanh hơn, giáo viên có thêm thời gian giải đáp những thắc mắc, đưa ra những tình huống mới giúp học sinh hiểu rõ hơn nội dung của bài
2.2 Tăng cường công tác độc lập với các nguồn tài liệu khác:
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã mở ra nhiều cánh cửa khác nhau giúp cho học sinh tiếp cận với tri thức Việc tìm kiếm thông tin không còn bó hẹp trong phạm vi quyển sách giáo khoa mà đã thêm nhiều kênh khác như: máy tính, điện thoại, sách điện tử,… Mặt khác, những kĩ năng sử dụng các thiết bị công nghệ này của học sinh trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể Vì vậy, giáo viên cần thiết phải nhận thấy tầm quan trọng của việc khai thác những nguồn thông tin này đối với quá trình dạy học
Để làm tốt việc này thì vai trò của giáo viên rất quan trọng Giáo viên cần nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung của mỗi bài học, thiết kế và giao nhiệm vụ liên quan đến nội dung của bài nhưng là những vấn đề mở rộng, bổ sung hay làm rõ hơn cho các kiến thức
đã có sẵn trong sách giáo khoa Giáo viên cần giám sát quá trình thực hiện của học sinh
để tránh hiện tượng các em bị sa đà vào những vấn đề khác không liên quan Kết quả hoạt động của học sinh sẽ được trình bày vào từng thời điểm phù hợp với tiến trình dạy bài mới ở trên lớp và theo yêu cầu của giáo viên Thông thường, nhiệm vụ sẽ được giao cho các nhóm thực hiện thay vì từng cá nhân, ở đó mỗi thành viên sẽ cố gắng thể hiện khả năng của bản thân để thực hiện nhiệm vụ riêng nhưng đồng thời cũng cần biết lắng nghe, phối hợp hiệu quả với các thành viên khác để giải quyết nhiệm vụ chung của nhóm Như vậy, nội dung kiến thức được tìm hiểu và đem ra trao đổi, thảo luận nhiều lần, các
em sẽ ghi nhớ kiến thức tốt hơn, hứng thú học tập hơn, phát triển thêm nhiều kĩ năng khác
Ví dụ: Trước khi dạy bài 29 – Bệnh và tật di truyền ở người, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh tiến hành tìm kiếm thông tin trên sách báo, internet để thực hiện yêu cầu:
Trang 9Nhóm Nhiệm vụ
1 Thế nào là bệnh di truyền, tật di truyền? Tật di truyền và bệnh di truyền có gì khác nhau?
2 Nguyên nhân dẫn đến phát sinh các tật, bệnh di truyền là gì?
3 Những hoạt động nào của con người có thể làm gia tăng tỉ lệ người mắc tật,bệnh di truyền?
4 Kể thêm một vài bệnh di truyền khác và nêu đặc điểm biểu hiện của bệnh đó (Gợi ý tìm kiếm: Sách báo, Internet – từ khóa: bệnh, tật di truyền; con người với môi trường; tác động tiêu cực của con người tới môi trường…)
3 Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung
Học sinh thường dễ bị thu hút sự chú ý bởi những điều mới lạ, trong đó có những điều mâu thuẫn với những gì được cho là đúng Trong dạy học cần thường xuyên tạo ra những mâu thuẫn giữa cái đã có với cái mới, từ đó kích thích học sinh tìm hiểu để thỏa trí
tò mò Mâu thuẫn và lời giải cho mâu thuẫn đó chính là những yếu tố sẽ thúc đẩy học sinh cùng nhau giải quyết vấn đề
Ví dụ: Khi dạy bài 13 – Di truyền liên kết, mục I – Thí nghiệm của Menđen, để dẫn dắt học sinh vào bài và cũng nhằm thu hút sự chú ý, giáo viên tạo ra sự mâu thuẫn thông qua kết quả của bài tập về nhà đã được học sinh chữa trên bảng
Nội dung bài tập: Ở ruồi giấm cho biết gen B quy định thân xám trội hoàn toàn so với gen b quy định thân đen, gen V quy định cánh dài trội hoàn toàn so với gen v quy định cánh cụt Cho lai hai dòng ruồi giấm thuần chủng thân xám, cánh dài và thân đen cánh cụt thu được F1 Cho ruồi đực F1 lai phân tích Xác định kết quả thu được ở đời con của phép lai phân tích
Vì mới chỉ được học các quy luật di truyền của Menđen nên học sinh sẽ cho rằng các cặp tính trạng trên di truyền độc lập với nhau (mỗi gen nằm trên một nhiễm sắc thể)
và sự di truyền của các cặp tính trạng tuân theo quy luật phân li độc lập Như vậy đời con của phép lai phân tích sẽ có tỉ lệ là 1 thân xám, cánh dài : 1 thân xám, cánh cụt : 1 thân đen, cánh dài : 1 thân đen, cánh cụt
Thực tế, sau khi nghiên cứu về thí nghiệm của Moocgan thì kết quả không đúng như vậy Từ đó, trong suy nghĩ của học sinh đặt ra câu hỏi: Tại sao lại có sự sai khác về kết quả ở F1? Quy luật phân li độc lập của Menđen liệu có sai không? → Học sinh tập trung thảo luận, giao tiếp, hợp tác để tìm giải quyết vấn đề
- Khi giảng dạy bộ môn sinh học theo hướng tích cực và chủ động thì người giáo viên phải luôn trang bị cho mình những kiến thức bộ môn vững vàng, luôn nâng cao kiến thức
bộ môn để hướng dẫn học sinh phân tích, so sánh, giải thích từng nội dung rõ ràng và cụ
Trang 10thể hơn Vì sinh học là một ngành khoa học nghiên cứu về thế giới tự nhiên, cung cấp những kiến thức về thực tiễn và có nội dung thực nghiệm, trong nội dung chương tình sinh học rất phong phú và đa dạng, có sự liên hệ chặt chẽ giữa sinh vật với môi trường sinh thái, giữa sinh vật với sinh vật, giữa sinh vật với cuộc sống con người… Ngoài ra trong giảng dạy người giáo viên còn chuẩn bị phương tiện trực quan (tranh ảnh,
mô hình, vật mẫu, phim hình…) cho học sinh quan sát và minh họa cụ thể cho từng đối tựơng sinh vật trong thực tế và từng nội dung kiến thức bài học Mặt khác còn hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm, quan sát thí nghiệm để học sinh tự nhận biết các hiện tượng và rút ra các tri thức mới Ở đây vai trò của giáo viên chỉ là theo dõi, uốn nắn sửa sai cho học sinh Trong giảng dạy giáo viên cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi theo hướng từ câu hỏi
có nội dung kiến thức dễ đến câu hỏi có nội dung kiến thức khó, từ câu hỏi có nội dung kiến thức đơn giản đến câu hỏi có nội dung kiến thức phức tạp, để tất cả học sinh có thể trả lời được câu hỏi của giáo viên đưa ra nhằm kích thích học sinh suy nghỉ, có tính tư duy, phân tích và giải thích
Tuy nhiên trong lớp học trình độ học sinh không đều nhau, nên giáo viên rất khó trong giảng dạy theo phương pháp tích cực Vì có những học sinh hiểu bài nhanh, nắm bắt thông tin nhanh, trong khi đó còn có những học sinh hiểu bài chậm do những học sinh này có tính tư duy kém, trong giờ học không tập trung chú ý vào bài giảng của thầy cô, không chịu khó đọc thông tin trước ở sách giáo khoa Trong việc tổ chức các hoạt động dạy và học cho học sinh không đều, vẫn đến có nhiều khó khăn cho giáo viên trong giảng dạy nên hiệu quả và kết quả chưa được theo ý muốn
Muốn cho học sinh hoạt động tích cực hơn giáo viên còn tổ chức thêm cho học sinh cách tự học, học theo nhóm và đôi bạn cùng học, học sinh trong lớp tự kiểm tra bài nhau… để các em học sinh có thể kiềm cặp lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ, phát huy tính tự học của học sinh cao hơn
4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng
tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót
- Học sinh muốn dễ dàng hiểu bài, nắm được nội dung bài thì học sinh phải chuẩn bị bài trước ở nhà, đọc những nội dung thông tin và tìm hiểu thông tin trước ở nhà, học sinh
tự tư duy những khái niệm mới giải quyết những vấn đề khó, tham khảo thêm một số tài liệu có liên quan đến môn học…
- Giáo viên phải chú ý những câu hỏi, bài tập có nội dung kiến thức đưa ra cho học sinh phải phù hợp với từng đối tượng học sinh, mang tính vừa sức với học sinh và có sự phân hoá đối tượng học sinh, nội dung kiến thức vừa dễ và vừa nâng cao nhằm không tạo
ra sự nhàm chán cho học sinh trong giờ học, gây tính thích thú cho từng học sinh trong học tập, các em sẽ cùng phấn đấu học tập nhiều hơn
Để kết quả giảng dạy đạt hiệu quả, trên cơ sở bốn đặc trưng cơ bản đã trình bày ở
trên Tôi đã tiến hành xây dựng quy trình hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức mới theo 5 bước:
Bước 1 Tình huống xuất phát/câu hỏi nêu vấn đề
Bước 2 Giúp học sinh bộc lộ ý tưởng ban đầu
Bước 3 Đề xuất phương án thực hành/ giải quyết vấn đề
Bước 4 Tiến hành giải quyết vấn đề