Giáo viên thì lúng túng trong việc tìm ra phươngpháp thích hợp để tổ chức việc học tập của học sinh theo hướng tích cực, bởikiến thức trình bày trong SGK dưới dạng lí thuyết, nội dung củ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu mang tính chất bắtbuộc ở mọi cấp học Đặc biệt là trong giai đoạn ngày nay, khi khoa học kĩthuật phát triển như vũ bão thì các phương pháp dạy học truyền thống đãbộc lộ nhiều hạn chế đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới và tìm ra phương phápdạy học thích hợp đối với sự tiếp cận của từng đối tượng học sinh cũng nhưtừng môn học, sao cho phù hợp với quan điểm “tích cực hóa hoạt động củahọc sinh” và “lấy học sinh làm trung tâm” trong quá trình truyền thụ tri thức.Một trong những yếu tố quan trọng nhất của đổi mới phương pháp dạy học
là làm sao tạo được sự hứng thú của người học trong suốt quá trình tiếp thukiến thức mới
Với những bài học ngắn, lượng kiến thức đơn giản thì việc truyền tảinội dung bằng các phương pháp truyền thống như thuyết trình, giảng giải,vấn đáp không gây khó khăn mấy cho người giáo viên và học sinh, tuynhiên với những bài học dài, chứa đựng nhiều kiến thức khó, phức tạp, điềunày trở nên rất khó khăn vì khả năng tiếp cận các vấn đề phức tạp của conngười là có hạn và người học dễ chán nản khi không thể nắm bắt đượcnhanh chóng các kiến thức đang được trình bày, dẫn đến sự giảm hứng thúhọc tập và gây nhàm chán
Để khắc phục tình trạng trên đòi hỏi, người giáo viên phải phối hợplinh hoạt nhiều phương pháp dạy học nhằm khắc phục mặt hạn chế củaphương pháp đã và đang sử dụng để đạt mục tiêu là thay đổi phương pháp
đã và đang sử dụng bằng phương pháp ưu việt hơn, đem lại hiệu quả dạyhọc cao hơn Một trong những công cụ được cho là hữu ích, mang lại hiệuquả cao trong việc hỗ trợ cho giáo viên, đó chính là ứng dụng công nghệthông tin vào quá trình dạy học
Trang 2Tuy nhiên, hiện nay việc ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực nóichung và trong bộ môn Sinh học tại trường THPT, đặc biệt là phần Tiến hóa
12, vẫn chưa mang lại hiệu quả mong muốn
Nhiều nghiên cứu đều cho thấy việc dạy và học phần Tiến hóa 12 gặpphải rất nhiều khó khăn Giáo viên thì lúng túng trong việc tìm ra phươngpháp thích hợp để tổ chức việc học tập của học sinh theo hướng tích cực, bởikiến thức trình bày trong SGK dưới dạng lí thuyết, nội dung của một bài họcrất dài, lại ít kênh hình, do đó rất khó để GV truyền tải hết nội dung yêu cầucủa bài Học sinh thì đa số không có hứng thú với phần này bởi khối lượngkiến thức quá lớn, lại quá trừu tượng, đòi hỏi các em phải có khả năng kháiquát cao mới có thể nắm bắt được cơ bản các nội dung và cũng bởi phươngthức truyền đạt kiến thức của giáo viên chưa phù hợp dẫn đến việc chán nản
và bỏ lơi phần kiến thức này
Trước thực trạng ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học và thựctrạng dạy học phần Tiến hóa tại trường THPT nói chung và tại trường THPTNguyễn Tất Thành – IaPa – Gia lai nói riêng, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài
“Ứng dụng CNTT trong soạn – giảng phần Tiến hóa 12 cơ bản”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được các giáo án CNTT để dạy phần Tiến hóa – Sinh học
12 cơ bản
- Sử dụng các giáo đã xây dựng được trong việc giảng dạy phần TiếnHóa – Sinh học 12 Cơ bản
3 Nội dung nghiên cứu:
- Đánh giá được thực trạng ứng dụng CNTT trong việc soạn – giảngmôn Sinh học 12 nói chung và “phần Tiến hóa” nói riêng
- Xây dựng các giáo án CNTT cho việc dạy học “phần Tiến hóa
- Thực nghiệm, sử dụng các giáo án CNTT đã xây dựng trong quátrình dạy học
Trang 34 Đối tượng nghiên cứu:
- Nội dung chương trình sinh học phần Tiến hóa sách giáo khoa Sinhhọc 12 cơ bản
- Học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Tất Thành - IaPa - Gia Lai
- Giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học tại trường THPT Nguyễn TấtThành - IaPa - Gia Lai
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu về trí nhớ và khả năng ghi nhớ qua các giác quan từ đó
đánh giá sự cần thiết của các kênh hình trong hình dạy học sinh học nóichung và các kiến thức phần Tiến hóa – Sinh học 12 nói riêng
- Nghiên cứu sách giáo khoa Sinh học 12 nói chung và phần Tiến hóa nóiriêng để xác định kiến thức cơ bản từ đó đi xây dựng các giáo án phần Tiếnhóa bằng CNTT
- Điều tra cơ bản: Dùng phiếu điều tra tình hình học tập của học sinh lớp
12 trường THPT Nguyễn Tất Thành để khẳng định sự cần thiết phải xâydựng và sử dụng các giáo án CNTT dùng trong dạy học phần Tiến Hóa lớp12
- Dự giờ giáo viên sinh học phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm
Trang 4Phần II NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Trí nhớ và khả năng ghi nhớ qua các giác quan.
1.1.1 Khái niệm
Trí nhớ của con người là một hoạt động phức tạp, trên cơ sở hìnhthành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ, tái hiện những hìnhảnh, sự kiện, những xúc cảm, kiến thức Hiện nay, chưa có một định nghĩathống nhất nào về trí nhớ, song đa số các nhà khoa học đều coi trí nhớ là sựghi lại, giữ lại và tái hiện lại một khái niệm đã được tri giác trước đây, là kếtquả của những sự thay đổi xảy ra trong hệ thần kinh Những khái niệm đó cóthể sẽ được tái hiện lại trong một hoàn cảnh thích hợp, khi mà các hiệntượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể Khi đó chúng sẽ tạonên các cảm giác đơn lẻ, kích thích não bộ phân tích, tổng hợp để cho trigiác trọn vẹn về các sự vật hiện tượng và để lại dấu ấn của chúng trên nãobộ
1.1.2 Phân loại Trí nhớ
Có thể phân Trí nhớ thành nhiều loại khác nhau tùy theo cơ sở hìnhthành và cách lưu giữ thông tin như: Trí nhớ vận động, trí nhớ hình ảnh, trínhớ trừu tượng Tuy nhiên có thể xếp các loại trí nhớ đó vào hai nhómchính là trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn
- Trí nhớ ngắn hạn: là sự lưu thông hưng phấn trong vòng nơron Nóchỉ tồn tại trong thời gian ngắn thường là chỉ khoảng một vài phút sau khitiếp nhận
- Trí nhớ dài hạn: tồn tại trên cơ sở những thay đổi bền vững về mặt
vi thể, sự hình thành các protein hoạt hóa, do đó khả năng lưu trữ thông tinlâu dài hơn
1.1.3 Khả năng ghi nhớ qua các giác quan
Đa số các nhà khoa học, tâm lý học đều cho rằng những thông tin
Trang 5được chuyển sang trí nhớ dài hạn Để chuyển thông tin từ trí nhớ ngắn hạnsang dài hạn đòi hỏi phải có sự nhắc lại thông tin Và sự “chuyển giao”thông tin có đạt kết quả tốt hay không lại phụ thuộc vào cách thức nhắc lạithông tin Nếu thông tin được nhắc lại theo một tiến trình cụ thể và tỉ mỉthông qua các hình ảnh, sơ đồ khái quát, thông qua thực tiễn thì trí nhớngắn hạn sẽ được khắc sâu và chuyển thành trí nhớ dài hạn.
Qua nghiên cứu về năng lực nhận thức của con người, các nhà khoahọc cũng đã chỉ ra được mối liên quan giữa khả năng thu nhận tri thức quacác giác quan với khả năng ghi nhớ ở con người Cụ thể trình bày ở bảngsau:
Khả năng thu nhận tri thức Khả năng ghi nhớ
Trong nền giáo dục của nước ta trước đây, học sinh chủ yếu chỉ đượcnghe, ít được nhìn, không được làm Chính vì lẽ đó mà khả năng ghi nhớ,cũng như khả năng vận dụng tri thức vào thực tế của học sinh rất kém Dẫnđến tình trạng nhiều học sinh học lí thuyết rất giỏi nhưng lại rất sợ thựchành
Việc nghiên cứu về Trí nhớ và khả năng tiếp nhận thông tin của conngười thông qua các giác quan cũng đã cho thấy sự cần thiết phải đổi mớiphương thức dạy học và sự cần thiết của việc đưa thêm các thông tin, dữ liệuhình ảnh, clip mô phỏng vào bài giảng, nhằm gắn kết học sinh với thực tếcuộc sống Một trong những ứng dụng được cho là hữu ích cho giáo viên
Trang 6thực hiện các công việc trên đó là ứng dụng công nghệ thông tin vào bàigiảng.
1.2 Công nghệ thông tin (CNTT ) và vai trò của công CNTT trong dạy học.
1.2.1 Công nghệ thông tin là gì?
Công nghệ thông tin (CNTT) là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoahọc và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin.Theo quan niệm này thì công nghệ thông tin chính là hệ thống các phươngpháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính, mạngtruyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn
và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vựchoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người
1.2.2 Vai trò của CNTT trong dạy học.
Trong những năm gần đây CNTT được ứng dụng rộng khắp trênnhiều lĩnh vực đời sống bởi những vai trò to lớn và tác dụng kì diệu của nóViệc ứng dụng CNTT vào lĩnh vực giáo dục cũng đã mang lại những hiệuquả đáng kể:
*Đối với giáo viên:
CNTT đã góp phần hiện đại hóa các phương tiện dạy học, các phầnmềm dạy học đã giúp giáo viên tạo bài giảng phù hợp nhu cầu của học sinh.Đặc biệt, nó sẽ giúp cho giáo viên tạo ra một lớp học mang tính tương táchai chiều: giáo viên – học sinh
Ứng dụng CNTT vào dạy học cũng giúp giáo viên bố trí thời giangiảng dạy hợp lý, có thời gian đầu tư cho quá trình dẫn dắt, tạo tình huống
có vấn đề để kích thích tư duy sáng tạo và kiểm tra đánh giá học sinh
* Đối với học sinh:
Ứng dụng CNTT giúp học sinh có nhiều phương pháp tiếp thu kiếnthức từ đó giúp quá trình tiếp nhận thông tin bài học của học sinh đạt hiệu
Trang 7sáng tạo của học sinh, khai thác nhiều giác quan của người học để lĩnh hộitri thức Học sinh có thể dễ dàng hình dung và có khái niệm chính xác vềcác hình ảnh, sự vật, hiện tượng khi tiếp xúc với chúng bằng những hình ảnhtrực quan (hình ảnh, đoạn phim…).
1.2.3 Vai trò của CNTT trong dạy học sinh học
Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, do đó việc hình thànhcác kiến thức kĩ năng đòi hỏi phải thông qua quan sát thực tế, quan sát thínghiệm, thực nghiệm Tuy nhiên do thời lượng của một tiết học và quỹthời gian của học sinh trong năm học được quy định cụ thể dẫn đến việc tổchức cho học sinh quan sát thực nghiệm là rất khó khăn, và không mang lạihiệu quả cao Việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn Sinh học đã phầnnào giải quyết được vấn đề nêu trên Bởi vì thông qua các phương tiệnCNTT như Internet với các công cụ tìm kiếm như Google, Vinaseek… giáoviên có thể tìm kiếm, cập nhật một cách nhanh chóng các thông tin cần thiếtphục vụ cho bài giảng như: hiện vật, mô hình, tranh ảnh, video… hoặcthông qua các phần mềm tạo ảnh, tạo clip giáo viên cũng có thể tiến hànhtạo ra các thí nghiệm, các clip phục vụ cho bài giảng mà không một sáchgiáo khoa nào có thể thể hiện được
Qua việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, giáo viên cũng có thể giớithiệu cho học sinh cách tiếp cận, khai thác thông tin qua Internet để tìmkiếm khai thác các nguồn kiến thức mới phục vụ cho việc học tập của các
em Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên tiết kiệm và tậndụng được tốt đa thời gian của một tiết dạy, bởi vì “một hình ảnh, một đoạnphim ngắn có thể thay thế được hàng ngàn lời giảng” Một bài giảng cónhững đoạn phim, những hình ảnh thực tế kèm theo hiệu ứng âm thanh…
sẽ thu hút được sự chú ý, quan tâm của học sinh, tạo không khí sôi nổi cholớp học, từ đó sẽ giúp các em tiếp thu bài nhanh, hiểu sâu và nắm bắt thực
tế tốt hơn
Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 82.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong giảng dạy môn Sinh học tại trường THPT – Nguyễn Tất Thành.
2.1.1 Qua phỏng vấn và dự giờ GV Sinh học tại trường THPTNguyễn Tất Thành, tôi nhận thấy rằng:
- Hầu hết các GV đã có quan niệm đúng đắn về việc ứng dụng CNTT vàoviệc giảng dạy và đã có nhận thức đúng đắn về tính cần thiết của việc xâydựng và sử dụng giáo án CNTT trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả họctập của HS và góp phần đổi mới PPDH
- Nhìn chung mức độ sử dụng giáo án CNTT của giáo viên trong dạy học
là chưa cao, chủ yếu chỉ dùng trong các tiết thao giảng, dự giờ đánh giá.Nguyên nhân chủ yếu là do việc soạn giáo án ứng dụng CNTT cần được đầu
tư kỹ lưỡng, đòi hỏi tiêu tốn thời gian gấp nhiều lần so với giáo án thôngthường Do vậy mà một số giáo viên rất ngại sử dụng
Bên cạnh đó cũng đã có nhiều giáo viên mạnh dạn biên soạn và sử dụnggiáo án ứng dụng CNTT vào quá trình giảng dạy của mình, nhưng chưa đạthiệu quả cao bởi GV chưa nắm vững các tiêu chuẩn của một giáo án CNTT,
đã “lạm dụng” quá nhiều hiệu ứng dẫn đến tác động ngược với quá trìnhdạy học, gây rối mắt và rối loạn thông tin cần truyền tải đến học sinh
2.1.2 Qua việc điều tra, thăm dò ý kiến của HS 12 thì đa số HS đều có tỏ
ra khá thích thú đối với tiết học có ứng dụng CNTT của giáo viên vì khi họccác em có thể quan sát các hình ảnh, clip mô phỏng thực tế do đó dễ hiểubài, dễ nhớ khắc sâu kiến thức Nhưng bên cạnh đó, cũng có một số emkhông hứng thú với hình thức này vì theo các em các tiết học có ứng dụngCNTT khó theo dõi trình tự nội dung và khó ghi bài hơn so với các tiết họcthông thường
Đa số các em đều có nguyện vọng khi sử dụng các giáo án CNTT, GVnên hướng dẫn kỹ hơn để các em có thể nắm được những nội dung nào cầnghi nhớ để có thể theo dõi và viết bài dễ hơn Các em cũng mong muốn GV
Trang 9bổ sung và mở rộng thêm nhiều thông tin mới nhằm nâng cao mở rộng kiếnthức SGK.
Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và trong dạymôn Sinh học nói riêng tại trường THPT Nguyễn Tất Thành nhìn chungchưa mang lại hiệu quả cao bởi một số nguyên nhân cơ bản như:
- Cơ sở vật chất trang thiết bị, phòng bộ môn, máy chiếu… ở trường cònchưa được trang bị đầy đủ
- Việc soạn giảng một giáo án bằng CNTT tốn nhiều thời gian, GV chỉ sửdụng nó trong các tiết đánh giá, thao giảng dẫn đến việc sử dụng chưađồng bộ
- Kỹ năng sử dụng các thiết bị máy móc của giáo viên còn hạn chế Do đócũng gây khó khăn trong việc sử dụng
- Giáo viên bị động khi mất điện
- Đa phần học sinh chưa biết cách ghi chép kiến thức của bài trong cáctiết dạy có ứng dụng CNTT
2.2 Thực trạng giảng dạy phần Tiến hóa - Sinh học 12 cơ bản tại trường THPT Nguyễn Tất Thành – Ia Pa – Gia Lai.
Như đã nói ở trên, việc dạy và học phần Tiến hóa - Sinh học 12 gặpphải rất nhiều khó khăn Bởi nội dung của bài tương đối dài, khối lượng kiếnthức lớn, mang tính trừu tượng và khái quát hóa cao, số lượng kênh hình
mô phỏng ít Do đó, khiến cho giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm raphương pháp dạy học thích hợp
Qua phỏng vấn giáo viên và học sinh tại trường THPT Nguyễn TấtThành và một số trường THPT thuộc địa bàn lân cận, tôi nhận thấy, đa phầngiáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải để dạy phần Tiếnhóa 12 Với một bài dạy nội dung ngắn thì việc áp dụng phương pháp này cóthể mang lại hiệu quả Tuy nhiên, lượng kiến thức cần truyền tải cho một bàihọc của phần Tiến hóa là tương đối dài, kiến thức lại mang tính trừu tượngcao thì việc áp dụng các phương pháp trên rất dễ gây nhàm chán, tạo cảm
Trang 10giác buồn ngủ khi học sinh phải nghe giảng trong suốt 45 phút của tiết học.Việc sử dụng phương pháp chưa hợp lí trong việc giảng dạy của giáo viên
vô hình chung đã tạo áp cho học sinh, khiến đa số học sinh khi được hỏi vềkiến thức phần Tiến hóa đều trả lời đây là phần khó học, khó hiểu Nhiềuhọc sinh có tư tưởng bỏ qua nội dung này, dù rằng học sinh đó “theo” khốiB
2.3 Ứng dụng CNTT trong soạn- giảng phần tiến hóa
2.3.1 Chương trình Sinh học 12 cơ bản.
a Cấu trúc chương trình
Sinh học lớp 12 là chương trình cuối của hệ thống chương trình Sinhhọc ở trường phổ thông Tiếp nối nội dung của chương trình Sinh học 10(chủ yếu nghiên cứu về sinh học tế bào) và Sinh học 11 (sinh học cơ thể),chương trình Sinh học lớp 12 gồm 3 phần: Di truyền học, Tiến hóa và Sinhthái học, đã tập thành những lĩnh vực kiến thức vô cùng quan trọng của Sinhhọc hiện đại Với vị trí này, chương trình Sinh học lớp 12 cũng phù hợp với
sự tiếp cận kiến thức hệ thống theo cấp độ tổ chức sống từ thấp đến cao: Tếbào → Cá thể → Quần thể → Quần xã → Sinh Quyển Nó vừa mang tính kếthừa tất cả những kiến thức sinh học mà học sinh đã được học ở các lớpdưới, đồng thời vừa mang tính mở rộng và phát triển những kiến thức màhọc sinh đã được học.
- Về thái độ, hành vi: Củng cố niềm tin vào khoa học hiện đại cho họcsinh trong việc nhận thức bản chất, các quy luật của hiện tượng sinh học
Trang 11Học sinh có ý thức vận dụng các tri thức, kĩ năng học vào cuộc sống, họctập, lao động.
c Nội dung chương trình.
Nội dung chương trình được trình bày theo mạch nội dung đi từ Ditruyền học → Tiến hóa → Sinh thái học Cụ thể nội dung gồm 10 chương và
48 bài Trong đó:
Phần năm - Di truyền học: gồm 5 chương, 23 bài
Phần sáu - Tiến hoá gồm 2 chương, 11 bài
Phần bảy - Sinh thái học gồm 3 chương, 13 bài
2.3.2 Vị trí, cấu trúc, mục tiêu, nội dung, phần Tiến hóa - Sinh học 12
cơ bản.
a.Vị trí
Trong chương trình Sinh học 12, Phần Tiến Hóa được đưa vào dạysau nội dung Di truyền học, điều này phù hợp với logic của nội dung, bởinhững kiến thức di truyền ở phần năm sẽ là nền tảng để giúp học sinh có cơ
sở nhận thức về các cơ chế tiến hóa, từ đó đi giải thích được nguyên nhântiến hóa của sinh giới
b Cấu trúc: Gồm 2 chương
- Chương 1: Bằng chứng và cơ chế tiến hóa
- Chương 2: Sự phát sinh và phát triển sự sống trên Trái Đất
d Nội dung
Mạch nội dung trong phần tiến hóa được thể hiện theo trình tự từ cụthể đến khái quát hóa cao Từ việc đi tìm hiều các bằng chứng chứng minh
Trang 12sự tồn tại và tiến hóa của các loài trong sinh giới đến việc tìm hiểu nguyênnhân và cơ chế tiến hóa các loài Cuối cùng là khái quát hóa về sự phát sinh
và phát triển của sự sống trên Trái đất Cụ thể:
Chương 1: Bằng chứng và cơ chế tiến hóa
- Giới thiệu các loại bằng chứng tiến hóa để chứng minh quá trình
tiến hóa của các loài sinh vật là một quá trình tồn tại thực trên Trái đất
- Giới thiệu các học thuyết tiến hóa, đồng thời đi sâu phân tích các
quan niệm hiện đại về các nhân tố tiến hóa, nguyên nhân và cơ chế tiến hóacủa các loài và sự hình thành các nhóm phân loại trên loài
Chương 2: Sự phát sinh và phát triển của sự sống trên Trái đất:
Giới thiệu một bức tranh chung về sự phát sinh và phát triển của sựsống trên Trái đất, đặc biệt là sự phát sinh và phát triển của loài người
2.3.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc ứng dụng CNTT vào soạn giảng của phần Tiến hóa
Trang 13kế các đoạn clip (nếu có)
Xác định nội dung đưa vào slide, cách trình bày các slide và các thông tin cần bổ sung
Hoàn thiện giáo án
2.3.4 Các bước soạn giáo án bằng CNTT
Bước 1: xác định bài học và nội dung cần sử dụng CNTT trong bài.
Có thể định bài cần soạn giảng bằng CNTT thông qua việc trả lời cáccâu hỏi như: Nội dung nào trong bài cần hỗ trợ thêm băng, hình…? Mụcđích trình chiếu là gì? Kết quả có thể đạt được từ việc trình chiếu đó nhưthế nào? Nên sử dụng biện pháp, cách thức trình chiếu nào phù hợp nhất?
Sau khi xác định được bài giảng phù hợp nhất thì mới tiến hành cácbước tiếp theo
Bước 2: Xác định nội dung chính cần đưa vào các slide và các thông tin
bổ sung cho phần nội dung đó.
- Nội dung đưa vào các slide là các kiến thức cơ bản nhất mà họcsinh cần phải ghi nhớ và nắm chắc
- Xác định các nội dung băng hình thông tin bổ sung bằng việc đặt vàtrả lời các câu hỏi: Nên bổ sung thông tin gì ? Lấy từ nguồn nào ? Và cáchkhai thác thông tin bổ sung đó như thế nào là hợp lý nhất ? Các băng hình
sử dụng nên để tiếng hay ngắt tiếng, có nên chèn các hiệu ứng âm thanh haykhông, nếu có thì loại âm thành cần sử dụng là gì, nhằm mục đích gì vàchèn vào vị trí nào ?…
Bước 3: Tiến hành thiết kế bài giảng trên máy.
- Chọn trang trình chiếu, chọn nền và màu sắc cho slide
- Chọn font chữ, màu chữ, kích cỡ chữ
- Thiết kế nội dung cho từng slide
- Chèn hình ảnh, băng hình cần thiết cho các slide Các hình ảnh, bảngbiểu, hình vẽ có kích thước vừa phải dễ quan sát
Trang 14- Cài đặt các hiệu ứng chạy chữ, hiệu ứng âm thanh,… cho từngslide.
Một lớp học trung bình thường có từ 35 – 40 học sinh Trong các tiếtdạy bằng giáo án điện tử thì cần phải tắt bớt đèn, hay kéo rèm cửa để hạnchế ánh sáng trời để ảnh trên màn hình rõ hơn Do vậy, những học sinh ngồicuối lớp hoặc mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh hay chữ viết do
đó trong khâu soạn giáo án, giáo viên phải chú ý một số điểm như:
- Các trang trình chiếu phải đơn giản và rõ ràng
- Font chữ, cỡ chữ cần thống nhất, không nên sử dụng các kiểu chữrườm rà Thông thường nên sử dụng các font chữ đậm, không có chân nhưArial, Time New Roman
- Cần có sự phối hợp hài hoà giữa các màu trong một slide, không nên
sử dụng quá 3 màu trong một slide Đối với màu chữ, nên chọn một màu chủđạo xuyên suốt các slide và một màu cho các đề mục, và một màu cho những ýcần làm nổi bật
- Nên bố trí một đơn vị kiến thức nằm gọn trong một slide để dễ quan sáttheo dõi Nên sử dụng các ký hiệu, mô hình hoá kiến thức để học sinh dễ học,
dễ nhớ Tuyệt đối không dùng các từ ngữ diễn giải và không đưa nguyên các
ý có trong sách giáo khoa lên slide để học sinh xem và chép
- Không nên lạm dụng hiệu ứng xuất hiện thông tin trên slide một cáchtuỳ tiện, gây mệt mỏi, phân tán sự tập trung của học sinh Những thông tincần xuất hiện một lúc thì cho xuất hiện ngay, không nên cho xuất hiện từ từ,lần lượt, hoặc sử dụng các hiệu ứng xuất hiện thông tin rối rắm, nhiều lần trênmột slide không phù hợp cho việc quan sát học tập của học sinh
Bước 4: Hoàn thiện bài giảng.
- Chạy thử bài giảng vừa thiết kế
- Chỉnh sửa, bổ sung nội dung, hình ảnh…nếu cần thiết
Để thuận tiện cho việc tổ chức các hoạt động của học sinh trên lớp theo
ý niệm đã thiết kế, thì sau khi hoàn thiện bài giảng, giáo viên nên in ra một