1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CUƠNG LỚP 8 - LẦN 2 - Gửi

8 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 18,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có nét chung nào đó về nghĩa), ở đây là các từ cùng miêu tả một đối tượng : cảnh “sơn lâm hùng vĩ” và hình ảnh “chúa sơn lâm”, cần lưu ý : một [r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 8 - LẦN 3 PHẦN I: ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:

Bài tập1:

Đọc thuộc lòng bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ và trả lời các câu hỏi sau:

1 Em hãy liệt kê các từ ngữ trong các trường từ vựng :

– Miêu tả núi rừng hùng vĩ (đoạn 2, 3).

– Miêu tả con hổ chốn rừng thiêng (đoạn 2, 3).

Qua đó, em có nhận xét gì về việc khai thác, sử dụng từ ngữ của tác giả? Đặc biệt, việc sử dụng rộng rãi các từ Hán Việt ở các đoạn 2 và 3 đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật như thế nào ?

2 Theo em, vì sao con hổ không chỉ bực bội vì bị nhốt trong cũi sắt, mà còn bực bội, chán

ghét toàn bộ cảnh vật ở vườn bách thú (được miêu tả ở đoạn 1 và đoạn 4) ?

Bài tập 2:

Đọc thuộc lòng bài thơ Ông đồ (Vũ Đình Liên) và trả lời các câu hỏi sau:

1 Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về “ông đồ” và việc “thuê viết” chữ thời xưa.

2 Theo em, hai khổ thơ đầu và ba khổ thơ sau của bài thơ Ông đồ có những điểm gì giống và

khác nhau ? Hãy làm rõ ý kiến của mình qua việc phân tích các khổ thơ.

Bài tập 3:

Đọc thuộc lòng bài thơ Quê hương của Tế Hanh và tar lời các câu hỏi sau:

1 Hai câu thơ sau, tác giả đều dùng biện pháp so sánh :

– Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

– Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Em thấy hai cách so sánh trên có gì khác nhau ? Hiệu quả nghệ thuật riêng của mỗi cách như thế nào ?

2 Dưới đây là hai câu thơ miêu tả người dân chài :

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;

Cách miêu tả ở hai câu đó có gì khác nhau ? Hiệu quả nghệ thuật riêng ở mỗi câu là gì ?

3 Theo em, bức tranh quê hương được tác giả miêu tả trong bài thơ là bức tranh phong cảnh

hay bức tranh sinh hoạt ? Từ đó, em có nhận xét gì về tình cảm quê hương của nhà thơ ?

PHẦN 2: TIẾNG VIỆT:

1 NÓI QUÁ, NÓI GIẢM NÓI TRÁNH:

Yêu cầu: thuộc kiến thức về nói quá, và nói giảm nói tránh

Bài tập:

Câu 1: Đặt câu với các thành ngữ sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp biển,

lấp biển vá trời, mình đồng da sắt.

Câu 2: Phân tích tác dụng của biện pháp nói giảm, nói tránh trong câu sau:

Bỗng lòe chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

(Tố Hữu, Lượm)

Câu 3 Tìm năm câu tục ngữ, ca dao có dùng biện pháp nói quá.

Câu 4: Xây dựng một đoạn hội thoại trong đó có sử dụng cách nói quá.

2 TRỢ TỪ, THÁN TỪ, TÌNH THÁI TỪ

Yêu cầu: thuộc kiến thức về trợ từ, thán

từ, tình thái từ

Bài tập:

Xác định từ loại cho các từ in đậm sau

c) Có mà mày bị điếc.

d) Anh ấy đang học bài.

e) Có chí thì nên.

f) Anh nên đi vào buổi sáng.

Trang 2

a) Đối với những người ở quanh ta, nếu ta

khơng cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ

gàn dở, ngu ngốc…Tồn những cớ cho ta

tàn nhẫn

b) Đường trơn, trời lạnh mà nĩ vẫn đến

đúng giờ mà

g) Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.

h) Em đừng khĩc nữa mà.

i) Anh nĩi như vậy thì tơi sẽ đi.

k) Trời mưa nên tơi đành ở nhà vậy.

l) Anh à, em muốn hỏi anh bài tốn này.

m) Khốn nạn! Nĩ bỏ đi rồi ư?

n) Đích thị là nĩ chạy ra ngõ.

3 CÂU GHÉP

Yêu cầu: thuợc kiến thức về câu ghép đã học

Bài tập:

Tìm câu ghép trong các đoạn trích dưới đây Cho biết trong mỗi câu ghép, các vế câu được nối với nhau bằng những cách nào.

a) Dần buơng chị ra, đi con ! Dần ngoan lắm nhỉ ! U van Dần, u lạy Dần ! Dần hãy để chị

đi với u, đừng giữ chị nữa Chị con cĩ đi, u mới cĩ tiền nộp sưu, thầy Dần mới được về với Dần chứ ! Sáng ngày người ta đánh trĩi thầy Dần như thế,

Dần cĩ thương khơng Nếu Dần khơng buơng chị ra, chốc nữa ơng lí vào đây, ơng ấy trĩi nốt

cả u, trĩi nốt cà Dần nữa đấy.

(Ngơ Tất Tố, Tắt đèn) b) Cơ tơi chưa dứt câu, cổ họng tơi đã nghẹn ứ khĩc khơng ra tiếng Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tơi là một vật như hịn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tơi quyết vồ ngay lấy

mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thơi.

(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu) c) Rồi hai con mắt long lanh của cơ tơi chằm chặp đưa nhìn tơi Tơi lại im lặng cúi đầu xuống đất : lịng tơi càng thắt lại, khoé mắt tơi đã cay cay.

(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

4 TỪ TƯỢNG HÌNH, TỪ TƯỢNG THANH

- Học thuợc kiến thức về từ tượng hình, từ tượng thanh

- Bài tập:

Tìm từ tượng hình, từ tượng thanh trong những câu sau (trích từ Tắt đèn của Ngơ Tất Tố):

- Thằng Dần vục đầu vừa thổi vừa húp sồn soạt Chị Dậu rĩn rén bưng một cái bát lớn đến chỗ chồng nằm.

- Vừa nĩi hắn vừa bịch luơn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trĩi anh Dậu.

- Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rối hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu.

- Rồi chị túm lấy cổ hắn, ẩn dúi ra cửa Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện khơng kịp với sức xơ đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trĩi vợ chồng kẻ thiếu sưu.

PHẦN 3: TẬP LÀM VĂN

ĐỀ 1: Hãy giới thiệu một trò chơi dân gian mà em yêu thích.

ĐỀ 2: Giới thiệu về cây hoa đào ngày tết ở Việt Nam

Chú ý: Các kiến thức lí thuyết phải học thuộc lịng

Bài tập vận dụng phải làm đầy đủ

Hơm nào đi học, ngay buổi đầu tiên GVBM sẽ kiểm tra thu đề cương

Chúc các em học tớt !

Trang 3

Gợi ý làm bài

1 Cần hiểu mục đích của bài tập nhằm thực hành về trường từ vựng.

– Muốn làm tốt được bài tập này, trước hết HS phải có những hiểu biết nhất định về trường từ vựng (Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có nét chung nào đó về nghĩa), ở đây là các từ cùng miêu tả một đối tượng : cảnh “sơn lâm hùng vĩ” và hình ảnh “chúa sơn lâm”, cần lưu ý : một trường từ vựng có thể bao gồm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn ; cùng một trường từ vựng có thể bao gồm những từ khác biệt nhau về từ loại ; một từ có thể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau

; trong diễn đạt, người ta thường dùng cách chuyên trường từ vựng để tăng thêm tính nghệ thuật của ngôn từ

– Đọc kĩ bài thơ, từ đó liệt kê các từ ngữ thuộc trường từ vựng miêu tả núi rừng hùng vĩ ở các đoạn 2,3

Ví dụ : sơn lâm, bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi lá gai, cỏ sắc, hang tối, thảo hoa, đêm vàng, bờ suối , ánh trăng, ngày mưa, bốn phương ngàn, giang sơn, bình minh, cây xanh, nắng gọi tiếng chim ca, sau rừng, mặt trời,… Nét nghĩa chung : núi rừng hùng vĩ

– Liệt kê các từ ngữ thuộc trường từ vựng miêu tả con hổ chốn rừng thiêng ở các đoạn 2, 3

Ví dụ : tung hoành, hống hách, bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, lượn tấm thân, vờn bóng, quắc, say mồi, đứng uống ánh trăng tan, lặng ngắm, đợi chết, chiếm lẩỵ,…

– Qua đó có thể nhận thấy, tác giả đã khai thác, sử dụng một vốn từ vựng phong phú, đa dạng và chọn lọc để diễn tả nổi bật cái lớn lao, mạnh mẽ, phi thường của cảnh núi rừng hùng vĩ và khắc hoạ đậm nét, đầy ấn tượng hình ảnh oai phong lẫm liệt của chúa sơn lâm

Trang 4

– Đặc biệt, việc sử dụng rộng rãi các từ Hán Việt ỏ các đoạn 2, 3 đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật đáng kể : khắc hoạ sáng tạo, đầy ấn tượng sự cao cả, lớn lao, phi thường và bi tráng So với từ thuần Việt đồng nghĩa, từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng, mĩ lệ và có sức gợi cảm riêng

2 Cần hiểu cách diễn đạt hình ảnh của Hoài Thanh :

– Khi nói “tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức manh phi thường” là Hoài Thanh muốn khẳng định mạch cảm xúc sôi trào mãnh liệt chi phối mạnh mẽ việc sử dụng câu chữ trong bài thơ của Thế Lữ Đây chính là một trong những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp lãng mạn và cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài Nhớ rừng

– Khi nói “Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được” tức là nhà phê bình khẳng định tài năng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) một cách chủ động, linh hoạt, phong phú, chính xác và đặc biệt hiệu quả để có thể biểu đạt tốt nhất nội dung của bài thơ

– “Đội quân Việt ngữ” có thể bao gồm nhiều yếu tố như : từ ngữ (ở đây là những từ ngữ diễn tả mạnh mẽ, đầy gợi cảm, giàu chất tạo hình như khi đặc tả cảnh sơn lâm hùng vĩ, gây cho người đọc ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp vừa phi thường tráng lệ, vừa thơ mộng), các cấu trúc ngữ pháp, nhịp điệu và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm (âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt –

có câu nhịp rất ngắn, có câu lại trải dài phù hợp với cảm xúc) Điều này có thể nhận thây rõ nhất qua đoạn 2 và 3 của bài thơ miêu tả cảnh núi rừng hùng vĩ và hình ảnh con hổ trong giang sơn mà

nó ngự trị

3 Con hổ đúng là không chỉ bực bội vì bị nhốt trong cũi sắt (mất tự do) mà còn bực bội, chán ghét

toàn bộ cảnh vật ở vườn bách thú (được miêu tả kĩ ở đoạn 1 và đoạn 4) ; vì : dưới con mắt của chúa sơn lâm, những thứ ở vườn này đều nhổ bé, đơn điệu, đều tầm thường, thấp kém, giả tạo (bọn gấu dở hơi cặp báo vô tư lự) những cảnh không đời nào thay đổi ; Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng – Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng – Len dưới nách những mô gò thấp kém – Dăm vừng lá hiền lành!, không bí hiểm ) Chúa sơn lâm không

chấp nhận chung sống với những cái phàm tục, giả dối, thấp hèn đó

Hổ khao khát trở về rừng xưa không những để được tự do, mà còn để được về với cái siêu phàm,

kì vĩ, đối lập với những cái hiện có ở vườn bách thú Đây chính là một trong những đặc điểm của tâm hồn lãng mạn : chán ghét thực tại tù túng, tầm thường, khát khao mãnh liệt sự tự do, luôn hướng tới cái lớn lao, phi thường, siêu phàm

4 Bài Nhớ rừng đứng là toàn đầy cảm xúc lãng mạn Hiểu một cách đơn giản, đặc điểm nổi bật

của tâm hồn lãng mạn là giàu mộng tưởng, khát vọng và giàu cảm xúc Người nghệ sĩ lãng mạn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cảm thấy bất hoà sâu sắc với thực tại xã hội tù túng, ngột ngạt, xấu xa đương thời ; nhưng vì bất lực, họ chỉ biết tìm cách thoát li khỏi thực tại ấy bằng mộng tưởng và bằng sự đắm chìm vào đời sống nội tâm toàn đầy cảm xúc Tâm hồn lãng mạn ưa thích sự độc đáo, phi thường, ghét khuôn khổ, gò bó và sự tầm thường Nó có hứng thú giãi bày nhưng cảm xúc thiết tha mãnh liệt, nhất là nỗi thất vọng, buồn đau, cảm xúc lãng mạn trong bài Nhớ rừng được thể hiện khá rõ qua các khía canh sau :

– Hướng về thế giới mộng tưởng lớn lao, phi thường, tráng lệ bằng một cảm hứng sôi trào mãnh liệt Thế giới ấy hoàn toàn đối lập với thực tại tầm thường giả dối Trong bài Nhớ rừng, thế giới mộng tưởng chính là cảnh đại ngàn hùng vĩ và kèm theo đó là hình ảnh oai hùng của chúa sơn lâm (tập trung ở đoạn 2, 3 và 5 của bài thơ) ; còn cảnh vườn bách thú với hình ảnh chiếc cũi sắt chính là biểu hiện của thực tại tù túng, tầm thường, đáng ghét

Trang 5

– Diễn tả thấm thía nỗi đau uất hận của con hổ, từng là chúa sơn lâm tung hoành nơi rừng thiêng đại ngàn, nay phải nằm dài bất lực trong cũi sắt ở vườn bách thú vô cùng chán ngán Hình ảnh con hổ với tâm sự đau uất mang tính chất bi tráng đó là một biểu tượng đầy nghệ thuật, được diễn

tả bằng những vần thơ sôi nổi, da diết, đã thể hiện đầy đủ cảm xúc lãng mạn của nhà thơ

1 Em hãy trình bày những hiểu biết của mình về “ông đồ” và việc “thuê viết” chữ thời xưa.

2 Theo em, hai khổ thơ đầu và ba khổ thơ sau của bài thơ Ông đồ có những điểm gì giống và

khác nhau ? Hãy làm rõ ý kiến của mình qua việc phân tích các khổ thơ.

3 Theo em, bài thơ Ông đồ có những đặc sắc nghệ thuật gì ?

Gợi ý làm bài

1 Để cảm nhận được bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, các em cần phải có một số hiểu biết nhất

định về “ông đồ” và nghệ thuật thư pháp thời xưa Trả lời đúng câu hỏi này là đã có được cơ sở cần thiết để hiểu bài thơ

Ông đồ là người dạy chữ nho ngày xưa Khi nền Hán học còn thịnh thì ông đồ dù không đỗ đạt, không làm quan, chỉ sống bằng nghề dạy học, ông vẫn luôn được xã hội trọng vọng

Chữ nho là thứ chữ tượng hình, viết bằng bút lông mềm mại, có một vẻ đẹp riêng Cá tính và nhân cách của người viết nhiều khi thể hiện ngay trên nét chữ Viết chữ đẹp từ xưa đã trở thành một môn nghệ thuật

Dán chữ, treo câu đối chữ nho – nhất là trong những ngày Tết – là một nét sinh hoạt văn hoá của người Việt Nam từ xưa Tết đến, người ta thường mua chữ hoặc xin chữ Người bán chữ hoặc cho chữ thường viết lên tờ giấy, mảnh lụa hay phiến gỗ,… để chủ nhân mang về làm vật trang trí trong nhà Chữ viết phải đẹp và ý nghĩa của chữ phải sâu sắc, hợp tình, hợp cảnh Cách viết chữ nho đẹp trở thành một bộ môn nghệ thuật gọi là thư pháp Và người có tài viết chữ đẹp rất được kính trọng Cao Bá Quát (thế kỉ XIX) là một trong những người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp

2 Giữa hai khổ đầu và ba khổ sau của bài thơ có những điểm giống và khác nhau :

Tất cả đều tập trung miêu tả ông đồ ngồi bán chữ trong ngày giáp Tết Nhưng hai khổ thơ đầu và

ba khổ thơ cuối thể hiện những nội dung cảm xúc khác nhau, bởi miêu tả ông đồ ở hai giai đoạn khác nhau

Hai khổ đầu miêu tả hình ảnh ông đồ khi Hán học đang thịnh vượng, ông được xã hội trọng vọng Mỗi khi Tết đến, ông trở thành nhân vật quan trọng của chốn phố phường Cái “cửa hàng văn hoá lưu động” (theo cách nói của Vũ Quần Phương) mới đông vui làm sao ! Ông đồ xuất hiện trong những màu sắc rực rỡ của hoa đào, của giấy đỏ ; trong âm thanh tươi vui và trong không khí nhộn nhịp của phố phường Chữ ông viết ra rất đẹp nên những người thuê viết cứ “tấm tắc ngợi khen tài” Ởhai khổ thơ đầu, những câu thơ có nhịp điệu nhanh, liền mạch, âm hưởng vui tươi

Ba khổ cuối miêu tả ông đồ khi Hán học đã suy tàn, ông bị gạt ra ngoài lề xã hội Người ta bỏ chữ nho để học chữ Pháp, chữ quốc ngữ Trong bối cảnh ấy, tình cảnh ông đồ trở nên đáng buồn Người thuê viết giảm đi theo thời gian, “mỗi năm mỗi vắng” Người buồn, nên những vật dụng đã từng gắn bó thân thiết với cuộc đời ông đồ cũng sầu thảm theo : Giấy đỏ chẳng thắm tươi như ngày xưa, mực đọng trong nghiên cũng sầu não theo (Giây đỏ buồn không thắm – Mực đọng trong nghiên sầu) Thế là, cho dù vẫn hiện diện, “vẫn ngồi đấy”, nhưng ông đồ chẳng còn được ai để ý ; ông đã bị người đời lãng quên rồi Ông chỉ còn là “cái di tích tiều tuỵ đáng thương của một thời tàn” (lời tác giả)

Trang 6

Rồi Tết lại đến, hoa đào lại nở, nhưng không ai còn thấy “ông đồ xưa” Vậy là ông đã đi hẳn vào quá khứ, vĩnh viễn vắng bóng trong cuộc sống náo nhiệt đương thời Hai câu cuối bài thơ là một câu hỏi day dứt, ngậm ngùi : “Những người muôn năm cũ – Hồn ở đâu bây giờ ?” Câu hỏi không lời đáp ấy cứ vương vấn không dứt trong lòng người đọc khi đọc xong bài thơ

3 Ông đồ là một bài thơ hay Lời thơ trong sáng, giản dị, nhưng rất hàm súc, “ý tại ngôn ngoại”

Hình ảnh thơ bình dị nhưng đầy gợi cảm, có sức khái quát cao, ví dụ như câu : “Lá vàng rơi trên giấy – Ngoài giời mưa bụi bay” Bài thơ có kết cấu chặt chẽ theo lối đầu cuối tương ứng (mở đầu

là “Mỗi năm hoa đào nỏ – Lại thấy ông đồ già” và kết thúc là “Năm nay đào lại nỏ – Không thấy ông đồ xưa”) tập trung làm nổi bật chủ đề mang tinh thần hoài cổ cảnh đó người đâu Thể thơ ngũ ngôn đã được sử dụng, khai thác có hiệu quả nghệ thuật cao để diễn tả những tâm tình sâu lắng

Share

1 Hai câu thơ sau, tác giả đều dùng biện pháp so sánh :

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

– Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Em thấy hai cách so sánh trên có gì khác nhau ? Hiệu quả nghệ thuật riêng của mỗi cách như thế nào ?

2 Dưới đây là hai câu thơ miêu tả người dân chài :

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;

Cách miêu tả ở hai câu đó có gì khác nhau ? Hiệu quả nghệ thuật riêng ở mỗi câu là gì ?

3 Theo em, bức tranh quê hương được tác giả miêu tả trong bài thơ là bức tranh phong cảnh hay

bức tranh sinh hoạt ? Từ đó, em có nhận xét gì về tình cảm quê hương của nhà thơ ?

Gợi ý:

1 Ở cả hai câu thơ đều sử dụng biện pháp so sánh Nhưng đó là hai cách so sánh khác nhau,

đem lại hiệu quả nghệ thuật cũng khác nhau

– Câu trên (Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã) là so sánh một vật cụ thể, hữu hình này với một vật cụ thể, hữu hình khác Con thuyền bơi trên sông hăng hái như con ngựa đẹp, khoẻ đang phi nhanh về phía trước So sánh như vậy làm nổi bật sự hăng hái, mạnh mẽ của con thuyền ra khơi

– Câu dưới (Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng) là so sánh một vật cụ thể, hữu hình (cảnh buồm giương to) với một cái trừu tượng, vô hình mang ý nghĩa thiêng liêng (mảnh hồn làng) So sánh như vậy không làm cho hình ảnh cánh buồm được cụ thể, rõ nét hơn nhưng khiến cho cánh buồm vô tri trở nên có hồn và mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng Cánh buồm căng gió trở thành một biểu tượng đẹp, đầy ý nghĩa của làng chài

2 Hai câu thơ sau đều miêu tả người dân chài:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;

Cách miêu tả ở mỗi câu mỗi khác, ở câu trên, tác giả tả làn da ngăm rám nắng của những người lao động nơi biển cả, thường là dưới ánh nắng chói chang Đây là câu thơ tả thực, làm nổi bật một nét ngoại hình tiêu biểu thường thấy của người dân chài Câu thứ hai là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo Tuy vẫn nói về thân hình người lao động làng chài nhưng không phải được miêu tả bằng thị giác (như câu trên) mà chủ yếu được cảm nhận bằng tâm hồn nhà thơ : vẻ đẹp khoẻ khoắn, lớn lao, đầy lãng mạn của những đứa con của biển khơi; cả thân hình như thấm đượm “vị xa xăm”

Trang 7

của biển khơi bao la, khống đạt và đầy bí ẩn Chú ý : “thân hình nồng thở” và “vị xa xăm” đều là cách nĩi khơng cĩ trong ngơn ngữ thơng dụng, ở đây, cĩ một hiệu quả nghệ thuật bất ngờ, thú vị

3 Tranh phong cảnh là tranh về cảnh đẹp của thiên nhiên, tranh sinh hoạt là tranh về những cảnh

sinh hoạt như lao động, vui chơi, mua bán,… của con người Bài Quê hương mở ra trước mắt người, đọc nhiều bức to anh về quê hương làng chài của tác giả Đĩ vừa là tranh phong cảnh (cảnh “trời trong, giĩ nhẹ, sớm mai hồng” ở phần đầu, cảnh “màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vơi” về khái quát làng quê trong nỗi nhớ của tác giả ở khổ thơ cuối), vừa là những bức tranh sinh hoạt, tiếp sau hai câu mở đầu là đoạn thơ sáu câu miêu tả cảnh đồn thuyền ra khơi đánh, cá ; tám câu tiếp thèo là cảnh “dân làng tấp nập đĩn ghe về”

Chú ý : Bức tranh phong cảnh và bức tranh sinh hoạt khơng phải bao giờ cũng cĩ thể phân biệt rõ ràng, nhiều khi một bức tranh cĩ thể vừa là phong cảnh vừa là sinh hoạt (sáu câu tả cảnh sớm mai đồn thuyền ra khơi vừa là tranh sinh hoạt, vừa là tranh phong cảnh)

– Những bức tranh được vẽ ra trong bài Quê hương chủ yếu là tranh sinh hoạt Chẳng những chúng chiếm nhiều câu thơ hơn hẳn những câu tả thiên nhiên mà cịn vì trong đĩ, những câu hay nhất, được sáng tạo độc đáo nhất là miêu tả sinh hoạt lao động và con người lao động của quê hương làng chài Như vậy, Tế Hanh nhớ quê hương thì trước hết là nhớ những con người và cuộc sống lao động của quê hương Đĩ là một tình cảm đối với quê hương thật toong trẻo, thắm thiết và thật khoẻ khoắn, khơng cĩ nhiều trong phong trào Thơ mới

Gợi ý làm bài

Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ sau :

“ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh cá bạc chiếc buồm vôi

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”

( Tế Hanh )

Đề : Hãy giới thiệu một trò chơi dân gian mà em yêu thích.

Giới thiệu chung về lồi mèo

Giới thiệu con trâu ở làng quê Việt Nam.

Giới thiệu về cây hoa đào ngày tết ở Việt Nam

Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ sau:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

Trang 8

(Quê hương - Tế Hanh)

Câu 1: Đặt câu với các thành ngữ sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp biển,

lấp biển vá trời, mình đồng da sắt.

Câu 2: Phân tích tác dụng của biện pháp nói giảm, nói tránh trong câu sau:

Bỗng lòe chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

(Tố Hữu, Lượm)

Câu 3 Tìm năm câu tục ngữ, ca dao có dùng biện pháp nói quá.

Câu 1 Gặp bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, để họ không bị suy sụp tinh thần, là bác sĩ, em

sẽ thông báo với người đó như thế nào?

Câu 2: Xây dựng một đoạn hội thoại trong đó có sử dụng cách nói quá.

Câu 3 (3 điểm): Xây dựng một đoạn hội thoại trong đó có sử dụng biện pháp nói quá.

Bài 1: Trợ từ là gì? Có mấy loại trợ từ?

Bài 2: Thán từ là gì? Có mấy loại thán từ?

Bài 3: Tình thái từ là gì? Có mấy loại tình thái từ?

Bài 4: Xác định từ loại cho các từ in đậm sau đây:

a) Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc…

Toàn những cớ cho ta tàn nhẫn.

b) Đường trơn, trời lạnh mà nó vẫn đến đúng giờ mà.

c) Có mà mày bị điếc.

d) Anh ấy đang học bài.

e) Có chí thì nên.

f) Anh nên đi vào buổi sáng.

g) Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.

h) Em đừng khóc nữa mà.

i) Anh nói như vậy thì tôi sẽ đi.

k) Trời mưa nên tôi đành ở nhà vậy.

l) Anh à, em muốn hỏi anh bài toán này.

m) Khốn nạn! Nó bỏ đi rồi ư?

n) Đích thị là nó chạy ra ngõ.

Ngày đăng: 08/04/2021, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w