Bằng một bài văn ngắn , hãy trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được nêu trong câu ngạn ngữ.. 5.0 điểm: Có ý kiến cho rằng: “Đọc một tác phẩm văn chương, sau mỗi trang sách, ta đọc được
Trang 1TRƯỜNG THCS TAM DƯƠNG ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HSG LỚP 8 LẦN 2
NĂM HỌC 2017-2018 Môn: Ngữ văn 8.
Thời gian làm bài: 120 phút.
Câu 1 (2.0 điểm): Xác định các trường từ vựng và chỉ ra, nêu tác dụng của các biện pháp
nghệ thuật có trong khổ thơ sau
“ Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu ”
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
Câu 2 (3.0 điểm):
Ngạn ngữ Hi Lạp có câu: "Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào".
Bằng một bài văn ngắn , hãy trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được nêu trong câu ngạn ngữ
Câu 3 (5.0 điểm):
Có ý kiến cho rằng: “Đọc một tác phẩm văn chương, sau mỗi trang sách, ta đọc được
cả nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của tác giả về số phận con người.”
Dựa vào hai văn bản: Lão Hạc (Nam Cao) và Cô bé bán diêm (An - đéc- xen), em hãy
làm sáng tỏ nỗi niềm đó
===== HẾT ====
Trang 2PHÒNG GD&ĐT TAM DƯƠNG
TRƯỜNG THCS TAM DƯƠNG
HƯỚNG DẪN CHẤM KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG
HSG LẦN 2
Năm học: 2017-2018 Môn: Ngữ văn 8
1
(2.0đ)
* Các trường từ vựng
- Vật dụng: giấy, mực, nghiên
- Tình cảm: buồn, sầu
- Màu sắc: đỏ, thắm
* Các biện pháp nghệ thuật sử dụng trong đoạn thơ.
- Điệp ngữ (mỗi).
- Câu hỏi tu từ (Người thuê viết nay đâu?).
- Nhân hoá (giấy-buồn, mực-sầu).
* Tác dụng.
- Điệp ngữ (mỗi) -> Sự sửng sốt trước sự thay đổi quá bất ngờ mỗi năm
mỗi vắng.
- Câu hỏi tu từ -> Hình ảnh ông đồ già tiều tụy, lặng lẽ bên góc phố, người
trên phố vẫn đông nhưng chỗ ông ngồi thì vắng vẻ, thưa thớt người thuê
viết, tâm trạng xót xa ngao ngán
- Nhân hóa -> Cái buồn, cái sầu như ngấm vào cảnh vật (giấy, nghiên),
những vật vô tri vô giác ấy cũng buồn cùng ông, như có linh hồn cảm thấy
cô đơn lạc lõng…
0,5
0.5
0.25
0.25
0,5
2
(3.0đ) 1 Yêu cầu về kĩ năng: học sinh trình bày thành bài văn nghị luận giải thíchkết hợp trình bày quan điểm của bản thân
2 Yêu cầu cơ bản về kiến thức:
* Ý nghĩa câu ngạn ngữ.
- Câu ngạn ngữ có phép ẩn dụ: chùm rễ đắng cay, hoa quả ngọt ngào - Tạo
nên nghĩa hàm súc, cô đọng
- Học vấn được hiểu là trình độ hiểu biết của người có học
- Con đường đi tới học vấn đầy khó khăn, gian khổ (những chùm rễ đắng
cay)
- Học vấn mang lại niềm vui và hạnh phúc cho con người (hoa quả ngọt
ngào)
- Phải nhìn thấy cả hai mặt của vấn đề và cần xác định rõ chỉ có không
ngại khó, chúng ta mới có thể thành công trong học tập
* Khẳng định chân lí trong câu ngạn ngữ.
- Có học vấn thì con người mới có đủ khả năng làm chủ thiên nhiên, làm
chủ xã hội, nhất là làm chủ vận mệnh của mình Trên cơ sở ấy, đời sống
vật chất và tinh thần mới được nâng cao
- Muốn có học vấn cao phải nỗ lực không ngừng Lao động trí óc vất vả,
phải lao tâm khổ trí
- Cần có thái độ khó khăn mấy cũng không lùi bước Thắng không kiêu,
0,5
0,5
1.5
Trang 3bại không nản.
- Tấm gương tiêu biểu vượt khó trong học tập: Bác Hồ nghiêm túc trong
học tập nên đã đạt tới trình độ học vấn cao, giáo sư Ngô Bảo Châu đạt giải
toán học lừng danh trên thế giới, các thủ khoa trong các đợt thi vào đại học
hàng năm Lấy dẫn chứng trong học tập và rèn luyện của bản thân, của
những người mà mình biết để làm sáng tỏ thêm chân lí trong câu ngạn ngữ
trên
* Mở rộng và nâng cao (bày tỏ quan điểm).
- Học vấn không chỉ là tri thức mà còn bao gồm cả việc rèn luyện tư
tưởng, tình cảm, đạo đức, nhân cách cao quý Để đạt được những điều đó,
chúng ta cần cố gắng rất nhiều Từ bỏ một thói xấu, làm một việc tốt cũng
cần phải đấu tranh với bản thân, vượt qua khó khăn, thử thách
- Không phải khi nào trong quá trình học tập cay đắng cũng đến trước,
ngọt ngào đến sau Trong học tập nhiều lúc vừa có nỗi khổ vừa có niềm
vui Khi đã ham học, chăm học thì sự say mê sẽ làm ta quên cả mệt nhọc
Những lúc đó, kết quả học tập đạt được sẽ rất cao
0,5
Câu 3
(5đ)
I Yêu cầu về kỹ năng, hình thức:
- Kiểu bài: Nghị luận chứng minh
- Vấn đề cần chứng minh: Nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của tác giả về số
phận con người
- Phạm vi dẫn chứng: Hai văn bản: Lão Hạc (Nam Cao) và Cô bé bán
diêm ( An-đéc-xen)
II Yêu cầu cơ bản về kiến thức:
1 Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Vai trò, nhiệm vụ của văn chương: Phản ánh cuộc sống
thông qua cách nhìn, cách cảm của mỗi nhà văn về cuộc đời, con người
- Nêu vấn đề: trích ý kiến
- Giới hạn phạm vi dẫn chứng: Hai văn bản Lão Hạc (Nam Cao) và Cô bé
bán diêm (An-đéc-xen)
2 Thân bài:
2.1 Giải thích ý kiến “nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của tác giả về số phận
con người” -> Đồng cảm, chia sẻ, tiếng nói đòi quyền sống cho con người,
tinh thần nhân đạo cao cả
2.2 Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận những người
nông dân qua truyện ngắn Lão Hạc
* Nhân vật lão Hạc:
- Sống lương thiện, trung thực, có nhân cách cao quí nhưng số phận lại
nghèo khổ, bất hạnh
+ Sống mòn mỏi, cơ cực: (dẫn chứng)
+ Chết đau đớn, dữ dội, thê thảm: (dẫn chứng)
- Những băn khoăn thể hiện qua triết lí về con người của lão Hạc: "Nếu
kiếp chó là kiếp khổ may ra có sướng hơn kiếp người như kiếp tôi
chẳng hạn"
- Triết lí của ông giáo: Cuộc đời chưa hẳn theo một nghĩa khác
* Nhân vật con trai lão Hạc: Điển hình cho số phận không lối thoát của
tầng lớp thanh niên nông thôn (dẫn chứng)
2.3 Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận của những trí
thức nghèo trong xã hội:
- Ông giáo là người có nhiều chữ nghĩa, có nhân cách đáng trọng nhưng
phải sống trong cảnh nghèo túng: bán những cuốn sách
0.5
0.75
1,0
0,75
Trang 42.4 Những băn khoăn của An-đéc-xen về số phận của những trẻ em nghèo
trong xã hội:
- Cô bé bán diêm khổ về vật chất: (dẫn chứng)
- Cô bé bán diêm khổ về tinh thần, thiếu tình thương, sự quan tâm của gia
đình và xã hội: (dẫn chứng)
2.5 Đánh giá chung:
- Khắc họa những số phận bi kịch -> giá trị hiện thực sâu sắc
- Đồng cảm, chia sẻ, cất lên tiếng nói đòi quyền sống cho con người ->
tinh thần nhân đạo cao cả
3 Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề
- Liên hệ
1,0
0,5
0.5
* Lưu ý: Hướng dẫn chấm:
- Câu 2, chỉ nêu nội dung cơ bản mang tính định hướng, giám khảo cần linh hoạt khi vận dụng hướng dẫn chấm; phát hiện, trân trọng những bài có ý kiến và giọng điệu riêng Chấp nhận các cách trình bày khác nhau, kể cả không có trong hướng dẫn chấm, miễn là hợp lý, có sức thuyết phục
- Câu 3: đáp án mang tính định hướng các ý cơ bản HS có thể tách từng bài từng ý để làm rõ và có thể lồng ghép các ý giữa các văn bản (dẫn chứng) với nhau Giám khảo cần linh hoạt để chấm điểm cho học sinh.