1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Đề tài: Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật

20 1,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 237,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó đặt ra cho chúng tôi nhiều suy nghĩ, phải dùng những phương pháp nào để giúp trẻ khuyết tật có thể hoà nhập được với các bạn trong lớp và trẻ có hứng thú tham gia vào các hoạt động củ[r]

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã

hội Trẻ em là mầm non của đất nước do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục,

dạy dỗ chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội Đặc biệt là trẻ khuyết tật

Vì vậy giáo dục trẻ khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng và đầy tính nhân văn của

toàn xã hội nói chung ngành giáo dục nói riêng

Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi đã ghi cụ thể điều 34, 35, 39 đã đề cập đến việc nhà nước và xã hội tạo điều kiện để trẻ

có hoàn cảnh khó khăn và trẻ khuyết tật được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

Đất nước ta đã trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến tranh khốc liệt, chịu biết bao bom đạn của Đế quốc Mĩ Mĩ đã gieo rắc trên đất nước ta rất nhiều chất độc hại Hậu quả nặng nề nhất là bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam Nhiều trẻ sinh ra đã không còn thấy ánh sáng, có những trẻ còn bị dị tật suốt đời

Đã có rất nhiều trẻ khuyết tật ở Việt Nam nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng Chỉ tính riêng trường Tiểu học Hải Ninh nơi mà tôi công tác có khoảng 17 em từ lớp 1 đến lớp 5 bị khuyết tật Các em có nhiều dạng tật khác nhau như:

+ Dạng tật chậm phát triển trí tuệ

+ Dạng tật về nhôn ngữ

+ Dạng tật về nghe, nhìn

+ Dạng tật về khả năng vận động

Nhưng chủ yếu là dạng tật “ Chậm phát triển trí tuệ” và dạng tật “ Ngôn ngữ” Dạng khuyết tật về trí tuệ là bị suy giảm nhiều hay ít năng lực hoạt động nhận thức dẫn đến không thích ứng được với xã hội, có trí thông minh thấp hơn

ở mức bình thường, không có khả năng phát triển cao hơn nữa, chỉ đạt ở mức

độ nhất định, mức độ phát triển tuỳ thuộc vào phát triển thể chất, không có khả năng chữa trị Những trẻ thuộc loại này thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và nhận thức thế giới xung quanh Còn trẻ khuyết tật về ngôn ngữ biểu

Trang 2

hiện trẻ nói ngọng, nói lắp dẫn đến hậu quả trẻ có khó khăn về giao tiếp cũng như khó khăn trong học tập.Ở huyện ta vẫn chưa có trường lớp nào dành riêng cho trẻ khuyết tật Chính vì thế, giáo dục hoà nhập là phương thức giáo dục cho trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống

II MỤC ĐÍNH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1 Mục đích:

Nghiên cứu một số vấn đề về lý thuyết trong vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật từ đó có định hưóng và thực hiện bằng các hoạt động với phương tiện và điều kiện vật chất phù hợp, cần thiết.và giúp các nhà giáo dục đánh giá chính xác sự phát triển của trẻ

2 Nhiệm vụ:

- Hệ tống những vấn đề có liên quan đến đề tài này đồng thời mô tả thực trạng quá trình giáo giục trẻ

- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng giảm sút các chức năng

do tật, phát huy tối đa những năng lực còn lại Rèn luyện thói quen kỹ năng tự phục vụ

III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

1 Phạm vi: Nghiên cứu những biểu hiện về kiến thức văn hoá, những kỹ năng

xã hội, mục tiêu sức khoẻ của trẻ khuyết tật tại trường học

2 Đối tượng: Gồm 17 em từ khối 1 đến khối 5.

IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp quan sát, điều tra

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu sách, các văn bản có liên quan đến nội dung đề tài

- Phương pháp thực nghiệm

V KẾ HOẠCH VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN:

- Từ ngày 01/8 /2010 đến 05 /9 /2010: Tiến hành điều tra số trẻ em khuyết tật

Trang 3

- Từ ngày 10/ 9/2010 đến 10/10 /2010: Nghiên cứu tài liệu, các văn bản có liên quan đến nội dung đề tài

- Từ ngày 15/ 10/ 2010 đến 31/ 12/2010: Trực tiếp giảng dạy, dự giờ thu tập số liệu tai trường Hoàn thành đề cương sơ lược

- Từ ngày 01/01/ 2011 đến ngày 30/01/2011: Hoàn thành đề cương chi tiết

- Từ ngày 02/02/2011 đến hết ngày 25/ 4/2011: Hoàn chỉnh đề tài

B PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN:

I Cơ sở lí luận:

- Nhận thức về giáo dục trẻ khuyết tật được nâng cao rõ rệt trong cộng đồng Trước đây, việc cho trẻ khuyết tật đi học chỉ mang tính nhân đạo thuần tuý Hiện nay giáo dục trẻ khuyết tật đã troẻ thành một ngành khoa học đích thực Những tiềm năng của trẻ khuyết tật đã được xã hội công nhận Việc đi học của chúng nhiều nơi đã trở thành bình thường

- Hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành đi vào hoạt động có nề nếp Tháng 11 năm 2002, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo giáo dục của Bộ và Ban chỉ đạo này đã chỉ đạo sâu sát việc thực hiện công tác giáo dục trẻ khuyết tật ở địa phương thông qua ban điều hành của Tỉnh Đây là một ciệc làm cụ thể đánh dấu một bước tiến mới trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật

II Cơ sở thực tiễn:

- Thực tiễn đã chứng minh rằng, trẻ khuyết tật hoàn toàn có thể tham gia học cùng nội dung giáo dục với trẻ bình thường, các em sẽ dễ dàng học được không những kiến thức về văn hoá mà còn học được những kiến thức, kỹ năng

xã hội, khả năng thích ứng và hoà nhập trẻ khuyết tật đã đáp ứng được yêu cầu

về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành cho mọi học sinh ( trong

đó có học sinh khuyết tật) phù hợp với yêu cầu chung của xã hội

CHƯƠNG II: NHỮNG THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT HIỆN NAY.

Trang 4

1 thuận lợi:

* Nhà trường: Lãnh đạo nhà trường đặc biệt quan tâm tạo điều kiện mọi nguồn lực, vật lực đáp ứng yêu cầu giáo dục trẻ khuyết tật

* Giáo viên thực sự thay đổi quan điểm về cách nghĩ, cách đánh giá đối với trẻ khuyết tật và vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật

* Một số phụ huynh ít nhiều đã có sự quan tâm đúng mức đối với con em mình

* Một số học sinh khuyết tật tự vượt lên hoàn cảnh khó khăn đến trường cùng các bạn đồng trang lứa

2 Khó khăn:

- Là cả một đội ngũ giáo viên mới ra trường chưa tiếp xúc với thực tế nên kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trẻ còn hạn chế, việc lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó khăn

- Do là trẻ khuyết tật nên trẻ gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia các hoạt động học tập cũng như các hoạt động tập thể và khó có thể hòa nhập với các bạn cùng lứa với mình

- Phần lớn các trẻ khuyết tật thường rơi vào những gia đình khó khăn về kinh tế nên ba mẹ chỉ biết lo công việc làm ăn ít có thời gian tiếp xúc với cháu

- Trường Hải Ninh là một ngôi trường nằm ở vùng bãi ngang của Huyện nên ngay cả việc quan tâm giáo dục trẻ lành lạnh đã gặp rất nhiều khó khăn rồi thì công tác chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật lại còn gặp nhiều khó khăn hơn

- Đó chính là những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi mới bước vào nghề và lần đầu tiên đội ngũ giáo viên trẻ đứng lớp có trẻ khuyết tật Nó đặt ra cho chúng tôi nhiều suy nghĩ, phải dùng những phương pháp nào để giúp trẻ khuyết tật có thể hoà nhập được với các bạn trong lớp và trẻ có hứng thú tham gia vào các hoạt động của cô giáo cũng như tham gia các hoạt động của nhà trường

CHƯƠNG II: GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT

I GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO TRẺ KHÓ KHĂN VỀ HỌC (TRÍ TUỆ):

Theo số liệu điều tra cơ bản thì số trẻ khó khăn về học chiếm số lượng rất lớn ( khoảng bằng 1/3) tổng số trẻ khuyết tật Từ năm 1990 đến nay thực

Trang 5

hiện chương trình giáo dục hoà nhập trẻ khuết tật đã đưa được hơn 26 nghìn trẻ tới lớp học bình thường, trong đó trẻ khó khăn về học là hơn 7 000 em Con số này gấp 20 lần so với số trẻ theo học lớp chuyên biệt Như vậy, ngày càng có nhiều trẻ khó khăn về học tới lớp học với trẻ bình thường ở khắp các địa phương Để giúp trẻ học có kết quả chúng ta phải có nội dung phương pháp và các hình thức tổ chức phù hợp

1 Vấn đề đánh giá trẻ khó khăn về học:

Để đánh giá đúng những khó khăn và khả năng của trẻ khó khăn về học

có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, song chủ yếu là dùng phương pháp quan sát Quá trình quan sát cần tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ và ghi nhận xét hàng ngày ở các môi trường khác nhau và trong các hoạt động khác nhau mà trẻ tham gia như học tập, vui chơi, lao động trong khi trẻ thực hiện nhiệm vụ một mình cũng như cùng tham gia với bạn bè Những gì ta quan sát được cần ghi vào phiếu quan sát và đánh giá

1.1 Quan sát quá trình trẻ tiếp nhận thông tin từ môi trường qua các giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác, khứu giác, cơ quan vận động và sự phối hợp giữa các giác quan

1.2 Quan sát khả năng thu lượm thông tin của trẻ thông qua ghi nhớ, liên tưởng, hiểu nguyên nhân và kết quả

- Trẻ có nhớ được không khi nhìn thấy, nghe thấy những gì xảy đã xảy ra?

- Trẻ có phân biệt được màu sắc, hình dáng các vật không?

- Trẻ có phân biệt được sự giống và khác nhau giữa các vật không? Trẻ

có hiểu âm thanh thông dụng của môi trường không? Trẻ có nhớ những việc làm hàng ngày không?

- Trẻ nói như thế nào? bạn có hiểu trẻ nói gì không? Trẻ giao tiếp như thế nào? Trẻ di chuyển ra sao?

- Trẻ có lắp ghép được hình không? Trẻ có tự mặc được áo quần không? Trẻ có nhận biết được hình không?

1.3 Quan sát hành vi của trẻ trong lớp:

Trang 6

- Trẻ chống cự hay nổi khùng hoặc từ chối không tham gia hoạt động?

- Trẻ tham gia vào hoạt động như thế nào? Trẻ quấy phá lớp học hay ngồi lỳ…

Trong quá trình quan sát trẻ đang làm gì cần phải ghi chép một cách chi tiết, tỉ mỉ đặc biệt những hành vi của trẻ Qua đó có thể rút ra điểm yếu, điểm mạnh của trẻ

2 Nội dung giáo dục:

Những gì quan sát được chính là cơ sở để thiết kế chương trình giáo dục theo ngững nội dung khác nhau Trước hết cần xây dựng những mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn

2.1 Mục tiêu ngắn hạn: Mục tiêu ngắn hạn đặt ra cho những vấn đề nhỏ

và thực hiện trong một thời gian ngắn Nội dung của mục tiêu này có thể là để giáo dục hành vi hoặc để hình thành kỹ năng nào đó trong học tập hay trong lao động

2.2 Mục tiêu dài hạn: Mục têu dài hạn là những mục tiêu lớn được thực hiện trong thời gian dài Ví dụ như trong thời gian một học kỳ trẻ cần phải đọc

và viết đúng các âm vị Tiếng việt

2.3 Nội dung cụ thể:

a) Giáo dục hành vi: Khi mới vào lớp, một số trẻ có mặc cảm tự ti, một

số thì sợ sệt, bẽn lẽn, lảng tránh không tham gia vào các hoạt động của nhóm hoặc của lớp Đối với loại trẻ này cần huấn luyện theo nội dung sau:

* Rèn luyện trẻ xoá bỏ mặc cảm của mình, dần hoà nhập vào tập thể nhóm hoặc lớp

* Huấn luyện trẻ có thái độ tốt với bạn bè, biết kính trọnh giáo viên, cha

mẹ và người lớn

* Rèn luyện trẻ biết kiềm chế bản thân trong hành động sai lệch Tích cực tham gia vào hoạt động của tập thể và biết giúp đỡ bạn

* Biết đánh giá những hành vi sai đúng

Để thực hiện được các nội dung trên cần phải:

Trang 7

- Làm tốt công tác tư tưởng cho học sinh ỏ trên lớp chuẩn bị đón nhận bạn gặp khó khăn vào lớp, để trẻ có thái đọ chan hoà khi tiếp xúc với bạn trách trêu chọc, chế diễu bạn

- Xây dựng vòng bè bạn giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động để trẻ khỏi cảm thấy cô đơn Nhất là đối với những trẻ động kinh rất cần có bạn bècạnh trong lúc vui chơi và đi đường để phòng những cơn động kinh xuất hiện đột ngột

- đưa trẻ vào tham gia các hoạt động các hoạt động của tập thể nhóm, lớp để trẻ có tinh thần tập thể và thương yêu nhau

- Dạy tư cách chào hỏi lễ phép với người lớn

- Nêu những gương tốt, việc làm tốt trước tập thể để làm gương cho trẻ học tập

- Giúp trẻ nhận biết những việc làm của mình để trẻ rút kinh nghiệm, nên thường xuyên động viên trẻ

b) Dạy văn hoá:

Dạy văn hoá là một trong những nội dung cơ bản trong quá trình giáo dục Nội dung dạy học phải thiết thực cơ bản phải phù hợp với từng đứa trẻ, bao gồm:

- Dạy các em đọc viết và tính toán hợp với khả năng của từng trẻ Đối với những trẻ gặp nhiều khó khăn yêu cầu chỉ dạy các em biết đọc, biết viết và biết tính toán đơn giản để các em hoà nhập vào cuộc sống xã hội Đối với những em

ít khó khăn hơn phải dạy các em đọc thông viết thạo và làm được những phép tính số học trong phạm vi hạn chế

- Dạy các em tìm hiểu tự nhiên và xã hội để các em hiểu thêm về cuộc sống xã hội và thiên nhiên

- Rèn luyện phát triển ngôn ngữ, ở các em chậm phát triển ngôn ngữ thường gây khó khăn khi nói và sử dụng lời nói trong giao tiếp và trong sinh hoạt

- Trong quá trình giảng dạy người giáo viên phải sử dụng các phương pháp đặc thù để làm cho trẻ lĩnh hội kiến thức dễ dàng hơn

c) Phương pháp giảmh dạy:

Trang 8

Ở trẻ chậm phát triển trí tuệ sự hình thành mối liên hệ có điều kiện rất khó và chậm so với trẻ bình thường Mặt khác mối liên hệ mới được hình thành lại không được bền vững dễ mất đi nên trẻ khó nhớ và chóng quên Vì vậy trong quá trình dạy học phải hình thành được khả năng ghi nhận lại trên võ não của trẻ tức là tạo ra đường mòn thần kinh trên võ não theo cơ chế phản xạ có điều kiện bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần

- Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ cần dạy mọi điều Trẻ cần được học trong hoạt động nhiều hơn là dùng lời giảng Hướng dẫn trẻ làm một điều gì đó hơn hơn là miêu tả cách làm, đây là một việc làm trực tiếp và cụ thể Đối một

số trẻ hướng dẫn làm cũng chưa đủ trẻ cần được tham gia vào quá trình hoạt động Khi trẻ đang chơi trong vòng tròn và không vỗ tay theo nhịp hát trong khi đó các bạn khác vỗ tay, lúc ấy giáo viên cần đứng sau lưng trẻ và cầm 2 tay trẻ và vỗ cùng các bạn, tiếp theo đó có thể vỗ tay theo nhịp cùng các bạn Hãy dạy cho trẻ hoạt động nhiều và huy động các giác quan của trẻ tham gia vào việc lĩnh hội

- Để trẻ chóng hiểu bài ta sử dụng đồ dùng dạy học một cách triệt để và linh hoạt Đồ dùng dạy học có thể là vật thật gần gũi với trẻ có thể là tranh ảnh,

mô hình, sơ đồ, vật hình nổi…

- Mỗi trẻ có một khả năng nhận thức khác nhau, vì thế trong quá trình dạy trẻ phải chăm sóc cá biệt Chăm sóc dạy cá biệt có thể trong giờ học hay ngoài giờ học

Ví dụ: Trong giờ dạy tập đọc giáo viên cần yêu cầu trẻ chậm phát triển trí tuệ đọc đoạn văn ngắn hoặc một vài câu gì đó Đối với giờ toán cũng vậy cần đặt yêu cầu cho trẻ với số lượng ít hơn và mức độ thấp hơn so với trẻ bìh thường

* Cách rèn luyện phát triển ngôn ngữ:

- Trẻ chậm phát triển trí tuệ có nhiều khó khăn về nói nên phải động viên trẻ nói ra những điều trẻ muốn nói Khi trẻ nói phải chú ý lắng nghe để động viên và kịp thời sửa những lỗi sai

- Nói cho trẻ nghe khi ta làm điều gì đó cho trẻ

Trang 9

- Khuyến khích trẻ mang tới lớp vật gì đó để kể về vật đó và yêu cầu trẻ nói những việc xảy ra hàng ngày mà trẻ thường nhìn thấy

- Tạo cho trẻ tham gia các hoạt động của lớp và nói về chủ đề đó như ( hát, múa, đọc thơ, làm đồ chơi)

- Hãy nói với trẻ bằng ngôn ngữ mà trẻ hiểu được

- Tạo cho trẻ sử dụng những từ mà trẻ hiểu được vào giao tiếp

- Yêu cầu trẻ nhắc lại những từ chính xác gọi là chuẩn mực

d) Giáo dục lao động:

- giáo dục trẻ lao động góp phần cho trẻ phát triển toàn diện và giúp trẻ hội nhập vào cộng đồng Thời kỳ đầu rèn luyện cho trẻ thói quen tự phục vụ như biết sử dụng các dụng cụ học tập, biết tự vệ sinh thân thể, tự mặc thay quần

áo, biết quét dọn nhà cửa…

- Khi trẻ lớn lên ta dạy cho trẻ lao động nghề nghiệp với những việc làm hoặc nghề đơn giản nào đó phù hợp với khả năng của trẻ Trong quá trình dạy lao động cho trẻ phải rèn luyện cho trẻ ý thức lao động, quý trọng người lao động, quý trọng sản phẩm làm ra Đồng thời huấn luyện cho trẻ kỹ năng lao động từ những thao tác đơn giản đến phức tạp

- Giáo dục hoà nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ là một công việc rất khó khăn; nó đòi hỏi người giáo viên phải nắm nội dung và phương pháp giáo dục cho phù hợp với từng học sinh Thêm vào đó, người giáo viên còn phải lưu

ý các điểm sau:

- Tin tưởng vào trẻ để nâng cao trách nhiệm.

- Nâng cao tính nhận thức cho trẻ để tập cho trẻ biết đánh giá về mình

- Thường xuyên phối hợp với gia đình và trao đổi biện pháp giáo dục trẻ

- Không nói xấu trẻ trước mặt nó và không để trẻ khác trêu chọc, chế diễu

- Làm việc với trẻ phải dịu dàng, kên trì không cáu gắt hướng dẫn trẻ thực hiện nhiệm vụ cho đến thành công

Trang 10

Tất cả các nội dung trên có thể tiên shành giáo dục ở các môi trường khác nhau Tuy nhiên mỗi môi trường cần có những đặc điểm nội dung phương pháp riêng, do đó chúng ta phải lựa chọn và áp dụng cho phù hợp thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn

3 Tổ chức giáo dục:

3.1 Lực lượng tham gia:

Khi đứa trẻ chậm phát triển trí tuệ được dưa tới trường học tập, thì lực lượng tham gia bao gồm:

a) Nhà trường: Là nơi trẻ được học, vui chơi và tham gia suốt quá trình giáo dục, nơi đây trẻ sẽ được học, được rèn luyện những phẩm hạnh, thói quen

Do đó mọi thành viên của nhà trường như lãnh đạo nhà trường, giáo viên và học sinh đều có trách nhiệm đối với công tác này

- Ban giám hiệu là người điều hành bố trí trẻ và lớp nào cho phù hợp và

là người chịu trách nhiệm để truyền đạt giải thích cho giáo viên ở trường và tất

cả học sinh phải tham gia như thế nào

- Giáo viên là người trực tiếp giáo dục trẻ hàng ngày ở trên lớp và trong giờ ra chơi và là người tổ chức cho tất cả học sinh của lớp làm gì và làm như thế nào để giúp trẻ tiến bộ Giáo viên chủ nhiệm là người đóng vai trò quan trọng trong công tác giáo giục hoà nhập và là người quyết định kết quả giáo dục

- Học sinh trong lớp, trường là môi trường để hoà nhập và là người giúp

đỡ trẻ trong mọi hoạt động và tạo cho trẻ khả năng hội nhập sớm muộn

b) Gia đình: Gia đình là nơi trẻ sống hàng ngày, được người thân đặc biệt là bố mẹ chăm lo, săn sóc chu đáo Người trong gia đình hiểu về trẻ của mình rõ nhất nên đóng vai tr quan trọng trong công tác giáo dục con em mình cùng với nhà trường

Bên cạnh những người có trách nhiệm trực tiếp như nêu trên, đoàn thể, chính quyền địa phương và các tổ chức từ thiện cũng đóng vai trò quan trọng Chính quyền và các đoàn thể là nơi tập hợp được các lực lượng để thực hiện

Ngày đăng: 03/04/2021, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w