bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS bài thu hoạch CDNN hạng II THCS
Trang 1BÀI THU HOẠCH LỚP BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN THCS HẠNG II – NĂM 2020.
ĐỀ BÀI
Sau khóa bồi dưỡng, thầy cô đã ứng dụng được nội dung vấn đề nào trong thực tiễn giảng dạy của mình ?
BÀI LÀM PHẦN A NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG THEO CHUẨN CHỨC DANH GIÁO VIÊN THCS HẠNG II.
I LÝ DO THAM GIA KHÓA BỒI DƯỠNG.
Trong bối cảnh xã hội toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu phức tạp, sức ép của gia tăng dân số và cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, thì giáo dục cũng cần thay đổi toàn diện để đáp ứng kịp với xu thế phát triển của toàn xã hội Với mục tiêu, đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục đã chú trọng dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học Là một giáo viên trong thời đại công nghệ 4.0, bản thân thấy việc phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tiếp cận chuẩn trong khu vực và quốc tế là hướng đi phù hợp xu thế, hướng tới đáp ứng các yêu cầu của đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học
Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục Người giáo viên hiện nay
Trang 2không chỉ là người dạy học trên lớp, làm nhiệm vụ cung cấp thông tin và truyền thụ kiến thức mà người giáo viên phải trở thành người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập của người học Từ những thay đổi về vai trò, vị trí của người học và người dạy trong những hoàn cảnh biến đổi nhanh, phức tạp đòi hỏi người bản thân phải được trang bị những kiến thức chuyên môn và năng lực sư phạm, khả năng đáp ứng linh hoạt và hiệu quả trước những yêu cầu mới
Trong những năm qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành công bước đầu Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ đồng nghiệp tại trường tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh… chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức Việc rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm Hoạt động kiểm tra, đánh giá còn nhiều hạn chế, chú trọng đánh giá cuối kì chưa chú trọng đánh giá cả quá trình học tập Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn
Theo đó, việc đào tạo giáo viên cần dựa trên phát triển năng lực nghề nghiệp giúp người giáo viên có thể thực hiện các hoạt động giáo dục một cách hiệu quả nhất, nâng cao chất lượng dạy và học trong thời đại mới
Căn cứ thông tư số: 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV thông tư liên tịch quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở công lập quy định tại điều 5, mục 2, khoản d: Giáo viên THCS hạng II, ngoài các yêu cầu về trình độ chuyên môn, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, trình độ ngoại ngữ, tin học… phải có chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở hạng II
Tham gia lớp bồi dưỡng này giúp bản thân cập nhật được các đường lối chủ trương của Đảng,nhà nước và của ngành giáo dục trong thời đại mới, nâng cao và phát triển năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng đủ theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
Trang 3Vì những lý do trên, tôi đã đăng ký khóa bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II do trường Đại Học Sư phạm Huế tổ chức theo hình thức học trực tuyến
II CÁC CHUYÊN ĐỀ CỦA KHÓA BỒI DƯỠNG THEO CHUẨN CHỨC DANH GIÁO VIÊN THCS HẠNG II.
Qua thời gian học tập từ ngày 22/9/2020 đến ngày 28/9/2020 ở lớp bồi dưỡng
theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II của trường Đại học
sư phạm Huế , tôi đã tiếp thu được các kiến thức và kỹ năng thông qua các chuyên
đề sau:
- Chuyên đề 2 Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo
- Chuyên đề 4 Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS
- Chuyên đề 5 Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch giáo dục ở trường THCS
- Chuyên đề 6 Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
- Chuyên đề 7 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS
- Chuyên đề 8 Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng trường THCS
- Chuyên đề 9 Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên trong trường THCS
- Chuyên đề 10 Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS
Trang 4PHẦN B: THU HOẠCH.
I ĐẶT VẤN ĐỀ.
Sau khi tham gia khóa học bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II, tôi đã được tiếp thu những kiến thức bổ ích từ các chuyên đề Bản thân tôi nhận thấy rằng để đạt được mục tiêu giáo dục hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực người học thì hoạt động của các tổ chuyên môn trong mỗi nhà trường đóng vai trò
“then chốt” quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên và hiệu quả giảng dạy
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng các buổi sinh hoạt chuyên môn trong trường tôi chưa đạt hiệu quả cao Nội dung sinh hoạt chuyên đề chưa được chú trọng, nhất là việc phổ biến áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm còn nhiều hạn chế Các báo cáo chuyên
đề, SKKN được nghiệm thu xong để đấy Đối với công tác dự giờ và đặc biệt là việc trao đổi rút kinh nghiệm tiết học giáo viên cũng không mấy hứng thú nên buổi thảo luận thường trầm lắng, ít ý kiến phát biểu
Việc chuẩn bị nội dung cho các buổi sinh hoạt chuyên môn còn hời hợt, chưa có sức thuyết phục nên không thu hút được sự quan tâm trao đổi của giáo viên Nội dung đưa ra trao đổi còn chưa phong phú, chưa đi sâu vào các vấn đề trọng tâm như: đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học, giáo dục STEM , chưa tháo gỡ những khó khăn cho giáo viên trong tổ; những vấn đề mới và khó ít được mang ra bàn bạc, thảo luận
Vai trò, trách nhiệm của tổ trưởng chuyên môn chưa cao, còn cả nể, chỉ đạo chưa kiên quyết Vai trò của tổ trưởng chưa thể hiện chất lượng chỉ đạo chuyên môn
mà chủ yếu là báo cáo khi nhà trường yêu cầu, chưa khơi dậy niềm say mê chuyên môn, không khí hứng khởi, sôi nổi trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn; kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn chưa thật phù hợp với đặc điểm của tổ, của nhà trường
và địa phương
Trong sinh hoạt tổ chuyên môn, còn một số giáo viên chưa phát huy hết tinh thần tập thể, không mang trách nhiệm xây dựng cái chung Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn thường là những giáo viên có năng lực khá, giỏi hay nhận xét, góp ý, còn
Trang 5những giáo viên khác thì ít khi có ý kiến hoặc có ý kiến thì cũng chỉ là “đồng quan điểm”.
Công tác quản lý, chỉ đạo đôi lúc chưa sâu sát, kịp thời Việc kiểm tra kế hoạch
tổ chưa thường xuyên, liên tục Nhiều giáo viên còn xem nhẹ buổi sinh hoạt chuyên môn, chưa thực sự say mê với chuyên môn, ý thức tự học hỏi bồi dưỡng năng lực sư phạm còn hạn chế
Nội dung kế hoạch, sổ ghi biên bản, sổ theo dõi chuyên môn còn nặng nề hình thức, ghi chép còn chung chung, thảo luận về đổi mới phương pháp chưa đi vào chiều sâu, góp ý giờ dạy chưa đi vào mục tiêu yêu cầu nội dung, một số tiết tiết dạy xếp loại khá giỏi chưa thực chất Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn còn mang tính hình thức, chưa căn cứ vào chất lượng thực tế của tổ để xác định các chuyên đề cần sinh hoạt, những hoạt động như : Thao giảng chuyên đề dự giờ góp ý, còn mang tính đại khái, hình thức có dự giờ nhưng góp ý còn đại khái, cả nể, chưa để
ý đến các khó khăn của học sinh trong quá tình học tập
Vì những lí do trên, với mong muốn nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt chuyên môn tại trường THCS Trung Đông, hướng tới mục tiêu phát triển năng lực của
học sinh, tôi xin chọn nội dung “ ĐỔI MỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC” cho bài thu hoạch của khóa bồi dưỡng chức
danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
II ĐỔI MỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC.
1 Thế nào là SHCM theo NCBH?
- Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động được thực hiện thường xuyên theo định
kỳ nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ, phân tích bài học
- Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn
nhưng ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương
Trang 6pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh gì và điều chỉnh như thế nào?
Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại giáo viên mà nhằm khuyến khích giáo viên tìm ra nguyên nhân tại sao học sinh chưa đạt kết quả như ý muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập; giúp giáo viên có khả năng điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp, trường mình
2 Các bước tiến hành nghiên cứu bài học.
* Chu trình NCBH gồm 4 bước:
Bước 1: Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu.
GV cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khi tiến hành nghiên cứu (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học), đảm bảo phù hợp với trình độ của HS, năng lực chuyên môn của GV
Các GV trong tổ thảo luận chi tiết về thể loại bài học, nội dung bài học, các phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của HS, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn…
Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của HS khi tham gia các hoạt động học tập
và các tình huống xảy ra và cách xử lý (nếu có)…
Bước 2 Tiến hành bài giảng minh họa và dự giờ.
Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, một GV sẽ dạy minh họa bài học nghiên cứu ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại trong nhóm tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ kiện về bài học
Bước 3: Suy ngẫm, thảo luận về bài giảng minh họa.
Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng trong SHCM, là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của sinh hoạt chuyên môn, TTCM cần phát huy được vai trò, năng
Trang 7lực của người chủ trì, động viên toàn bộ giáo viên trong tổ tham gia đóng góp ý kiến cho BGMH, cần nhấn mạnh những điểm nổi bật và không xếp loại giờ dạy
Bước 4: Áp dụng.
Trên cơ sở bài giảng minh họa giáo viên nghiên cứu vận dụng, kiểm nghiệm những vấn đề đã được dự giờ và thảo luận, suy ngẫm áp dụng vào bài học hàng ngày cho phù hợp, đạt hiệu quả tốt
3 Tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học.
a Công tác chuẩn bị
Công tác chuẩn bị cho dạy học dựa trên NCBH yêu cầu tất cả hệ thống giáo dục trong nhà trường: Từ BGH đến tổ chuyên môn, GV giảng dạy và các bộ phận có liên quan
* Nhiệm vụ của GV
- Tìm hiểu nội dung,cách thức thực hiện mô hình SHCM dựa trên nghiên cứu bài học
- Đăng ký tham gia nhóm thiết kế bài bạy minh họa, suy nghĩ, tìm tòi, tích cực sáng tạo để xây dựng ý tưởng/nội dung/phương pháp mới để thiết kế bài học
- Học cách quan sát HS học, ghi chép, lắng nghe, suy nghĩ
- Học cách lắng nghe và phản hồi mang tính xây dựng, tích cực tham gia thảo luận sau khi dự giờ về những khó khăn, nguyên nhân và hướng giải quyết
- Tự rút kinh nghiệm cho bản thân sau dự giờ để điều chỉnh nội dung/ cách dạy cho phù hợp với HS của mình Thay đổi cách quan sát và suy nghĩ về việc dạy của GV
và việc học của HS
- Xác định được mục tiêu của SHCM là giúp mọi GV có cơ hội học tập lẫn nhau SHCM không phải là nơi GV giỏi dạy bảo GV yếu
- Cùng nhau phân tích các nguyên nhân, các mối quan hệ trong giờ học và tìm biện pháp cải thiện, nâng cao chất lượng dạy – học
- Đi sâu nghiên cứu, phân tích các phương án dạy – học hiệu quả nhằm đáp ứng được nhu cầu và khả năng học của HS; tìm hiểu các mối quan hệ của HS với HS trong lớp, các kỹ năng cần thiết của GV để nâng cao chất lượng học tập của HS
Trang 8- Tăng cường khả năng độc lập, sáng tạo, thử nghiệm những ý tưởng mới vào bài dạy minh hoạ: Áp dụng tất cả những ý tưởng mới, những hiểu biết về phương pháp dạy học tích cực lấy hoạt động học của HS làm trung tâm trong bài dạy minh họa
để rút kinh nghiệm trong SHCM và áp dụng trong các bài học hàng ngày
b Các bước thực hiện của một buổi SHCM dựa trên nghiên cứu bài học.
Một buổi SHCM dựa trên NCBH thực hiện qua 4 bước:
Bước 1: Chuẩn bị nội dung bài dạy minh họa
- GV dạy minh họa chuẩn bị bài dạy, tổ chuyên môn tổ chức họp thảo luận lấy ý kiến góp ý từ các GV trong tổ chuyên môn để cùng nhau thiết kế, trao đổi, đầu tư thời gian để chuẩn bị bài học Bài dạy minh họa nên lựa chọn từ các môn học phù hợp cho việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực hoặc các phương pháp, kỹ thuật dạy học mới được tập huấn để GV thử nghiệm các PP mới, cách dạy mới… Ví
dụ, lựa chọn nội dung minh họa cho việc: điều chỉnh mục tiêu/nội dung của bài học; thay đổi nội dung/ngữ liệu; thử nghiệm sử dụng đồ dùng dạy học mới; áp dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực… phù hợp với đối tượng HS và điều kiện của địa phương.
- Bài dạy minh họa cần được thể hiện linh hoạt, sáng tạo GV lựa chọn nội dung, phương pháp, kỹ thuật dạy học để đạt được mục tiêu/chuẩn kiến thức kĩ năng của từng môn học, không phụ thuộc quá nhiều vào nội dung trong sách giáo khoa, các quy trình, các bước dạy trong sách GV, mà dựa vào kinh nghiệm và vốn kiến thức của
HS, GV có thể lựa chọn các ví dụ và ngữ liệu gần gũi với các em để đạt được mục tiêu của bài học
Bước 2: Tổ chức dạy minh họa – dự giờ
Tổ chức dạy minh họa – dự giờ là khâu quan trọng nhất trong SHCM
a) Dạy minh họa
- GV cần tiến hành dạy minh họa trên HS của lớp mình Yêu cầu không được luyện tập trước khi dạy minh họa
- Chuẩn bị không gian, bàn ghế thuận tiện cho người dự dễ dàng quan sát các hoạt động học tập của HS
Trang 9- Các hoạt động thiết kế đảm bảo thời lượng một tiết dạy minh họa không nên kéo dài quá so với quy định của 1 tiết học
b) Dự giờ
- Ban giám hiệu và các GV trong trường cùng dự giờ Số lượng GV dự giờ không nên quá đông, đảm bảo cho HS có thể học bình thường
- Dự giờ minh họa đòi hỏi sự tập trung cao độ của các GV Vị trí quan sát của người dự giờ rất quan trọng Muốn có thông tin chính xác về việc học của HS người
dự giờ cần phải đứng đối diện với HS để thấy được nét mặt, hành động, thao tác, sản phẩm của HS
- Người dự giờ cần vẽ sơ đồ chỗ ngồi, quan sát, nghe, nhìn, suy nghĩ và ghi chép diễn biến hoạt động học của HS trong giờ học hay những biểu hiện tâm lý của
HS thể hiện trong các hoạt động/tình huống cụ thể mà không bị bỏ sót khi quan sát
- Người dự có thể chụp ảnh hoặc quay phim các hoạt động học của HS trong các tình huống nhưng không làm ảnh hưởng đến giờ học Quan sát ghi chú các hoạt động học của HS, thái độ, cử chỉ, sự tham gia hay không tham gia của HS vào nội dung bài học
- Tập trung quan sát những biểu hiện qua nét mặt, thái độ, hành vi, mối quan hệ tương tác giữa HS – GV, HS – HS Người dự giờ luôn phải đặt câu hỏi cho mình là
“HS học được gì? HS có hứng thú không? Vì sao có? Vì sao không? HS có biểu hiện như thế nào? Hoạt động nhóm có thực sự đảm bảo cơ hội cho tất cả HS tham gia? Có
HS nào bị “bỏ rơi” không …
- Người dự giờ có thể ghi chép/ghi âm những câu hỏi của GV và câu trả lời của
HS, quan sát thái độ của HS, các biểu hiện trên nét mặt khi thực hiện nhiệm vụ, kết quả sản phẩm… Từ đó suy nghĩ, phân tích tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp tích
cực hơn Ví dụ:
+ Vì sao HS A và nhiều HS khác không trả lời được câu hỏi, có phải HS không hiểu câu hỏi, hay câu hỏi có quá khó đối với trẻ? Nếu thực sự quá khó thì cần thay đổi câu hỏi như thế nào để HS có thể trả lời được?
Trang 10+ Vì sao HS A không tham gia hoạt động? Có thể HS chưa hiểu rõ nhiệm vụ hay nhiệm vụ đó quá khó/quá dễ đối với HS, cần phải làm thế nào để HS tích cực tham gia hoạt động này?
+ Trong hoạt động luyện tập chỉ có một số ít HS làm đúng, phần đông HS làm sai, vậy tại sao HS làm sai? Có thể HS chưa hiểu cách làm, tại sao chưa hiểu? Do ngôn ngữ hay do cách giải thích của GV chưa rõ, cần thay đổi ngôn ngữ hay thay đổi cách giải thích như thế nào để HS dễ hiểu hơn…
- Mỗi GV đều có những suy nghĩ, cảm nhận, có cách giải quyết vấn đề khác nhau, nên khi chia sẻ cùng nhau sẽ làm cho buổi thảo luận trở lên sôi nổi, bổ ích và sâu sắc
- Việc dự giờ và quan sát HS thường xuyên sẽ giúp cho mỗi GV tự suy nghĩ, phát hiện và hiểu rõ nguyên nhân của những khó khăn mà HS đang gặp phải trong quá trình học tập Từ đó tự điều chỉnh cách dạy của mình cho phù hợp với đối tượng học
và có kế hoạch quan tâm giúp đỡ những HS đang gặp khó khăn về nhận thức hoặc hoàn cảnh gia đình…
- Trong SHCM dựa trên NCBH, khi mọi người cùng nhau tập trung hướng vào hoạt động học của HS, tìm nguyên nhân và các giải pháp cho các vấn đề khó khăn về học của HS thì mối quan hệ giữa người dạy và người dự trở nên gần gũi, có sự cảm thông, chia sẻ
Bước 3: Thảo luận về giờ học.
Sau khi dự tiết dạy minh họa, các GV sẽ thảo luận về giờ học Đây là hoạt động trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của buổi SHCM Để đạt được mục đích của buổi thảo luận, những người tham dự cần tham gia tích cực và chia
sẻ ý kiến với tinh thần xây dựng
- Câu hỏi gợi ý thảo luận:
+ Những điều mình học được qua bài dạy minh họa?
+ Tại sao HS A, HS B… có biểu hiện khó khăn trong giờ học?
+ Mô tả những hiện tượng quan sát được, những biểu hiện cụ thể của HS như:
vẻ mặt, thái độ, hoạt động, sản phẩm…