1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ HUYỆN QUỲNH PHỤ

390 96 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 390
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hình thức triển khai công việc kiểm kê di sản văn hóa vật thể trên địa bàn.Nhiệm vụ này đã được thực hiện với sự hợp tác giữa cộng đồng, các cơ quanquản lý văn hóa, các cơ quan nghiên cứ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

BÁO CÁO KIỂM KÊ KHOA HỌC

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ HUYỆN QUỲNH PHỤ

Năm 2017

Trang 2

5 DSVHPVT : Di sản văn hóa phi vật thể

6 DSVHQG : Di sản văn hóa quốc gia

9 HĐND : Hội đồng nhân dân

11 MTTQVN : Mặt trận tổ quốc Việt Nam

12 SVHTT&DL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

13 Tp : Thành phố

16 UBND : Ủy ban nhân dân

17 UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa

của Liên hợp quốc

18 VHTT : Văn hóa, Thông tin

19 VHTT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch

20 VHNT : Văn hóa Nghệ thuật

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

I THỜI GIAN THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM KÊ KHOA HỌC

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình (SVHTT&DL),Phòng Văn hóa, Thông tin huyện Quỳnh Phụ (VHTT) tiến hành mở lớp tậphuấn kiểm kê dựa vào cộng đồng cho các cán bộ công chức văn hóa các xãtháng thị trấn từ ngày 22 đến ngày 23 tháng 08 năm 2017

- Từ ngày mồng 01 đến ngày 30 tháng 09 năm 2017, nhóm kiểm kêđược chia làm 04 nhóm gồm chuyên viên Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịchtỉnh, Phòng Văn hóa, Thông tin huyện, cán bộ công chức các xã có Di sản vănhóa phi vật thể (DSVHPVT) tiến hành công tác kiểm kê Di sản văn hóa phivật thể trên địa bàn các xã của huyện Quỳnh Phụ

II MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KIỂM KÊ KHOA HỌC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

2.1 Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, công tác bảo tồn và phát huy giátrị của di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đã được Bộ Văn hóa khi đó và Tyvăn hóa (sau này đổi thành Sở văn hóa) các địa phương quan tâm thực hiệntheo những nhu cầu và mục đích khác nhau, đặc biệt là nhiệm vụ kiểm kê các

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnhbước đầu được triển khai thực hiện Công tác kiểm kê di sản được dần dầnhoàn thiện, đầy đủ và khoa học hơn từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước 2003của UNESCO vào năm 2005 Theo Công ước này, các quốc gia thành viên bắtbuộc phải thực hiện kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên toàn quốc gia vàthành lập danh mục kiểm kê quốc gia Các yêu cầu, nội dung về kiểm kê di sảnvăn hóa theo quy định của UNESCO đã được nhận thức và triển khai trongthực tiễn Luật DSVH (2001, sửa đổi và bổ sung 2009) cũng được cập nhận vàchú trọng đến công tác kiểm kê Do vậy, ngày nay công tác kiểm kê là mộtnhiệm vụ bắt buộc của các Sở VHTT&DL thực hiện trong cộng đồng các dântộc, theo các đơn vị hành chính huyện, xã, thôn ở trong tỉnh

Triển khai Luật di sản văn hóa, các cơ quan quản lý văn hóa từ Trungương đến cấp tỉnh và huyện đã bước đầu xác định được chiến lược và các

Trang 5

hình thức triển khai công việc kiểm kê di sản văn hóa vật thể trên địa bàn.Nhiệm vụ này đã được thực hiện với sự hợp tác giữa cộng đồng, các cơ quanquản lý văn hóa, các cơ quan nghiên cứu và các tổ chức xã hội Đặc biệt, sựtham gia kiểm kê của cộng đồng được thúc đẩy và là một trong những nguyêntắc kiểm kê di sản với sự tham gia ý kiến, sự đồng thuận và cùng thực hiện

Từ năm 1998, khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về vănhóa, trong đó thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể củacác cộng đồng dân tộc Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia ViệtNam được giao nhiệm vụ thực hiện các dự án về di sản văn hóa phi vật thể.Trong số những dự án này, Viện đã tiến hành điều tra tổng thể về di sản vănhóa phi vật thể ở các dân tộc, phân loại theo loại hình và thực hiện các biệnpháp bảo vệ, trong đó phục dựng những di sản có giá trị với cộng đồng, tổchức các lớp tập huấn kiểm kê cho các vùng miền hoặc những địa phương cónhu cầu; Cũng trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa này, Viện

Âm nhạc (Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch) được phân công kiểm kê theohướng phân loại các loại hình âm nhạc - nghệ thuật Hội Văn nghệ dân gianViệt Nam kiểm kê hệ thống các di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ bị biếnmất để tiến hành lập kế hoạch phục dựng, tôn tạo, tiến tới tổng điều tra di sảnvăn hóa phi vật thể cả nước Điều quan trọng và mang tính phổ biến là hầu hếtcác tỉnh đã tiến hành lập danh mục kiểm kê do Sở văn hóa, Thể thao và Dulịch thực hiện một cách đa dạng, từ phân loại loại hình đến hệ thống danh mụctheo khu vực hoặc nhóm tộc người

Với chức năng quản lý văn hóa nhà nước, Cục Di sản Văn hóa đã tổchức phổ biến và tập huấn Thông tư số 04/ 2010/TT- BVHTTDL của Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc kiểm kê và lập hồ sơ khoa học Disản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốcgia cho toàn ngành văn hóa trong cả nước Tính đến tháng 12 năm 2017, sau

07 năm triển khai thực hiện Thông tư số 04/2010/TT- BVHTTDL của Bộ

trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có gần 100 ngàn di sản văn hóa

Trang 6

phi vật thể của 62/63 tỉnh/thành phố được kiểm kê và đó là cơ sở để các cấp

có thẩm quyền xét duyệt, tôn vinh các di sản có giá trị, theo các cấp quốc gia

và cấp tỉnh (địa phương) Tính đến tháng 09 năm 2017 đã có hơn 200 hồ sơkhoa học Di sản văn hóa phi vật thể được công nhận trong Danh mục Di sảnvăn hóa phi vật thể quốc gia

Thông tư Số 04/2010/TT- BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch quy định một số nội dung cơ bản của công tác kiểm kê bao gồm kháiniệm và tiêu chí cũng như thiết lập phương pháp luận để nhận diện và kiểm

kê, phục vụ các hồ sơ ứng cử các chức danh khác nhau Quá trình tiến hànhkiểm kê di sản, hiện nay, tại hầu khắp các địa phương đã có kế hoạch mở rộng

sự cộng tác giữa cán bộ và cộng đồng địa phương với các nhóm nghiên cứu,các nhà quản lý văn hóa các cấp, đem lại hiệu quả khoa học và đáp ứng nhucầu thực tiễn đặt ra Hiện tại, các cơ quan quản lý văn hóa, nghiên cứu vănhóa như Cục Di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đã

và đang hợp tác với các địa phương tiến hành công tác kiểm kê theo quy địnhcủa UNESCO Đặc biệt, công tác kiểm kê đã bước đầu được hoàn thiện với

sự tham gia tích cực của cộng đồng trong hầu kết các khâu, từ việc tham giathảo luận trong các buổi tập huấn về nhận diện, về phân loại di sản, về cácbiện pháp bảo vệ di sản Chính cộng đồng là những người cùng với các cán

bộ của Viện cùng bản luận, thống nhất điền vào phiếu kiểm kê Các phiếukiểm kê đảm bảo có đầy đủ thông tư theo Thông tư 04, đồng thời, nội dungphải được cộng đồng đồng thuận thông qua

2.2 Mục đích của việc kiểm kê khoa học DSVHPVT trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ

- Khảo sát và đánh giá thực trạng của các Di sản văn hóa phi vật trên địabàn các thôn tháng làng của các xã trong phạm vi huyện Quỳnh Phụ

- Bước đầu, tập hợp một cách có hệ thống những di sản cụ thể do cộngđồng thực hành trên địa bàn

Trang 7

- Các di sản được kiểm kê đảm bảo có đầy đủ thông tin về nhận diện, ýnghĩa, chức năng của di sản, về thực trạng, bối cảnh thực hành, số lượng nghệnhân, biện pháp bảo vệ di sản.

- Đề xuất kế hoạch, biện pháp tiếp tục triển khai hoạt động sưu tầm, bảotồn, khai thác giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ

III QUY ĐỊNH VỀ NHẬN DIỆN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 3.1 Tiêu chí nhân diện di sản văn hóa phi vật thể

- Phải là di sản đang tồn tại, đang sống trong cộng đồng vẫn được cộngđồng thực hành thường xuyên

- Được cộng đồng sáng tạo, duy trì và chuyển giao từ đời này sang đời khác

- Được cộng đồng xem là một phần quan trọng trong đời sống, tạo nênbản sắc của họ

- Di sản phản ánh sự đa dạng văn hóa và tôn trọng lẫn nhau giữa cáccộng đồng và nhóm người

3.2 Tiêu chí về người nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể

- Là người am hiểu, có kỹ năng, kỹ thuật, bí quyết nổi bật

- Là người có thâm niên trong thực hành di sản

- Là người tham gia tổ chức, hoặc thực hiện DSVHPVT liên tục

- Có đóng góp trong việc truyền dạy DSVHPVT

- Được cộng đồng công nhận

- Những người nắm giữa di sản không giới hạn tuổi, giới tính, nghềnghiệp Họ có thể là trưởng thôn, Mạnh bái, thợ cả, ông trùm phường, nghệnhân, võ sư, thầy cúng, v.v , nhưng là những người có hiểu biết và thựchành di sản

3.3 Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể

a) Di sản truyền khẩu

Di sản được thực hành bằng cách truyền khẩu trong hình thức ngôn từ,bao gồm các loại hình ngữ văn dân gian, văn hóa truyền miệng được truyềntải bằng lời nói như sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ

Trang 8

tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru, bài cúng và các biểuđạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết.

b) Nghệ thuật trình diễn dân gian

Di sản được thực hành bằng hình thức trình diễn, diễn xướng dân gian,bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân giankhác, ví dụ, hát chèo, múa giáo cờ, giáo quạt, múa đùng, múa rối nước, hát catrù, hát văn, múa sênh tiền, múa bát dật, múa lân, múa rồng, múa quạt, múarối cạn, tuồng, cải lương, v.v

- Các trò chơi dân gian: Cờ tướng, cờ người, đi cà kheo, chọi gà, đánh

đu, đánh roi, bắt vịt, bắt dê, bắt lợn, đập niêu, v.v

- Các môn thể thao dân gian: vật, vật cầu, võ truyền thống, kéo co, bơi

chải, đua thuyền, v.v

- Các thú chơi nghệ thuật: chơi hoa, cây cảnh, chơi chim, chơi cá, chơi

và tín ngưỡng liên quan đến người chết, tang ma, lễ cầu siêu, chạp tổ, giỗ, các

tập tục và nghi lễ có liên quan đến chu kỳ mùa, lễ tết (dựng cây nêu, hạ nêu,

lễ xuống đồng, tết nguyên Đán, rằm tháng giêng, thanh minh, Hàn thực, Đoan ngọ, Rằm tháng Bảy, Trung thu), các phong tục và nghi lễ khác (tục kết chạ, ăn trầu, nhuộm răng, làm đẹp, cầu đảo, các tập tục liên quan đến tín ngưỡng phồn thực, v.v.)

d) Lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống ở các làng xã Việt Nam bao gồm lễ hội làng tưởng

Trang 9

nhớ các vị thành hoàng, những người có công với dân với nước, được thờcúng ở đình, đền, chùa, miếu, từ, ví dụ; Hội đền A Sào, hội làng Lộng Khê,hội đền đền Đồng Bằng, hội đền La Vân, v.v.

đ) Nghề thủ công truyền thống

Các làng nghề thủ công truyền thống được cộng đồng làng xã thực hành

từ nhiều năm qua, từ làm bằng tay thủ công, đến nay có sự kết hợp với máymóc, công nghệ Tuy nhiên, kỹ năng làm nghề vẫn chủ yếu bằng tay với tríthức được trao truyền giữa các thế hệ như nghề đúc đồng, nghề trồng dâu nuôitằm, nghề làm chiếu, nghề đan nón, mây tre đan, nghề làm bánh đa

e) Tri thức dân gian

Các tri thức được tích lũy từ nhiều thế hệ và trao truyền cho thế hệ trẻbao gồm tri thức về thiên nhiên, về mùa màng, về thời tiết, về khí hậu, về gieohạt, về đi biển, đi rừng, về đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học

cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác

Tri thức dân gian bao gồm:

- Y học dân gian (cách chữa bệnh của ông lang, bà lang về gãy xương,bong gân, hóc xương, đau răng, xơ gan, thần kinh, các bệnh ngoài da, tri thức

về dược học dân gian về các cây thuốc bài thuốc

- Tri thức về nông nghiệp (dự báo thời tiết, sâu bọ, mùa màng, chănnuôi, nông lịch, bảo quản giống, v.v.)

- Tri thức về môi trường tự nhiên, thiên nhiên (cách tìm mạch nước,khoan giếng, xem trăng, xem sao, con nước, hướng gió, v.v.)

- Kinh nghiệm chế tạo và sử dụng công cụ trong kinh tế và đời sốngnhư; cày, bừa, cào cỏ, liềm hái, dao, kéo, búa, rìu, bẫy, dụng cụ săn bắt (đó,đơm, vó, lờ, nơm, lưới, lưỡi câu, bẫy, trúm, v.v.), cách xử lý nguyên vật liệu(ngâm tre, hun khói, gác bếp, hong khô, v.v.)

- Tri thức về cách lựa chọn chế biến, bảo quản nông, hải sản…

- Tri thức về cách chế biến và kết hợp nguyên liệu các món ẩm thực…

- Tri thức gắn với tập quán như ăn trầu, nhuộm răng, làm đẹp, gội đầu

Trang 10

IV QUY TRÌNH KIỂM KÊ DSVHPVT Ở HUYỆN QUỲNH PHỤ

4.1 Quy trình tổ chức kiểm kê DSVHPVT

- Mở lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về DSVHPVT, Công ước 2003,Luật DSVH, Thông tư 04 Tại lớp tập huấn, các cán bộ đã hướng dẫn cán bộvăn hóa của các xã trên địa bàn huyện Quỳnh phụ cách thức, nội dung,phương pháp kiểm kê và hướng dẫn chi tiết hình thức điền thông tin vào mẫuphiếu kiểm kê của thông tư 04, phù hợp với tình hình di sản tại địa bàn huyệnQuỳnh Phụ

- Cán bộ công chức văn hóa xã/thị trấn và Phòng VHTT huyện phối hợpvới cộng đồng tổ chức khảo sát, điền thông tin vào phiếu kiểm kê

- Tổ kiểm kê (gồm 5 người: 01 cán bộ Phòng Nghiệp vụ Văn hóa của

Sở VHTT&DL; 01 cán bộ Phòng VHTT huyện; 01 cán bộ công chức văn hóaxã/thị trấn) chịu trách nhiệm đánh giá sơ bộ, thẩm định kết quả kiểm kê và đềxuất danh mục, thỏa thuận với cộng đồng và huyện để hoàn thiện hồ sơ kiểmkê

- Tổng hợp kết quả kiểm kê của huyện Quỳnh Phụ (gồm Báo cáo, Danhmục di sản, hồ sơ kiểm kê) nộp về Sở VHTT&DL

- Sở VHTT&DL tỉnh Thái Bình đánh giá, thẩm định danh mục và báocáo lãnh đạo tỉnh

4.2 Nguyên tắc kiểm kê

- Kiểm kê toàn bộ di sản đang tồn tại trên địa bàn huyện

- Chú trọng điều tra thực trạng, bối cảnh thực hành, nguy cơ làm hủyhoại đến di sản, lập danh sách những cá nhân nắm giữ di sản

- Công tác kiểm kê phải đảm bảo sự đa dạng văn hóa, tôn trọng ý kiếncủa cộng đồng

- Lưu ý tính tổng thể của di sản, bao gồm các yếu tố của di sản, từkhông gian thực hành, địa điểm, điều kiện thực hành, người thực hành, cácthành tố (vật thể, phi vật thể, âm nhạc, ca từ, nghi lễ, v.v.)

Trang 11

- Lưu ý phạm vi về thời gian và không gian, và quy mô tồn tại của disản, đặc biệt là di sản nằm trên nhiều thôn, xã, để đảm bảo thôn tin về disản đầy đủ.

4.3 Hướng dẫn điền thông tin vào phiếu kiểm kê

* Nguyên tắc điền thông tin vào phiếu kiểm kê

- Phiếu kiểm kê phải được điền đầy đủ thông tin theo quy định củaThông tư 04 và theo tinh thần của Luật DSVH và Công ước 2003

- Phiếu kiểm kê phải được viết rõ ràng, không viết chữ in hoa, khôngviết mực đỏ

- Người cung cấp thông tin có thể là cá nhân, nhóm người địa phương(thôn, làng) có am hiểu và nắm giữ DSVHPVT được kiểm kê, trong trườnghợp có thông tin khác biệt thì ghi lại tất cả các ý kiến

- Ghi lại chính xác thông tin từ người cung cấp (trước khi ghi ra phiếucác bí quyết, điều thiêng, đời tư cần phải có sự đồng ý và thỏa thuận củangười cung cấp thông tin hoặc cộng đồng)

- Thông tin cơ bản theo các mục trong phiếu kiểm kê, nhưng cần vậndụng linh hoạt, đặt nhiều câu hỏi phụ và trao đổi để lấy thông tin từ ngườiđược phỏng vấn

- Không hỏi những câu hỏi mang tính “gợi ý” câu trả lời Không bỏ sót

các câu hỏi Những câu hỏi không có thông tin thì ghi rõ “Không có thông tin”.

- Phiếu được lập bằng máy tính, cần nộp cả hai bản in có chữ ký và bảnmềm (định dạng MS.Word)

- Người lập phiếu và Tổ trưởng tổ kiểm kê chịu trách nhiệm về nộidung và chất lượng, yêu cầu của phiếu kiểm kê

- Phiếu nộp cho Ban kiểm kê phải có đầy đủ chữ ký của người lậpphiếu và tổ trưởng tổ kiểm kê

V PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG KIỂM KÊ KHOA HỌC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

Các phương pháp được sử dụng để thu thập thông tin kiểm kê gồmphỏng vấn bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát, ghi chép thông qua thảo luận

Trang 12

nhóm, hồi cố, thống kê và theo quan điểm tôn trọng tiếng nói của cộng đồngtrong việc đồng thuận với nội dung giới thiệu về di sản văn hóa do chính cộngđồng sáng tạo và bảo tồn trong lịch sử

- Rà soát tài liệu lưu trữ: Là việc ra soát các báo cáo, các nghiên cứu,

phim tư liệu, ảnh, bản đồ, tư liệu liên quan đến các DSVHPVT để tránh trùnglặp gây mất thời gian và để kiểm chứng thông tin thu được từ cộng đồng Kếthợp sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (thư tịch học, khảo cổ học,văn bản học, bảo tàng học,…) trong việc phân tích, đối chiếu, so sánh cácnguồn tư liệu để xác định đối tượng khảo sát, kiểm kê

- Phương pháp quan sát và ghi chép: Đây là hữu ích cho việc thu thập

kiến thức địa phương và các loại hình DSVHPVT cụ thể Quan sát bao gồmviệc lưu tâm đến ngôn từ và hành động của con người, bao gồm cả cáchcộng đồng sử dụng không gian riêng, không gian chung và các gợi ý họ đưa

ra xung quanh việc kiểm kê Người quan sát cần hiểu được khả năng thuthập thông tin “thiên kiến”, ví như “thấy những gì ta muốn thấy’ Nói cáchkhác, các định kiến sẵn có có thể làm thiên lệch kết quả quan sát do thiếu đicái nhìn toàn diện về sự việc Người quan sát cũng cần phải công minh trongviệc đưa ra các quyết định cuối cùng về những sự việc nhất định Đặc biệt làcần phải tránh xét đoán chủ quan và chỉ ‘thấy những thứ ta muốn thấy’.Đáng chú ý nhất là các trường hợp đánh giá DSVHPVT, khi các quan sátviên muốn tỏ ra thành công, họ có thể đưa ra đánh giá không chính xác (vôtình hoặc cố ý) để phù hợp với những mục đích cá nhân Việc lưu trữ chi tiết

và cẩn thận các ghi chép điền dã rất quan trọng, kể cả đối với những cuộckiểm kê không sử dụng quan sát và ghi chép nhưng một phương pháp chính

để tạo thông tin Ghi chép điền dã được dùng để ghi lại những quan sát trựctiếp, để thu thập bất cứ loại hình DSVHPVT nào được sử dụng và các ýtưởng phát sinh xung quanh các loại hình đó

- Phương pháp phỏng vấn: Là đối thoại giữa hai hay nhiều người với

mục đích để khám phá ra một đề tài hay một chủ đề cụ thể, để cung cấp thông

Trang 13

tin về một loại hình DSVHPVT Trong các cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn

là người đặt câu hỏi, người được phỏng vấn trả lời câu hỏi Phỏng vấn là mộtkhía cạnh không thể tách rời của các phương pháp tạo thông tin

- Chụp ảnh: Là phương thức hiệu quả trong việc thu thập thông tin

liên quan đến bản chất sống động và tiếp biến của DSVHPVT, bằng cách ghilại đồng thời các hoạt động cũng như các trải nghiệm hay cách lý giải củacác bên liên quan Hơn thế, các bức ảnh không chỉ là những tư liệu lưu trữ

và nghiên cứu mà còn là những công cụ hữu ích để quảng bá di sản Sử dụngcác bức ảnh có thể giúp tăng cường tính trực quan sinh động và nội dung củahoạt động kiểm kê Các thành viên cộng đồng và những người khác có liênquan đến việc thu thập và trình bày thông tin về các loại hình DSVHPVT cóthể chụp lại hình ảnh của người, địa điểm, vật hay sự kiện Ảnh tư liệu lịch

sử hay ảnh lấy từ các bộ sưu tập cá nhân của thành viên cộng đồng cũng cóthể được sử dụng

- Quay phim: Là phương pháp hữu ích trong việc truyền tải sự kiện,

tình cảm hay những hoạt động hàng ngày giúp hình thành nên đặc điểm củacác loại hình DSVHPVT trong một bối cảnh nhất định Thông qua việc sửdụng phim, các thành viên cộng đồng có thể dễ dàng mô tả các hành động, tậpquán hay niềm tin liên quan đến loại hình DSVHPVT, những thứ khó có thểđược truyền tải hay giải thích đầy đủ bằng các tư liệu khác Hơn thế nữa, việc

sử dụng phim có thể phổ biến các loại hình DSVHPVT trong các nhóm ngườikhông cùng sử dụng một ngôn ngữ nói hay viết, và từ đó góp phần đóng gópvào việc nâng cao nhận thức của người dân về di sản (một trong những mụctiêu chính của Công ước) Việc sử dụng phương pháp quay phim tất nhiên sẽđòi hỏi một chi phí nhất định (như chi phí cho thiết bị và thời gian để đào tạo

sử dụng thiết bị quay phim) Tuy nhiên, các thước phim có thể cung cấp chomột phương tiện thu thập và trình bày cách thức cộng đồng trải nghiệm vàthực hành DSVHPVT

Trang 14

- Ghi âm: Là một kỹ thuật có thể được áp dụng cho nhiều phương pháp

tạo thông tin khác nhau thí dụ như; Được dùng để thu thập các loại hìnhDSVHPVT khi mà âm thanh là thành tố chính (âm nhạc, khiêu vũ, ca hát…);Được dùng kết hợp với ảnh và phim để tạo ra những câu chuyện kỹ thuật số;Được dùng để tạo ra các tape âm thanh kỹ thuật số, tiếp cận được nhiều đốitượng khán giả hơn qua mạng internet; Được dùng trong phỏng vấn để ghi lạisuy nghĩ, phản hồi của các thành viên cộng đồng liên quan đến loại hìnhDSVHPVT và việc kiểm kê; Được dùng kết hợp trong các dự án quay phim

và tháng hoặc hỗ trợ nâng cao nhận thức; Được dùng cho các mục đích lưutrữ (sẽ có giá trị lớn đối với cộng đồng sau này); Được dùng cho những mụcđích khác mà tại thời điểm hiện tại có thể chưa xác định được Mỗi tư liệu cóthể được ghi lại với một mục đích nhất định, nhưng cũng có thể sẽ được dùng

để giải quyết các vấn đề khác trong tương lai

- Lập bản đồ: Được tiến hành để lưu giữ tư liệu về cảnh quan văn hóa

và lãnh thổ của một cộng đồng và các loại hình DSVHPVT có liên quan Lậpbản đồ cảnh quan văn hóa (và không chỉ cảnh quan lãnh thổ) liên quan đếnviệc xác định các nét đặc trưng hình thành nên giá trị xã hội, các chuẩn tắc,tập quán và tâm linh của một cộng đồng, và loại hình DSVHPVT có liênquan; ví dụ như các địa điểm linh thiêng, địa điểm ca múa, địa điểm hội hè, vàrộng hơn là sự hiểu biết mang tính văn hóa về các cảnh quan trên Việc lậpbản đồ có thể giúp thu thập thông tin về cách thức mà các địa phương tươngtác với các loại hình DSVHPVT và có thể đem lại thông tin hữu ích về quyhoạch không gian cho các cơ quan bên ngoài, cũng như ghi lại và lưu trữ kiếnthức địa phương liên quan đến một loại hình DSVHPVT cụ thể Rộng hơn,việc lập bản đồ tạo cơ hội để công nhận rộng rãi hơn di sản văn hóa truyềnmiệng và di sản phi vật thể; nhờ đó có thể giải thích mối quan hệ bền chặtgiữa các di sản văn hóa với lãnh thổ và các bối cảnh tài nguyên thiên nhiên,trong đó chúng xuất hiện và tồn tại, được truyền đến các thế hệ tương lai

Trang 15

Việc lập bản đồ cũng có thể củng cố khả năng quản lý các DSVHPVT của cáccộng đồng, đồng thời khuyến khích sự tôn trọng và thấu hiểu từ các nhóm đa

- Trong quá trình tiến hành điều tra trực tiếp tại các địa phương, chúngtôi nhận thấy, rất nhiều DSVHPVT đã bị mai một như nghề đan giành ở thôn

An Ninh, xã An Ninh, nghề dệt chiếu thôn Lam Cầu, xã An Hiệp Những disản này rất khó có thể khôi phục nếu không có sự can thiệp, quan tâm, hỗ trợcủa ngành văn hóa và lãnh đạo địa phương

- Tại hầu khắp các xã được kiểm kê, đội ngũ cán bộ công chức văn hóa

và cán bộ lãnh đạo cấp xã do kiêm nhiệm nhiều việc, năng lực chuyên môn vềvăn hóa còn hạn chế hoặc yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu quản lý vănhóa và giúp cộng đồng sưu tầm, kiểm kê, nghiên cứu, bảo tồn DSVHPVT củađịa phương Chính vì vậy, nhiều di tích có giá trị bị xuống cấp, các loại hìnhDSVHPVT của các làng tháng thôn tháng khu chưa được quan tâm để lập kếhoạch phục hồi (thông qua hình thức xã hội hóa) hoặc đề đạt các cấp có thẩmquyền thẩm định, cấp kinh phí phục dựng, sửa chữa, tôn tạo

- Trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây (từ 1990), hầu hết các địa

Trang 16

bàn dân cư nguyên là xóm, trại, làng đã được chuyển đổi tháng phân chiathành các thôn tháng khu dân cư Thực tế đó vô hình chung đã xóa dần mộtcách tự nhiên tên gọi truyền thống của hàng loạt các xóm, làng, những tựdanh vốn đã đi theo cộng đồng dân cư hàng nghìn năm, ăn sâu vào tiềm thứcvăn hóa con người, gắn với đặc điểm, ngọn nguồn xuất xứ lập xóm, lập làngcùng hàng loạt các giá trị văn hóa phi vật thể truyền thống của cộng đồng.Bên cạnh đó, có những làng tháng thôn, do diện tích cư trú rộng, dân cư đông,

đã được chính quyền địa phương chia thành nhiều thôn tháng khu dân cư vànhư vậy, gần như chỉ có khu dân cư trực tiếp hiện tồn DSVHPVT di tích tínngưỡng là quan tâm, hiểu biết (ở những mức độ khác nhau) về DSVHPVT ởđịa phương mình Các khu dân cư khác lâm vào tình trạng tâm lý bị xa rời ditích, tín ngưỡng, DSVHPVT và ý thức cùng trách nhiệm dần phai nhạt, mangtính khách thể hóa

- Do thời gian thực hiện việc kiểm kê, điều tra eo hẹp và số cán bộchuyên môn thực hiện có hạn nên việc tập hợp, khai thác tư liệu cùng cộngđồng còn hạn chế Điều này phần nào ảnh hưởng tới kết quả kiểm kê, nghiêncứu, đặc biệt là việc thẩm định những biểu hiện của đặc trưng di sản văn hóaphi vật thể cùng hệ thống ngôn ngữ cổ, gắn với sinh hoạt lễ hội, nghề thủcông truyền thống, các loại hình diễn xướng dân gian, tri thức dân gian vàsinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã nói chung

6.2 Một số thuận lợi

- Trong thời gian tiến hành kiểm kê của nhóm nghiên cứu đã đượcchính quyền và đội ngũ cán bộ công chức văn hoá xã, huyện, đội ngũ cáctrưởng thôn, trưởng BQL các di tích thường xuyên trực tiếp và quan tâm chỉđạo, giúp đỡ cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng mọi yêu cầu đặt ra củacông việc kiểm kê Các trưởng thôn, các bí thư chi bộ, Trưởng BQL di tíchthuộc các thôn/khu dân cư tại hầu hết các xã đã trực tiếp tham gia tổ chứcnhóm thảo luận tại địa phương, tham gia chủ động giải quyết mọi vấn đề nảysinh trong quá trình thảo luận nhóm đại diện cộng đồng, nhằm cung cấp thông

Trang 17

tin cho việc điều tra kiểm kê.

- Những người dân trong cộng đồng bao gồm các bậc cao niên, các thànhviên trong Ban khánh tiết đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào công việccung cấp thông tin tại đa số các thôn/làng đều nhiệt tình, có quan điểm đồngthuận với nhu cầu bảo tồn, khai thác và trao truyền di sản văn hóa phi vật thểtại địa phương Nhiều bậc cao niên đã cung cấp những tư liệu quý do cá nhân

tự sưu tầm, biên soạn hoặc biên dịch, làm tài liệu tham khảo tốt cho quá trìnhtrả lời phiếu điều tra, kiểm kê Sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của các vị trong cácBan quản lý di tích, Hội người cao tuổi tại các thôn về công tác tổ chức, thamgia điều hành thảo luận nhóm đạt yêu cầu chất lượng đề ra của nhóm nghiêncứu, điều tra

Dựa vào những thuận lợi và khắc phục những khó khăn trên, nhómnghiên cứu đã thu được những kết quả kiểm kê nhất định Nguồn tài liệu vàthông tin do nhóm đại diện cộng đồng cung cấp, thông qua phiếu điều tra đãđược tập hợp, cho phép khẳng định: Đây là nguồn tư liệu tương đối phong phú,

có nhiều thông tin mới, có hệ thống về các loại hình DSVHPVT ở địa bànhuyện Quỳnh Phụ

VII KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KIỂM KÊ DSVHPVT Ở HUYỆN QUỲNH PHỤ 7.1 Về địa bàn kiểm kê DSVHPVT

Huyện Quỳnh Phụ nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Bình, phía Namgiáp huyện Thái Thụy và huyện Đông Hưng, phía Tây giáp huyện Hưng Hà,phía Đông giáp thành phố Hải Phòng và phía Bắc giáp tỉnh Hải Dương.Huyện Quỳnh Phụ ngày nay được hợp nhất từ hai huyện Quỳnh Côi và PhụDực theo Nghị quyết của Chính phủ năm 1969 Diện tích tự nhiên của huyện

là 20.999 ha, trong đó có 13.458 ha đất sản xuất nông nghiệp, 4.134 ha đấtchuyên dùng, 1.497 ha là diện tích đất ở Dân số của huyện là 232,0 nghìnngười, mật độ bình quân 1.105 người tháng km21 Toàn huyện có 38 đơn vịhành chính cấp xã (gồm 2 thị trấn và 36 xã) với tổng diện tích 20.961,4 ha

Trang 18

chiếm 13,5% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thái Bình Huyện Quỳnh Phụ làcửa ngõ nối tỉnh Thái Bình với các vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội- HảiDương- Hải Phòng - Quảng Ninh rất thuận lợi cho việc giao lưu phát triểnkinh tế Với vị trí khá thuận lợi này, huyện Quỳnh Phụ có thị trường lớn là các

đô thị lớn trong vùng và xuất khẩu, có cơ hội tiếp thu các thành tựu khoa học

kỹ thuật, thu hút vốn đầu tư cho phát triển các ngành kinh tế- xã hội củahuyện Địa hình đất đai của huyện Quỳnh Phụ tương đối bằng phảng, đồngruộng thấp cao xen kẽ kiểu bát úp, có độ dốc nghiêng từ Tây sang Đông, từBắc xuống Nam Trong từng khu vực cũng có độ chia cắt hình thành nhữngtiểu vùng khác nhau về độ cao, thấp, tạo lên những hạn chế nhất định về pháttriển vùng thâm canh tăng vụ, bố trí cây trồng và hệ thống thủy lợi Nhìnchung địa hình huyện Quỳnh Phụ ít phức tạp, đất đai hình thành nhờ quá trìnhbồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Hóa do khá thuậnlợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là lúa nước

Huyện Quỳnh Phụ là địa phương có nhiều di tích lịch sử văn hóa gắnliền với đời sống văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu của người Việt TheoDanh Mục tổng hợp kiểm kê di tích năm 2015 của Sở VHTT&DL tỉnh TháiBình thì huyện Quỳnh Phụ có 513 di tích lịch sử văn hóa bước đầu đã đượckiểm kê, trong đó chùa có 160 di tích, đình có 120 di tích, đền có 83 di tích,miếu có 103 di tích, từ đường dòng họ có 37 di tích, lăng tẩm có 04 di tích,điện thờ có 01 di tích, văn chỉ có 01 di tích, đàn thờ có 01 di tích Hiện toànhuyện có 88 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 20 di tích được xếp hạng cấpquốc gia Công tác bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thểcủa địa phương đang được đẩy mạnh, các loại hình lễ hội dân gian, diễnxướng dân gian đã từng bước được khôi phục và phát huy

7.2 Kết quả kiểm kê DSVHPVT ở huyện Quỳnh Phụ

Trong những năm qua các DSVHPVT tiêu biểu ở huyện Quỳnh Phụđang được phục hồi và phát huy mạnh mẽ như lễ hội đền A Sào của xã AnThái, hội đền Lộng Khê của xã An Khê, hội đền Đồng Bằng của xã An Lễ,

Trang 19

hàng năm vẫn được đông đảo cộng đồng nhân dân địa phương tổ chức thườngxuyên Bên cạnh đó nhiều làng nghề truyền thống cũng đang được bảo tồnphát triển như đúc đồng của xã Quỳnh Hoàng, nghề làm bánh đa của xã ĐôngHải, xã An Mỹ, làm nón xã An Hiệp, mây tre đan Quỳnh Bảo; Múa kéo chữphân bố ở trong 07 xã là xã An Thái, xã Quỳnh Hội, xã Quỳnh Trang, xãQuỳnh Minh, xã Quỳnh Thọ, xá Quỳnh Hồng, xã Quỳnh Giao; Pháo đất ở các

xã Quỳnh Minh, xã An Tràng, xã An Quý; Nghệ thuật trình diễn dân gian cómúa bát dật của xã An Khê, hát tuồng, múa đánh gậy, múa đuổi bệt của xã An

Vũ, hát chèo xã Quỳnh Hải, trò sĩ, nông, công, cổ xã Quỳnh Hồng, vật cầu xãQuỳnh Hội, xã Quỳnh Xá; Tri thức dân gian là canh cá thị trấn Quỳnh Côi.Tính đến hết năm 2017 toàn huyện có 03 lễ hội đã được Bộ trưởng Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục VHPVT Quốc gia

Việc kiểm kê Di sản VHPVT đã được triển khai tập trung vào 6 loại hìnhtheo hướng dẫn Số lượng các di sản VHPVT ở huyện Quỳnh Phụ được kiểm kê ở

38 xã/thị trấn, phân loại theo loại hình được thể hiện ở Bảng dưới đây

Bảng: Thống kê loại hình DSVHPVT huyện Quỳnh Phụ năm 2017

TT Xã tháng thị

trấn

Tổng

số DSPVT

Lễ hội truyền thống

Nghệ thuật trình diễn dân gian

Tập quán xã hội

Tri thức dân gian

Nghề thủ công truyền thống

Ngữ văn dân gian

Trang 21

tháng TS % %

Kết quả kiểm kê là các tư liệu mô tả thực trạng DSVHPVT của các xãđược trình bày cụ thể, kết hợp với việc giới thiệu một số thông tin chung vềkết quả xử lý định lượng thông qua các cuộc thảo luận nhóm tại 38 xã thángthị trấn với sự tham gia của những người thực hành di sản thuộc các nhómtuổi khác nhau Qua công tác kiểm kê cho đến hiện nay trên địa bàn toànhuyện Quỳnh Phụ có 38/38 xã/thị trấn có di sản văn hóa phi vật thể với tổng

số 165 DSVHPVT, trong đó lễ lễ hội truyền thống có 119 di sản (chiếm tỉ lệ

72 %), nghề thủ công truyền thống có 14 di sản (chiếm 8,0 %), nghệ thuậttrình diễn dân gian có 22 di sản (chiếm 13 %), tri thức dân gian có 5 di sản(chiếm 3,0 %), tập quán xã hội có 5 di sản (chiếm 3,0 %)

VIII HIỆN TRẠNG DSVHPVT Ở HUYỆN QUỲNH PHỤ

8.1 Lễ hội truyền thống

Hiện nay trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ có 36/39 xã, thị trấn có 119 lễhội truyền thống, trong đó chủ yếu là lễ hội diễn ra trong quy mô của cácthôn/làng do cộng đồng đứng ra tổ chức

1 XÃ ĐÔNG HẢI

- Hội đền Mẫu Đợi

(Thôn Dụ Đại, xã Đông Hải, Huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: ông Nguyễn Văn Soái

Sinh năm: 1968 Dân tộc: kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Dụ Đại, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: ông Phạm văn Thơi

Sinh năm: 1946 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Dụ Đại, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh

Trang 22

Thái Bình

(3) Họ và tên: Nguyễn Duy Dũng

Sinh năm: 1948 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Dụ Đại, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

Nhận diện lễ hội đền Mẫu Đợi:

Hội đền Mẫu Đợi được tổ chức hàng năm, tưởng nhớ Thánh mẫu MaThị Thái, Quý Minh đại vương cùng phối thờ Thông Sưởng đại vương Lễ hộidiễn ra trong 3 ngày từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm Phần

lễ với các nghi thức trang nghiêm do các đội tế nam quan và nữ quan vớitrang phục tế lễ Đoàn tế nam quan có 32 người, và đoàn tế nữ quan có 44người từ 45 cho đến 70 tuổi Người chủ tế là người được chọn với các tiêuchuẩn như có đức độ, có sức khỏe gia đình mẫu mực, con cháu thảo hiền, có

uy tín với dân làng Trước khi vào tế Thánh, đội tế làm lễ tế trình với lễ vật làxôi, gà, thủ lợn, sau đó là lễ dâng hương cáo yết, người chủ tế đọc văn tế vàđiều hành các thành viên trong buổi tế, cuối buổi tế thánh chủ tế đọc vănkhấn kết thúc buổi tế Đội tế gồm nhạc cụ là đàn, nhị, thanh la, mõ, trống,kèn Trang phục tế nam quan gồm áo thụng xanh, khăn, mũ Trang phụ tế nữquan gồm áo dài, khăn xếp, đội sanh tiền mặc áo ngắn chân quấn xà cạp, cácđạo cụ sử dụng trong khi cùng tế có cung, kiếm, thuyền, mái chèo, cờ thần

Phần hội Ban tổ chức tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà, cờtướng, kéo co, đi cầu treo, buổi tối là các đoàn văn nghệ quần chúng của nhândân trong thôn làng biểu diễn

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Lễ hội đền Mẫu Đợi có ý nghĩa đối với đời sống tâm linh và tinh thầncủa nhân dân xã Đông Hải nói riêng cũng như của khách thập phương nóichung Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa thu hút đông đảo quần chúng nhândân tham gia qua đó giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh thần yêu

Trang 23

nước, tưởng nhớ công đức ông cha, ghi nhận công lao của các bậc tiền bốitrong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Tổ chức các trò chơi dângian, trò chơi mới và các hoạt động văn hóa thể thao có nội dung bổ ích lànhmạnh, phù hợp với quy mô tính chất đặc điểm của lễ hội Lễ hội là dịp cộngđồng người dân xã Đông Hải tập trung, cùng nhau tổ chức để tưởng nhớ các vịThánh Mẫu, các Đại Vương đã có công bảo vệ cộng đồng được mùa màng tốttươi Ngày nay, đền Mẫu Đợi, còn là nơi mà người dân đến cầu cúng, thể hiệnước vọng đời sống hàng ngày và những khát vọng có một cuộc sống đầy đủ,

ấm no Lễ hội còn là dịp để bà con, cộng đồng cùng nhau hòa vào trong khôngkhí chung của ngày hội, dâng lễ, và tế các vị thần bảo trợ cho cộng đồng

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Công tác tổ chức lễ hội được sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể

từ Ủy ban nhân dân xã, Ban công tác mặt trận xã tháng thôn, hội phụ nữ, đoànthanh, thiếu niên, hội cựu chiến binh và toàn thể nhân dân trong xã cùng thamgia Bên cạnh đó con em xa quê và khách thập phương tham gia công đức tiềnvàng, hiện vật để tôn tạo trùng tu di tích và bảo tồn lễ hội Để bảo tồn và pháthuy lễ hội đền Mẫu Đợi chính quyền địa phương luôn duy trì mỗi thôn làng

có một Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa và một Ban chủ nhiệm câu lạc bộvăn hóa văn nghệ, nhằm duy trì, bảo tồn, và phát huy những giá trị văn hóaphi vật thể của quê hương

Cồng đồng làng xã chính là hạt nhân tham gia thực hành và bảo vệ disản lễ hội từ hàng trăm năm nay Họ là những người trực tiếp tham gia vàoban tế, vào Ban quản lý di tích, vào các vai trong lễ hội, đồng thời họ cũng đãcùng nhau đóng góp tôn tạo di tích Đồng thời, những người đi trước nhiệttình hướng dẫn cho lớp trẻ cách thức hành hội

Chính quyền địa phương xã Đông Hải đã quan tâm, tạo mọi điều kiệncho nhân dân tổ chức hội

Một trong những biện pháp cơ bản hiện nay là khuyến khích thế hệ trẻ

Trang 24

tham gia vào các nhóm, các ban tổ chức

- Hội đền Quan Đệ Nhị

(Thôn Lệ Bảo, xã Đông Hải, Huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: ông Nguyễn Quang Lực

Sinh năm: 1975 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Đồng Kỷ, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: ông Trần Duy Vân

Sinh năm: 1956 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Lệ Bảo, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: ông Phạm Thế Điệt

Sinh năm: 1928 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Lệ Bảo, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

Nhận diện Hội đền Quan Đệ Nhị

Đền thờ Quan Đệ Nhị Long Vương là di tích liên quan đến cuộckháng chiến chống quân Nguyên tại sông Bạch Đằng thời nhà Trần thuộcquần thể di tích đền Đồng Bằng Đền được xây dựng trên một khuôn viênđất đẹp, bề thế, trước mặt là con sông Diêm Hộ chảy qua Ngôi đền ngàynay vẫn giữ được những nét cổ kính trong kiến trúc hoa văn mền mại mangđậm nét văn hóa tâm linh của người Việt Năm 2017, đền Quan Đệ Nhị thôn

Lệ Bảo, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ được Ủy ban nhân dân Tỉnh TháiBình công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 2374/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10

Trang 25

Lễ hội diễn ra trong 3 ngày từ ngày 18 đến ngày 21 tháng 8 âm lịchhàng năm với các nghi thức tế lễ trang nghiêm của các đoàn tế nam quan, nữquan, lễ vật là những sản phẩm được chế biến từ nông sản mang đậm bản sắc

ẩm thực của vùng quê để dâng lên lễ Thánh

Trong phần hội có tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà, cờ tướng,kéo co, đi cầu treo, buổi tối là các đoàn văn nghệ của nhân dân trong làngbiểu diễn

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Lễ hội đền Quan Đệ Nhị có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống tâmlinh và tinh thần của nhân dân xã Đông Hải nói riêng cũng như của kháchthập phương nói chung Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa thu hút đông đảoquần chúng nhân dân tham gia Lễ hội như là sợi dây kết nối tình làng, nghĩaxóm Mọi người đến với lễ hội đều mong muốn những điều tốt đẹp nhất đếnvới mình, với gia đình và hàng xóm

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Hàng năm UBND xã Đông Hải đứng ra tổ chức lễ hội như thành lậpBan Tổ chức, Ban Khánh tiết, Ban Hậu cần, đảm bảo an ninh trật tự trong quátrình diễn ra lễ hội Kinh phí tổ chức lễ hội chủ yếu là của nhân dân trong xã,con em xa quê đóng góp công đức để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội

Để bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống của xóm làng xã Đông Hảiduy thành lập mỗi thôn làng có một Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa vàmột Ban chủ nhiệm câu lạc bộ văn hóa văn nghệ nhằm duy trì, bảo tồn vàphát huy những giá trị văn hóa của quê hương

Được sự động viên của gia đình, đoàn thể những thành viên trẻ trongcộng đồng đã tích cực tham gia tổ chức hội và các trò chơi dân gian trongngày lễ hội cũng như các hoạt động của CLB tại thôn

- Hội đền Mẫu Thoải

(Thôn Đồng Kỷ, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Trang 26

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Hữu Bằng

Sinh năm: 1945 Dân tộc: Kinh

Nhận diện Hội đền Mẫu Thoải

Tương truyền đền Mẫu Thoải được xây dựng từ thời Lê, thờ Thánhmẫu Hồ Ngọc Lâu và Thủy Tiên công chúa, ngôi đền cũ đã bị phá hủy trongthời kỳ chiến tranh Năm 2009, nhân dân địa phương đã đóng góp kinh phí đểxây dựng lại ngôi đền như ngày hôm nay

Hàng năm hội đền Mẫu Thoải diễn ra trong 3 ngày từ ngày 12 đến ngày

16 tháng 8 âm lịch với nhiều nghi thức diễn ra như lễ dâng hương, lễ tế namquan, lễ tế nữ quan Trong quá trình tế thánh đoàn tế nữ quan còn mùa biểudiễn những làn điệu chèo, dân ca quan họ, thơ ca ngợi công lao của các vịThánh Mẫu Trong những ngày diễn ra lễ hội BTC tổ chức các trò chơi dângian như chọi gà, cờ tướng, kéo co, đi cầu treo, buổi tối nhân dân trong làng

tổ chức giao lưu văn nghệ quần chúng

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Hàng năm hội đền Mẫu Thoải được tổ chức nhằm giáo dục truyềnthống văn hóa của địa phương đối với nhân dân và du khách thập phương.Trong dịp lễ hội nhân dân và quý khách thập phương về dâng hương bái yếtThánh mẫu, cầu xin đức thánh ban cho một năm mưa thuận gió hòa, mùamàng bội thu

Trang 27

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Hội đền Mẫu Thoải hàng năm được tổ chức trang trọng theo Quyếtđịnh số 17/2012/QĐUB-UBND ngày 20 tháng 11 năm 2012 của UBND tỉnhThái Bình về thực hiện nếp sống văn hóa trên địa bàn tỉnh BTC lễ hội củathôn thực hiện nghiêm túc các quy định của Ủy ban nhân dân xã Đông Hải về

tổ chức lễ hội truyền thống hàng năm trên địa bàn xã như nghiêm cấm cáchành vi mê tín dị đoan và truyền bá các tà đạo, tạp giáo trong lễ hội

- Kinh phí tổ chức lễ hội hàng năm được xã hội hóa do toàn thể nhândân, con em xa quê và khách thập phương tham gia công đức, đóng góp để

tổ chức lễ hội

- Hội đền Mẫu Thượng

(Thôn An Vị, xã Đông Hải, Huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Doãn La

Sinh năm: 1956 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Vị, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh TháiBình

(2) Họ và tên: Nguyễn Quang Đáp

Sinh năm: 1932 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Vị, xã Đông Hải, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh TháiBình

(3) Họ và tên: Nguyễn Duy Kính

Sinh năm: 1954 Dân tộc: Kinh

Trang 28

Đền Mẫu Thượng được xây dựng thời nhà Nguyễn thờ Thánh mẫu LiễuHạnh là một trong bốn vị Thánh Tứ bất tử của người Việt Bà còn được cho làngười đứng đầu trong hệ thống Tam phủ, Tứ phủ của đạo Mẫu, hiện nay nhiềulàng xã và các đô thị ở phía Bắc Việt Nam đều có đền thờ bà.

Lễ hội truyền thống đền Mẫu Thượng trước kia tổ chức ngày mừng 3đến ngày 5 tháng 3 âm lịch và ngày 16 đến ngày 24 tháng 8 âm lịch hàngnăm Ngày nay chỉ tổ chức vào dịp 19 đến ngày 21 tháng 8 âm lịch hàngnăm Trong ngày lễ hội dân làng làm lễ dâng hương, tế nam quan và tế nữquan Ngoài ra Ban tổ chức còn tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà,

cờ tướng, kéo co

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Tổ chức lễ hội đền Mẫu Thượng là dịp để cộng đồng địa phương tưởngnhớ các vị Thánh Mẫu, người bảo trợ cho cộng đồng Thờ Mẫu cũng là dịp đểtôn vinh người phụ nữ, tình thương và lòng bao dung Lễ hội cũng là dịp đểkhuyến khích các hoạt động giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ghinhận công lao của các Thánh Mẫu trong việc bảo trợ cho cộng đồng

Các hình thức trò chơi dân gian, trò chơi mới và các hoạt động văn hóathể thao được tổ chức, là dịp để cộng đồng tham gia vui hội, tạo không khíđoàn kết và kết nối các thành viên cộng đồng

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Hàng năm lễ hội vẫn được duy trì và thực hành thường xuyên bằngnguồn kinh phí xã hội hóa của toàn thể nhân dân thôn An Vị và con em xaquê, khách thập phương tham gia công đức

- Nhân dân thôn An Vị kiến nghị, đề xuất một số biện pháp để phát huyđược di sản hội đền Mẫu Thượng như sau:

- Nhà nước cần hỗ trợ chi trả một phần kinh phí cho người trực tiếptham gia quản lý di tích để họ điều kiện làm công việc của mình tốt nhất

- Lễ hội phải được tổ chức trang trọng, phù hợp với truyền thống văn

Trang 29

hóa của thôn làng trong khu vực lễ hội cờ Tổ quốc phải được treo ở nơi trangtrọng và cao hơn cờ hội, cờ tôn giáo; chỉ được treo cờ hội, cờ tôn giáo tại địađiểm tổ chức lễ hội.

- Những người tham gia lễ hội phải thực hiện đúng nội quy, quy địnhcủa BTC lễ hội; ăn mặc trang phục lịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục;ứng xử có văn hóa; bỏ rác vào nơi quy định, giữ gìn vệ sinh môi trường;không nói tục, xúc phạm tâm linh và ảnh hưởng xấu tới không khí trangnghiêm của lễ hội, bảo đảm trật tự an ninh; không đốt pháo, đốt thả đèn trời;thắp hương theo quy định của ban tổ chức

2 XÃ QUỲNH TRANG

- Hội đình Vĩnh Phúc

(Thôn Khang Ninh, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Đinh Văn Tuynh

Sinh năm: 1964 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Phó chủ tịch UBND - Trưởng ban QLDT

Địa chỉ liên lạc:UBND xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.(2) Họ và tên: Dương Công Nghiệp

Sinh năm: 1949 Dân tộc: Kinh

Trang 30

Thánh ra lão tuổi 60 Dân làng làm lễ cầu an đầu năm cho quốc thái dân an

và lễ tiễn thuyền

Lễ hội tháng Tám dân làng tổ chức tế lễ nhập tịch vào ngày mồng 10, tế

lễ trừ hại ngày 11 và tế thường vào ngày 12-13 tháng 8 âm lịch

Ban tổ chức lễ hội còn tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà, cờtướng, kéo co, buổi tối là chương trình văn nghệ do dân làng tổ chức

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Lễ hội là dịp cộng đồng thể hiện lòng tri ân đối với vị thánh đã có cônglập nên xóm làng Lễ hội cũng là dịp để người dân báo cáo với vị Thánhnhững công việc của làng như lễ thượng thọ, dâng Thánh sản vật của làng.Đặc biệt, lễ hội cũng là dịp để các thành viên dâng lễ và cầu những điều bình

an, tốt đẹp cho gia đình, cộng đồng

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Toàn thể nhân dân, con em xa quê và khách thập phương tham giacông đức để tổ chức lễ hội

- Đề xuất với nhà nước hỗ trợ kinh phí để tôn tạo, tu sửa di tích

- Đề nghị xếp hạng di tích đình Vĩnh Phúc là di tích lịch sử văn hóa cấpquốc gia loại hình kiến trúc nghệ thuật

- Thành lập 01 tổ bảo vệ di tích đặt dưới sự quản lý trực tiếp củaUBND xã để trực tiếp bảo vệ di tích, đón khách thăm quan

- Thực hiện đúng nội quy, quy định của ban tổ chức lễ hội; trang phụclịch sự, phù hợp với thuần phong mỹ tục; ứng xử có văn hóa; bỏ rác vào nơiquy định, giữ gìn vệ sinh môi trường; không nói tục, xúc phạm tâm linh vàảnh hưởng xấu tới không khí trang nghiêm của lễ hội, bảo đảm trật tự an ninh;không đốt pháo, đốt thả đèn trời

- Thắp hương tế lễ thánh theo quy định của ban tổ chức

- Khuyến khích thế hệ trẻ tham gia vào công tác hành hội

- Những người đi trước truyền dạy lại kinh nghiệm làm lễ vật, tế lễ

Trang 31

- Hội Miếu Cầu

(Thôn Tiên Cầu, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Bùi Văn Đo

Sinh năm: 1964 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Tiên Cầu, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

(2) Họ và tên: Đinh Văn Nhã

Sinh Năm: 1949 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Tiên Cầu, xã Quỳnh Trang, Huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

Nhận diện Hội Miếu Cầu:

Miếu được xây dựng từ thời Nguyễn, đến năm Bảo Đại thứ 15 đượctrùng tu tòa bái đường Năm 1984 xây dựng lại hậu cung Miếu thờ Thànhhoàng làng Đào Văn Xương Hàng năm lễ hội diễn ra vào ngày 4 tháng 1 âmlịch Phần lễ có dâng hương của các gia đình, dòng họ Tế thánh của đội tếnam quan, tế nữ quan của người dân trong làng Phần hội có các trò chơi dângian như cờ tướng, bắt vịt, chọi gà

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Thờ cúng Thành Hoàng làng là một tập tục mang đậm văn hóa làng xãcủa người Việt Nhân dân tổ chức lễ hội để tưởng niệm vị thánh đã bảo trợcho dân làng, cầu cho mùa màng tốt tươi, cho vật thịnh mưa hòa Ngày nay,đại diện ban tế, thay mặt cho dân làng cầu cho cuộc sống an lành, sức khỏe vànhững mong muốn tốt đẹp trong muôn mặt đời thường Lễ hội cũng là dịp đẻcộng đồng kết nối, cùng nhau tổ chức các hoạt động tưởng niệm vị thần bảotrợ, làm lễ vật, tổ chức lễ rước Lễ hội cũng là dịp để họ cùng nhau vui chơi,giải trí với các trò chơi dân gian mà chỉ tổ chức trong dịp hội

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát

Trang 32

huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Lễ hội hiện nay được toàn thể nhân dân, con em xa quê và khách thậpphương tham gia công đức hiện vật để tôn tạo trùng tu di tích và bảo tồn, tổchức lễ hội thường xuyên

- Nhân dân và du khách thập phương thực hiện đúng nội quy, quy địnhcủa ban tổ chức lễ hội; Ăn mặc trang phục lịch sự, phù hợp với thuần phong

mỹ tục; ứng xử có văn hóa; bỏ rác vào nơi quy định, giữ gìn vệ sinh môitrường; không nói tục, xúc phạm tâm linh và ảnh hưởng xấu tới không khítrang nghiêm của lễ hội, bảo đảm trật tự an ninh; không đốt pháo, đốt thả đèntrời, thắp hương theo quy định của ban tổ chức

- Bên cạnh đó, việc tuyên truyền về lễ hội, việc khuyến khích lớp trẻtham gia tổ chức và hành hội được lãnh đạo xã quan tâm

- Hội miếu Đông

(Thôn A Mễ, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Bùi Văn Nhẫn

Sinh năm: 1932 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn A Mễ, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: Nguyễn Thị Trâm

Chức vụ: công chức Văn hóa TT

Đơn vị công tác: UBND xã Quỳnh Trang

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng VH - XH

Địa chỉ liên lạc:UBND xã Quỳnh Trang, Quỳnh Phụ, Thái Bình

Nhận diện Hội Miếu Đông:

Miếu Đông thờ Linh Quang đại vương là vị tướng có công giúp vuaTrần canh giữ kho lương và bảo vệ cánh phía Đông của trại A Côi trongcuộc chiến tranh chống giặc Nguyên - Mông Vì có công phò vua giúp dân

Trang 33

nên sau khi ông mất nhân dân thôn A Mễ đã lập đền thờ và tôn ông làmThành hoàng làng

Hội miếu Đông hàng năm được tổ chức từ ngày mồng 10 đến ngày

13 tháng 8 âm lịch Nghi thức chính trong ngày lễ hội là nghi thức dânghương của chính quyền và nhân dân trong thôn, sau đó đến lễ tế nam quan

và tế nữ quan của dân trong làng Mỗi đội tế nam quan và nữ quan củalàng có từ 15 đến 20 người khỏe mạnh, gia đình con cháu hòa thuận thìđược tham gia vào đội tế

Trong ngày hội BTC tổ chức các trò chơi dân gian như cờ tướng, chọi

gà, kéo co, bắt vịt cho toàn thể nhân dân và du khách tham gian

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Hội miếu Đông gắn với các di tích thời nhà Trần đã trở thành một điểmtín ngưỡng tâm linh của người dân thôn A Mễ nói riêng, người dân xã QuỳnhTrang nói chung Nên trong những ngày hội là lúc nhân dân địa phương tỏlòng thành kính đối với đức Thành hoàng làng và những vị tướng có công vớidân với nước Được hòa mình vào trong không khí của lễ hội người dân đượcthỏa mãn đời sống tâm linh, được cầu mong các đấng thần linh phù hộ chechở cho họ có được cuộc sống an lành, công việc làm ăn buôn bán được thuậnbuồm xuôi gió

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Hiện nay, lễ hội được UBND xã Quỳnh Trang chỉ đạo, nhân dân thôn A

Mễ đã khuyến khích lớp trẻ tham gia hành hội và lễ rước Trong ngày lễ hộicon em xa quê và khách thập đã hảo tâm công đức, ủng hộ tiền của để tổ chức

lễ hội hàng năm Người dân trong thôn tự nguyện tham gia các hoạt động

trong lễ hội như đám rước thánh, đội tế và trò chơi

Để đảm bảo an ninh trật tự trong quá trình diễn ra lễ hội UBND xã QuỳnhTrang cũng đã đứng ra thành lập Ban Tổ chức, Ban Khánh tiết, Ban Hậu cần đểđiều hành và hực hiện đúng nội quy, quy định của ban tổ chức lễ hội

Trang 34

- Hội miếu A Mễ

(Thôn A Mễ, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Bùi Văn Nhẫn

Sinh năm: 1932 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn A Mễ, xã Quỳnh Trang, Huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: Nguyễn Thị Trâm

Chức vụ: công chức Văn hóa TT

Đơn vị công tác: UBND xã Quỳnh Trang

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng VH - XH

Địa chỉ liên lạc:UBND xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Nhận diện Hội Miếu A Mễ:

Miếu A Mễ thờ hai vị Thành Hoàng làng là Nguyễn Tân Công và BùiQuốc Hưng đã có công khai lập nên làng A Cảo và có công giúp vua Trầnđánh giặc cứu nước, dân làng nhớ công ơn hai vị đã tôn làm thành hoàng vàthờ phụng tại miếu A Mễ Tương truyền Thái phó Bùi Quốc Hưng là côngthần khai quốc của nhà Lê về A Mễ kêu gọi cư dân phiêu bạt hồi cư và cấplương thảo cho họ sinh sống khôi phục sản xuất

Trước đây tại miếu A Mễ có lễ hội xuống đồng tổ chức ngày mồng 1tháng 6 âm lịch hàng năm trình tự như sau: Sau khi tế lễ xong, ông chủ tế mặcnguyên áo tế ra đồng, mặc thêm áo tơi và nón lá Ở giữa ruộng có cắm câynêu, ông chủ tế xuống ruộng có cây nêu cắm cấy 4 cây lúa và 1 cây khoaixung quanh cây nêu, dân làng đứng xung quanh té nước vào ông chủ tế LễXuống đồng biểu hiện mưa gió thuận hòa cầu cho vụ mùa bội thu Ruộng nàygiao cho ông chủ tế trông nom thu hoạch, lúc chín gặt về phơi già, giã gạo nấucơm đem ra miếu Ông chủ tế và ông trùm của 5 giáp cúng cơm mới tại miếuviệc cúng cơm mới thể hiện lòng thành của dân làng đới với công lai của các

Trang 35

vị thành hoang đã có công khoa hoang hóa để dân có ruộng cấy lúa, có thócgạo, có bát ăn bát để luôn nhớ công ơn của người.

Ngày nay lễ hội miếu A Mễ được tổ chức 2 kỳ trong năm từ ngày 13đến ngày 15 tháng 7 âm lịch là ngày giỗ của thần hoàng Bùi Quốc Hưng vàngày 13 đến ngày 15 tháng 11 âm lịch là ngày giỗ của vị thần hoàng NguyễnTân Công đại vương

Trong ngày lễ hội có nghi thức rước Thánh từ Miếu ra đồng Tân Côngsau đó vòng về xóm Đoài rồi trở về miếu làm lễ dâng hương Sau đó là lễ tếnam quan và nữ quan của các cụ ông, cụ bà trong làng

Phần hội là các trò chơi dân gian như chọi gà, đi cầu kiều, múa kéo chữ

“Thiên hạ thái bình”

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Hội miếu A Mễ là món ăn tinh thần đối với đời sống của cộng đồngnhân dân thôn A Mễ, đây là một chốn linh thiêng thờ đấng Thánh tối linh đã

có công giúp dân làng có cơm no, áo ấm Ngày hội là ngày nhân dân tỏ lòngthành kính đối với Thánh, tưởng nhớ công lao của Nguyễn Tân Công và TháiPhó Bùi Quốc Hưng, cầu mong các đấng thần linh phù hộ che chở cho họtrong đời sống thường ngày, cũng như trong công việc làm ăn buôn bán Lễhội hàng năm được toàn thể nhân dân thôn A Mễ và dân cư trong xã, con em

xa quê và khách thập phương thực hành thường xuyên

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Người dân thôn A Mễ xã Quỳnh Trang đã tự nguyện tham gia các hoạtđộng, tế lễ, góp tiền mua đồ vật để dâng lên đức thánh

- Hội được sự quan tâm của Phòng VHTT huyện của lãnh đạo UBND

xã quan tâm hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự, trông xe

- Để đảm bảo an ninh trật tự trong quá trình diễn ra lễ hội UBND xãQuỳnh Trang đứng ra thành lập Ban Tổ chức, Ban Khánh tiết, Ban Hậu cần đểđiều hành và hực hiện đúng nội quy, quy định của ban tổ chức lễ hội Hình

Trang 36

thức tổ chức lễ hội chặt chẽ có sự tham gia của cộng đồng và các ban ngànhliên quan

- Hội đền Kênh Hoàng

(Thôn Tiên Cầu, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Bùi Văn Đo

Sinh năm: 1964 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Tiên Cầu, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

(2) Họ và tên: Đinh Văn Nhã

Sinh năm: 1949 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Tiên Cầu, xã Quỳnh Trang, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

(3) Họ và tên: Nguyễn Thị Trâm

Chức vụ: công chức Văn hóa TT

Đơn vị công tác: UBND xã Quỳnh Trang

Trình độ chuyên môn: Cao đẳng VH - XH

Địa chỉ liên lạc:UBND xã Quỳnh Trang, Quỳnh Phụ, Thái Bình

Nhận diện Hội đền Kênh Hoàng:

Đền Kênh Hoàng được dựng vào thời Nguyễn, thờ Hoàng Giang Bích

Ba đại vương Theo truyền thuyết kể lại rằng vào đời Lý ở làng Ngọc ChiQuỳnh Bảo có một gia đình ông bà Cao Văn Khương lấy nhau đã lâu khôngsinh được con cái Hàng ngày ông bà cầu khấn để có con Bỗng một hôm bànhìn thấy mình khác thường và 9 tháng sau bà sinh ra một cái bọc to Khi táchbọc ra có ba con rắn trắng ông Khương cầm cái thuổng chặt đứt đuôi một consau đêm hôm sau 3 con rắn biến mất nhân dân gọi đó là ba con Hoàng Xà.Cũng trong năm ấy giặc ngoại xâm đến xâm lược chúng chiếm đóng ở thành

Trang 37

Nam Định vua Lý Phật Tử cử tướng Lý Giã Nam giúp dân dẹp giặc khi đi đếnkhúc đê đầu làng Ngọc Chi thấy có ông Hoàng Xà nằm vắt ngang đê Đêmhôm đó đang ngủ Lý Giã Nam thấy có người tướng mạo phi thường về báomộng và nói “ta không phải người thường mà ta xuống để giúp vua dẹp giặcđồng thời cứu dân độ thế nhưng nhà ngươi phải xuất quân vào cuối giờ Thìn,đầu giờ Tỵ ngày mai mới thắng giặc Lý Giã Nam tâu lên nhà và cùng xuấtquân đúng vào giờ thìn đầu giờ tỵ đạo quân đã đánh tan quân xâm lược trở về.Khi lên báo công với vua cho đây là ân thần đồng thời cho quân và nhân dân

ở đây lập đền thờ vị thánh đó và vua đặt cho bốn chữ “Kênh Hoàng Linh Từ”

và phong Thần cho là Bích Ba đại vương Từ đấy về sau nhân dân thôn TiênCầu hàng năm mở hội dâng hương tế thánh

Hàng năm lễ hội được tổ chức từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 7 âm lịch.Các hoạt động lễ hội diễn ra phong phú với các nghi thức dâng hương, tế lễcủa đội tế nam quan và đội tế nữ quan trong làng Ngoài ra Ban tổ chức còn tổchức các trò chơi dân gian như chọi gà, đi cầu kiều, bắt vịt, cờ tướng

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Đền Kênh Hoàng là một chốn linh thiêng thờ đấng Thánh tối linh đã cócông đánh giặc, giúp dân làng có cơm no, áo ấm Ngày hội là ngày nhân dân

tỏ lòng thành kính đối với Thánh Cầu mong các đấng thần linh phù hộ chechở cho họ trong đời sống thường ngày, cũng như trong công việc làm ănbuôn bán

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Cộng đồng tích cực tham gia tổ chức hội, tham gia các lễ tế, lễ rước

và các trò chơi dân gian

- Chính quyền quan tâm chỉ đạo và tạo mọi điều kiện để người dântham gia thực hành hội UBND xã Quỳnh Trang đứng ra thành lập Ban Tổchức, Ban Khánh tiết, Ban Hậu cần với sự tham gia nhiệt tình của các thànhviên trong cộng đồng

Trang 38

- Ban quản lý di tích đền Kênh Hoàng đề nghị nhà nước hỗ trợ kinh phícho việc trùng tu tôn tạo cũng như tổ chức lễ hội hàng năm.

3 XÃ QUỲNH BẢO

- Hội chùa Long Đài

(Thôn Nam Đài, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Thích Diệu Mai

Sinh năm: 1986 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Trụ trì chùa

Địa chỉ liên lạc:Chùa Long Đài, thôn Nam Đài, xã Quỳnh Bảo, huyệnQuỳnh Phụ

(2) Họ và tên: Vũ Văn Toàn

Sinh năm: 1954 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Nam Đài, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: Nguyễn Thị Gấm

Sinh năm: 1976 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Kinh doanh

Địa chỉ liên lạc: Thôn Đông Hồng, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

Nhận diện hội chùa Long Đài:

Chùa Long Đài xây dựng dưới thời nhà Nguyễn đã được tu sửa vào cácnăm 1950, 1980, 1990 Chùa cũng là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quantrọng của địa phương

Hàng năm hội chùa Long Đài được tổ chức từ ngày 18 đến ngày 19tháng 2 âm lịch Trong ngày lễ hội dân làng tổ chức lễ rước phật xuất phát từchùa đi theo trục đường chính ra đến cầu đá giáp thôn Hải An của xã QuỳnhNguyên rồi lại quay trở về chùa an tọa Đi đầu là đội cờ tiếp đó là đội bát âm

Trang 39

nhã nhạc, lọng, bát bửu, chấp kích, kiệu phật, tiếp theo đến đoàn tế và các tổchức đoàn thể nhân dân, nam phụ, lão, ấu trong làng Số lượng người thực hànhđoàn rước gồm đội cờ gồm 20 người, đội bát âm 10 người, bát bửu, chấp kích,kiệu 10 người, 02 đội tế 50 người, các tổ chức các đoàn thể nhân dân 3 thôn.

Trong ngày hội chùa các đoàn tế của làng cũng thực hành các nghi thức

tế lễ với các bước từ quán tẩy, củ soát lễ vật, dâng hương, hoa, trà, quả, thực,đọc chúc và cuối cùng là bái tạ Lễ vật gồm hương, hoa, quả, xôi, trầu, rượu.Buổi tối có các hoạt động văn nghệ quần chúng của người dân địa phươngnhư hát chèo

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Hội chùa Long đài được mở ra hàng năm đã tạo nên không khi vui tươi,phấn khởi cố kết cộng đồng làng xã Người dân thôn Nam Đài khi tham gia lễhội vừa được thỏa mãn đời sống tâm linh vừa được hòa mình sống trongkhông khí của ngày hội;

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Lễ hội chùa Long Đài đã được các cấp, các ngành, các đoàn thể địaphương như UBND xã, Mặt trận tổ quốc xã, Hội phụ nữ xã, Hội nông dân,Đoàn thanh niên và nhân dân thôn Nam Đài và dân cư trong xã, con em xaquê và khách thập phương tham gia hưởng ứng

Hàng năm cùng với Nhà chùa, Ban khánh tiết, Ban bảo vệ di tích đượckiện toàn, tìm hiểu, sưu tầm về lễ hội, cũng như vận động các lực lượng thamgia lễ hội và giữ gìn văn hóa truyền thống của địa phương

Được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, các cấp các ngành nên lễ hộichùa Long Đài được thực hiện đúng nội quy, quy định của ban tổ chức lễ hội,đảm bảo an ninh trật tự trong quá trình diễn ra lễ hội

- Hội đình làng Ngọc Chi

(Thôn Ngọc Chi, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Thị Khang

Trang 40

Sinh năm: 1952 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Ngọc Chi, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

(2) Họ và tên: Nguyễn Công Toan

Sinh năm: 1951 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Ngọc Chi, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

(3) Họ và tên: Phạm Văn Tựa

Sinh năm: 1950 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Nghỉ hưu

Địa chỉ liên lạc: Thôn Ngọc Chi, xã Quỳnh Bảo, huyện Quỳnh Phụ,tỉnh Thái Bình

Nhận diện Hội đình làng Ngọc Chi:

Đình thờ 03 vị thần bản cảnh thành hoàng là Lôi Động thần tướng, TrầnTôn, Bích Ba thần vũ Lễ hội hàng năm tổ chức từ ngày mồng 8 đến ngàymồng 9 tháng 8 âm lịch Với các nghi thức chính như rước nước, đọc chúcvăn, kiệu thánh gồm đội cờ, tiếp theo là bát âm, nhã nhạc, chấp kích, kiệuthánh cùng là các tổ chức đoàn thể và toàn thể bà con nhân dân con em quêhương và khách thập phương

Lễ rước nước lấy nước từ sông Kênh Hoàng đi qua ngã ba đường làng

đi theo đường chính về đình Sau đó, các đội hình lễ tế nam quan, tế nữ quancủa làng và của các xã lân cận tiến hành nghi lễ lên vị thành hoàng Ngườitham gia đội tế phải là người có gia đình phụ mẫu song toàn tử tôn đầy đủ Lễvật dâng thánh gồm xôi, thịt, trầu, cau, rượu, hương đăng Trong những ngàydiễn ra lễ hội còn tổ chức các trò chơi dân gian như đi cầu kiều, bịt mắt, bắtvịt, cờ tướng, kéo co

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Ngày đăng: 03/04/2021, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w