1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO KIỂM KÊ KHOA HỌC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ HUYỆN THÁI THỤY

215 183 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trong quá trình tiến hành điều tra trực tiếp tại các địa phương, chúngtôi nhận thấy, rất nhiều DSVHPVT đã bị mai một như nghề rèn ở thôn CaoDương, nghề trồng mía ở thôn Thu Cúc xã Thụy

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

BÁO CÁO KIỂM KÊ KHOA HỌC

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ HUYỆN THÁI THỤY

Năm 2017

Trang 2

5 DSVHPVT : Di sản văn hóa phi vật thể

6 DSVHQG : Di sản văn hóa quốc gia

9 HĐND : Hội đồng nhân dân

11 MTTQVN : Mặt trận tổ quốc Việt Nam

12 SVHTT&DL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

16 UBND : Ủy ban nhân dân

17 UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và

Văn hóa của Liên hợp quốc

18 VHTT : Văn hóa, Thông tin

19 VHTT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch

20 VHNT : Văn hóa Nghệ thuật

MỤC LỤC

Trang 3

I THỜI GIAN THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM KÊ KHOA HỌC 1

II MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KIỂM KÊ KHOA HỌC DSVHPVT 1

2.1 Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam 1

2.2 Mục đích kiểm kê DSVHPVT trên địa bàn huyện Thái Thụy 4

III QUY ĐỊNH VỀ NHẬN DIỆN DSVHPVT Ở HUYỆN THÁI THỤY 4

3.1 Tiêu chí nhân diện di sản văn hóa phi vật thể 4

3.2 Tiêu chí về người nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể 5

3.3 Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể 5

IV QUY TRÌNH KIỂM KÊ DSVHPVT Ở HUYỆN THÁI THỤY 7

4.1 Quy trình tổ chức kiểm kê DSVHPVT 7

4.2 Nguyên tắc kiểm kê 8

4.3 Hướng dẫn điền thông tin vào phiếu kiểm kê 8

V PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG KIỂM KÊ KHOA HỌC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 9

VI MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG CÔNG TÁC KIỂM KÊ DSVHPVT Ở HUYỆN THÁI THỤY 12

VII KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KIỂM KÊ DSVHPVT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÁI THỤY 15

7.1 Về địa bàn bàn kiểm kê DSVHPVT 15

7.2 Kết quả kiểm kê DSVHPVT của huyện Thái Thụy 17

VIII HIỆN TRẠNG DSVHPVT Ở HUYỆN THÁI THỤY 20

8.1 Lễ hội truyền thống 20

8.2 Nghề thủ công truyền thống 180

8.3 Nghệ Thuật trình diễn dân gian 207

IX TỔNG KẾT VẤN ĐỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY DSVHPVT 210

Trang 4

I THỜI GIAN THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM KÊ KHOA HỌC

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình (VHTT&DL), PhòngVăn hóa Thông Tin huyện Thái Thụy (VHTT) tiến hành mở lớp tập huấnkiểm kê dựa vào cộng đồng cho các cán bộ công chức văn hóa các xã/thị trấn

từ ngày mồng 3 đến ngày 4 tháng 11 năm 2017

Từ ngày mồng 6 đến ngày 30 tháng 11 năm 2017, nhóm kiểm kêđược chia làm 05 nhóm gồm chuyên viên Sở VHTT&DL, Phòng VHTThuyện, cán bộ công chức các xã có Di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT)tiến hành công tác kiểm kê Di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn các xãcủa huyện Thái Thụy

II MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KIỂM KÊ KHOA HỌC DSVHPVT

2.1 Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, công tác bảo tồn và phát huy giátrị của di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đã được Bộ Văn hóa khi đó và Tyvăn hóa (sau này đổi thành Sở văn hóa) các địa phương quan tâm thực hiệntheo những nhu cầu và mục đích khác nhau, đặc biệt là nhiệm vụ kiểm kê các

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnhbước đầu được triển khai thực hiện Công tác kiểm kê di sản được dần dầnhoàn thiện, đầy đủ và khoa học hơn từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước 2003của UNESCO vào năm 2005 Theo Công ước này, các quốc gia thành viên bắtbuộc phải thực hiện kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên toàn quốc gia vàthành lập danh mục kiểm kê quốc gia Các yêu cầu, nội dung về kiểm kê di sảnvăn hóa theo quy định của UNESCO đã được nhận thức và triển khai trongthực tiễn Luật DSVH (2001, sửa đổi và bổ sung 2009) cũng được cập nhận vàchú trọng đến công tác kiểm kê Do vậy, ngày nay công tác kiểm kê là mộtnhiệm vụ bắt buộc của các Sở VHTTDL thực hiện trong cộng đồng các dântộc, theo các đơn vị hành chính huyện, xã, thôn ở trong tỉnh

Triển khai Luật di sản văn hóa, các cơ quan quản lý văn hóa từ Trungương đến cấp tỉnh và huyện đã bước đầu xác định được chiến lược và các

Trang 5

hình thức triển khai công việc kiểm kê di sản văn hóa vật thể trên địa bàn.Nhiệm vụ này đã được thực hiện với sự hợp tác giữa cộng đồng, các cơ quanquản lý văn hóa, các cơ quan nghiên cứu và các tổ chức xã hội Đặc biệt, sựtham gia kiểm kê của cộng đồng được thúc đẩy và là một trong những nguyêntắc kiểm kê di sản với sự tham gia ý kiến, sự đồng thuận và cùng thực hiện.

Với chức năng quản lý văn hóa nhà nước, Cục Di sản Văn hóa đã tổ chứcphổ biến và tập huấn Thông tư số 04/2010/TT- BVHTTDL của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch quy định về việc kiểm kê và lập hồ sơ khoa học Di sản vănhóa phi vật thể để đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia chotoàn ngành văn hóa trong cả nước Tính đến tháng 12 năm 2017, sau 07 nămtriển khai thực hiện Thông tư số 04/2010/TT- BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có gần 100 ngàn di sản văn hóa phi vật thể

của 62/63 tỉnh thành/phố được kiểm kê và đó là cơ sở để các cấp có thẩm quyềnxét duyệt, tôn vinh các di sản có giá trị, theo các cấp quốc gia và cấp tỉnh (địaphương) Tính đến tháng 09 năm 2017 đã có hơn 200 hồ sơ khoa học Di sản vănhóa phi vật thể được công nhận trong Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốcgia

Thông tư số 04/ 2010/TT- BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch quy định một số nội dung cơ bản của công tác kiểm kê bao gồm kháiniệm và tiêu chí cũng như thiết lập phương pháp luận để nhận diện và kiểm

kê, phục vụ các hồ sơ ứng cử các chức danh khác nhau Quá trình tiến hànhkiểm kê di sản, hiện nay, tại hầu khắp các địa phương đã có kế hoạch mở rộng

sự cộng tác giữa cán bộ và cộng đồng địa phương với các nhóm nghiên cứu,các nhà quản lý văn hóa các cấp, đem lại hiệu quả khoa học và đáp ứng nhucầu thực tiễn đặt ra Hiện tại, các cơ quan quản lý văn hóa, nghiên cứu vănhóa như Cục Di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam đã

và đang hợp tác với các địa phương tiến hành công tác kiểm kê theo quy địnhcủa UNESCO Đặc biệt, công tác kiểm kê đã bước đầu được hoàn thiện với sựtham gia tích cực của cộng đồng trong hầu kết các khâu, từ việc tham gia thảo

Trang 6

luận trong các buổi tập huấn về nhận diện, về phân loại di sản, về các biện phápbảo vệ di sản

2.2 Mục đích kiểm kê DSVHPVT trên địa bàn huyện Thái Thụy

- Khảo sát và đánh giá thực trạng của các Di sản văn hóa phi vật trênđịa bàn các thôn tháng làng của các xã trong phạm vi huyện Thái Thụy

- Bước đầu, tập hợp một cách có hệ thống những di sản cụ thể do cộngđồng thực hành trên địa bàn

- Các di sản được kiểm kê đảm bảo có đầy đủ thông tin về nhận diện, ýnghĩa, chức năng của di sản, về thực trạng, bối cảnh thực hành, số lượng nghệnhân, biện pháp bảo vệ di sản

- Đề xuất kế hoạch, biện pháp tiếp tục triển khai hoạt động sưu tầm, bảotồn, khai thác giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Thái Thụy

III QUY ĐỊNH VỀ NHẬN DIỆN DSVHPVT Ở HUYỆN THÁI THỤY

3.1 Tiêu chí nhân diện di sản văn hóa phi vật thể

- Phải là di sản đang tồn tại, đang sống trong cộng đồng vẫn được cộngđồng thực hành thường xuyên

- Được cộng đồng sáng tạo, duy trì và chuyển giao từ đời này sang đời khác

- Được cộng đồng xem là một phần quan trọng trong đời sống, tạo nênbản sắc của họ

- Di sản phản ánh sự đa dạng văn hóa và tôn trọng lẫn nhau giữa cáccộng đồng và nhóm người

3.2 Tiêu chí về người nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể

- Là người am hiểu, có kỹ năng, kỹ thuật, bí quyết nổi bật

- Là người có thâm niên trong thực hành di sản

- Là người tham gia tổ chức, hoặc thực hiện DSVHPVT liên tục

- Có đóng góp trong việc truyền dạy DSVHPVT

- Được cộng đồng công nhận

- Những người nắm giữa di sản không giới hạn tuổi, giới tính, nghềnghiệp Họ có thể là trưởng thôn, Mạnh bái, thợ cả, ông trùm phường, nghệnhân, võ sư, thầy cúng, v.v , nhưng là những người có hiểu biết và thực

Trang 7

b) Nghệ thuật trình diễn dân gian

Di sản được thực hành bằng hình thức trình diễn, diễn xướng dân gian,bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân giankhác, ví dụ, hát chèo, múa giáo cờ, giáo quạt, múa đùng, múa rối nước, hát catrù, hát văn, múa sênh tiền, múa bát dật, múa lân, múa rồng, múa quạt, múarối cạn, tuồng, cải lương, v.v

- Các trò chơi dân gian: Cờ tướng, cờ người, đi cà kheo, chọi gà, đánh

đu, đánh roi, bắt vịt, bắt dê, bắt lợn, đập niêu, v.v

- Các môn thể thao dân gian: vật, vật cầu, võ truyền thống, kéo co, bơi

chải, đua thuyền, v.v

- Các thú chơi nghệ thuật: chơi hoa, cây cảnh, chơi chim, chơi cá, chơi

và tín ngưỡng liên quan đến người chết, tang ma, lễ cầu siêu, chạp tổ, giỗ, các

tập tục và nghi lễ có liên quan đến chu kỳ mùa, lễ tết (dựng cây nêu, hạ nêu,

Trang 8

lễ xuống đồng, tết nguyên đán, rằm tháng giêng, thanh minh, Hàn thực, Đoan ngọ, Rằm tháng Bảy, Trung thu), các phong tục và nghi lễ khác (tục kết chạ,

ăn trầu, nhuộm răng, làm đẹp, cầu đảo, các tập tục liên quan đến tín ngưỡng phồn thực, v.v.)

d) Lễ hội truyền thống

Lễ hội truyền thống ở các làng xã Việt Nam bao gồm lễ hội làng tưởngnhớ các vị thành hoàng, những người có công với dân với nước, được thờcúng ở đình, đền, chùa, miếu, từ, ví dụ, Hội Hét, Hội làng Quang Lang, Hộiđền Hệ, Hội làng An Tiêm, v.v

đ) Nghề thủ công truyền thống

Các làng nghề thủ công truyền thống được cộng đồng làng xã thựchành từ nhiều năm qua, từ làm bằng tay thủ công, đến nay có sự kết hợp vớimáy móc, công nghệ Tuy nhiên, kỹ năng làm nghề vẫn chủ yếu bằng tay vớitrí thức được trao truyền giữa các thế hệ như nghề làm muối, nghề đan vónghề làm chiếu, nghề đan nón, mây tre đan…

e) Tri thức dân gian

Các tri thức được tích lũy từ nhiều thế hệ và trao truyền cho thế hệ trẻbao gồm tri thức về thiên nhiên, về mùa màng, về thời tiết, về khí hậu, về gieohạt, về đi biển, đi rừng, về đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học

cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác

Tri thức dân gian bao gồm:

- Y học dân gian (cách chữa bệnh của ông lang, bà lang về gãy xương,bong gân, hóc xương, đau răng, xơ gan, thần kinh, các bệnh ngoài da, tri thức

về dược học dân gian về các cây thuốc bài thuốc

- Tri thức về nông nghiệp (dự báo thời tiết, sâu bọ, mùa màng, chănnuôi, nông lịch, bảo quản giống, v.v.).- Tri thức về môi trường tự nhiên,thiên nhiên (cách tìm mạch nước, khoan giếng, xem trăng, xem sao, connước, hướng gió, v.v.)

- Kinh nghiệm chế tạo và sử dụng công cụ trong kinh tế và đời sống

Trang 9

như; cày, bừa, cào cỏ, liềm hái, dao, kéo, búa, rìu, bẫy, dụng cụ săn bắt (đó,đơm, vó, lờ, nơm, lưới, lưỡi câu, bẫy, trúm, v.v.), cách xử lý nguyên vật liệu(ngâm tre, hun khói, gác bếp, hong khô, v.v.).

- Tri thức về cách lựa chọn chế biến, bảo quản nông, hải sản…

- Tri thức về cách chế biến và kết hợp nguyên liệu các món ẩm thực…

- Tri thức gắn với tập quán như ăn trầu, nhuộm răng, làm đẹp, gội đầu

IV QUY TRÌNH KIỂM KÊ DSVHPVT Ở HUYỆN QUỲNH PHỤ

4.1 Quy trình tổ chức kiểm kê DSVHPVT

- Mở lớp tập huấn, phổ biến kiến thức về DSVHPVT, Công ước 2003,Luật DSVH, Thông tư 04 Tại lớp tập huấn, các cán bộ đã hướng dẫn cán bộvăn hóa của các xã trên địa bàn huyện cách thức, nội dung, phương pháp kiểm

kê và hướng dẫn chi tiết hình thức điền thông tin vào mẫu phiếu kiểm kê do

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình (Sở VHTT&DL) ban hành dựavào Mẫu phiếu của thông tư 04, phù hợp với tình hình di sản tại địa bànhuyện

- Cán bộ công chức văn hóa xã tháng thị trấn và Phòng Văn hóaThông tin huyện phối hợp với cộng đồng tổ chức khảo sát, điền thông tinvào phiếu kiểm kê

- Tổ kiểm kê (gồm 5 người: 01 cán bộ Phòng Nghiệp vụ Văn hóa của

Sở VHTT&DL; 01 cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin huyện; 01 cán bộcông chức văn hóa xã, thị trấn; 01 cán bộ nghiên cứu; 01 chuyên gia vềDSVHPVT) chịu trách nhiệm đánh giá sơ bộ, thẩm định kết quả kiểm kê và

đề xuất danh mục, thỏa thuận với cộng đồng và huyện để hoàn thiện hồ sơkiểm kê

- Tổng hợp kết quả kiểm kê của huyện Thái Thụy (gồm Báo cáo, Danhmục di sản, hồ sơ kiểm kê) nộp về Sở VHTT&DL

- Sở VHTT&DL tỉnh Thái Bình đánh giá, thẩm định danh mục và báocáo lãnh đạo tỉnh

4.2 Nguyên tắc kiểm kê

Trang 10

- Kiểm kê toàn bộ di sản đang tồn tại trên địa bàn huyện.

- Chú trọng điều tra thực trạng, bối cảnh thực hành, nguy cơ làm hủyhoại đến di sản, lập danh sách những cá nhân nắm giữ di sản

- Công tác kiểm kê phải đảm bảo sự đa dạng văn hóa, tôn trọng ý kiếncủa cộng đồng

- Lưu ý tính tổng thể của di sản, bao gồm các yếu tố của di sản, từkhông gian thực hành, địa điểm, điều kiện thực hành, người thực hành, cácthành tố (vật thể, phi vật thể, âm nhạc, ca từ, nghi lễ, v.v.)

- Lưu ý phạm vi về thời gian và không gian, và quy mô tồn tại của disản, đặc biệt là di sản nằm trên nhiều thôn, xã, để đảm bảo thôn tin về di sảnđầy đủ

4.3 Hướng dẫn điền thông tin vào phiếu kiểm kê

* Nguyên tắc điền thông tin vào phiếu kiểm kê

- Phiếu kiểm kê phải được điền đầy đủ thông tin theo quy định củaThông tư 04 và theo tinh thần của Luật DSVH và Công ước 2003

- Phiếu kiểm kê phải được viết rõ ràng, không viết chữ in hoa, khôngviết mực đỏ

- Người cung cấp thông tin có thể là cá nhân, nhóm người địa phương(thôn, làng) có am hiểu và nắm giữ DSVHPVT được kiểm kê, trong trườnghợp có thông tin khác biệt thì ghi lại tất cả các ý kiến

- Ghi lại chính xác thông tin từ người cung cấp (trước khi ghi ra phiếucác bí quyết, điều thiêng, đời tư cần phải có sự đồng ý và thỏa thuận củangười cung cấp thông tin hoặc cộng đồng)

- Thông tin cơ bản theo các mục trong phiếu kiểm kê, nhưng cần vậndụng linh hoạt, đặt nhiều câu hỏi phụ và trao đổi để lấy thông tin từ ngườiđược phỏng vấn

- Không hỏi những câu hỏi mang tính “gợi ý” câu trả lời Không bỏ sót

các câu hỏi Những câu hỏi không có thông tin thì ghi rõ “Không có thông tin”.

- Phiếu được lập bằng máy tính, cần nộp cả hai bản in có chữ ký và bản

Trang 11

- Rà soát tài liệu lưu trữ: Là việc ra soát các báo cáo, các nghiên cứu,

phim tư liệu, ảnh, bản đồ, tư liệu liên quan đến các DSVHPVT để tránh trùnglặp gây mất thời gian và để kiểm chứng thông tin thu được từ cộng đồng Kếthợp sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (thư tịch học, khảo cổ học,văn bản học, bảo tàng học) trong việc phân tích, đối chiếu, so sánh các nguồn

tư liệu để xác định đối tượng khảo sát, kiểm kê

- Phương pháp quan sát và ghi chép: Đây là hữu ích cho việc thu thập

kiến thức địa phương và các loại hình DSVHPVT cụ thể Quan sát bao gồmviệc lưu tâm đến ngôn từ và hành động của con người, bao gồm cả cáchcộng đồng sử dụng không gian riêng, không gian chung và các gợi ý họ đưa

ra xung quanh việc kiểm kê Người quan sát cần hiểu được khả năng thuthập thông tin “thiên kiến”, ví như “thấy những gì ta muốn thấy” Nói cáchkhác, các định kiến sẵn có có thể làm thiên lệch kết quả quan sát do thiếu đicái nhìn toàn diện về sự việc Người quan sát cũng cần phải công minh trongviệc đưa ra các quyết định cuối cùng về những sự việc nhất định Đặc biệt làcần phải tránh xét đoán chủ quan và chỉ ‘thấy những thứ ta muốn thấy’.Đáng chú ý nhất là các trường hợp đánh giá DSVHPVT, khi các quan sát

Trang 12

viên muốn tỏ ra thành công, họ có thể đưa ra đánh giá không chính xác (vôtình hoặc cố ý) để phù hợp với những mục đích cá nhân Việc lưu trữ chi tiết

và cẩn thận các ghi chép điền dã rất quan trọng, kể cả đối với những cuộckiểm kê không sử dụng quan sát và ghi chép nhưng một phương pháp chính

để tạo thông tin Ghi chép điền dã được dùng để ghi lại những quan sát trựctiếp, để thu thập bất cứ loại hình DSVHPVT nào được sử dụng và các ýtưởng phát sinh xung quanh các loại hình đó

- Phương pháp phỏng vấn: Là đối thoại giữa hai hay nhiều người với

mục đích để khám phá ra một đề tài hay một chủ đề cụ thể, để cung cấp thôngtin về một loại hình DSVHPVT Trong các cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn

là người đặt câu hỏi, người được phỏng vấn trả lời câu hỏi Phỏng vấn là mộtkhía cạnh không thể tách rời của các phương pháp tạo thông tin

- Chụp ảnh: Là phương thức hiệu quả trong việc thu thập thông tin

liên quan đến bản chất sống động và tiếp biến của DSVHPVT, bằng cáchghi lại đồng thời các hoạt động cũng như các trải nghiệm hay cách lý giảicủa các bên liên quan Hơn thế, các bức ảnh không chỉ là những tư liệu lưutrữ và nghiên cứu mà còn là những công cụ hữu ích để quảng bá di sản Sửdụng các bức ảnh có thể giúp tăng cường tính trực quan sinh động và nộidung của hoạt động kiểm kê Các thành viên cộng đồng và những ngườikhác có liên quan đến việc thu thập và trình bày thông tin về các loại hìnhDSVHPVT có thể chụp lại hình ảnh của người, địa điểm, vật hay sự kiện.Ảnh tư liệu lịch sử hay ảnh lấy từ các bộ sưu tập cá nhân của thành viêncộng đồng cũng có thể được sử dụng

- Quay phim: Là phương pháp hữu ích trong việc truyền tải sự kiện,

tình cảm hay những hoạt động hàng ngày giúp hình thành nên đặc điểm củacác loại hình DSVHPVT trong một bối cảnh nhất định Thông qua việc sửdụng phim, các thành viên cộng đồng có thể dễ dàng mô tả các hành động, tậpquán hay niềm tin liên quan đến loại hình DSVHPVT, những thứ khó có thểđược truyền tải hay giải thích đầy đủ bằng các tư liệu khác Hơn thế nữa, việc

Trang 13

sử dụng phim có thể phổ biến các loại hình DSVHPVT trong các nhóm ngườikhông cùng sử dụng một ngôn ngữ nói hay viết, và từ đó góp phần đóng gópvào việc nâng cao nhận thức của người dân về di sản (một trong những mụctiêu chính của Công ước) Việc sử dụng phương pháp quay phim tất nhiên sẽđòi hỏi một chi phí nhất định (như chi phí cho thiết bị và thời gian để đào tạo

sử dụng thiết bị quay phim) Tuy nhiên, các thước phim có thể cung cấp chomột phương tiện thu thập và trình bày cách thức cộng đồng trải nghiệm vàthực hành DSVHPVT

- Ghi âm: Là một kỹ thuật có thể được áp dụng cho nhiều phương pháp

tạo thông tin khác nhau thí dụ như; Được dùng để thu thập các loại hìnhDSVHPVT khi mà âm thanh là thành tố chính (âm nhạc, khiêu vũ, ca hát…);Được dùng kết hợp với ảnh và phim để tạo ra những câu chuyện kỹ thuật số;Được dùng để tạo ra các tape âm thanh kỹ thuật số, tiếp cận được nhiều đốitượng khán giả hơn qua mạng internet; Được dùng trong phỏng vấn để ghi lạisuy nghĩ, phản hồi của các thành viên cộng đồng liên quan đến loại hìnhDSVHPVT và việc kiểm kê; Được dùng kết hợp trong các dự án quay phim

và tháng hoặc hỗ trợ nâng cao nhận thức; Được dùng cho các mục đích lưutrữ (sẽ có giá trị lớn đối với cộng đồng sau này); Được dùng cho những mụcđích khác mà tại thời điểm hiện tại có thể chưa xác định được Mỗi tư liệu cóthể được ghi lại với một mục đích nhất định, nhưng cũng có thể sẽ được dùng

để giải quyết các vấn đề khác trong tương lai

- Lập bản đồ: Được tiến hành để lưu giữ tư liệu về cảnh quan văn hóa

và lãnh thổ của một cộng đồng và các loại hình DSVHPVT có liên quan Lậpbản đồ cảnh quan văn hóa (và không chỉ cảnh quan lãnh thổ) liên quan đếnviệc xác định các nét đặc trưng hình thành nên giá trị xã hội, các chuẩn tắc,tập quán và tâm linh của một cộng đồng, và loại hình DSVHPVT có liênquan; ví dụ như các địa điểm linh thiêng, địa điểm ca múa, địa điểm hội hè, vàrộng hơn là sự hiểu biết mang tính văn hóa về các cảnh quan trên Việc lậpbản đồ có thể giúp thu thập thông tin về cách thức mà các địa phương tương

Trang 14

tác với các loại hình DSVHPVT và có thể đem lại thông tin hữu ích về quyhoạch không gian cho các cơ quan bên ngoài, cũng như ghi lại và lưu trữ kiếnthức địa phương liên quan đến một loại hình DSVHPVT cụ thể Rộng hơn,việc lập bản đồ tạo cơ hội để công nhận rộng rãi hơn di sản văn hóa truyềnmiệng và di sản phi vật thể; nhờ đó có thể giải thích mối quan hệ bền chặtgiữa các di sản văn hóa với lãnh thổ và các bối cảnh tài nguyên thiên nhiên,trong đó chúng xuất hiện và tồn tại, được truyền đến các thế hệ tương lai.Việc lập bản đồ cũng có thể củng cố khả năng quản lý các DSVHPVT của cáccộng đồng, đồng thời khuyến khích sự tôn trọng và thấu hiểu từ các nhóm đa

Trang 15

- Trong quá trình tiến hành điều tra trực tiếp tại các địa phương, chúngtôi nhận thấy, rất nhiều DSVHPVT đã bị mai một như nghề rèn ở thôn CaoDương, nghề trồng mía ở thôn Thu Cúc xã Thụy Hưng, nghề dệt chiếu ở thônHóa Tài xã Thụy Duyên, nghề trồng dâu nuôi tằm ở thôn An Cúc, xã ThụyViệt, nghề mây tre đan của thôn Hòa Nha xã Thụy Chính, nghề đan vó xãThụy Dũng, tục thi lợn ‘Hống’ trong lễ hội đền Hệ xã Thụy Ninh, tục vật cầutrong lễ hội đình Lạng, xã Thụy Chính cũng không còn được duy trì.

- Tại hầu khắp các xã được kiểm kê, đội ngũ cán bộ công chức văn hóa

và cán bộ lãnh đạo cấp xã do kiêm nhiệm nhiều việc, năng lực chuyên môn vềvăn hóa truyền thống còn hạn chế hoặc yếu kém, không đáp ứng được nhu cầuquản lý văn hóa và giúp cộng đồng sưu tầm, kiểm kê, nghiên cứu, bảo tồnDSVHPVT của địa phương Chính vì vậy, nhiều di tích có giá trị bị xuống cấp,các loại hình DSVHPVT của các làng tháng thôn tháng khu chưa được quantâm để lập kế hoạch phục hồi (thông qua hình thức xã hội hóa) hoặc đề đạt cáccấp có thẩm quyền thẩm định, cấp kinh phí phục dựng, sửa chữa, tôn tạo

- Trong khoảng hai mươi năm trở lại đây (từ 1996), hầu hết các địa bàndân cư nguyên là xóm, trại, làng đã được chuyển đổi tháng phân chia thànhcác thôn tháng khu dân cư Thực tế đó vô hình chung đã xóa dần một cách tựnhiên tên gọi truyền thống của hàng loạt các xóm, làng, những tự danh vốn đã

đi theo cộng đồng dân cư hàng nghìn năm, ăn sâu vào tiềm thức văn hóa conngười, gắn với đặc điểm, ngọn nguồn xuất xứ lập xóm, lập làng cùng hàngloạt các giá trị văn hóa phi vật thể truyền thống của cộng đồng Bên cạnh đó,

có những làng tháng thôn, do diện tích cư trú rộng, dân cư đông, đã đượcchính quyền địa phương chia thành nhiều thôn tháng khu dân cư và như vậy,gần như chỉ có khu dân cư trực tiếp hiện tồn DSVHPVT di tích tín ngưỡng làquan tâm, hiểu biết (ở những mức độ khác nhau) về DSVHPVT ở địa phươngmình Các khu dân cư khác lâm vào tình trạng tâm lý bị xa rời di tích, tínngưỡng, DSVHPVT và ý thức cùng trách nhiệm dần phai nhạt, mang tínhkhách thể hóa

Trang 16

- Do thời gian thực hiện việc kiểm kê, điều tra eo hẹp và số cán bộchuyên môn thực hiện có hạn nên việc tập hợp, khai thác tư liệu cùng cộngđồng còn hạn chế Điều này phần nào ảnh hưởng tới kết quả kiểm kê, nghiêncứu, đặc biệt là việc thẩm định những biểu hiện của đặc trưng di sản văn hóaphi vật thể cùng hệ thống ngôn ngữ cổ, gắn với sinh hoạt lễ hội, nghề thủcông truyền thống, các loại hình diễn xướng dân gian, tri thức dân gian vàsinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã nói chung.

6.2 Một số thuận lợi

- Trong thời gian tiến hành kiểm kê của nhóm nghiên cứu, chính quyền

và đội ngũ cán bộ công chức văn hoá xã, huyện và đội ngũ các trưởng thôn,trưởng BQL các di tích đã thường xuyên trực tiếp và quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ

cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng mọi yêu cầu đặt ra của công việckiểm kê Đặc biệt, các trưởng thôn, các bí thư chi bộ, BQL di tích thuộc cácthôn tháng khu tại hầu hết các xã đã trực tiếp tham gia tổ chức nhóm thảo luậntại địa phương, tham gia chủ động giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong quátrình thảo luận nhóm đại diện cộng đồng, nhằm cung cấp thông tin cho việcđiều tra kiểm kê

- Những người dân trong cộng đồng bao gồm các bậc cao niên, cácthành viên trong các ban khánh tiết, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào côngviệc cung cấp thông tin tại đa số các thôn đều nhiệt tình, có quan điểm đồngthuận với nhu cầu bảo tồn, khai thác và trao truyền di sản văn hóa phi vật thểtại địa phương Nhiều bậc cao niên đã cung cấp những tư liệu quý do cá nhân

tự sưu tầm, biên soạn hoặc biên dịch, làm tài liệu tham khảo tốt cho quá trìnhtrả lời phiếu điều tra, kiểm kê Sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của các vị trong cácBan quản lý di tích, hội người cao tuổi tại các thôn về công tác tổ chức, thamgia điều hành thảo luận nhóm đạt yêu cầu chất lượng đề ra của nhóm nghiêncứu, điều tra

Dựa vào những thuận lợi và khắc phục những khó khăn trên, nhómnghiên cứu đã thu được những kết quả kiểm kê nhất định Nguồn tài liệu và

Trang 17

thông tin do nhóm đại diện cộng đồng cung cấp, thông qua phiếu điều tra đãđược tập hợp, cho phép khẳng định: Đây là nguồn tư liệu tương đối phongphú, có nhiều thông tin mới, có hệ thống về các loại hình DSVHPVT trongđịa bàn huyện Thái Thụy.

VII KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KIỂM KÊ DSVHPVT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THÁI THỤY

7.1 Về địa bàn bàn kiểm kê DSVHPVT

Thái Bình là một tỉnh có nhiều di tích, di sản văn hóa vật thể và phi vậtthể của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ Tính đến cuối năm 2014 tỉnh TháiBình có hơn 400 lễ hội làng, hơn 30 loại trò chơi, trò đua tài, thi khéo dângian và hơn 20 loại diễn xướng dân gian đặc sắc1 Tiêu biểu có chiếu chèo

“làng Khuốc”, trò múa rối nước làng Nguyên Xá, Đông Các, lễ hội đền Trần,đền Tiên La (Hưng Hà), đền A Sào, đền Đồng Bằng, lễ hội đền Lộng Khê,(Quỳnh Phụ), lễ hội làng Quang Lang (Thái Thụy) đã được đưa vào Danhmục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Toàn tỉnh có hơn 3.000 thiết chế vănhóa, tín ngưỡng bước đầu đã được kiểm kê, trong số đó có 111 di tích đượcxếp hạng di tích quốc gia; di tích chùa Keo huyện Vũ Thư, di tích các VuaTrần huyện Hưng Hà được xếp hạng quốc gia đặc biệt; 520 di tích được xếphạng di tích cấp tỉnh Công tác bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóaphi vật thể của địa phương đang được đẩy mạnh, các loại hình lễ hội dân gian,diễn xướng dân gian đã từng bước được khôi phục và phát huy

Thái Thụy là một huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía Đông Bắc củatỉnh Thái Bình, có hiện tích tự nhiên là 26.844 ha, trong đó có 15.235 ha đấtsản xuất nông nghiệp, 5.227 ha đất chuyên dùng, 374 ha đất lâm nghiệp,2.035 ha là diện tích đất ở Dân số huyện Thái Thụy có 248,9 nghìn người,mật độ bình quân 927 người tháng km22 Địa giới hành chính của huyện TháiThụy được bao bọc bởi 3 mặt sông và 1 mặt biển Phía Bắc có sông Hóa chảyqua và đối ngạn với huyện Vĩnh Bảo của thành phố Hải Phòng Sông Hóa nối

Trang 18

liền với sông Hồng bằng sông Luộc hợp lưu với sông Thái Bình cùng đổ rabiển tại nơi giáp kề với bờ bãi các xã Thụy Tân, Thụy Trường Phía Nam là

hạ lưu sông Trà Lý cùng phân dòng chảy từ sông Hồng tại cửa Phạm Lỗ củahuyện Hưng Hà rồi đổ ra biển bằng cửa Trà Lý Phía Tây tiếp giáp với cáchuyện Quỳnh Phụ, Đông Hưng được phân chia ranh giới bằng hệ thống sông

Cô ở phía Bắc và sông Hoài ở phía Nam Bờ biển Thái Thụy trông ra vịnhBắc Bộ có chiều dài hơn 27 km Sông Diêm Hộ chảy qua huyện theo hướngTây – Đông chia huyện thành hai nửa gần tương đương về diện tích rồi đổ

ra cửa Diêm Điền hình thành nên cảng biển giao thương với các tỉnh trongvùng Cùng với hệ thống sông ngòi, cảng biển, tỉnh lộ 218 nối cảng DiêmĐiền với quốc lộ 10 cũng góp phần quan trọng trong việc giao lưu thôngthương bằng đường bộ với các trung tâm kinh tế trong và ngoài tỉnh

Huyện Thái Thụy được thành lập ngày 17 tháng 6 năm 1969 trên cơ sởhợp nhất của hai huyện Thái Ninh và Thụy Anh theo Quyết định số 93 tháng

CP của Hội đồng Chính phủ Toàn huyện có 48 đơn vị hành chính gồm 1 thịtrấn Diêm Điền và 47 xã là: Thụy Dân, Thụy Dương, Thụy Ninh,ThụyDuyên, Thụy Văn, Thụy Bình, Thụy Thanh, Thụy Phúc, Thụy Hà, ThụyTrường, Thụy Liên, Thụy Hồng, Thụy Việt, Thụy Lương, Thụy Dũng, ThụyChính, Thụy Sơn, Thụy Phong, Thụy Hưng, Thụy Xuân, Thụy Trình, ThụyQuỳnh, Thụy Hải, Thụy Tân, Thụy An, Thái Thượng, Thái Học, TháiNguyên, Thái Hồng, Thái Tân, Mỹ Lộc, Thái Hà, Hồng Quỳnh, Thái Thành,Thái Thuần, Thái Phúc, Thái Thịnh, Thái Thủy, Thái Giang, Thái Sơn, TháiThọ, Thái An, Thái Đô, Thái Hòa, Thái Xuyên, Thái Hưng, Thái Dương

Huyện Thái Thụy là địa phương có nhiều di tích lịch sử văn hóa gắnliền với đời sống văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu của người Việt Tínhđến cuối năm 2017 theo thống kê, kiểm kê của Sở VHTT&DL tỉnh Thái Bìnhthì huyện Thái Thụy có 100 di tích lịch sử văn hóa bước đầu đã được kiểm kê,trong số đó có 24 di tích được xếp hạng di tích quốc gia có thể kể đến đình An

Cố có giá trị điêu khắc gỗ cuối thế kỷ 17 và là nơi thờ thần Nam Hải đại

Trang 19

vương; 76 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.

7.2 Kết quả kiểm kê DSVHPVT của huyện Thái Thụy

Công tác bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địaphương đang được đẩy mạnh, các loại hình lễ hội dân gian, diễn xướng dângian đã từng bước được khôi phục và phát huy Các DSVHPVT tiêu biểu củađịa phương đang được phục hồi và phát huy mạnh mẽ như lễ hội đền Hét của

xã Thái Thượng, hội bơi Chải ở thị trấn Diêm Điền, lễ hội đình miếu thôn Lễ

Củ xã Thụy Duyên, lễ hội đền Hệ xã Thụy Ninh…, hàng năm vẫn được đôngđảo cộng đồng nhân dân địa phương tổ chức thường xuyên Bên cạnh đó nhiềulàng nghề truyền thống cũng đang được bảo tồn phát triển như nghề làm hươngLai Triều xã Thụy Dương, nghề rèn làng An Tiêm xã Thụy Dân, nghề làmmuối xã Thụy Hải Năm 2016 lễ hội làng Quang Lang xã Thụy Hải đã được Bộtrưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục VHPVT Quốc giatheo Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21 tháng 11 tháng 2016

Kết quả kiểm kê là các tư liệu mô tả thực trạng DSVHPVT của các xãđược chúng tôi trình bày cụ thể, kết hợp với việc giới thiệu một số thông tinchung về kết quả xử lý định lượng thông qua các cuộc thảo luận nhóm tại 48xã/thị trấn với sự tham gia của những người thực hành di sản thuộc các nhómtuổi khác nhau

Bảng: Thống kê loại hình DSVHPVT huyện Thái Thụy năm 2017

TT Xã tháng thị

trấn

Tổng số DSPVT

Lễ hội truyền thống

Nghề thủ công truyền thống

Nghệ thuật trình diễn dân gian

Tri thức dân gian

Tập quán

xã hội

Ngữ văn dân gian

Trang 21

VIII HIỆN TRẠNG DSVHPVT Ở HUYỆN THÁI THỤY

8.1 Lễ hội truyền thống

1 THỊ TRẤN DIÊM ĐIỀN

- Hội bơi chải Diêm Điền

(Thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên Ông Nguyễn Xuân Ban

Sinh năm: 1952 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Trang 22

Địa chỉ liên lạc: Khu dân cư số 8 Thị trấn Diêm Điền, huyện TháiThụy, tỉnh Thái Bình

(2) Họ và tên: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Sinh năm: 1956 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Hưu trí

Địa chỉ liên lạc: Khu dân cư số 5 Thị trấn Diêm Điền, huyện TháiThụy, tỉnh Thái Bình

(3) Họ và tên: Bà Đỗ Thị Nhung

Sinh năm: 1983 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Công chức văn hóa

Địa chỉ liên lạc: UBND thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình(4) Họ và tên: Hoàng Trọng Khánh

Sinh năm: 1999 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Ngư dân

Địa chỉ liên lạc: Khu dân cư số 7 Thị trấn Diêm Điền, huyện TháiThụy, tỉnh Thái Bình

Nhận diện hội bơi chải Diêm Điền:

Hội bơi chải theo các bậc cao niên ở thị trấn Diêm Điền thì nó đã có từrất lâu đời gắn liền với di tích đình Bơi, miếu Bơi Trước năm 1940 của thế kỷ

XX, đình miếu bị phá dỡ, đồ thờ, tượng thờ được nhân dân đi cất gửi và chôngiấu nên hội cũng từ đó mai Đến năm 1990 nhân dân địa phương đã khôiphục lại lễ hội như ngày nay Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng Giêng nhândân thị trấn Diêm Điền lại tổ chức lễ hội bơi chải để cầu mong cho một năm

đi biển an toàn, bình yên trở về với thành quả lao động dồi dào, tôm cá đầythuyền Sau tết nguyên Đán ngày mồng 6 tháng Giêng là các đội chải đã bắtđầu tập trung luyện tập Xưa mỗi giáp huy động một chải nhưng ngày nayđược phân theo từng khu dân cư Trước đây các nghi lễ do cụ tiên chỉ và bôlão trong làng thực hiện, ngày nay do Ban tổ chức lễ hội của UBND thị trấnđứng ra tổ chức Ngày 11 tháng Giêng nhân dân trong 8 khu dân cư tập chung

Trang 23

tại nhà truyền thống Ban khánh tiết tổ chức tế dâng hương thủy thần, tế namquan, tế nữ quan trước khi hội bơi bắt đầu.

Sau hiệu lệnh khai cuộc, các chải nhanh chóng rời bến vào cuộc đuavới 3,5 vòng, tổng chiều dài khoảng 7 km dọc sông Diêm Hộ Người dân địaphương và du khách thập phương đứng kín hai bên bờ sông, cùng đánh trống

và hò vang cổ vũ cho các chải thi đấu Hiện nay có 8 khu dân cư, và hiệp hộivận tải mỗi khu dân cư tham gia 1 chải, mỗi chải có 15 người: 1 ông lái (ôngtrưởng chải), 1 ông mõ (người tiếp sức quân sỹ), 1 tát nước, 12 tay dầm Hơn

120 người tham gia, còn khá giả người tham gia cổ vũ thì đông không rõ baonhiêu người, có năm kéo dài đến vài km Lễ hội được duy trì và thực hànhhàng năm với sự tham gia đông đảo của dân làng và bà con xa quê về dự hội

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Lễ hội bơi chải là dịp cộng đồng thể hiện tính tập thể, sự kết nối và sựphối hợp trong các đường đua Đồng thời, lễ hội thể hiện văn hóa sông nước,thờ cúng vị thần đi biển và cầu mong đánh bắt thủy hải sản được mùa bội thu.Với sự tin tưởng thần linh phù hộ cho con cháu một năm đi biển an toàn, nhândân toàn thị trấn nói chung và các gia đình ngư dân nói riêng luôn có một đứctin và mong đợi tham dự lễ hội để có dịp gửi gắm tới các đấng thần linhnhững ước vọng của mình Nhân dân trong vùng và bà con xa quê luôn luônđón chờ ngày hội, cổ vũ tinh thần thượng võ, kiên cường, đoàn kết của nhữngngư dân bám biển

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Hiện nay công tác tổ chức hội Bơi chải hàng năm được UBND thị trấnchỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, mặt trận, phụ nữ, thanh thiếu niên và nhândân thị trấn cùng phối hợp thực hiện Thanh niên nhiệt tình tham gia các độibơi chải, những người có kinh nghiệm chỉ bảo kỹ thuật, động tác bơi chải chonhững người mới vào đội Họ cùng nhau luyện tay chèo để đua nhanh thểhiện khí thế và tinh thần đồng đội, sự đoàn kết trong ngày hội

Trang 24

Trong những ngày hội chính quyền địa phương cùng các doanh nghiệp,

tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn đã đóng góp thêm vật chất, kinh phí thamgia tổ chức lễ hội

Nhân dân thị trấn Diêm Điền đang mong muốn các cấp chính quyền địaphương khôi phục lại di tích miếu và đình Bơi để có thiết chế văn hóa thờ tựnghiêm trang trong những dịp lễ hội

2 XÃ THỤY DÂN

- Hội đình An Tiêm

(Thôn An Tiêm, xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Ông Lê Quý Truyền

Sinh năm: 1955 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Tiêm 1, xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: Ông Trịnh Trọng Nam

Sinh năm: 1958 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Hưu trí

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Tiêm 2, xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: Ông Nguyễn Thị Anh

Sinh năm: 1990 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Cán bộ công chức Văn hóa xã hội

Địa chỉ liên lạc: UBND xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình(4) Họ và tên: Ông Lê Xuân Muôn

Sinh năm: 1945 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Nông nghiệp

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Tiêm 3, xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Trang 25

(5) Họ và tên: Bà Lê Minh Nguyệt

Sinh năm: 1958 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Hưu trí

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Tiêm 2, xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Nhận diện hội đình An Tiêm:

Đình An Tiêm thờ Thành hoàng là Dũng Tướng Đại Vương và MãnhTướng Đại Vương cùng phối thờ Ngũ vị tổ sư nghề rèn tại gian bên trái đìnhlàng Không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng, trong những năm kháng chiến, đình

An Tiêm có lúc trở thành căn cứ địa cách mạng, ngày nay đình An Tiêm trởthành nơi diễn ra những sinh hoạt văn hoá tâm linh của cả làng Năm 2003,đình An Tiêm được UBND tỉnh Thái Bình xếp hạng di tích lịch sử văn hóacấp tỉnh, ngày 14 tháng 4 năm 2011, đình vinh dự được Bộ văn hoá, Thể thao

và Du lịch xếp hạng Di tích cấp Quốc gia

Lễ hội diễn ra trong ba ngày từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 3 âm lịch

Về hình thức lễ hội được tổ chức theo hai phần: Phần nghi lễ diễn ra hoạtđộng rước Thành Hoàng quanh làng và lễ dâng hương Phần hội bao gồm cáctrò chơi giải trí Điểm khác biệt trong lễ hội đình An Tiêm đó là sự khai tháctính truyền thống và những giá trị văn hoá cổ truyền Ban tổ chức lễ hội đãkhéo léo chọn lọc những trò chơi dân gian như: đập niêu, bịt mắt bắt vịt, kéo

co Trong ngày diễn ra lễ hội có cuộc thi rèn giữa các đội rèn trong làng gắnvới làng nghề rèn An Tiêm đã nổi tiếng Cuộc thi nghề rèn vừa mang tính chấtgiáo dục đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, vừa mang tính tuyên truyền, cổ độngphát triển nghề rèn truyền thống Bên cạnh đó, lễ hội đình An Tiêm hoàn toànmang tính truyền thống chứ không hề bị yếu tố kinh tế xen lấn như một số lễ hộihiện nay Hàng năm vào dịp tổ chức lễ hội, nhân dân trong làng con cháu đi làm

ăn xa đều về lễ thánh

Xưa các cụ có tục “tiễn thuyền” tái hiện lại các trận chiến của cáctướng quân Mỗi mùa lễ hội kết thúc, sau 15 ngày nghĩa là vào đêm 1 tháng 4

Trang 26

các cụ tổ chức lễ tiễn thuyền Các phe giáp tập trung làm các hình nộm tượngtrưng cho các lính, quan…tập trung làm từ rằm tháng giêng, đến ngày làngvào đám mở hội dâng vào đình cho dự lễ cùng dân làng Đến giờ tí đêm ngàymồng 1 tháng 4 âm lịch làm lễ rước quán bến đầu làng (đầu dòng sông) thảxuống Giờ rước thuyền tục truyền rằng đi lặng lẽ, dân phảo tránh xa, không

ai được xem, hay đến gần sẽ không tốt

Trong quá trình tổ chức các ban ngành đoàn thể như: Ủy ban nhân dânthị trấn, mặt trận, phụ nữ, thanh thiếu niên và toàn thể nhân dân trong xã ThụyDân đều tham gia ủng hộ nhiệt tình Các cụ có trong ban quản lý di tích trựctiếp phụ trách công việc lễ nghi, phục vụ bà con nhân dân tại cụm di tích Ôngtháng bà chủ tế và đội bồi tế được các cụ hợp bàn lựa chọn kỹ lưỡng theo cáctiêu chuẩn lệ xưa như: Người có đạo đức, gia đình song toàn, không có thànhviên vi phạm pháp luật, không vướng tang bụi Đội tế nam quan và nữ quánhàng năm thực hành công việc tế thánh tại đền và đình có 24 người tháng đội

Việc truyền dạy cho thế hệ trung niên kế tiếp thực hành các nghi lễ, lễtiết tại quê hương đều do các cụ trong làng tự bảo con cháu, nhìn theo mà làmkhi các cụ thực hành trong mỗi dịp hội làng Hàng năm tổ chức lễ hội đều cócác đôi trung, thanh thiếu niên ra hỗ trợ các công việc làng cùng với các cụtrong ban lễ khánh tiết cũng như nhân sự Ban tổ chức lễ hội tại địa phương

Hiện tại hàng năm đều có thực hành thường xuyên Đền An Tiêm làniềm tự hào của mỗi người con Thụy Dân xã quê Đức tin lớn và ý thức cao,chính quyền và nhân dân Thụy Dân đang bảo tồn và phát huy giá trị di sảncủa mình tại địa phương rất tốt Hiện tại bằng vốn xã hội hóa dân làng AnTiêm mới phục hồi được giếng trước đình, đang tu bổ sửa chữa nhiều hạngmục của ngôi đình

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Đình An Tiêm là niềm tự hào của mỗi người con Thụy Dân xã quê.Đức tin lớn và ý thức cao cũng như thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, ơn

Trang 27

các cụ xưa mang nghề rèn về dạy dân… chính quyền và nhân dân Thụy Dânđang bảo tồn và phát huy giá trị di sản của mình tại địa phương rất tốt.

Các biện pháp bảo vệ và phát huy đã và đang triển khai và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Đảng ủy, ủy ban nhân dân và các đoàn thể cùng các cấp chính quyềnđều tham gia trong công tác tổ chức lễ hội: Từ Mặt trận, hội lão ông, lão bà,hội cựu chiến binh, hội chữ thập đỏ, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, được Ban tổchức lễ hội phân công từng việc: Ban tiếp tân, ban hậu cần, ban lễ nghi, độirước, đội tế nam quan, đội tế nữ quan

- Đề xuất với nhà nước hỗ trợ chi trả thêm kinh phí cho người quản lý

di tích để toàn tâm toàn ý ra giúp làng

- Hàng năm tổ chức lễ hội thường xuyên, các cấp chính quyền hỗ trợ

thêm kinh phí, và công tác an ninh để bà con có những mùa lễ hội ýnghĩa, an toàn

3 XÃ THỤY NINH

- Hội đền Hệ

(Xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Đỗ Văn Huynh

Sinh năm:1973 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Cán bộ xã

Địa chỉ liên lạc: UBND xã Thụy Ninh, Thái Thụy, Thái Bình

(2) Họ và tên: Bùi Văn Cương

Sinh năm: 1967 Dân tộc: Kinh

Trang 28

Nghề nghiệp: Trưởng ban khánh tiết nhà đền

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hệ, xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình(4) Họ và tên: Phạm Xuân Lập

Sinh năm:1927 Dân tộc: Kinh

Trang 29

Trong ngày mồng 10 tháng 03 đền Hệ tổ chức tế hàng tổng của bốnđình mỗi đình cử ra 4 người tham gia vào việc tế lễ trong những ngày hội Khi

tế các cụ chuẩn bị lễ vật gồm có gà luộc, xôi, trầu cau, rượu, cỗ chè, cỗ nước.Bày ban để chuẩn bị tế bao gồm ngai, bát hương, chấp kính bai bên, 2 bànmịch 2 bên 2 cây quán tẩy Người tham gia tế có Mạnh bái, thông xướng, hạxướng, đọc văn, hàng ròng, bồi tế (bồi phải số chẵn), cuối cùng là người múaphụ họa, đội nhạc tế Số người trong ban tế từ 26 đến 32 người Ngày nayngoài các đoàn tế nam quan, nữ quan trong xã còn một số đoàn tế nam quanngoài xã cũng về tết thánh tại đền trong những ngày diễn ra lễ hội

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Lễ hội tổ chức nhằm tri ân các bậc tiền nhân có công phò vua dựng

nước chống giặc xâm lược và xây dựng quê hương Đồng thời, lễ hội cũng làdịp giáo dục con cháu đời đời ghi nhớ công ơn các bậc tiền nhân, gìn giữ quêhương, đất nước và bản sắc văn hóa dân tộc

Các biện pháp bảo vệ và phát huy đã và đang triển khai và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Hiện nay các cấp, các ngành tại địa phương từ Phòng VHTT, UBND xã

đã quan tâm bảo vệ lưu truyền giá trị văn hóa phi vật thể của địa phươngtrong đó có lễ hội đền Hệ

Hàng năm UBND xã Thụy Ninh đã làm công tác tuyên truyền, độngviên, khích lệ các tổ chức, cá nhân tham gia truyền dạy các nghi thức tế lễ tạiđình cho những người trung niên trong làng để có thể lưu giữ việc tế trongđền, đình một cách quy củ

Người dân thôn Hệ và chính quyền xã Thụy Ninh mong muốn được sựgiúp đỡ của Phòng VHTT, Sở VHTT&DL tỉnh để khôi phục lại nghi lễ rướckiệu từ các đình về đền Hệ trong ngay chính hội như trước đây

4 XÃ THỤY DUYÊN

- Hội làng Lễ Củ

(Thôn Lễ Củ, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Trang 30

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Viết Tiến

Sinh năm:1952 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Bí thư chi bộ

Địa chỉ liên lạc: Thôn Lễ Củ, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(4) Họ và tên: Nguyễn Thị Phương

Sinh năm:1958 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Trưởng thôn

Địa chỉ liên lạc: Thôn Lễ Củ, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(5) Họ và tên: Nguyễn Đức Ân

Sinh năm:1938 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Thủ từ

Địa chỉ liên lạc: Thôn Lễ Củ, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Nhận diện hội làng Lễ Củ:

Từ Nam thờ Đức thánh Vũ Mãnh cùng mẹ là bà Nguyễn Thị Cầu, cha

là ông Vũ Công Minh, Từ Tây thờ Đức Thánh Khổng Từ, đình làng Lễ Củ

Trang 31

Lễ Củ thờ trong những ngày hội Trong những ngày diễn ra lễ hội dân lànglàm lễ dâng hương, tế thần hai buổi sáng chiều Lễ hội còn có nhiều trò chơinhư chọi gà, đập niêu.

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Trong những ngày diễn ra lễ hội là dịp để cho người dân trong làng Lễ

Củ tỏ lòng thành kính đối với đức thánh; Cầu mong mưa thuận, gió hòa, đứcthánh phù hộ che chở cho họ trong đời sống thường ngày, cũng như trongcông việc làm ăn buôn bán

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Trong những năm vừa qua đã được Công ty Trách nhiệm Hữu hạn ViênNgọc Quý, đại diện là bà Nguyễn Thị Nhung Giám đốc đã tài trợ xây dựngđường xá dẫn vào khu di tích, ngoại cảnh quan của Từ Nam và đóng góp hỗtrợ công tác tổ chức lễ hội hàng năm Hàng năm lễ hội được đông đảo nhândân trong xã tham gia công đức tiền của, vật lực trong những ngày lễ hội

Các cấp chính quyền địa phương cần tiếp tục tăng cường công tác quản

lý nhà nước về lễ hội, bồi dưỡng và đào tạo các hạt nhân có tâm huyết, tuyêntruyền rộng rãi về ý nghĩa của lễ hội

- Hội đền Hóa Tài

(Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Văn Hạnh

Trang 32

Sinh năm:1958 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: Bùi Văn Tám

Sinh năm: 1964 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Bi thư chi bộ thôn

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: Bùi Duy Tải

Sinh năm:1956 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Trưởng ban khánh tiết

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(4) Họ và tên: Phạm Xuân Nghiêm

Sinh năm:1964 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Trưởng thôn

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(5) Họ và tên: Trịnh Tiến Sáu

Sinh năm:1934 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Chủ tế

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(6) Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh

Sinh năm:1956 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Tế nữ quan

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Trang 33

Nhận diện hội đền Hóa Tài:

Đền Hóa Tài thờ tứ vị Thượng Đẳng Thần là: đệ nhất thượng đẳng đạivương Cao Sơn Sùng Công; đệ nhi thượng đẳng đại vương Vũ Công Minh; đệtam thượng đẳng đại vương Hoàng Bà Lý nương Nguyễn Thị Cầu; đệ tứthượng đẳng đại vương Vũ Công Mãnh

Cứ ba năm, làng Hóa Tài tổ chức hội chính một lần diễn ra từ ngày 10đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, hàng năm vẫn tổ chức hội lệ Những năm mởhội lớn dân làng tổ chức rước kiệu thánh đi vòng quanh làng Trong ngày lễhội dân làng tổ chức tế lễ, dâng hương và rước kiệu đi quanh làng Trò chơitrong lễ hội có chọi gà, bịt mắt bắt lợn, đạp niêu, đi cầu neo

Hàng năm trong những ngày làng mở hội nhân dân và những người con

xa quê, khách thập phương đến tham dự và tham gia công đức để tôn tạotrùng tu di tích và bảo tồn lễ hội

Lễ hội hàng năm vẫn được duy trì đều đặn bằng công sức và tiền củacủa nhân dân trong làng

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Trong tiềm thức của nhân dân thôn Hóa Tài, xã Thụy Duyên ngôi đền

và lễ hội là một chốn linh thiêng nơi thờ thành hoàng làng đã có công đánhgiặc, giúp dân làng có cơm no, áo ấm Ngày hội là dịp người dân tỏ lòngthành kính đối với đức thánh; cầu xin đức thánh phù hộ che chở cho họ trongđời sống thường ngày, cũng như trong công việc làm ăn buôn bán

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Lễ hội thôn Hóa Tài hàng năm được sự quan tâm chu đáo của UBND

xã cùng các cấp chính quyền, Mặt trận thôn trong công tác quản lý và tổ chức

lễ hội Ban công tác mặt trận thôn (CTMT) cùng Ban QLDT đứng ra thànhlập BTC phân công các tiểu ban chăm lo các công việc trong ngày hội

Trong những năm vừa quan các cấp chính quyền từ UBND xã, CTMTthôn và BTC lễ hội và bà con nhân dân đã có ý thức tuyên truyền rộng rãi về

Trang 34

ý nghĩa của lễ hội.

5 XÃ THỤY VĂN

- Hội đền Tứ Giành

(Thôn An Định, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Công Thận

Nghề nghiệp: Trưởng làng

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Định, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(2) Họ và tên: Bùi Đức Mùi

Sinh năm: 1940 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Ban khánh tiết

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Định, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: Đào Viết Lợi

Sinh năm:1950 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Thủ từ

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Định, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: Bùi Đức Niên

Sinh năm:1957 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Ban quản lý di tích

Địa chỉ liên lạc: Thôn An Định, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Nhận diện hội đền Tứ Giành:

Đền Tứ Giành thờ Tứ vị đại vương là Hợi Hội đại vương, La Nha ViênMiếu đại vương, Hãn Định đại vương, Phụ quốc thượng tướng quân Tả giaHưng Nghĩa Lễ hội truyền thống hàng năm diễn ra từ ngày mồng 10 đến

Trang 35

ngày 12 tháng 8 âm lịch Nghi thức chính chiều ngày mồng 9 lễ tế mở cửađền, sáng ngày mồng 10 dân làng rước thánh từ đền Tứ Giành về đình làng

An Định cúng tế trong những ngày hội, chiều ngày 12 rước trở về đền làm lễ

tế tạ Trò chơi trong hội có tổ tôm, cờ tướng thu hút được đông đảo người dântrong thôn An Đinh tham gia

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Nhân dân thôn An Định tổ chức lễ hội nhằm tưởng nhớ và tôn vinh các

vị Thành hoàng có công với dân làng Trong ngày lễ hội cũng là dịp dân làng

An Định cùng nhau tưởng nhớ tới các vị Thành hoàng, như là sợi dây kết nốicộng đồng Đến với lễ hội người dân An Định ai cũng cầu mong được Thầnhoàng phù độ cho được may mắn gia đình ấm no, hạnh phúc

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Lễ hội đền Tứ Giành được Ban quản lý di tích, Ban khánh tiết, Bancông tác mặt trận thôn cùng các đoàn thể, các tổ chức chính trị, xã hội, nhândân trong thôn, bà con trong xã, con em xa quê và khách thập phương thamgia tổ chức hàng năm Để duy trì tổ chức lễ hội hàng năm Ban quản lý di tíchlên Kế hoạch chương trình lễ hội, lập Tờ trình lên UBND xã, thành lập BTC

để tổ chức sắp xếp các công việc trong ngày lễ hội được thông suốt

Cộng đồng tích cực tham gia thực hành với sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các cấp chính quyền, đoàn thể

- Hội làng Hoành Sơn

(Thôn Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Lễ Sĩ Khang

Sinh năm:1954 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Trưởng ban khánh tiết

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Trang 36

(2) Họ và tên: Nguyễn Đức Quyền

Sinh năm: 1948 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Phó ban quản lý di tích

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(3) Họ và tên: Nguyễn Đức Tuyến

Sinh năm: 1958 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Thủ từ

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(4) Họ và tên: Vũ Hữu Diển

Sinh năm:1946 Dân tộc: Kinh

(7) Họ và tên: Lê Sĩ Đông

Sinh năm:1938 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnh

Trang 37

Thái Bình

(8) Họ và tên: Nguyễn Thị Tuất

Sinh năm:1938 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Nhận diện hội làng Hoành Sơn:

Từ làng Hoàng Sơn thờ thành hoàng làng là Đông Hải thượng đẳng đạivương, Nam Hải thượng đẳng đại vương, Chính Miếu Túy Mục đại vương,Đông Hồ trung đẳng đại vương, Khổng Thành Doan kính đại vương, Phạm

Tu, Vũ Phi Trước, Lê Quý Căn Lễ hội hàng năm diễn ra từ ngày mồng 6 đếnngày mồng 8 tháng 3 âm lịch Những nghi thức chính trong lễ hội có lễ mởcửa đền, lễ rước kiệu đi quanh làng, dâng hương, tế thánh Các trò chơi tronghội có tổ tôm điếm, cờ tướng, đập niêu

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Hội làng Hoành Sơn có giá trị tăng cường mối đoàn kết, gắn bó giữacác thành viên trong làng, giữa các thôn xóm, giá đình, từ việc chuẩn bị lễ vật,cho đến các hoạt động nói chung của lễ hội Đây chính là chất kết dính củacác thế hệ, của các cộng đồng dân cư, là phương tiện cho việc đối thoại, cùngnhau chia sẻ, hưởng thụ và trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống Hộilàng Hoàng Sơn là môi trường bảo tồn, giáo dục và lưu truyền văn hóa truyềnthống, là biểu tượng của sự cố kết cộng đồng và biểu dương sức mạnh tập thể

mà ở thời điểm nào cũng cần gìn giữ và phát huy

Các biện pháp bảo vệ hiện có và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

- Các cấp Ủy đảng, chính quyền địa phương và ngành văn hóa chủ

quản tạo điều kiện cho cộng đồng thực hành hội

6 XÃ THỤY BÌNH

- Hội Từ Trung

Trang 38

(Thôn Trà Hồi, xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(1) Họ và tên: Nguyễn Thị Hoa

Sinh năm:1965 Dân tộc: Kinh

Địa chỉ liên lạc: Đội 1 Thôn Trà Hồi, xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy

Nhận diện hội Từ Trung:

Từ Trung thờ Khương Thủ hiển hoàng Huệ Hóa đoan túc phu nhân Lễhội hàng năm diễn ra từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 8 tháng 2 âm lịch lễ vậtdâng thánh có lợn đen, bánh trắng tròn, xôi, rượu Trong ngày lễ hội dân lànglàm lễ dâng hương, tế nữ quan và tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà,

cờ tướng Nghi thức tế nữ quan đã có từ rất lâu đời trải qua quá trình lịch sửcủa cách mạng đến nay tế nữ quan của làng Trà Hồi mới được khôi phục lại,đang được nhiều người tích cực hướng ứng tham gia Hiện tại trong làng có 3đội tế nữ quan phục vụ tế lễ dâng hương tại các đình, từ, chùa trong làng mỗikhi có dịp lễ hội hoặc ngày lệ của dân làng Mỗi khi thực hành tế dâng hươngđội tế đứng chắp tay và đi theo tiếng trống tế Đọc văn khấn và lần lượt dânghương, hoa, rượu, và các vật phẩm trong ngày tế lễ Thời gian thực hàng mỗilần tế thường khoảng 60 phút Số lượng 20 người tham gia một đội tế

Các biện pháp bảo vệ và phát huy đã và đang triển khai và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Trang 39

Hiện nay thôn đã thành lập 3 đội tế nữ quan để tế lễ dâng hương trongcác dịp lễ hội tại thôn làng Bên cạnh đó đội tế nữ đã tổ chức nhiều buổi dạycho các chị em phụ nữ trong thôn, đội biết và tham gia.

Chính quyền địa phương đã động viên mọi người tích cực tham gia ủng

hộ hình thức tế lễ trong ngày hội

- Hội đình Hạ Tập

(Thôn Hạ Tập, xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Những người đại diện:

(3) Họ và tên: Phạm Văn Hải

Sinh năm:1962 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hạ Tập, xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(4) Họ và tên: Bùi Văn Mè

Sinh năm:1943 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Ban quản lý di tích

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hạ Tập, xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

(5) Họ và tên: Trịnh Bảo Ngọc

Trang 40

Sinh năm:1964 Dân tộc: Kinh

Nghề nghiệp: Ban khánh tiết

Địa chỉ liên lạc: Thôn Hạ Tập, xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnhThái Bình

Nhận diện hội đình Hạ Tập:

Đình làng Hạ tập thờ Thành hoàng bản cảnh Một năm đình Hạ Tập cóhai ngày tiết lệ là ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch và ngày mồng 1 tháng 12 âmlịch Nghi thức chính dân làng tổ chức lễ tế nam quan theo những thức truyềnthống Đội tế nam quan thôn Hạ Tập hiện tại có 10 người Hàng năm vàongày lệ đình 10 tháng 8 âm lịch hoặc ngày giỗ tổ 1 tháng 12 âm lịch Đội tếnam tổ chức tế (tế cổ) dâng hương tại đình làng Thời gian một lần thườngtrên 60 phút Hình thức tế, con trai chắp tay bái trước mặt đi nhún theo điệutrống nhạc tế lễ tổ chức tế cổ dâng hương, hoa, rượu, vật phẩm trong ngày lễ

Giá trị của di sản văn hóa phi vật thể với đời sống cộng đồng:

Hội đình Hạ Tập có giá trị tâm linh sâu sắc đối với cộng đồng ngườidân thôn Hạ Tập, qua nghi thức tế lễ thể hiện sự tôn kính biết ơn của cộngđồng tới những người đã có công xây dựng thôn làng

Các biện pháp bảo vệ và phát huy đã và đang triển khai và đề xuất của chủ thể để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể:

Trong những năm vừa qua thôn Hạ Tập đã cùng Hội người cao tuổi,Ban khánh tiết của đình Hạ Tập thành lập đội tế nam quan để tế dâng hươngtrong các ngày tiết lệ và trong những ngày hội làng

Các thành viên tham gia đội tế thường xuyên luyện tập, truyền dạy lạicác nghi thức tế lễ cho những thành viên mới tham gia góp phần vào việc gìngiữ những giá trị văn hóa riêng của cộng đồng

7 XÃ THỤY THANH

- Hội đền Vô Hối

(Thôn Vô Hối, xã Thụy Thanh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình)

Ngày đăng: 17/03/2020, 06:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w