PHẦN I Di sản văn hóa Là những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần do con người sáng tạo nên trong quá khứ lịch sử, có giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, khoa học, có tính thẩm mỹ và ý nghĩa xã hộ[.]
Trang 1
Trang 2 Di sản văn hóa: Là những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần do con người sáng tạo nên trong quá khứ lịch sử, có giá trị nổi bật
về lịch sử, văn hóa, khoa học, có tính thẩm
mỹ và ý nghĩa xã hội, hoặc có giá trị đặc biệt cho cộng đồng hiện nay, cũng như các thế hệ
tương lai
KHÁI NIỆM
Trang 3DI SẢN VĂN HÓA
Di sản văn hóa
Di sản văn hóa vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 4 Di sản văn hóa vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị
lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết
về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ
truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc
và những tri thức dân gian khác
KHÁI NIỆM
Trang 5DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Trang 6- Xã Thuận Hạnh, Đắk Môl, Trường Xuân (huyện Đăk Song);
- Xã Đăk R’la, Đăk Lao (huyện Đăk Mil);
- Phường Nghĩa Thành (thị xã Gia Nghĩa);
NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA
THỜI TIỀN SỬ
Trang 7 Trong đó, di chỉ Thôn Tám, xã Đăk Wil, huyện Cư Jút đã được khảo sát năm 2005, 2008 và tiến hành khai quật 2 lần vào các năm 2006 và 2013
Kết quả nghiên cứu bước đầu cùng với việc thu thập các di vật khảo cổ có mật độ khá dày đặc gồm: công cụ đá, mảnh tước, phiến tước; hòn ghè, hòn kê, chày nghiền, mảnh
gốm, và dấu tích của xưởng chế tác đồ đá ghi nhận đây
là dấu tích văn hóa của cư dân Hậu kỳ Đá mới và Sơ kỳ Kim khí, có niên đại từ 6.000 đến 3.000 năm cách ngày
nay.
NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA
THỜI TIỀN SỬ
Trang 8công cụ đá, mảnh tước, phiến tước; hòn ghè, hòn
kê, chày nghiền, mảnh gốm, xương động vật,
xương người
NHỮNG DẤU ẤN VĂN HÓA
THỜI TIỀN SỬ
Trang 9Đàn đá Đắk Sơn
Trang 10Một số hiện vật đá, đồng, vỏ nhuyễn thể, xương động vật lớp mặt
trong hang động núi lửa ở huyện Krông Nô
Trang 11 Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh là một hệ thống giao thông, liên lạc, đường ống xăng dầu trải dài hàng ngàn km từ Nghệ An đến Bình Phước
Di tích lịch sử Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh bao gồm 37 điểm tiêu biểu của Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, nằm trên địa bàn 11 tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia
Lai, Đắc Lắc, Đắk Nông, Bình Phước.
Di tích lịch sử đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ công nhận là di tích quốc gia đặc biệt
DI TÍCH LỊCH SỬ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN – ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
Trang 12 Trong khu vực Công viên địa chất, mạng lưới đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn các huyện Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song; gồm: đường Hồ Chí Minh Đông Trường Sơn đoạn Đắk Mil - Đắk Song.
Các di tích tiêu biểu thuộc Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trọng điểm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông bao gồm:
DI TÍCH LỊCH SỬ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN – ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
Trang 13 Địa điểm bắt liên lạc Khai thông đường Hồ Chí Minh - đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ:
- Cánh Đông, tháng 10 năm 1960: thôn Đồng Tiến,
xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa.
- Cánh Tây, tháng 11 năm 1960: thôn 8, xã Nam Bình, Đắk Song.
Di tích lịch sử Đồn Bu Prăng (điểm di tích này không nằm trong khu vực Công việc địa chất)
DI TÍCH LỊCH SỬ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN – ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH
Trang 14Địa điểm bắt liên lạc Khai thông đường Hồ Chí Minh - đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ: cánh Đông, tháng 10 năm 1960.
Trang 15 Ngục Đắk Mil do thực dân Pháp xây dựng vào đầu
năm 1940 trong một khu rừng già thuộc huyện Đắk
Mil (nay thuộc địa bàn thôn 9, xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) để giam giữ, đày ải những người dân yêu nước và những chiến sĩ cách mạng Việt Nam.
Ngày 17/5/2005, Ngục Đắk Mil được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia theo quyết định
số 11/2005/QĐ-BVHTT, của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch).
DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG NGỤC ĐẮK MIL
Trang 16Di tích lịch sử Cách mạng Ngục Đắk Mil
Trang 17Di tích lịch sử Cách mạng Ngục Đắk Mil
Trang 18 Là Căn cứ địa cách mạng của lực lượng kháng chiến (tỉnh Quảng Đức cũ) và lực lượng kháng chiến liên tỉnh IV trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1959 - 1975) Hình thành từ năm
1959, tại Bắc Nâm Nung, thuộc xã Nâm Nung (Krông Nô) Gồm hai địa điểm:
Căn cứ phía Bắc Nâm Nung được hình thành trong giai đoạn
1959 - 1967, trên cơ sở các căn cứ đã có từ thời kháng chiến chống Pháp trải dài trên địa bàn xã Nâm Nung, huyện Krông Nô
Căn cứ phía Nam Nâm Nung (1967 - 1975) thuộc xã Quảng Sơn (Đắk Glong)
DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG CĂN
CỨ KHÁNG CHIẾN B4 - LIÊN TỈNH IV
Trang 19DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG CĂN
CỨ KHÁNG CHIẾN B4 - LIÊN TỈNH IV
Di tích lịch sử cách mạng Căn cứ kháng chiến B4 - Liên tỉnh
IV được công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia
Trang 20 Địa điểm lưu dấu phần mộ của N’Trang Gưh, buôn làng, cánh đồng và căn cứ địa của nghĩa quân do thủ lĩnh N’Trang Gưh lãnh đạo chống quân Xiêm năm 1884 - 1887 và thực dân Pháp năm 1900 - 1914 nay thuộc địa bàn xã Buôn Choah (Krông Nô).
Di tích lịch sử địa điểm lưu niệm N’Trang Gưh công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia.
DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỊA ĐIỂM LƯU NIỆM N’TRANG GƯH
Trang 21Địa điểm lưu dấu phần mộ của N’Trang Gưh
Trang 22 Địa điểm ghi dấu nhiều trận đánh ác liệt của lực lượng
bộ đội chủ lực ta và quân, dân địa phương trong suốt chặng đường lịch sử từ năm 1968 đến 1975 nhằm tiêu hao sinh lực địch, đánh phá hệ thống đồn bốt đang án ngữ phá hoại đường Hồ Chí Minh trên chiến trường nam Tây Nguyên.
Địa điểm Đồi 722 - Đắk Sắk là một trại lực lượng đặc biệt Đức Lập (Camp Duc Lap) được Mỹ - Ngụy thiết lập năm 1965, cách trung tâm quận Đức Lập (tỉnh Quảng Đức cũ) khoảng 10 km về hướng đông (nay thuộc địa phận thôn Thổ Hoàng 4, xã Đắk Sắk, huyện Đắk Mil)
ĐỊA ĐIỂM CHIẾN THẮNG ĐỒI 722 - ĐẮK SẮK
Trang 23 Tại đây địch xây dựng các công sự kiên cố với 12 lớp hàng rào, bên trong là tường đất có ụ chiến đấu, hào sâu cắm chông, gài mìn Lực lượng địch tại đây là 01 tiểu đoàn được trang bị quân trang vũ khí hiện đại.
Địa điểm chiến thắng đồi 722 - Đắk Sắk được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia.
ĐỊA ĐIỂM CHIẾN THẮNG ĐỒI 722 - ĐẮK SẮK
Trang 24ĐỊA ĐIỂM CHIẾN THẮNG ĐỒI 722 - ĐẮK SẮK
Trang 25 Địa điểm dấu tích lịch sử ấp chiến lược Hang No năm 1962 thuộc địa bàn thôn 8, xã Quảng Khê, huyện Đắk G’Long, tỉnh Đắk Nông.
Năm 1962, đế quốc Mỹ đã thành lập ấp chiến lược Hang No.
Đêm ngày 24 tháng 04 năm 1963, bộ đội huyện Khiêm Đức phối hợp với đơn vị đặc công Tiểu đoàn
186 (Tiểu đoàn chủ lực của Quân khu VI) tiến công tiêu diệt ấp chiến lược Hang No
Di tích lịch sử Địa điểm chiến thắng
ấp chiến lược Hang No
Trang 26 Di tích lịch sử chiến thắng Ấp chiến lược Hàng
No được Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông công nhân là di tích lịch sử cấp tỉnh tại Quyết định số 1164/QĐ-UBND ngày 05 tháng 8 năm 2015 về việc xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Di tích lịch sử Địa điểm chiến thắng
ấp chiến lược Hang No
Trang 27Di tích lịch sử Địa điểm chiến thắng
ấp chiến lược Hang No
Dấu tích công sự Ấp chiến lược Hang No
Trang 28Di tích lịch sử Địa điểm chiến thắng
ấp chiến lược Hang No
Ông K’Bích, từng là Bí thư Chi bộ Ấp chiến lược Hang No, nhân chứng hiểu rõ về di tích
Trang 29DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
Trang 30 Tất cả các lễ hội xoay quanh vòng đời người: lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa
người chết,
KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
TỈNH ĐẮK NÔNG, VIỆT NAM
Trang 31KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
TỈNH ĐẮK NÔNG, VIỆT NAM
Trang 32KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG
TỈNH ĐẮK NÔNG, VIỆT NAM
Trang 33
Trang 34Các nghệ nhân biểu diễn Cồng chiêng tại
Đan Mạch
Trang 36 Sáng tạo văn hóa;
Hái lượm và săn bắn, …
SỬ THI M’NÔNG – OT N’DRÔNG
Trang 37Nghệ nhân Y K'rang, bon Pi Nao, xã Nhân Đạo, Đắk R'lấp
kể sử thi cho thế hệ trẻ nghe
Trang 39 Là kho tàng văn học dân gian với những bản trường
ca, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, lời nói vần, đặc biệt
là sử thi Tây Nguyên đã được đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia
Là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và con người
Vì vậy, nó không thể không bị chi phối bởi môi trường văn hóa mà nó trong đó, nó được hình thành
và phát triển
VĂN HỌC DÂN GIAN
Trang 40 Trong văn học dân gian M’nông (Bu Nong) có các
hình thức sau:
Các hình thức tự sự:
Nơ ơn: là những câu chuyện được thể hiện bằng hình
thức văn xuôi Nó tương đương với truyền thuyết, cổ tích và ngụ ngôn của người Kinh.
Cổ tích: Căn cứ vào nội dung các truyện cổ tích, có
thể tạm chia cổ tích của người M’nông Nong thành hai loại: Cổ tích thần kỳ và cổ tích thế sự Sự phân chia
này chỉ là tương đối.
VĂN HỌC DÂN GIAN
Trang 41 Ngụ ngôn: Trong kho tàng truyện cổ của nguowig Bu
Nong có một loại truyện đồng bào gọi là Nau Rlach
(hay Nau Nkich).
Ót N’rong: là hình thức hát kể các câu chuyện xa xưa.
Các hình thức trữ tình:
Nau Mpring: là hình thức Folklore ngôn từ được thể
hiện về lối nói có vần điệu.
Ót Mprơ: Đây chính là hình thức hát đối đáp của những
người lớn tuổi.
VĂN HỌC DÂN GIAN
Trang 42 Jõ nau nheng: Trong những cuộc vui, khi tàn rượu, nhiều người
kéo nhau về, chủ nhà và những người khách muốn kéo dài cuộc chơi, thì người ta dùng lối hát Jõ nau nheng
Tăm hôr (câu đố): Cũng là một loại hình dân gian được sử dụng
để thử tài trong những cuộc vui
Nau Mpring (Ót Mprơ, jõ nau nheng, Tăm hôr…) là những loại hình văn học dân gian khá phổ biến;
Nó không chỉ là lời nói vần đơn thuần mà chính là những bài dân ca giản dị, giàu hình tượng, giàu tình cảm Nó chứa đựng cả một kho trí thức dân gian đầy ước mơ cao đẹp của người
M’nông, mãi mãi được cộng đồng gìn giữ và lưu truyền qua các thế hệ
VĂN HỌC DÂN GIAN
Trang 43 Về tín ngưỡng bản địa, truyền thống (người
M’nông, Mạ và Ê đê):
Tín ngưỡng đa thần: Tương tự các tộc người bản địa
Tây Nguyên khác, tín ngưỡng cổ lưu, truyền thống của người M’nông thấm đẫm tư tưởng “vạn vật hữu linh”, hay quan niệm đa thần giáo.
Tín ngưỡng đa thần M’nông trong một số loại hình nghi lễ: Nghi lễ thuộc vòng đời người; Nghi lễ nông nghiệp; Nghi lễ bảo vệ phong tục, tập quán; …
TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VÀ TÔN GIÁO
Trang 44Các ngh nhân M’nông tỉnh Đắk Nông tái hi n ệ ệ
Lễ cúng dựng cây Nêu trong lễ ăn trâu, mừng vụ lúa b i thu ô
Trang 45 Lễ cúng
bến nước của người
Mạ ở bon N’Jriêng, Đắk Nia, Gia Nghĩa
Trang 46 Phật giáo, Công giáo, Tin lành trong đời sống các dân tộc M’nông, Mạ, Ê đê ở Đăk Nông:
(với tinh thần từ bi, bát ái, thân thiện) với các cộng đồng dân tộc bản địa Đắk Nông
ngắn hơn để người M’nông, người Mạ và Ê đê chuyển
niềm tin tín ngưỡng của mình từ các thần đất, thần rừng, thần nước… sang một Đức Chúa Trời duy nhất.
TÍN NGƯỠNG TRUYỀN THỐNG VÀ TÔN GIÁO
Trang 47Chùa Pháp Hoa, Gia Nghĩa Thiền viện Trúc Lâm, Đắk Song
Nhà thờ Gia Nghĩa Nhà thờ Đắk Mil
Trang 48người trong cộng đồng ưa thích, được bảo tồn, kế
truyền qua nhiều thế hệ và được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành một truyền thống
Đó là công trình mỹ thuật của cả cộng đồng
MỸ THUẬT DÂN GIAN
Trang 49 Trang trí trên nền vải:
Hoa văn trang trí trên nền vải thể hiện tập trung, phổ biến
và sắc nét trên váy, khố, áo, mền (chăn cũng là tấm
choàng, hoặc làm “áo giáp” của các chiến binh bộ lạc), tấm địu trẻ nhỏ, và gần đây, trên mặt ví, mặt túi thổ cẩm
…
Hoa văn trên nền vải là những trang trí tinh tế, điêu xảo với kỹ thuật cao, có sức hấp dẫn mạnh, sức biểu cảm sâu lắng, do bàn tay của giới nữ tạo nên ngay trên khung dệt.
MỸ THUẬT DÂN GIAN
Trang 50Trang phục lễ hội của người M’nông
Trang 51Già làng M'nông với áo rhap hình chữ X
Trang 52 Trang trí trên mây - tre:
Đồ đan bằng mây - tre ở các dân tộc bản địa tỉnh Đăk Nông chiếm một tỷ lệ rất cao trong các đồ gia dụng
rừng như chiếu, túi, thưng, giỏ…
MỸ THUẬT DÂN GIAN
Trang 53Đan gùi mới
Trang 55 Trang trí trong kiến trúc:
Chủ yếu là những hình chạm khắc bằng dao (Kgă), rìu trên khối độc mộc gắn liền với nhà ở (trên mặt cầu
thang ván, trên thân đôi cột ngăn, những đội cột hiên
và trên mặt nghiêng của cây quá giang kề bên đầu
những cột đôi này);
Với nhà mồ, tượng mồ, những cây nêu trong khuôn viên nhà thờ, những cây cột lễ cúng thần hay 4 cây cột vựa lúa trong ngôi nhà trệt của người Mnông Gar…
MỸ THUẬT DÂN GIAN
Trang 56 Trò chơi dân gian là một nét đẹp văn hóa tinh thần không thể thiếu của người Việt trong mỗi dịp tết đến xuân về, là kết tinh văn hóa, lối sống của cha ông được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Có đến 70% trò chơi của các dân tộc như M’nông, Mạ, Ê
đê, Tày, Nùng, Kinh… có nét tương đồng ở các dân tộc.
Do sự giao thoa văn hóa, sự sáng tạo của con người lại
có sự thay đổi trong cách thức tổ chức, hình thức thực hiện, luật chơi…
TRÒ CHƠI DÂN GIAN
Trang 57Lồng tồng (xuống đồng) cao hơn như bắn nỏ, đẩy
gậy, đi cà kheo, vật
TRÒ CHƠI DÂN GIAN
Trang 58Bịt mắt đánh chiêng Đấu vật ngày xuân
Múa khèn của đồng bào Mông Gánh nước qua cầu
Trang 59 Cũng như các dân tộc trên dãy Trường Sơn, đồng bào trên địa bàn tỉnh Đắk Nông từ xa xưa đã tạo cho mình nhiều món ăn dân dã
Họ chế biến thức ăn bằng 3 phương thức, gồm: Chế biến qua lửa, không qua lửa và kết hợp giữa qua lửa với không qua lửa để tạo thành phương thức thứ ba cho ra món ăn nguội, như món nộm, món tái…
MÓN ĂN TRUYỀN THỐNG
Trang 60Canh thụt
Trang 61Mâm cơm của người M’Nông