1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tap huan phuong phapban tay nan bot hoàn

32 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 632 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tà

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC KRÔNG NĂNG TRƯỜNG TH NGUYỄN THỊ MINH KHAI

TẬP HUẤN

PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”

Đliê ya, ngày 11 tháng 11 năm 2016

Trang 2

I Thế nào là phương pháp “ Bàn tay nặn bột”?

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp

dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi –

nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn

khoa học tự nhiên Thực hiện phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên

cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến

thức cho mình.

Trang 3

II Mục tiêu của PP “BTNB”

Phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham

muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học,

phương pháp bàn tay nặn bột còn chú ý đến rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.

Trang 4

III Một số PP tiến hành thực nghiệm tìm tòi

- Tổ chức sự nghiên cứu một cách chặt chẽ và có phương pháp;

- Xác lập các mối quan hệ bằng cách so sánh với các mô hình, những

hiểu biết và các đối tượng khác.

* Quan sát giúp HS phát triển các khả năng:

Trang 5

- Thí nghiệm trong PP “BTNB” được thực hiện để

kiểm chứng một giả thuyết đặt ra chứ không phải là

để khẳng định lại một kiến thức VD: để kiểm tra

giả thuyết: “Có phải không khí cần cho sự cháy

không?” HS làm thí nghiệm úp cốc thuỷ tinh lên

ngọn nến đang cháy để kiểm chứng

Trang 6

3 PP làm mô hình:

- PP làm mô hình thường được tiến hành theo nhóm

vì HS cần thảo luận với nhau để làm mô hình hợp lí.

- Mô hình đối với HS tiểu học chỉ nên thực hiện đơn giản nhằm làm rõ một kiến thức nhất định.

- Để tiết kiệm thời gian GV có thể chuẩn bị trước

một mô hình đúng để trình bày cho HS so sánh

trong trường hợp không có nhóm nào làm đúng

Trong trường hợp này GV cần giấu mô hình không cho HS nhìn thấy trước khi đưa ra trưng bày.

Trang 7

4 PP nghiên cứu tài liệu:

Khi cho HS tiến hành PP này, GV giúp HS xác định được:

– Động cơ đọc tài liệu: tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm

một định nghĩa, …

– Vấn đề nào cần quan tâm

– Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời.

– Kiểu thông tin nào đang cần có.

– Vị trí cần đọc, nghiên cứu trong tài liệu.

Trang 8

10 NGUYÊN TẮC CỦA PHƯƠNG PHÁP BTNB

1 Trẻ em quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với chúng và dễ cảm nhận và chúng thực

hành trên những cái đó.

2 Trong quá trình tìm hiểu, trẻ lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận

của mình, từ đó có những hiểu biết mà chỉ hoạt động, thao tác riêng lẻ không

đủ tạo nên.

3 Những hoạt động của giáo viên đề xuất cho học sinh nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và giành cho học sinh việc tự chủ khá lớn.

Trang 9

4 Cần một thời lượng tối thiểu là 2

giờ / tuần trong nhiều tuần liền cho

một đề tài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian

học tập.

5 Trẻ có mỗi em một quyển vở thực

hành do chính các em ghi chép theo

cách thức và ngôn ngữ chính các em.

6 Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành , kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ nói và viết.

Trang 10

7 Các gia đình, khu phố nơi các em sinh sống

khuyến khích thực hiện các công việc của

lớp học.

8 Ở địa phương các đối tác khoa học ( Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp hoạt động của lớp theo khả năng của mình.

9 Ở địa phương, các Viện đào tạo giáo viên giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương

pháp giảng dạy.

10 Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet

những mô đun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những

giải đáp thắc mắc Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, các nhà sư phạm và các nhà khoa học GV là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

Trang 11

Các bước của giờ học theo PP “Bàn tay nặn bột”

Bước 1: Đưa ra tình huống có vấn đề và xác định vấn đề cần giải quyết:

- Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một

tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách

hấp dẫn nhập vào bài học.

- Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với HS; nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề

- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học; cần đảm

bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức

và kích thích tính tị mị, thích tìm tịi, nghiên cứu của HS

nhằm chuẩn bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức

- GV dùng câu hỏi mở, tuyệt đối khơng được dùng câu hỏi đĩng (trả lời cĩ hoặc khơng) đối với câu hỏi nêu vấn đề.

Trang 12

Bước 2: Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh:

- Làm bộc lộ quan niệm ban đầu hay biểu tượng ban đầu

để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của HS là bước quan trọng đặc trưng của PPBTNB Trong bước này,

GV khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật hiện tượng mới (kiến thức mới)

trước khi học được kiến thức đó Khi yêu cầu HS trình bày quan niệm ban đầu, GV có thể yêu cầu bằng nhiều hình

thức biểu hiện của HS như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ.

Trang 13

Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực hiện:

• Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về

biểu tượng ban đầu của HS, GV giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đĩ Chú ý xốy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học.

Đây là một bước khá khĩ khăn vì GV cần phải chọn lựa

các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu

tượng của HS một cách nhanh chĩng theo mục đích dạy

học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đĩ theo ý đồ dạy học.

Trang 14

Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:

Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó Các câu hỏi có thể là: “Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi nói trên?”; “Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”…

Sau khi HS đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu, GV nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành PP thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.

Lưu ý rằng phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời Có nhiều PP như quan sát, TH thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu, …

Trang 15

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi- nghiên cứu:

- Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi-nghiên cứu mà

HS nêu ra, GV khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu.

- Khi tiến hành thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục

đích thí nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành Sau đó GV phát cho HS các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với các hoạt động.

- Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, GV nên dừng lại

để HS rút ra kết luận GV lưu ý HS ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thực hành.

Trang 16

Bước 5: Kết hợp và hợp thức hóa kiến thức.

- Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi – nghiên

cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình

thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.

GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại

để HS ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của HS cho kết luận sau khi thực nghiệm

Trang 17

• Vai trò của người giáo viên:

GV là người hướng dẫn:

- Đề ra những tình huống, những thử thách.

- Định hướng các hoạt động.

- Thu hẹp những cái có thể.

- Chỉ ra, thông tin.

GV là người trung gian:

- Là nhà trung gian giữa “thế giới” khoa học

• và học sinh.

• - Là người đàm phán với học sinh những thay đổi

nhận thức liên quan với những câu hỏi được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lí.

Trang 18

- Đảm bảo sự đoán trước và giải quyết các xung đột nhận thức.

- Hành động bên cạnh với mỗi học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp.

Trang 19

Vai trò của học sinh trong giờ học với

PPBTNB:

- HS quan sát một hiện tượng của thế giới thực tại và gần gũi với chúng về đề tài mà từ đó chúng sẽ hình thành các nghi vấn.

- HS tìm tòi, suy nghĩ và đề ra những

bước đi cụ thể của thực nghiệm, hoặc chỉnh lí lại những ca thất bại nhờ tra

những kết luận tạm thời hoặc cuối

cùng bằng ghi chép, biết phát biểu.

Trang 20

4 VỞ THỰC HÀNH

• HS tự do diễn đạt, ghi chép cá nhân về quá trình tìm tòi.

• Ghi chép ý kiến, quan niệm ban đầu, dự kiến, đề xuất.

• Ghi chép bằng chữ, hình vẽ, sơ đồ, mô hình.

• Ghi chép ý kiến chung của nhóm.

• GV và PHHS xem và kiểm tra việc HS có hiểu bài hay

không?

• Giúp HS nhớ kĩ và lâu hơn.

• GV nếu có sửa lỗi trong vở không dùng bút đỏ.

• HS dùng 2 màu mực: - ghi ý kiến cá nhân và nhóm – ghi

ý kiến của lớp.

Trang 21

• Vai trò của vở thực nghiệm:

• Vở thực nghiệm không áp đặt cách ghi nhưng có

mẫu sẽ thuận tiện cho các em trong việc ghi chép và đỡ mất thời gian của tiết học.

• Có nhiều cách để ghi: có thể các em sẽ ghi

bằng văn bản, bằng hình vẽ hoặc bằng sơ đồ.

đoán Phương án thí nghiệm Kết

quả 1

2 3

Trang 22

• Những điều lưu ý:

• - Thực hiện phương pháp này không thể nóng vội, cần

thực hiện từng bước để tạo thói quen cho học sinh lúc đó việc dạy học với PP BTNB sẽ dễ dàng và đem lại hiệu quả cao.

• - Tất cả các câu hỏi của học sinh đưa ra ta không bỏ qua

mà sẽ trả lời qua bài học ( câu hỏi nào chưa có trong nội dung bài ta cần khéo léo dẫn dắt để có kiến thức ở các bài

ta sẽ trả lời cho các em).

• - Trước giờ ta vẫn làm củng cố bài là phải nhắc lại nội

dung kiến thức để các em nhớ được thì nay với PPBTNB

sẽ là những thử thách mới để các em tìm tòi khám phá ở nhà cũng là bước chuẩn bị cho bài sau.

Trang 23

1/ Giáo viên:

- Thiết kế hệ thống câu hỏi rõ ràng, hợp lí.

- Với một số thí nghiệm đơn giản, GV có thể giao việc cho

HS bằng những phiếu giao việc, tự HS chuẩn bị các vật liệu cho nhóm của mình.

- GV cần chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết

quả như mong muốn.

2/ Học sinh:

- Chuẩn bị sẵn các câu hỏi

- Đề xuất các phương án thí nghiệm.

- Thực hành, thảo luận nhiều hơn, mạnh dạn, tự tin.

Ngày đăng: 02/04/2021, 18:02

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w