1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài soạn Lịch sử giáo dục Việt Nam

34 2,3K 46
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử giáo dục Việt Nam
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Thanh
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử giáo dục
Thể loại Bài soạn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 267,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam - Nho giáo là Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam, đó là học thuyết bao gồm các tư tưởng chính trị, đạo đức, triết

Trang 1

Giảng viên: Ths Nguyễn Thị Thanh

SĐT: 0985323096

Email: thanhhvqlgd@yahoo.com.vn

Lịch Sử Giáo Dục Việt Nam

Chương 1 NỀN GIÁO DỤC DƯỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM

1 Quá trình phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam

1.1 Quá trình dựng nước và giữ nước.

- Thời kì 1000 năm Bắc thuộc kéo dài từ TK thứ II TCN đến TK X là thời kì hình thànhgiai cấp phong kiến

- Lễ nghi Nho giáo được du nhập, Hán văn trở thành văn tự chính thức trong nhàtrường

- Chữ Nôm được sáng tạo, đạo Phật được truyền vào Việt Nam

1.2 Quá trình phát triển và những đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến Việt Nam

a Quá trình phát triển

- Chiến thắng của Ngô Quyền thắng quân Nam Hán mở ra một giai đoạn mới trong lịch

sử của chế độ phong kiến VN

- Từ TK X đến giữa TK XIX là thời kì tồn tại, phát triển và suy vong của chế độ phongkiến Có thể phân thành 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn xây dựng, phát triển (TK X - XV): Nhà Ngô, nhà Đinh, nhà tiền Lê,nhà Lý, nhà Trần

+ Giai đoạn phát triển cực thịnh (TK XV- XVI): Nhà Hồ, nhà Lê Sơ

+ Giai đoạn suy vong (TK XVII- giữa TK XIX, trước khi thực dân Pháp xâmlược) Cuối đời Lê Trung Hưng và nhà Nguyễn

Hùng Vương

(2000 năm

TCN)

Âu Lạc (TKII TCN)

Bắc thuộc (1000 năm)

Nước Văn Lang

18 đời Vua Hùng

dựng nước

An Dương Vương giữ nước, đóng đô

Trang 2

b Đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến Việt Nam

- Tổ chức nhà nước: là NN PK TW tập quyền, chịu ảnh hưởng của tổ chức nhà nước

Kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt lãnh đạo (TK XI);

+ Kháng chiến chống Nguyên Mông do nhà Trần lãnh đạo (TK XIII) ;

+ Kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo (TK XV) ;

+ Tây Sơn đánh quân Thanh ( TK XVIII)

- Kinh tế : Kinh tế nông nghiệp, tự cấp tự túc là mô hình kinh tế chiếm giữ vị trí thống

trị Ruộng đất nằm trong tay giai cấp địa chủ phong kiến

2 Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam

- Nho giáo là Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam, đó là học

thuyết bao gồm các tư tưởng chính trị, đạo đức, triết học, giáo dục do Khổng Tử

(551-479 TCN) là người sáng lập trong thời Trung Hoa cổ đại

- Về mặt chính trị: Mong muốn phục hưng lễ giáo nhà Chu, ổn định xã hội Trung Hoabằng đức trị và lễ trị

- Về nhân: Mong muốn tạo ra một mẫu người quân tử, tâng lớp trên của xã hội, đối lậpvới kẻ tiểu nhân Nhân quy lại là cách đối nhân xử thế giữa người và người theo chế độđẳng cấp và quan hệ tông pháp

- Các môn đệ xuất sắc nhất của Nho giáo gồm có Mạnh Tử (385-354 TCN), Tuân Tử(298-238)

- Nho giáo bao gồm 4 vấn đề cơ bản: TG quan duy tâm, quan niệm về lich sử, đạo đức,trị đạo

Bốn vấn đề cơ bản của nho giáo

1-Thế giới quan duy tâm : Tin là có trời Trời là chủ thể của vũ trụ, chi phối mọi

sự việc trên thế gian Bên cạnh trời có quỷ thần, quỷ thần bao quát được tất

cả Dần dần kính và thành trở thành cái gốc luân lí của đạo Nho và trở thànhcái gốc đạo đức luân lý của người VN

2-Quan niệm về lịch sử : Các nhà nho luôn tin vào lịch sử, dựa vào lịch sử vàkinh nghiệm của lịch sử để chứng minh cho đạo đức và trị đạo của mình

3-Quan niệm về đạo đức : Hạt nhân cơ bản của nho giáo là đạo đức, các quanđiểm đạo đức này chi phối và chỉ đạo đường lối trị nước và hình thành đạo đứccủa xã hội Cái học của nho giáo là đào tạo người hiền nhân, hiền giả

Trang 3

Quan niệm về đạo đức trong nho giáo

- Nho giáo chủ trương lấy đức để trị nước Đức ở đây là đạo đức của nhà vua Nội dungcủa đức là phải thực hiện được 3 điều: Thứ, Phú, Giáo (làm cho dân cư được đông đúc,kinh tế phát triển, dân được học hành)

- Đạo đức nho giáo cô đọng ở 2 chữ: Luân, thường hay Cương thường

Luân là ngũ luân, bao gồm 5 mối quan hệ: vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè.Sau này ngũ luân rút lại còn 3: vua tôi (Trung: trung quân, trung với vua); cha con(Hiếu: đạo hiếu); vợ chồng (biểu hiện ở sự phụ thuộc của người vợ đối với ngườichồng mà từ đó nảy sinh ra thuyết tam tòng) Đây là 3 mối quan hệ rường cột củachế độ phong kiến

Thường tức Ngũ thường, biểu hiện ở 5 đức tính của người quân tử Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,Tín Có được 5 đức tính này thì người quân tử trở thành người hiền Theo quanniệm của nho giáo, hạt nhân của đạo đức là chữ Nhân, biểu hiện cụ thể của nhân là

Lễ Con đường để đạt đến Nhân là chính danh

4-Trị đạo : Nguyên tắc trị đạo của Khổng Mạnh là chính danh và lễ trị

Chính danh: Khổng Tử quan niệm có Danh và Thực Danh là tên gọi, chức vụ,

thứ bậc của người nào đó phải phù hợp với Thực, tức là phận sự của người đó Danh vàThực trong mỗi người phải phù hợp với nhau tức là mỗi người phải làm theo đúngnghĩa vụ và bổn phận của mình

Lễ trị: theo quan điểm của Khổng Tử vừa là nghi lễ, vừa là thể chế chính trị, vừa là quyphạm đạo đức Trong mối quan hệ giữa Nhân và Lễ thì Nhân là nội dung của lễ, lễ làhình thức của nhân, nhân lnà chuẩn tắc để quy định lễ, lễ là quy định để thực hiện nhân

Lễ nghi phong kiến quy định các tục lệ thiết triều của vua, sắc phục, quần áo của cácphẩm hàm quan tước trong triều, các thủ tục ma chay, cưới xin, ăn hỏi…

3 Hệ thống tổ chức của nền GD PK VN:

3.1 Trường học thầy đồ: là loại trường tư thục được lập ra ở nông thôn, ở các làng xã

thu hút trẻ em từ 7 tuổi trở lên

- Tổ chức lớp học: số lượng HS không có quy định cụ thể, tùy vào tiếng tăm của thầy.

- Tài liệu học tập: Thông thường là các sách kinh điển của Nho gia, các bài văn, bài thơ

của các vị TS đã thi đỗ trước đó

Phương pháp dạy và học: PP thầy đọc, trò nghe, học thuộc lòng cổ sử, cổ văn, học

thuộc lòng những lời nói của cổ nhân, thánh hiền Kỉ luật học tập chủ yếu được duy trìbằng roi vọt đánh mắng

3.2 Một vài trường học nổi tiếng

Trường của thầy Chu Văn An (1292-1370), đời nhà Trần, ở xã Thanh Liệt, huyệnThanh Trì, ngoại thành Hà Nội

- Trường của thầy Trần ích Phát (TK XV, huyện Chí Linh, Hải Dương)

- Trường Nghi Am của thầy Nhữ Bá Sỹ thế kỉ XIX

- Trường của bà Ngô Chi Lan (TK XV) ở Kim Hoa, Đông Anh, Hà Nội

- Trường của bà Đoàn Thị Điểm (TK XVIII) ở huyện Mỹ Hào – Hải Dương

Trang 4

a Bộ máy tổ chức quản lí nhà trường (thời Nguyễn)

- Tế tửu và Tư nghiệp là chức quan quản lí cao nhất của nhà trường

- Đội ngũ quan văn làm công tác giảng dạy gồm có: học chánh, giáo thụ, trợ giáo (tốithiểu phải đỗ cử nhân)

- Học trò: có Tôn sinh thuộc dòng tôn thất, ấm sinh là con quan triều đình và con quanlại đứng đầu hàng tỉnh ở các địa phương, giám sinh là con quan lại nhỏ ở địa phươnghoạc những thanh niên tuấn tú xuất thân từ tầng lớp thường dân

Gồm những sách kinh điển chủ yếu của Nho giáo: Tứ thư, Ngũ kinh

- Tứ thư: 4 cuốn sách kinh điển của Nho giáo (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, MạnhTử)

- Ngũ kinh: gồm 5 kinh (Kinh thư, Kinh dịch, Kinh lễ, Kinh xuân thu) do Khổng Tửchép và chỉnh lí

4 Lực lượng giáo dục

- Gia đình: Truyền cho con cái những lễ nghĩa, quy tắc đức hạnh

- Hội đồng môn: những người bạn học tập hợp nhau lại, có trách nhiệm giữ gìn phẩmchất cho nhau và giữ gìn lòng biết ơn thầy day

- Hội tư văn: hội của các nhà Nho ở cùng một địa phương

5 Chế độ khoa cử

- Nhà Lý (1009-1225)

 1070 mở Quốc Tử Giám làm nơi học tập cho con em quý tộc quan lại

 Chế độ giáo dục và thi cử đã mang tính chất chính quy

 Giáo dục gắn với sự truyền bá Nho giáo

- Nhà Trần: Phật giáo và Đạo giáo vẫn được coi trong Nho giáo chưa hoàn toàn được

giữ vị trí độc tôn

- Nhà Hồ: Hồ Quý Ly coi trọng chữ Nôm Năm 1396 ông định phép thi Hương, thi

Hội, thi Đình Phép thi cử ngày càng trở nên quy củ

- Nhà Lê: Năm 1428, Lê Thái Tổ lập trường Quốc Tử Giám để cho con cháu quan lại

và các thường dân tuấn tú được vào học

Trang 5

Giai đoạn đầu thời Lê, chế độ khoa cử phát triển toàn diện, nho giáo chiếm vị chí độctôn và là tư tưởng chủ đạo

- Nhà Mạc: Lập một số văn miếu tại các tỉnh, cứ 3 năm mở một kỳ thi hội, thi đình để

tuyển chọn nhân tài

- Nhà Lê – Trịnh: Việc học vẫn phát triển, các khoa thi vẫn mở để tuyển chọn nhân tài.

Nhưng cuối đời nảy sinh nhiều tiêu cực, nền giáo dục bị suy thoái

- Vua Quang Trung: Việc học được mở rộng, chế độ thi cử được chấn chỉnh lại.

Quang Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức, chữ Hán không còn giữ vị tríđộc tôn

- Nhà Nguyễn: Năm 1918 là khoa thi Hương cuối cùng ở Việt Nam Địa vị thống trị

của Nho giáo không còn nữa

Ưu và nhược điểm của nền giáo dục dưới chế độ PK

+ Đào tạo ra thế hệ những con người bảo thủ, kìm hãm sự phát triển của xh

+ Tư tưởng GD độc quyền chi phối nền GD và chế độ khoa cử, tức là đào tạo và lựachọn quan lại cho bộ máy nhà nước PK (Trần Đình Hượu, 1989)

 Mục đích đầu tiên của GD là truyền đạt các khái niệm về đạo đức nho giáo và dạychữ Hán

 Tạo ra một lớp người hạn chế về suy nghĩ và tình cảm thực sự, những xác chết,những cỗ máy phục vụ cho cấp trên (Đào Duy Anh, 1937)

6 Một số nhà trí thức tiêu biểu

- Chu Văn An (1292-1370): là người xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà

Nội Ông đã làm đến chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám đời nhà Trần

- Hồ Quý Ly (1330- 1407): người làng Đại La, tỉnh Thanh Hóa, làm quan đời nhà Trần

và lập ra nhà Hồ

Ông đã chỉ ra những chỗ đáng nghi ngờ trong sách kinh điển, dịch Kinh Thi ra chữNôm

- Nguyễn Trãi (1380- 1442): là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn thế kỷ XV

- Lê Quý Đôn (1726- 1784) là nhà bác học lớn của VN TK XVIII, người làng Diên Hạ,

tỉnh Thái Bình Ông nêu ý kiến tiến bộ về phương châm học tập: phải biết nắm lấy cáichính, phải biết suy luận, không chỉ câu nệ vào sách vở, học phải hành

- Nguyễn Thiếp (1723-1804), người làng Nguyệt Ao, Đức Thọ, Hà Tĩnh đã đỗ Hương

cống đời Lê, làm quan thời vua Quang Trung

- Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh

Nghệ An Ông là người tiên tiến nhất trong tầng lớp trí thức phong kiến, đã nhận thứcđược xu thế tiên tiến của thời đại

Trang 6

- Những quan điểm giáo dục của Nguyễn Trường Tộ:

+ Ông phê phán nền học chạy theo lối khoa cử, học thuộc làu kiến thức trong " Tứ thư,ngũ kinh" để thi cử cho đỗ làm quan

+ Khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với thực tế XH

+ Phương châm giáo dục: Học gắn liền với hành, học thực dụng

+ Đề nghị đưa vào nội dung giáo dục thời đó những môn khoa học mới: Thiên văn, toánhọc, LS,ĐL, Pháp lý, Ngoại ngữ

+ Đề nghị thành lập các trường quốc học, tỉnh học và xây dựng mmọt số trường theo môhình kiểu Tây

+ Đề nghị mở hệ thống những trường chuyên nghiệp về nông nghiệp, khai khoáng, cơxảo, sơn lợi

+ Đề nghị triều đình cử người xuất dương du học

+ Đề nghị bỏ chữ Hán, dùng chữ quốc âm để dạy học

- Những cống hiến:

Nguyễn Trường Tộ là nhà cải cách lớn của xã hội VN vào buổi đầu thời cận đại.Đương thời, những đề nghị của ông chưa được chấp nhận nên chưa có nhiều đóng góp.Nhưng so với thời đại ông là người tiên tiến nhất trong tầng lớp trí thức PK Nhữngquan điểm của ông đánh dấu một bước phát triển mới của tư tưởng giáo dục dân chủbuổi đầu thời cận đại của xã hội Việt Nam

Thực hành:

1 Tìm hiểu nền giáo dục của các triều đại PK nước ta: Nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, nhà

Hồ, nhà Mạc, nhà Lê - Trịnh, nhà Nguyễn

2 Tìm hiểu những cống hiến về giáo dục của các nhà giáo dục PK lỗi lạc nước ta

- Thời gian: 5 tuần

- Cơ sở để tìm hiểu: Mạng Internet, các thư viện, các di tích văn hóa giáo dục như Quốc

tử giám, Văn miếu Mao Điền, Bảo tàng…

- Sản phẩm: Báo cáo, album, PowerPoit, Videoclip, kịch…….để tổ chức một triển lãmvào dịp 20/11

Chương 2

NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THỜI PHÁP THUỘC

1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc

1.2 Hoàn cảnh lịch sử (1858-1898)

- Triều đại PK cuối cùng trong lịch sử VN là triều đại nhà Nguyễn, ra đời năm 1802

- Ngày 1/9/1858 liên quân Pháp- Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức

mở màn cho cuộc xâm lược nước ta

- Các vua triều Nguyễn đầu hàng, từng bước cắt đất dâng cho giặc Năm 1884 nhàNguyễn kí hiệp ước Patơnot đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp

- Tôn Thất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi rời khỏi hoàng thành Huế, dựng cờ CầnVương, kêu gọi khởi nghĩa

Trang 7

- Các phong trào khởi nghĩa diễn ra vô cùng sôi nổi nhưng đều thất bại vì chưa có mộtgiai cấp thực sự tiên tiến lãnh đạo

- Trong thời gian 40 năm (1858-1898) thực dân Pháp đã hoàn thành cuộc xâm lược vàbình định Việt Nam

- Từ những năm cuối TK XIX, nước ta mất tên trên bản đồ thế giới, trở thành thuộc địacủa Pháp

1.2 Sự thiết lập và cai trị bộ máy cai trị thuộc địa của Pháp ở Việt Nam

Thực dân Pháp đã chia cắt nước ta thành 3 kì riêng biệt với 3 chế độ cai trị khác nhau,mỗi kì là một bộ phận của Đông Dương thuộc Pháp

- Ở Nam kì Pháp áp đặt chế độ trực trị mà đặc điểm của nó là sử dụng bộ máy quan lạicai trị thời PK, chồng lên trên là hệ thống quan lại cao cấp người Pháp

- Ở Trung Kì, áp đặt chế độ bảo hộ cho phép tồn tại triều đình Huế, vua, viện cơ mậtdưới sự bảo hộ, giám sát, chỉ đạo của Pháp

- Ở Bắc Kì áp đặt chế độ nửa bảo hộ, nửa trực trị Thực dân Pháp ban đầu ban cho triềuđình ít quyền hành trên danh nghĩa rồi thủ tiêu dần quyền hạn của triều đình và biếnthành một thuộc địa như Nam kì

Dù là ba kì với ba chế độ cai trị khác nhau, thực dân Pháp đều sử dụng bọn quan, địachủ, cường hào, ác bá làm tai sai Đó là sự cấu kết chặt chẽ giữa hai thế lực phảnđộng trong chính sách thống trị của chủ nghĩa thực dân

1.3 Chính sách áp bức, bóc lột về kinh tế

- Mục đích của cuộc xâm lược thuộc địa là biến thuộc địa thành thị trường độc chiếm,thành nơi cung cấp nguyên vật liệu, nhân công và tiêu thụ hàng hóa cho nền kinh tếchính quốc

- Thực dân Pháp đã tiến hành 2 cuộc khai thác đại quy mô (lần 1: đầu TK XX đến trước1914; lần 2: sau chiến tranh TG 1 đến 1930) nhằm khai thác thuộc địa, vơ vét tài nguyênthiên nhiên, cung cấp lợi nhuận cho tư bản Pháp

- Tăng cường chính sách thuế khóa để cung cấp ngân sách cho toàn Đông Dương, nuôisống một bộ máy quan lại đông đúc kể cả người Pháp và người Việt: thuế gián thu(thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện) đem lại 2/3 ngân sách Đông Dương; Thuế trựcthu (thuế đinh, thuế điền)

- Pháp tăng cường đầu tư vốn để xây dựng các công trình giao thông vận tải nhằm phục

vụ khai thác công thương nghiệp : mỏ (than, kim loại) và một số ngành khác (tơ lụa, sợi,thuốc lá)

Về thương nghiệp: thiết lập hàng rào quan thuế, giành thị trường Đông Dương độcchiếm cho tư bản Pháp

 Về nông nghiệp: tăng cường chiếm đất của nông dân để lập đồn điền, biến một bộphận lớn nông dân mất ruộng, lưu tán, bỏ làng mạc vào làm thuê cho các đồn điền  Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 1, các nước thuộc địa đã trở thành địaphương cung cấp sức người, sức của cho các nước đế quốc chính quốc đang thamchiến

Trang 8

- Quan hệ SX TBCN dưới hình thức thuộc địa đã hình thành ở Việt Nam một tình trạngkinh tế XH khá phức tạp dẫn đến sự phân hóa giai cấp và tạo ra những giai tầng mớitrong XH

 Giai cấp địa chủ PK trở thành chỗ dựa cho chính sách xâm lược của đế quốc Pháp  Giai cấp nông dân là giai cấp đông đảo nhất chiếm tuyệt đại đa số nhân dân trong

cả nước, là giai cấp bị áp bức bóc lột nặng nề

 Giai cấp tư sản ra đời khi giai cấp công nhân đã lớn mạnh và giữ vai trò lãnh đạo  Giai cấp nông dân hình thành trên quá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân Giai cấp tiểu tư sản là giai cấp trung gian trong XH và là nơi đón nhận mọi tư tưởng từmọi nơi đến

Sự phân hóa giai cấp mới dẫn đến sự xuất hiện của ý thức

hệ tư tưởng mới

 Hệ ý thức PK: đã lạc hậu lỗi thời

 ý thức tư sản nhu nhập vào VN thông qua các sĩ phu yêu nước tiến bộ vào đầu TKXX

 ý thức vô sản: Tiếng nói của giai cấp công nhân dần dần là tiếng nói tiêu biểu của dântộc Từ sau năm 1930, ý thức vô sản đã được xác lập trên vũ đài lịch sử

2 Chính sách GD ngu dân của thực dân Pháp ở VN

.2.1 Mục đích thi hành chính sách ngu dân

Thực dân Pháp chủ trương làm suy thoái tinh thần phản kháng và trỗi dậy lâu dàicủa dân ta để dễ bề thống trị

Chú ý đến chính sách văn hóa giáo dục, xem đó là công cụ để chinh phục tâm hồnnhững người dân thuộc địa

Chính sách ngu dân nhằm nô dịch hóa, bần cùng hóa, gieo giắc tâm lí tự ty, khiếp

sợ uy quyền " Đại Pháp" được ngụy trang dưới những chiêu bài ôchấn hưng nền họcằcủa người bản xứ, núp dưới những luận điệu đem ngọn đuốc văn minh đến khai phá chocác dân tộc còn lạc hậu

2.2 Các chủ trương mới trong lĩnh vực trường học

- Đào tạo tay sai, đào tạo công nhân và thợ lành nghề phục vụ cho yêu cầu khai thácthuộc địa

- Phổ biến nền văn hóa giáo dục nô dịch, thực hiện mưu đồ đồng hóa lâu dài đối vớidân tộc ta

- Thông qua việc dạy học và giáo dục nhằm làm cho thế hệ trẻ hiểu nền văn minh Pháp,sùng bái văn chương Pháp, từ đó coi khinh nền văn hóa cổ truyền của dân tộc và trởthành người dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc

- Mâu thuẫn nảy sinh giữa mong muốn làm ngu dân phải hạn chế mở trường và nhu cầuđào tạo tay sai, và âm ưu ru ngủ, đầu độc tinh thần thế hệ trẻ

- Đối tuợng, thành phần được học là con em những kẻ giàu có, tư sản, địa chủ PK vàtầng lớp trên trong XH

- Năm 1862, Pháp mở trường thông ngôn nhằm đẩy mạnh xâm luợc và khai thác thuộcđịa

Trang 9

- Năm 1871 mở trường sư phạm nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên tiểu học phục vụ choviệc phổ biến nền văn hóa nô dịch của Pháp

- Năm 1912, thực dân Pháp mở trường ĐH và phần lớn trong số họ sau khi học xongphục vụ cho chính quyền thực dân

- Chính quyền Pháp mở các loại truờng chuyên nghiệp đào tạo công nhân và thợ lànhnghề phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa

- Chúng hạn chế mở truờng và giới hạn quyền học tập ở mức thấp nhất đối với con emnhân dân LĐ

- Theo số liệu năm 1936 – 1937: Bậc sơ cấp (lớp vỡ lòng, lớp 1) có 2% dân số; bậctiểu học (lớp 2, 3, 4) có 0,4% dân số, bậc cao đẳng tiểu học (tương đương với trung học

cơ sở ) có 0,02%; bậc trung học tỉ lệ 0,0019%

- Thực dân Pháp đã tiến hành những cải cách đổi mới nội dung, tư tưởng giáo dục, cảicách học thuật và văn tự, thay thế hệ thống trường Hán học bằng hệ thống trường tiểuhọc Pháp-Việt

Các môn khoa học tự nhiên được đưa vào chương trình như: Toán, Lí, Hóa, Sinh.Các môn khoa học XH như Văn học, Lịch sử, Địa lí, Triết học đều như sách dùng bênPháp hoặc bên soạn lại để tăng cường tính chất nô dịch Thay thế chữ Hán bằngchữ Pháp, dùng chữ Pháp làm thứ tiếng dạy và học chính thức trong nhà trường để xúctiến việc du nhập nền văn hóa tư bản vào thuộc địa

Việc hủy bỏ chữ Hán còn nhằm mục đích giành giật ảnh hưởng đối với nền vănhóa phong kiến dân tộc cũ Đây là một biện pháp nhằm ngăn chặn những tư tưởng yêunước tiến bộ vào VN vì lúc đó chữ Hán đang được các sĩ phu yêu nước sử dụng đểtruyền bá tư tưởng yêu nước và bài Pháp trong nhân dân (Giáo trình không nói đến việc

sử dụng chữ Quốc ngữ, một phương tiện để trung hòa quá khứ tôn sùng văn hóa nhogiáo, trong hệ thống trường Pháp-Việt)

Đến năm 1919, chế độ khoa cử như dưới thời kì PK hoàn toàn bị bãi bỏ (Sự tan rã củatrường học thầy đồ và sự ra đi của các ông đồ)

Thực dân Pháp ngăn cấm HS VN đi du học ở nước ngoài vì đó chính là conđường tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản TG và của chính cáchmạng Pháp hoặc những tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản để tiến hành cách mạng trongnước Chính sách này thực sự thâm độc, nhằm hạn chế người VN tiếp xúc được những

tư tưởng cách mạng tiến bộ trên TG

2.3 Các chủ trương trong lĩnh vực hoạt động văn hóa xã hội

Triệt để dùng báo chí làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền chính sách thực dân,các quan niệm sống phương Tây, tuyên truyền đề cao văn hóa Pháp, miệt thị văn hóadân tộc

Thực dân Pháp cho ấn hành, xuất bản các loại sách triết học, lưu hành các loạisân khấu điện ảnh

Trong đời sống sinh hoạt xã hội, thực dân Pháp cổ vũ lối sống xa hoa trụy lạc củaCNTB: cho phép nấu rượu, mở sòng bạc, lập nhà chứa, tiêm hút thuốc phiện, tổ chứccác trò chơi nhân dịp kỉ niệm cách mạng TS Pháp

Trang 10

2.4 Dùng luật pháp để ngăn chặn ảnh hưởng và đàn áp những tư tưởng GD tiến bộ

Ngăn chặn ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng GD tiến bộ trên TG vào VN Kiểm soát chăt chẽ các con đường giao lưu văn hóa, ngăn cấm những tài liệutuyên truyền, sách báo có tư tưởng tiến bộ được du nhập vào VN

Tăng cường bộ máy cai trị, tổ chức quân đội, mật thám, chỉ điểm theo dõi cáchoạt động GD tiến bộ Xử phạt nặng nề GV và HS có những tư tưởng hoặc hoạt động

GD tiến bộ Đàn áp các gia đình có con em tham gia vào các tổ chức GDCM, khủng bốcác phong trào đấu tranh của HS, SV đòi tự do, dân chủ

3 Hậu quả của chính sách GD ngu dân

- Chính sách GD ngu dân của TD Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề; hơn 90% dân

số mù chữ

- Chính sách « dùng người Việt trị người Việt » đã làm ra đời một lớp người Việt mất

lương tri, bán dân hại nước

- Chính sách ngu dân của TD Pháp đã ngăn chặn sự phát triển của XH, ngăn chặn tinh

thần tự do dân chủ nhằm kìm hãm phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân VN

Chương 3

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG NỀN GD NÔ DỊCH CỦA TD PHÁP

1 Phong trào đấu tranh chống nền GD nô dịch do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo

Bước sang đầu TK 20, công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đã làm xuấthiện những yếu tố của nền SX TBCN, làm ảnh hưởng đến các gia cấp trong XH vàphong trào cách mạng đang diễn ra trong nước

Giai cấp PK Nhật Bản tiếp thu luồng tư tưởng tư sản mới và đã đưa nước Nhật từ

PK lên tư sản

Ở VN, các tư tưởng TS chỉ được thể hiện thông qua một số sĩ phu yêu nước Họ

đã phát động phát động phong trào cứu nước theo khuynh hướng dân chủ TS, tiêu biểu

là phong trào Đông du và Đông kinh nghĩa thục

Về phương diện GD, các phong trào vận động cứu nước cũng là cuộc đấu tranhquyết liệt chống lại nền GD nô dịch của TD Pháp Các cuộc đấu tranh có tổ chức hơn vàlan rộng ra cả nước ngoài Đấu tranh cho một nền GD độc lập, dân chủ và tiến bộ

Có sự chuyển biến của các cuộc đấu tranh, từ chỗ bất hợp pháp, nuối tiếc chomột nền học cũ đến có tổ chức và hướng tới một nền học dân chủ, tiến bộ

1.1 Phong trào Đông Du

Trong phong trào vận động cứu nước giải phóng dân tộc, các sĩ phu yêu nướcđặc biệt chú ý đến việc GD để « nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí », học tập các nướcvăn minh tiên tiến trong công cuộc Duy tân đất nước làm cho dân giầu nước mạnh đủsức chống xâm lược

Sự tư sản hóa của giai cấp PK Nhật Bản đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến tầnglớp sĩ phu yêu nước VN Một xu hướng Duy tân trỗi dậy: phong trào Đông du, đi về

Trang 11

phương Đông (Nhật Bản) để học tập và tìm đường cứu nước được phát động do PhanBội Châu lãnh đạo

Mục đích của phong trào duy tân là dùng bạo lực đánh đuổi thực dân Pháp giànhđộc lập cho Tổ Quốc với chủ trương là dựa vào sự giúp đỡ của Nhật Bản và các nướcphương Tây

Năm 1905, Phan Bội Châu lên đường sang Nhật để vận động cho du học sinhsang học Từ năm 1905- 1908, phong trào phát triển rất mạnh mẽ sôi nổi, số HS tăng lênrất nhanh và đã tạo nên một phong trào cách mạng sôi nổi, được nhân dân ta tích cựchưởng ứng

Tháng 8/1908, sau khi kí hiệp ước bắt tay với Nhật, Pháp thẳng tay đàn áp nhữnggia đình có con em du học, Nhật giải tán HS VN và trục xuất các lãnh tụ của phong trào

Vì vậy phong trào đã nhanh chóng tan rã và đi đến thất bại

Những đóng góp của phong trào Đông Du:

- Là phong trào đấu tranh sôi nổi nhất đầu TK 20

- Giác ngộ cho quần chúng ND thấy rõ bộ mặt của kẻ cướp nước, GD lòng yêu nước,căm thù giặc, ý chí đấu tranh vì độc lập, tự do của TQ

- Đào tạo được một đội ngũ chiến sĩ cách mạng có năng lực, thúc đẩy, lôi cuốn các sĩphu trong nước

Nguyên nhân dẫn đến thất bại của phong trào Đông Du:

- Phan Bội Châu đã tin tưởng vào sự giúp đỡ của Nhật Bản mà không nhận thấy bảnchất giai cấp giống nhau của thực dân và đế quốc: chúng đều là kẻ xâm lược và bóc lộtnhân dân thuộc địa

- Những người đuợc Phan Bội Châu lựa chọn đi du học phần lớn đều là con em gia đìnhgiàu có, thuộc tầng lớp trên và tầng lớp trung gian Điều này cho thầy phong trào Đông

du chủ yếu dựa vào sự phân biệt về nghề nghiệp, tôn giáo, địa vi, mà không dựa trênmột quan điểm giai cấp nhất định Vì thế mà phong trào chưa gây được ảnh hưởng mộtcách sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân lao động

1.2 Cuộc đấu tranh theo khuynh hướng cải lương, đại diện là Phan Chu Trinh

Song song với khuynh hướng bạo động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởixướng một phong trào đấu tranh chống lại nền GD nô dịch của thực dân Pháp theokhuynh hướng cải lương, ôn hòa Ông kiên quyết chống lại đường lối bạo động và cầungoại viện của Phan Bội Châu Ông chủ trương hai quan điểm: dân trí và dân quyền; cảicách và dựa vào Pháp để đánh đổ bọn vua quan PK

Về GD: - ông cổ luôn cổ vũ cho một nền tân học, thay lối học khoa cử bằng thực

học, bỏ chữ Hán, dạy chữ quốc ngữ, tuyên truyền GD cho nhân dân lòng yêu nước, lòng

tự trọng và nếp sống văn minh

- Ông tích cực diễn thuyết để tuyên truyền chủ nghĩa cải lương của mình, vận động mở

trường kiểu mới, bỏ chữ Hán, dạy chữ quốc ngữ, dạy vẽ, hát, thể thao Các sĩ phu tổchức các buổi diễn thuyết cổ động nền tân học, bàn luận các vấn đề văn hóa, xã hội, thời

sự quốc tế, tuyên truyền nếp sống văn minh (Một nền GD tiên tiến, gắn nhà trường vớithực tiễn XH So sánh với nền GD NT của chúng ta hiện nay)

Trang 12

Phong trào đấu tranh do Phan Chu Trinh lãnh đạo là cuộc đấu tranh tấn công trựcdiện vào chính sách VH GD nô dịch phản động của TD Pháp, có tác dụng nâng cao tinhthần yêu nước và tình cảm dân tộc Mặc dù phong trào chỉ hạn chế trong khuôn khổ cảilương, ôn hòa nhưng cuối cùng cũng bị thực dân Pháp trấn áp và đi tới chỗ thất bại.

1.3 Phong trào Đông kinh nghĩa thục

- Đông kinh nghĩa thục được thành lập tháng 3/1907 do sáng kiến của các sĩ phu yêunước tiến bộ với phương trâm cách mạng bằng văn hóa và chịu ảnh hưởng của Khánhhưng nghĩa thục nước Nhật Phong trào nhằm GD lòng yêu nước, truyền bá tư tưởngcanh tân trong nhân dân

- Đông kinh nghĩa thục không chỉ là một trường học mới mà còn là một tổ chức cáchmạng hoạt động công khai nhằm hưởng ứng cuộc vận động cứu nước do Phan Bội Châu

và hội Duy tân đang phát động lúc đó

- Đường lối của Đông kinh nghĩa thục là thông qua hình thức hoạt động công khai hợppháp của một nhà trường nhằm cổ động, bồi dưỡng lòng yêu nước, tuyên truyền nền họcthuật mới, và nếp sống văn minh, phổ biến tư tưởng dân chủ tư sản (Rousseau), phêphán lối học đắm say trong văn chương cử nghiệp của thời kì phong kiến

- Thực chất phong trào là đòn giáng mạnh vào hệ tư tưởng nho giáo và nền giáo dục

PK phản động đang được thực dân lợi dụng để duy trì chính sách ngu dân

Phân tích sự chuyển biến của XH về phương diện GD kể từ khi TD Pháp xâm lược Vn,

từ chỗ tẩy chay NT thực dân, tiếp tục mở trường tư ở nông thôn do các thầy đồ đảmnhiệm đến chỗ mở ra các trường học mới: đã có sự tiếp thu và cải cách nền GD của thựcdân

Đông kinh nghĩa thục thực sự là nơi thực hành tư tưởng Duy tân, phổ biến cho một nền

GD mới với nội dung, PP GD hoàn toàn mới Những tiến bộ của NT có thể ghi nhận ởnhững điểm sau:

- Đề cao phương châm tự lực cánh sinh: NT đã dựa vào sự nhiệt tình của các sáng lậpviên, của đông đảo quần chúng và sự đóng góp của các học viên để xây dựng cơ sở vậtchất, biên soạn sách vở, đồ dùng và chương trình DH

- Xây dựng PP DH mới: xuất hiện các hình thức tổ chức mới; diễn thuyết, đọc báo,đóng kịch, ngoại khóa, thảo luận, bàn bạc về các đề tài chính trị, thời sự quốc tế, KHthường thức

(Phân tích sự khác biệt với lối DH giáo điều, tầm chương trích cú trong thời kì phongkiến và hậu quả của nó PPDH mới này đã được phát huy trong NT hiện nay chưa?)

- PP GD đề cao nhân bản, tôn trọng con người: GD góp phần thúc đẩy nhân cách củangười học, tôn trọng tự do và phẩm cách của họ và mong muốn cho phụ nữ có quyềnbình đẳng hưởng GD từ đó phát huy vai trò của mình trong công cuộc duy tân đất nước

- Chú trọng GD sơ đẳng gắn với chuyên môn nghề nghiệp: quan niệm học để làmngười hữu dụng chứ không phải để đỗ đạt làm quan vì thế mà phải chú ý đào tạo cán bộchuyên môn cho từng ngành

- Đông kinh nghĩa thục là trường đầu tiên trong lịch sử GD VN có công trong việc xâydựng PP đào tạo con người theo quan điểm dân tộc, khoa học và hiện đại

Trang 13

Do ảnh hưởng của phong trào ngày càng lan rộng, Đông kinh nghĩa thục bị đóngcửa, các yếu nhân của phong trào lần lượt bị bắt bớ tù đầy Tuy chỉ tồn tại trongvòng 9 tháng nhưng phong trào đã gieo được những hạt giống đầu tiên cho một nền

GD dân tộc, dân chủ

Sự thất bại của phong trào thể hiện những hạn chế của thời đại và của giai cấp Các

sĩ phu yêu nước mới chỉ vượt qua được nhãn quan chính trị hạn chế của giai cấpmình để tiếp cận với tư tưởng dân chủ tư sản mà chưa đi xa hơn được nữa

Trong điều kiện giai cấp vô sản chưa hình thành, các phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc ở VN đứng trước một sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối

2 Phong trào đấu tranh chống nền GD nô dịch của TD Pháp do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo trước khi ĐCS Việt Nam ra đời

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác-Lê

nin đem lại cho cách mạng VN con đường giải phóng đúng đắn Người đã đi sang

phương Tây để tìm hiểu nguyên nhân của những thảm họa mà TD Pháp đã gieo rắc chodân tộc ta Người đã thấy rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành được thắng lợithì phải đi theo con đường CM vô sản, giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phónggiai cấp, độc lập dân tộc không thể tách rời CNXH và CNCS

Về mặt GD, Người ý thức được rằng công cuộc đấu tranh cho một nền GD dân

chủ phải gắn chặt với cuộc đấu tranh cho độc lập chính trị và xã hội

2.1 Nguyễn Ái Quốc tố cáo chính sách ngu dân của TD Pháp

Qua hai tác phẩm « Bản án chế độ thực dân Pháp » (1921) và « Đây công lí củathực dân Pháp ở Đông Dương » (1921-1926), Người đã vạch trần bộ mặt giả dối và sụphản động của TD Pháp

Sự xâm lược của TD Pháp đã làm thay đổi toàn bộ XH VN: đời sống ngày càngcùng cực, nạn mù chữ, thất học, dốt nát ngày càng tăng, người dân bị tha hóa bởi nghiệnrượu và thuốc phiện…Áp dụng mọi thủ đoạn để thi hành chính sách ngu dân: hạn chế

mở trường, cấm HS xuât dương du học, đàn áp khủng bố giáo viên, hủy bỏ nền Hánhọc…

2.2 Nguyễn Ái Quốc vạch trần tính chất giai cấp của nền GD nô dịch

Mục đích: đào tạo một tầng lớp tai sai phục vụ quyền lợi của giai cấp thực dân PK Đối tượng: con em giai cấp thống trị

Nội dung GD nghèo nàn, phản động, lạc hậu

Phương pháp GD giáo điều, nhồi sọ, trừng phạt và cưỡng bức HS

2.3 Những yêu sách đầu tiên đòi quyền học tập cho nhân dân Việt Nam.

Tại hội nghị Versailles tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã đòi chính phủ Pháp phải thừa nhậnquyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc VN trong đó có yêu sách đòiquyền học tập: tự do báo chí và tự do tư tưởng (điểm 3); tự do học tập và mở trường kĩthuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ (điểm 6) Các yêu sách đó đã khẳng địnhquyền tự quyết học tập của nhân dân VN và gây được tác động mạnh mẽ đến dư luậnthế giới

Trang 14

3 Cuộc đấu tranh chống nền GD nô dịch do Nguyễn Ái Quốc và ĐCS Đông Dương lãnh đạo

Năm 1930, ĐCS Đông Dương ra đời xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản.Cách mạng VN là CM dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp nhân dân lãnh đạo.Lực lượng chính của CM là công nhân và nông dân dưới sự lãnh đạo của ĐCS

Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của CM VN, Đảng đã vạch ra đường lối đúngđắn trên lĩnh vực giáo dục

3.1 Vạch trần tính chất phản động của chính sách văn hóa nô dịch

Đảng ta nhận rõ tính chất áp bức bóc lột nặng nề về chính sách KT, chính trị vàchính sách ngu dân của TD Pháp đã đẩy nhân dân ta vào con đường lam lũ, đói khổ, thấthọc: trẻ em phải đi làm mướn, bán cho địa chủ, phú nông…

Kìm hãm xã hội ta, hạn chế việc mở trường, rất ít người được có học thức

Nội dung GD phản động nhằm lôi kéo thanh niên vào con đường làm tay saitrung thành cho thực dân, đế quốc

Tóm lại: kể từ khi ra đời, Đảng ta luôn chú trọng đúng mức đến tình hình GD và

đánh giá đúng bản chất phản động của nền GD nô dịch Không chỉ tố cáo và vạch trầnbản chất GD của chúng, Đảng đã xây dựng hoàn chỉnh đường lối đấu tranh trên lĩnh vực

Đòi quyền học tập cho hết thảy các tầng lớp thanh niên thợ thuyền, thanh niên

nông dân, binh lính, dân nghèo thành thị Điều 5 (trang 96), điều 8 (trang 97).Trong

bản « Đề cương VH VN » năm 1943, Đảng đã đề ra ba nguyên tắc lớn của mọi cuộccách mạng văn hóa trong giai đoạn này:

- Dân tộc hóa: xác lập những yếu tố dân tộc, tinh thần dân tộc cho nền văn hóa mới, đấu

tranh về tiếng nói, chữ viết

- Khoa học hóa: đấu tranh chống lại nội dung GD phản động, xây dựng một nền GD

tiên tiến

- Đại chúng hóa: Gd phải trở thành quyền lợi của toàn thể quần chúng nhân dân LĐ,

phải xuất phát từ quyền lợi của quần chúng (so sánh với nền Gd nô dịch)

Đề cương VH thể hiện rõ quan điểm giai cấp trong cuộc đấu tranh cách mạng

VH tư tưởng và GD: giai cấp công nhân lãnh đạo (so sánh với các phong trào đấu tranh

do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo) Xuất phát từ quyền lợi của quần chúng và các giai cấp

bị áp bức bóc lột Nền GD được xây dựng sau khi giành được chính quyền sẽ là nền GDdân chủ nhân dân, vì dân, do dân mà phục vụ

Trang 15

3.3 Tổ chức việc học tập cho quần chúng nhân dân lao động và tổ chức lực lượng đấu tranh bằng nhiều hình thức

Với đường lối đấu tranh là « công nông hóa », Đảng hết sức chú trọng nâng caotrình độ tri thức phổ thông của quần chúng bằng cách lập các lớp học cho công nhân,lớp dạy chữ ban đêm cho nông dân

Năm 1926-1927, Thanh niên cách mạng đồng chí hội mở những lớp huấn luyệnchính trị ở Quảng Châu để đào tạo cán bộ cách mạng Các lớp dạy chữ đã được mở ratrong thời kỳ 1926-1929

Khẩu hiệu « biến nhà tù thành trường học » được thực hiện từ những năm

1930-1931 đến CM tháng Tám thành công Phong trào học tập lan rộng khắp nơi (cuộc vậnđộng học tập rất hiệu quả của Đảng)

Ngày 27/7/1938, Hội truyền bá chữ Quốc ngữ được thành lập nhằm chống nạn

mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa và giữ gìn tiếng nói của dân tộc Phong trào truyền

bá chữ Quốc ngữ ngày càng phát triển với sự phát triển của phong trào cách mạng

Sau 7 năm hoạt động (1938-1944), ở Bắc kì đã thanh toán được nạn mù chữ chohơn 4 vạn người, ở Trung kỳ được gần 1 vạn người và thu hút vào phong trào đông đảocác nhà trí thức yêu nước Phong trào thanh toán nạn mù chữ phát triển mạnh, cáctrường dạy chữ Quốc ngữ được mở ra ở nhiều nơi và phát triển trong chính hang ngũ bộđội cách mạng và hang ngũ quốc dân

Chương 4

NỀN GD VIỆT NAM TRONG NĂM ĐẦU TIÊN SAU CM THÁNG 8 (1945-1946)

1 Tình hình Việt Nam sau ngày cách mạng tháng Tám thành công 19/8/1945- 12/1946

• Về kinh tế: kiệt quệ nặng nề do chính sách bóc lột của TD Pháp

• Về văn hóa – xã hội:

- Nạn mù chữ, đói kém và các tệ nạn khác do chính sách ngu dân để lại

- Sự đe dọa của bọn đế quốc và tay sai với nền độc lập vừa dành được:

- Quân đội Anh và quân Tưởng tìm cách lật đổ chính phủ mới xây dựng được;

- Ngày 23/9/1945 thực dân Pháp đãn nổ súng đánh chiếm Sài Gòn quay trở lại xâm lượcNam Bộ

- Ngày 25/11/1945 ban Thường vụ TƯ Đảng và chính phủ ra chỉ thị kháng chiến kiến quốc

2 Ý nghĩa lịch sử của CM tháng Tám đối với việc xây dựng nền GD mới

• Phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của Pháp-Nhật, lật đổ chế độ PK, lập nên nước

VN dân chủ cộng hòa

• Đòi hỏi xây dựng một nền GD mới, nền GD dân tộc dân chủ

• Bản « Đề cương văn hóa » năm 1943 đã đưa ra một quan niệm tổng thể: Vănhóa là một trong ba mặt trận chiến đấu (mặt trận KT, CT, VH) Cuộc vận độngcủa Đảng chỉ có thể có hiệu quả khi Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vựcvăn hóa GD nằm trong khuôn khổ của cuộc CM ấy

Trang 16

• Ba nguyên tắc lớn trong cuộc vận động văn hóa là : Dân tộc hóa, KH hóa và đạichúng hóa

• Đảng và Hồ Chí Minh đã có những chủ trương và quyết sách nhằm xây dựng nền

GD mới

3 Những chủ trương đầu tiên về GD

• Ngày 3/9/1945, Hồ Chí Minh đã xác định 3 nhiệm vụ trọng tâm: diệt giặc đói,giặc dốt và giặc ngoại xâm Ba nhiệm vụ này có liên quan mật thiết với nhau (LêThành Khôi, 1978, trang 171)

• Bộ Quốc Gia giáo dục xác định tính chất của nền GD mới:

– Về tổ chức: là nền Gd duy nhất, chung cho toàn thể dân chúng

– Về mục tiêu và tính chất: tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, pháttriển tài năng cá nhân

– Về PP: đề cao tinh thần khoa học, phát triển óc phê bình, phân tích, tổnghợp, sáng tạo, gắn liền với thực tế

– Chú ý bồi dưỡng chuyên môn nghề nghiệp

4 Chiến dịch « diệt dốt » trong cả nước

• Ngày 3/9/1945, Hồ Chủ Tịch đã kêu gọi mở một chiến dịch « diệt đói » : hũ gạotiết kiệm, phong trào tăng gia sản xuất và « diệt dốt »

• Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch đưa ra ba sắc lệnh « Bình dân học vụ »:

– Chuyên lo việc học tập cho nhân dân

– Trong vòng 6 tháng, các làng xã phải mở lớp học thu hút ít nhất là 30người theo học

– Trong vòng 1 năm tất cả mọi người từ 8 tuổi trở nên phải biết đọc biết viếtchữ Quốc ngữ

• Tháng 10/1945, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi « chống nạn thất học » (trang 111)

• Tuyên truyền cố động rầm rộ cho chiến dịch « diệt dốt » nhằm động viên tinhthần, khí thế phấn khởi của hàng triệu người mù chữ tham gia vào chiến dịch

• Vận động quần chúng nhân dân giúp đỡ phong trào về cơ sở vật chất

• Các phong trào văn nghệ, ca nhạc, tập kịch tập trung khuyến khích mọi người đihọc bình dân học vụ

• Sử dụng một số biện pháp hành chính để diệt dốt

• Tổng kế biểu dương thành tích phong trào

• Xây dựng nội dung và PP giảng dạy bình dân học vụ (trang 113)

Những kết quả bước đầu của chiến dịch « diệt dốt »

• Phong trào lan rộng khắp cả nước thu hút học viên gồm đủ các lứa tuổi

• Lực lượng thanh niên học sinh trí thức tích cực tham gia giảng dạy các lớp bìnhdân học vụ

• Hồ chủ tịch theo dõi sát sao các bước đi của phong trào

• Tháng 9/1946, cả nước đã có 2 triệu người thoát nạn mù chữ

5 Giáo dục phổ thông

Bước đầu cải tổ và xây dựng GD trung tiểu học

Trang 17

- 9/1945: Hồ Chí Minh chỉ rõ sự khác biệt về bản chất, mục đích giữa nền GD

trong thời kì mới và GD dưới chế độ TD Pháp

- Gấp rút tháo gỡ khó khăn, mở thêm trường lớp mới

- Thiếu giáo viên đặc biệt ở bậc trung học và đại học Chính quyền đã vận dụng

chính sách trí thức của Đảng, tuyển dụng hầu hết các giáo sư và giáo viên cũ

- Các địa phương tự lập trường, mời thầy dạy: sinh viên ĐH, trung học phổ thôngđược tuyển làm GV

- Hoạt động của các trường lớp cũ được khôi phục lại và mở thêm được nhiều trườnglớp mới

• Cải tiến chương trình giáo dục trung tiểu học

- Chuyển hóa dần nội dung, PP giảng dạy phù hợp với bản chất của nền GD mới

- Sử dụng chữ Quốc ngữ từ phổ thông đến Đại học, thể hiện nguyên tắc tính dântộc trong GD

- Xây dựng hệ thống các khái niệm mới về khoa học và kỹ thuật bằng Tiếng Việt

- Xây dựng các thuật ngữ khoa học kỹ thuật bằng ngôn ngữ của dân tộc khôngphải là việc đơn giản và không chỉ có thể dịch từ tiếng nước ngoài

- Các thuật ngữ này phải đảm bảo:

- tính khoa học: chính xác, rõ ràng và mang tính hệ thống (hiểu một thuật ngữ cho

phép hiểu những thuật ngữ có liên quan)

- tính dân tộc: các thuật ngữ khoa học phải được xây dựng bằng tiếng Quốc ngữ,

tuân theo cấu trúc và hệ thống ngữ âm của nó

- tính đại chúng: trong hoàn cảnh mà khoa học không chỉ là của riêng của những

người thông thái, nó là ngôn ngữ của đại bôi phận nhân dân vì nếu nó xa rời quần chúngviệc sử dụng nó sẽ bị cản trở

Để đảm bảo được ba nguyên tắc này, các thuật ngữ khoa học phải ngắn gọn, dễ đọc, dễhiểu và dễ nhớ

Ví dụ:

- những khái niệm về toán học và vật lý: lực, trường, hệ, hàm, căn

- Ca -nô, mô-tô, cao-su

- Phi cơ, không phận, huyền phù, nhũ tương

• Sửa đổi lại chương trình, biên soạn lại SGK

- Ngày 10/10/1945, « Hội đồng cố vấn học chính » gồm các giáo chức giàu kinhnghiệm, các nhà hoạt động xã hội, yêu nước được thành lập nhằm nghiên cứu cảicách, theo dõi thực hiện, tư vấn các vấn đề thuộc về KH GD

- Dự định xây dựng chương trình GD chuyển tiếp bậc tiểu học:

- Bậc tiểu học còn 4 lớp, rút ngắn lại 2 năm so với bậc học cũ (6+4+3)

- Áp dụng chương trình cũ ở một số môn KHTN, bỏ chương trình môn học lí luận cũ,thay vào chương trình mới về « Công dân giáo dục và đạo đức » nhằm cung cấp cho

HS những khái niệm đạo đức mới như lòng yêu nước, bổi phận của con người trong

XH

Ngày đăng: 25/11/2013, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Thời kì 1000 năm Bắc thuộc kéo dài từ TK thứ II TCN đến TK X là thời kì hình thành giai cấp phong kiến - Bài soạn Lịch sử giáo dục Việt Nam
h ời kì 1000 năm Bắc thuộc kéo dài từ TK thứ II TCN đến TK X là thời kì hình thành giai cấp phong kiến (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w