1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu Đây Thôn Vĩ Dạ

14 446 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đây thôn Vĩ Dạ
Tác giả Hàn Mặc Tử
Trường học Trường Đại Học Huế
Thể loại thơ
Năm xuất bản 1938
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 12,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc, một cô gái quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi sứ Huế thơ mộng và trữ tình... Bài

Trang 1

Hàn Mặc Tử

Trang 2

I Tiểu dẫn.

Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử (tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh 22 tháng 9 năm

1912 – mất 11 tháng 11 năm 1940) là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dịng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.

Ơng sinh ra ở làng Lệ Mỹ, tỉnh Đồng Hới (nay là tỉnh Quảng Bình) trong một gia đình viên chức nghèo theo Đạo Thiên Chúa.

1 Tác giả.

Cha mất sớm, ông sống với mẹ ở Quy Nh n và có hai năm học ơ trung học tại trường Pellerin ở Huế Sau đó ông làm công chức ở sở Đạc điền Bình Định rồi vào Sài Gòn làm báo Đến năm 1936, mắc bệnh phong, ông về hẳn Quy Nhơn chữa bệnh và mất tại trại phong Quy Hoà

Trang 3

Tuy cuộc đời nhiều bi thương nhưng Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới.

Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 14, 15 tuổi, với các bút danh như: Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh,… Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này Ông bắt đầu sáng tác bằng thơ cổ điển Đường luật, sau chuyển sang khuynh hướng Thơ mới lãng mạn Qua diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn, hướng về cuộc đời trần thế.

Trang 4

Các sáng tác của Hàn Mặc Tử, gồm có:

• Lệ Thanh thi tập (gồm toàn

bộ các bài thơ Đường luật).

• Gái Quê (1936, tập thơ duy

nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời).

• Thơ Điên (hay Đau Thương,

thơ gồm ba tập: 1 Hương thơm; 2 Mật đắng; 3 Máu cuồng và hồn điên).

• Xuân như ý.

• Thượng Thanh Khí (thơ).

• Cẩm Châu Duyên.

• Duyên kỳ ngộ (kịch thơ).

• Quần tiên hội (kịch thơ, viết

dở dang).

• Chơi Giữa Mùa Trăng (tập

thơ – văn xuôi).

• Ngoài ra còn có một số bài phóng sự, tạp văn, văn tế.

Trang 5

2 Tác phẩm.

Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938, in

trong tập Thơ Điên (về sau đổi thành Đau Thương) Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc, một cô gái quê ở Vĩ Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi sứ Huế thơ mộng và trữ tình.

a Xuất xứ

b Bố cục

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Gồm 3 phần:

• Phần 1: Khổ 1: Cảnh vườn tược và con người thôn Vĩ.

• Phần 2: Khổ 2: Cảnh sông nước mây trời xứ Huế.

• Phần 3: Khổ 3: Hình ảnh người thiếu nữ Huế và tâm

trạng tình yêu của nhà thơ.

Trang 6

?

Trang 7

Bài thơ mở đầu bằng một câu hỏi đặc biệt gần như vơ định nhưng thực chất là cách cái tơi trữ tình tự phân thân để chất vấn và bộc lộ tâm trạng của mình.

Sao anh khơng về chơi thơn Vĩ?

Nhìn , nắng mới lên.

II Đọc – Hiểu Văn

Bản.

Nắng hàng cau nắng mới lên: gợi vẻ đẹp

tinh khơi, thanh khiết; giản dị mà giàu sức gợi.

nắng hàng cau

Trang 8

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Mướt quá: vừa là sự cực tả tính chất của cảnh vật nhưng đồng

thời cũng thể hiện cảm giác chới với của nhân vật trữ tình khi đối

diện với một điều gì đó xa vời.Cùng với từ vườn ai: gợi cảm giác

mơ hồ, bất định gây ấn tượng về một vẻ đẹp bí ẩn không thể chiếm lĩnh, không thể sở hữu

Vườn: mướt quá vừa là một sự cực tả cái vẻ mượt mà, non tơ,

óng chuốt, mơn mởn xanh tươi vừa thể hiện giọng điệu trữ tình

mê đắm, say sưa Hình ảnh so sánh xanh như ngọc rất tự nhiên,

giản dị nhưng vẫn gợi một vẻ đẹp trong sáng thanh thoát và sang trọng, gợi lên vẻ đẹp tốt tươi, màu mỡ và trù phú của làng quê này

Hình ảnh lá trúc che ngang mặt chữ điền: Mặt chữ điền”, gợi cho

người đọc nhớ tới hình ảnh người đàn ông có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính Thể hiện mối quan hệ người - cảnh

Gợi vẻ đẹp kín đáo, e ấp.

Trang 9

Gió theo lối gió, / mây đường mây

Dòng nước buồn thiu / hoa bắp lay

Hình ảnh: gió, mây được cảm nhận trong trạng thái

chia lìa.

Dòng nước – buồn thiu: bằng nghệ thuật nhân hoá, tác giả

đã phả hồn vào dòng sông Dòng sông dưới cảm nhận của Hàn Mặc Tử không còn vô tri vô giác mà cũng có nỗi niềm,

có tâm trạng (Ở đây, nỗi buồn đã được hình tượng hoá, nỗi buồn được bộc lộ trên gương mặt, diện mạo của sự vật lan toả và thấm đẫm vào không gian).

Nhịp điệu: 3/4 (thay vì 2/2/3), mỗi đối tượng bị cắt đôi trong một khuôn nhịp riêng biệt, làm nổi bật sự chia lìa xa nhau Nhịp thơ cắt đôi tựa như sự chia rẽ, chia phôi ngang trái.

Trang 10

Sông nước được miêu tả gắn với hình

tượng trăng sông  sông trăng, thuyền 

thuyền trăng: gợi không khí mơ hồ huyền

ảo, đẹp một cách thơ mộng Cảnh vật đã được ảo hóa gợi lên cảm giác chơi vơi trong tâm trạng của nhà thơ.

Thuyền ai đậu bến sông trăng, gợi sự

mơ hồ, xa lạ không thể sở hữu Một chữ kịp khiến cho khoảng thời gian tối nay càng trở nên ngắn ngủi, như

một giới hạn trong quỹ thời gian ít ỏi còn lại của thi nhân.Cảm giác phấp phỏng, lo âu, khắc khoải tràn ngập ý thơ.

Trang 11

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Nhịp thơ: gấp gáp, khẩn khoản hơn; dường như sự khắc khoải, bất an và hoài nghi trong lòng người

đã biến thành nhịp điệu.

Khách đường xa lặp lại hai lần, lần sau

mất chữ mơ khiến

thanh âm trở nên khắc khoải hơn, làm tăng thêm nỗi niềm khao khát của thi

nhân Khách + đường xa gợi cảm

giác xa xôi, trống trải.

Chữ quá trong câu thơ thứ hai

như xót xa nuối tiếc Hình ảnh

sương khói hiện hữu chiếm

lĩnh ý thơ Tất cả tan vào

sương khói như một ảo ảnh

Cái tôi trữ tình đau đớn, xót xa

trước một sự thật quá phũ

phàng.

Từ ai lặp lại hai lần, tạo thành

một câu hỏi tha thiết mà xót xa

của một tâm hồn đang khao

khát được yêu, khao khát sự

đồng điệu, đồng cảm, tâm

trạng bất an, hoài nghi cùa cái

tôi trữ tình.

Một màu trắng lạnh lẽo của ảo

ảnh, của sương khói gợi cảm

giác huyền hồ bất định.

Trang 12

III Kết luận.

Đây thơn Vĩ Dạ là một bức tranh về xứ Huế, bức tranh

ấy được vẽ bằng hồi niệm nhuốm đầy tâm trạng, những hình ảnh giản dị nhưng đầy sức biểu cảm vẫn gợi lên hình ảnh về một xứ Huế thơ mộng, trữ tình nhưng xa xơi trong cảm nhận của thi nhân.

Cĩ thể nĩi: Đây thơn Vĩ Dạ là tiếng nĩi của một cái tơi

bơ vơ, cơ đơn luơn khao khát hướng về cuộc đời, là khát vọng ngàn đời của con người về sự đồng cảm, đồng điệu mà tình yêu và hạnh phúc lứa đơi là biểu hiện cao nhất.

Sự vận động của tâm trạng: đi tìm cái đẹp của cõi thực, cõi thực hờ hững Đi tìm sự đồng cảm đồng điệu của cõi mộng, cõi mộng hư ảo, mù mịt Cho nên đắm say rồi nguội lạnh, băng giá, mộng rồi lại tỉnh Đĩ

là cái logic vận động trong tâm trạng của một cái tơi trữ tình, ham sống và yêu đời.

Trang 14

Cảm ơn cô và các bạn

đã chú ý lắng nghe

Cảm ơn

cô và các bạn

đã chú ý lắng nghe

Good Bye, See You Again!

Ngày đăng: 24/11/2013, 20:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• Phần  3:        Khổ  3: Hình  ảnh  người  thiếu  nữ  Huế  và  tâm  trạng tình yêu của nhà thơ. - Tài liệu Đây Thôn Vĩ Dạ
h ần 3: Khổ 3: Hình ảnh người thiếu nữ Huế và tâm trạng tình yêu của nhà thơ (Trang 5)
Hình ảnh lá trúc che ngang mặt chữ điền: Mặt chữ điền”, gợi cho  người đọc nhớ tới hình ảnh người đàn ông có khuôn mặt vuông  vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính - Tài liệu Đây Thôn Vĩ Dạ
nh ảnh lá trúc che ngang mặt chữ điền: Mặt chữ điền”, gợi cho người đọc nhớ tới hình ảnh người đàn ông có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w