Bµi häc kinh nghiÖm: Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy để có một tiết dạy thành công giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trên đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh b[r]
Trang 1I Lí DO CHỌN ĐỀ TÀI
1- Cơ sở lớ luận :
Mụn Ngữ văn là một môn học có tầm quan trọng trong nhà trường, trước hết là mụn học thuộc nhúm khoa học xó hội, điều đú núi nờn tầm quan trọng của nú trong việc giỏo dục quan diểm, tư tưởng, tỡnh cảm cho học sinh Núi như nhà văn hào Nga Macxim
gorki : "Học văn là học làm người" Học tốt mụn ngữ văn sẽ giỳp học sinh rất nhiều
trong giao tiếp với đời sống xó hội, gia đỡnh và bố bạn
Tư tưởng và cũng là mục đớch của hoạt động đổi mới phương phỏp dạy học mụn Ngữ văn cũng như cỏc mụn khỏc trong nhà trường phổ thụng hiện nay là tớch cực hoỏ hoạt động học tập của học sinh trong giờ học Với ý nghĩa người học tự giỏc chủ động trong lĩnh vực học và vận dụng kiến thức, kĩ năng, tạo điều kiện cho tất cả cỏc đối tượng học sinh đều được suy nghĩ, tỡm tũi, khỏm phỏ Học sinh được coi là những đối tượng vốn cú sẵn những tiềm năng mà giỏo viờn cú nhiệm vụ đỏnh thức, tạo điều kiện để những tiềm năng đú được phỏt triển tối đa, đặc biệt là tiềm năng sỏng tạo
Để giờ dạy văn đạt hiệu quả người dạy phải chú ý đến phương pháp giảng dạy sao cho phỏt huy tớnh tớch cực học tập của học sinh Đây khụng phải là vấn đề mới cú mà nú
đó được đặt ra trong ngành giỏo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỷ XX và đó được xỏc định là một trong cỏc phương hướng của cuộc cải cỏch giỏo dục từ năm 1980
Đến nghị quyết TW4 khoỏ VII đó xỏc định phải: '' khuyến khớch tự học '' phải ỏp
dụng những phương phỏp giỏo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sỏng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Nghị quyết TW2 khoỏ VIII tiếp tục khẳng định: " Phải đổi mới phương phỏp giỏo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rốn luyện thành một nếp tư duy sỏng tạo của người học, từng bước ỏp dụng cỏc phương phỏp tiờn tiến hiện đại vào quỏ trỡnh dạy học bảo đảm điều kiện và thời gian tự học tự nghiờn cứu cho học sinh”
Trang 2Như vậy, định hướng đổi mới PPDH đó được khẳng định, khụng cũn là vấn đề tranh luận Cốt lừi của việc đổi mới PPDH ở trường THCS là giỳp HS hướng tới việc học tập chủ động , chống lại thúi quen thụ động
Cựng với định hướng đổi mới đó được xỏc định thỡ Bộ giỏo dục đó nghiờn cứu SGK cho phự hợp Việc thay đổi chương trỡnh SGK gần 4 năm học vừa qua nhằm để đạt được mục đớch mà Đảng ,Nhà nước đó đề ra
Đỏnh giỏ một giờ học thành cụng theo quan điểm đổi mới PPDH chỳng ta khụng chỉ khẳng định vai trũ của người giỏo viờn mà đú cũn là sự đúng gúp to lớn của học sinh Như vậy chỳng ta đều thấy rằng vị trớ hoạt động học, tớnh tớch cực học tập của người học là vụ cựng quan trọng
2 - Cơ sở thực tế :
Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS Hiến Nam tôi nhận thấy việc
đổi mới và tìm ra một phương pháp dạy văn cho phù hợp và hiệu quả là một điều hết sức cần thiết, điều đó giúp cho học sinh cảm thụ và học tốt môn Ngữ văn Trong thực tế hiện nay môn Ngữ văn có phần “ yếu thế” hơn các môn khoa học tự nhiên, đa phần học sinh chú trọng đến các môn như: Toán, lý, hoá Vì vậy, mà việc đưa ra một phương pháp dạy
để thu hút học sinh vào môn ngữ văn là điều ma cá nhân tôi cũng như nhiều giáo viên dạy môn Ngữ văn luôn trăn trở
Qua thực tiễn giảng dạy tụi luụn xỏc định phải đổi mới PPDHvà thực hiện theo tinh thần đú để phỏt huy được tớnh tớch cực, chủ động, sỏng tạo của HS, mọi HS trong lớp đều được suy nghĩ, tỡm tũi, khỏm phỏ, cảm thụ tỏc phẩm
Từ thực tế giảng dạy của mỡnh tụi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến về biện phỏp cú thể vận dụng trong giờ học Ngữ văn nhằm phát huy năng khiếu văn và nâng cao hiệu quả chất lượng của giờ dạy và học văn ở trường THCS đặc biệt là chương trình Ngữ văn lớp 7
Với những lí do trên cùng với thực tế đang giảng dạy môn Ngữ văn 7 ở trường THCS tôi mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm “ Phương pháp dạy một tiết Ngữ văn 7”
Trang 3II NỘI DUNG phương pháp
1: Nội dung
Chương trình Ngữ văn 7 có thể coi là chương trình tương đối khó trong các khối lớp của bậc THCS Nó bao gồm các nội dung:
Về văn bản gồm :Văn học dân gian,( ca dao tục ngữ ), thơ trung đại và văn học hiện đại
Về tập làm văn gồm văn biểu cảm, văn nghị luận và văn bản hành chính
Về tiếng việt gồm một số từ loại như : Từ ghép, từ láy, đại từ, từ Hán Việt…và một
số kiểu câu đơn như: Câu rút gọn, câu đặc biệt….Một số biện pháp tu từ như chơi chữ ,
điệp ngữ, liệt kê Một số cách mở rộng câu như: Thêm trạng ngữ cho câu, dùng cụm chủ-
vị để mở rộng câu…
Về nội dung tương đối nhiều kiến thức đặc biệt trong đó nội dung văn nghị luận là tương đối khó với học sinh lớp 7 vì trình độ lập luận, tư duy logic của học sinh lơp 7 chưa
đạt đến mức độ yêu cầu
2: Phương pháp
Dạy học Ngữ văn theo phương pháp mới làm cho học sinh trở thành một chủ thể
hoạt động tích cực sáng tạo để lĩnh hội kiến thức “ Người học là chủ thể kiến tạo tri
thức rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ”.
Tạo cho học sinh hứng thú động cơ niềm lạc quan trong quá trình học tập là động lực thúc đẩy học sinh tích cực tự giác chủ động sáng tạo
Còn người thầy phải là người tổ chức chỉ đạo điều khiển các hoạt động học tập tự giác và sáng tạo của học sinh Để thực hiện tốt hiệu quả một tiết dạy người thày phải:
- Lập kế hoạch cho quá trình dạy học cả về mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức
- Biến ý đồ dạy học của mình thành nhiệm vụ tập tự nguyện tự giác của trò tạo tình huống để trò hoạt động
- Điều khiển quá trình học tập của học sinh trên cơ sở yêu cầu chỉ dẫn trợ giúp
đánh giá động viên
Trang 4- Chuẩn xác đồng nhất hoá kiến thức riêng lẻ của học sinh thành tri thức khoa học xã hội ( tri thức mới )
- Chuẩn bị tốt nội dung và đồ dùng dạy học phù hợp với bài dạy
III Phương pháp cụ thể
Để dạy tốt môn Ngữ văn ( cụ thể là một tiết Ngữ văn ) có hiệu quả thì ngoài những việc chuẩn bị trên người giáo viên đặc biệt phải chú ý đến phương pháp bao gồm hệ thống câu hỏi, cách đặt vấn đề, cách giải quyết vấn đề đặt ra và mục đích cuối cùng là học sinh nắm được nội dung và vận dụng vào việc làm bài tập Với cá nhân tôi, tôi đã áp dụng một số phương pháp và biện pháp cụ thể sau:
1 Dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
- Đõy khụng phải là vấn đề mới nhưng điều đỏng chỳ ý là viờc tập dượt cho học sinh phỏt hiện và giải quyết vấn đề khụng chỉ thuộc phạm trự PPDH mà trở thành một mục tiờu giỏo dục, bảo đảm cho con người thớch ứng được với sự phỏt triển của xó hội hiện đại Dạy học đẹt và giải quyết vấn đề cú thể phõn biệt 4 mức độ:
* Mức độ 1: Giỏo viờn đặt vấn đề, nờu cỏc giải quyết vỏn đề; HS thực hiện cỏch giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của GV GV đỏnh giỏ kết quả làm việc của học sinh
* Mức độ 2: Giỏo viờn nờu vấn đề, gợi ý để học sinh tim ra cỏch giải quyết GV và học sinh cựng đỏnh giỏ
* Mức độ 3: Giỏo viờn cung cấp thụng tin, tạo tỡnh huống; Học sinh phỏt hiện và
sỏc định vấn đề nẩy sinh tự lực đề xuất giả thiết và lựa chọn giải phỏp - HS thực hiện cỏch giải quyết vấn đề với sự giỳp đỡ của giỏo viờn khi cần GV - HS cựng đỏnh giỏ
* Mức độ 4: HS tự phỏt hiện vấn đề nẩy sinh trong hoàn cảnh của mỡnh hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề phải giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đỏnh giỏ chất lượng và hiệu quả
Vớ dụ: Khi dạy văn bản " Cuộc chia tay của những con bỳp bờ ''.
( Ngữ văn 7 - tập I )
Trang 5- GV nêu vấn đề: Trong truyện có mấy cuộc chia tay ? cuộc chia tay nào làm em cảm động nhất ? vì sao? tại sao tác giả lại đặt tên truyện là " Cuộc chia tay của những con búp bê " ?
- HS bàn luận, nêu và bảo vệ ý kiến của mình
- GV và HS cùng đánh giá : Thực chất trong truyện có nhiều cuộc chia tay
+ Cuộc chia tay giữa bố và mẹ đây là cuộc chia tay không trực tiếp nhưng lại đong vai trò đầu mối dẫn đến các cuộc chia tay khác
+ Cuộc chia tay của các đồ chơi
+ Cuộc chia tay với cô giáo và bạn bè
+ Cuộc chia tay của hai anh em
Các cuộc chia tay đều cảm động, dầy lưu luyến, đầm đìa nước mắt ( Học sinh lưa trọn giải thích về một cuộc chia tay cho là cảm động nhất )
Vận dụng PPDH này, tôi nhận thấy các em học sinh rất tích cực học tập có hứng thú say
mê với vấn đề cần giải quyết trong bài Các em thể hiện năng lực cảm thụ cá nhân rất rõ kết quả là học sinh trong lớp hiểu nội dung bài rất sâu
2 DH kết hợp nhiều hình thức dạy học nhất là hình thức dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ.
Lớp học chia thành những nhóm từ 4 - 6 em, nhóm tự bầu nhóm trưởng Trong nhóm phân công mỗi thành viên hoàn thành một phần việc Làm như vậy khi được giao nhiệm ụ mỗi thành viên đều làm việc rất tích cực, không ỷ lại vao vài em học khá Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề trong không khí thi đua với nhóm khác Kết thúc nhóm trưởng rình bày kết quả của mình trước lớp
* Ví dụ : Dạy tiết Tiếng Việt bài " Chữa lỗi về quan hệ từ ".
(Ngữ văn 7 tập I )
Bài có 4 nội dung chia thành 4 nhóm:
* Nhóm 1: Tìm ra chỗ dùng thiếu quan hệ từ và sửa lại cho đúng ( Thông qua ví
dụ SGK )
Trang 6* Nhóm 2: Tìm ra lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp và sửa lại ( qua ví dụ SGK)
* Nhóm 3: Tìm ra lỗi dùng thừa quan hệ từ và sửa lại ( qua ví dụ SGK)
*Nhóm 4: Sửa lỗi dùng quan hệ từ không có tác dụng liên kết:
- Sau khi đã giao nhiệm vụ cho các nhóm, để cho học sinh trong nhóm tự trao đổi Cuôí cùng giáo viên giảng bài, đó trên cơ sở các nhóm đã thảo luận và trình bày ý kiến của nhóm mình
Thực hiện theo phương pháp giảng này tôi thấy vai trò của người giáo viên thực
sự là người định hướng, người thiết kế, tổ chức các hoạt động còn học sinh thực sự là đối tượng tìm tòi khám phá nội dung bài học Qua việc thảo luận trong nhóm thì tính cách, năng lực của cá nhân được hể hiện rất rõ, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật tinh thần tương trợ và ý thức tổ chức cộng đồng bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động
Sau khi vận dụng PPDH này tôi rất phấn khởi bởi học sinh trong lớp hoạt động tích cực, sôi nổi và năm chắc kiến thức của bài học
* Chú ý: Không phải lúc nào bài nào cũng nên sử dụng hình thức dạy học theo
nhóm mà từng bài học cần ứng dụng ninh hoạt vào bài dạy để làm sao đạt đích là: Hiệu quả học tập của học sinh đạt đỉnh cao
3 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh nhất là là hoạt động giao tiếp.
Dạy học trên cơ sở các hoạt động là định hướng đỏi mới PPDH và cũng là các điểm nổi bật của cách dạy học mới Xác định đổi mới là thay đổi vị trí, vai trò của hai nhân vật trung tâm trong nhà trường Hoạt động học tập của HS trên lớp rất phong phú, trong quá trình dạy học trên lps GV cần tổ chức cho các em được hoạt động HS không thể như cái máy chỉ biết nghe , ghi, nhìn và làm theo
Tổ chức hoạt động cho HS trong giờ học như: các em được thảo luận , được đối thoại, đóng vai, chơi trò chơi Như vậy giờ học sẽ rất sôi nổi thu hút tất cả học sinh trong lớp vào hoạt động học tập, phát huy khả năng giao tiếp ở HS Bên cạnh đó để HS
Trang 7tích cực hoạt động thì GV khi lên lớp phải chuẩn bị những tình huống có vấn đề , khi đưa ra HS sẽ tìm tòi, suy nghĩ, khám phá đặc biệt chú trọng đến hoạt động giao tiếp
Ví dụ : khi dạy tiết "luyện tập cách làm văn biểu cảm"
(Ngữ văn 7- Tập I )
Đây là giờ thực hành, giờ học cần phát triển hoạt động giao tiếp (khả năng nói về văn biểu cảm) cho HS Khi ra đề GV có thể yêu cầu HS :
+ Tìm ý
+ Lập dàn bài
+ Luyện nói trong nhóm
+ Luyện nói trước lớp
Qua giờ thực hành như vậy khả năng giao tiếp của HS sẽ ngày càng phát triển, các
em tích cực trao đổi miệng với nhau Qua đó các em tự sửa chữa lỗi cho nhau, đánh giá nhận xét về nhau, đồng thời qua hoạt động này rèn luyện cho HS tính bạo dạn tự tin khi phát biểu trước lớp và GV là người chốt lại vấn đề chính mà mình nêu ra
4 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh.
Việc rèn luyện pghương pháp tự học cho HS khong chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả DH 2 mà còn là mục tiêu dạy học Các nhà sư phạm đã nhận định rằng "Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí"
Trong thực tế giảng dạy chúng ta cũng thấy rằng người GV không thể cung cấp tát cả kiến thức đến HS được, GV phải rèn luyện cho HS có thói quen tự học, tự nghiên cứu, biết ứng dụng những điều đã học vào giải quyết những vấn đề đặt ra Như vậy là đã khơi dậy lòng ham học tiềm năng vốn có trong HS, giúp học sinh chuyển từ học tập thụ động sang tự học chủ động GV hướng đẫn học sinh phương pháp tự học rèn luyện phương pháp đó kết quả học tập sẽ tăng lên Trong thực tế cho thấy việc tự học của HS rất quan trọng nếu các em không có ý thức tự học GV không rèn luyện ý thức tự học cho HS thì kiến thức các em có được chỉ bó gọn trong bài giảng của thầy cô, các em không phát huy được tính tích cực của mình
Vì thế trong khi dạy trên lớp, GV cần luôn rèn luyện cho HS phương pháp tự học:
Trang 8Ví dụ: Khi dạy văn bản " Ca dao về tình yêu quê hương đất nước"
(Ngữ văn 7 - tập I )
Rèn luyện cho HS tự học bằng cách:
+ Trước khi học bài, các em phải chuẩn bị bài ở nhà(đọc , soạn )
+Khi kết thúc bài đưa cho HS câu hỏi để HS tự học, chẳng hạn:
? sưu tầm những câu ca dao cũng có nội dung nói về chủ đề quê hương đất nước
? Tìm những câu ca dao cũng bắt đầu bằng cụm từ " Thân em "
5 Dạy học kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
- Đánh giá của thầy:
Trong học tập, việc đánh giá HS không nhằm mục đích nhận thức thực trạng điều chỉnh hoạt động của trò mà đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều trỉnh hoạt động dạy của thầy ngoài cách đánh giá học sinh bằng hình thức kiểm tra quen thuộc Chúng ta nên kiểm tra đánh giá HS qua hình thức trắc nhiệm cách này thường cho kết quả cao mà đồng thời kích thích HS hứng thú vào học tập
Có thể sử dụng một số loại trắc nghiệm sau:
+ Trắc nghiệm đúng/ sai
+ Trắc nghiệm điền khuyết
+ Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi ( Nối A với B )
+ Trắc nghiệm nhiều câu trả lời ngắn
+ Trắc nghiệm nhiều lưa chọn
Khi sử dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm cấn linh hoạt: Có thể dùng ngay khi kiểm tra bài cũ hoặc dùng trong bài học Qua phần trả lời của HS sẽ giúp GV điều chỉnh cách dạy cho mình để làm sao HS hiểu bài tốt nhất
Trước đây từng có quan niệm rằng chỉ có GV giữ vai trò độc quyền đánh giá HS,
HS là đối tượng được đánh giá Trong cách dạy học phát huy tính tích cực , chủ động của người học thì việc tự đánh giá về mình là rất quan trọng
- Cá nhân HS tự đánh giá.
Trang 9Trong dạy học, GV cần coi việc đánh giá học trò không phải là của riêng mình mà còn là của chính HS Để các em tự đánh giá về nhau, phát hiện cái đúng , cái sai của mình, của bạn
Như vậy chính là tạo điều kiện cho HS tự rèn luyện mình Khi một HS trong lớp trả lời câu hỏi, GV chưa nhận xét, đánh giá ngay mà để HS khác trong lớp đánh giá đúng/ sai và nêu ý kiến của em như thế nào ?
Do vậy, việc kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá cuả trò sẽ phát huy tính tích cực học tập của HS, HS sẽ không bị áp đặt bửi ý kiến của GV và GV và học sinh cùng thực hiện thì sẽ đạt hiệu quả cao hơn, giúp học sinh chủ động nắm kiến thức bài học
6 Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Trước hết , để phát huy tính tích cực của HS, người giáo viên cần quan tâm đến từng đối tượng HS để tìm câu hỏi cho phù hợp
- Trong thưc tế giảng dạy cần chú ý tới ba đối tượng HS: khá - giỏi - trung bình - yếu kém Cần làm sao để cả ba đối tượng này trong trong lớp đều được hoạt động, đều có hứng thú và tự giác?
- Giáo viên cần có những câu hỏi, những bài tập phù hợp với các em khá - giỏi để các
em khỏi chán nản vì kiến thức đó đơn giản và tẻ nhạt Ngược lại, các em đó phải phát huy được khả năng tư duy sáng tạo
Còn đối với các em yếu - kém phải có những câu hỏi, bài tập vừa sức, phù hợp để các em tự tin và cố gắng vươn lên
(+)Đối với học sinh khá - giỏi: Mục đính mong muốn là ngoài kiến thức của bài,
các em còn mở rộng kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết cho các em, giúp các em hiểu sâu hơn về tác phẩm, biết cảm thụ cái hay, cái đẹp, biết liên tưởng, sop sánh đánh giá
Có thể sử dụng câu hỏi như:
+ Câu hỏi giảng bình
+ Câu hỏi phân tích tổng hợp
+ Câu hỏi nêu vấn đề
Trang 10+ Câu hỏi tình huống.
(+)Đối với học sinh yếu kém:
Vì nhận thức của các em có hạn nhưng không hẳn các em tiếp thu chậm mà GV
bỏ qua các em chỉ hướng vào HS khá giỏi, như vậy sẽ chưa phát huy tính tích cực của các học sinh trong lớp
Với đối tượng này sử dụng loại câu hỏi như:
+ Câu hỏi phát hiện
+ Câu hỏi gợi mở
Những loại câu hỏi này sẽ phù hợp với học sinh, từ đó sẽ phát huy được hứng thú học tập cho tât cả HS
7.Sử dụng dồ dùng dạy học phát huy tính tích cực học tập cho HS trong dạy học cũng cần áp dụng hình thức sử dụng đồ dùng dạy học.
Đồ dùng có thể là:
+ Tranh minh hoạ: Sử dụng tranh minh hoạ vào trong giờ học giúp học sinh tiếp
thu bài học rất tốt, nó kích thích hứng thú học tập cho các em trong lớp, HS cảm thấy giờ học hào hứng hơn từ đó dẫn tới việc hiểu bài sâu hơn
* Ví dụ: Khi dạy ca dao về tình yêu quê hương đất nước có bài
"Rủ nhau xem cảnh kiểm hồ
Xem cầu thê húc xem đền ngọc sơn
Đài nghiêm tháp bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này? "
GV có thể sử dụng một bức tranh minh hoạ cảnh hồ gươm cho HS quan sát Qua đó các em suy nghĩ về cảnh đẹp nơi đây
+ Bảng phụ: đây là đồ dùng có thể sử dụng hầu hết trong các giờ học, nhất là giờ học và làm văn
Hình thức này sẽ giúp cho các em hiểu bài nhanh và GV không mất nhiều thời gian để viết ví dụ hay bài tập trên lớp