1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề phương pháp dạy cách làm bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9

16 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 281 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém.. Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tá

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ HỘI THẢO BỒI DƯỠNG HỌC SINH YẾU KÉM

CẤP THCS Môn: Ngữ văn

I Tác giả chuyên đề: Phó Anh Thắng

- Chức vụ: Giáo viên

- Đơn vị công tác: Trường THCS Đồng Thịnh- Sông Lô- Vĩnh Phúc

II Tên chuyên đề: “Phương pháp dạy cách làm bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”

III Thực trạng chất lượng giáo dục của nhà trường năm học 2018-2019

1 Những thuận lợi và khó khăn

a Thuận lợi:

- Là ngôi trường có chất lượng giáo dục cao, đội ngũ giáo viên tâm huyết 100 có trình độ chuẩn và trên chuẩn

- Được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện về trang thiết bị dạy học

để giáo viên dễ dàng thực hiện dạy học theo phương pháp đổi mới

- Nguyện vọng của PHHS: 100 PHHS nhất trí và tạo điều kiện để các em HS được tham dự các lớp học chuyên đề

b Khó khăn:

- Điều kiện kinh tế gia đình: Đa số gia đình nông thôn, điều kiện kinh tế còn gặp khó khăn nên việc đầu tư thời gian và vật chất, sách vở còn chưa thỏa đáng

- Địa phương: là xã miền núi nên điều kiện kinh tế khó khăn, địa bàn dân cư không tập trung nên sự gặp gỡ với PHHS để trao đổi về việc tập hợp học sinh còn gặp khó khăn

- Nhiều học sinh còn lười học, kiến thức lớp dưới còn hổng nhiều

- Một số PHHS đi làm ăn xa hoặc có những PHHS chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình

2 Thực trạng học sinh yếu kém ở khối lớp 9:

Cụ thể hai mặt chất lượng giáo dục của nhà trường năm học2018-2019

- Kết quả học lực:

Trang 2

STT Lớp Sĩ số Học lực

- Kết quả hạnh kiểm

Trang 3

5 7A 40 37 92.50 3 7.50 0 0.00 0 0.00

Trường THCS Đồng Thịnh thuộc vùng nông thôn của huyện Sông Lô, đa số học sinh đều chăm ngoan, vâng lời thầy cô, tích cực trong học tập Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là

để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém

Đầu mỗi năm học, nhà trường tổ chức kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm, rồi chọn ra một lớp chọn, hai lớp còn lại là học sinh trung bình và yếu kém Những đối tượng ở hai lớp còn lại này không thích học phụ đạo nên rất khó khăn trong việc giảng dạy của giáo viên Hiểu được vấn đề đó và dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Sông

Lô, lãnh đạo trường phân công những đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình

để dạy các lớp này

Năm học 2018-2019, tôi được phân công dạy môn Ngữ văn 9 Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến trên 20- 30 học sinh yếu-kém của cả khối Nhiều học sinh ở tình trạng đọc chưa thông, viết chưa thạo, không biết cách trình bày đoạn văn, bài văn Tôi

đã tìm hiểu và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chỗ yếu của các em để từ đó tìm ra phương pháp phụ đạo cho phù hợp Phần lớn các em cho biết không thích học phụ đạo

và chưa biết cách học

Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác phụ đạo học sinh yếu kém, tôi nhận thấy muốn nâng dần chất lượng học sinh yếu kém không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên

Trang 4

Phụ đạo học sinh yếu kém phải được giáo viên quan tâm nhất là trong tình hình học tập hiện nay của học sinh, nhưng phụ đạo như thế nào, phương pháp ra sao thì đó cũng là một vấn đề đòi hỏi giáo viên cần phải không ngừng tìm hiểu

Từ thực trạng trên, tôi đã thực hiện chuyên đề: “Phương pháp dạy cách làm bài

văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”

3 Nguyên nhân học sinh yếu

kém: a Nguyên nhân từ học sinh:

- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng các em học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không làm bài tập, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường Còn một bộ phận nhỏ thì các em không xác định được mục đích của việc học Các em chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau đó về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì Chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn

- Học sinh không có thời gian cho việc tự học: Đa số học sinh của trường đều ở nông thôn, gia đình chủ yếu là sống bằng nghề nông, các em ở nhà phải phụ giúp gia đình việc đồng án, chăn nuôi Thậm chí có học sinh phải đi làm thêm trái buổi để kiếm tiền ăn học

- Học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới: Đây là một điều không thể phủ nhận với chương trình học tập hiện nay Nguyên nhân này có thể nói đến một phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh

b Nguyên nhân từ giáo viên:

- Một số giáo viên chưa nắm chắc những yêu cầu kiến thức của từng bài dạy Viêc dạy học còn dàn trải, còn nâng cao kiến thức một cách tùy tiện

- Một số giáo viên chưa thực sự chú ý đúng mức đến đối tượng học sinh yếu, kém Chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh

- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập nhanh quá khiến cho học sinh yếu kém không theo kịp bài học

- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm huyết với nghề, chưa thật sự “giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với sự yếu kém của chính mình và nhụt chí không tự vươn lên

Trang 5

- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây hứng thú cho học sinh thích học môn mình

c Nguyên nhân từ gia đình và xã hội:

- Một số phụ huynh học sinh thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em Phó mặc mọi việc học cho nhà trường và thầy cô

- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du lịch, ốm đau ) cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn bản và rồi yếu kém!

- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến trẻ không chú tâm vào học tập

Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém mà bản thân tôi nhận thấy trong quá trình công tác

4 Các giải pháp :

a Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân

- Cuộc sống xã hội biến đổi từng ngày từng giờ nên dù giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn đều được đào tạo chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ nhưng cần tích cực, thường xuyên tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân Từ năm học 2008 –

2009, Bộ Giáo dục lấy là năm ứng dụng công nghệ thông tin vào trong việc dạy - học

Vì thế tất cả các trường trong cả nước đều được hỗ trợ lắp đặt mạng Internet Việc lắp đặt mạng sẽ giúp các thầy cô giáo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ Có thể tìm kiếm thông tin phục vụ giảng dạy, trao đổi với các thầy cô giáo trên mọi miền Tổ quốc (VD: Bài giảng Bạch kim; Thư viện.Nét; Sachhay.com, ) Bên cạnh đó cũng có thể học hỏi bạn bè đồng nghiệp để tích luỹ nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

- Nên nắm vững kiến thức chung cho chương trình cấp học để có cái nhìn bao quát về nội dung yêu cầu cho từng khối lớp

- Soạn - giảng theo đúng chương trình mà Bộ GD&ĐT đã quy định trong phân phối chương trình

- Khi giảng dạy cần chú ý đến từng loại đối tượng học sinh trong lớp học để có phương pháp giảng dạy cho phù hợp Giáo viên cũng cần phân loại được học sinh trong lớp Dù là lớp chọn, lớp đại trà hay lớp yếu kém thì mức độ tiếp thu, học tập của học sinh có sự khác nhau Từ đó xác định học sinh yếu kiến thức, kĩ năng nào để tìm

Trang 6

nguyên nhân, biện pháp khắc phục còn đối vớihọc sinh giỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức kĩ năng đã học để tạo hứng thú trong việc học tập bộ môn

b Hướng dẫn học sinh cách học (trên lớp và ở nhà)

* Khi tiếp nhận lớp, cần hướng dẫn học sinh cách ghi chép sao cho đúng, đủ, khoa học, dễ học Học sinh rất tiết kiệm, thường để lề rất ít hoặc không để lề, vì vậy giáo viên phải kiểm tra nhắc nhở để học sinh phải để lề đủ lớn (2,5-3,0 cm) đề dễ theo dõi bài học Nếu cần bổ sung thì ghi vào lề cho tiện Phần số tiết, tên bài, các đề mục cũng cần phải ghi làm sao cho nổi bật dễ nhận thấy Sau mỗi tiết học cần có thói quen

kẻ hết bài để dễ học, dễ kiểm tra

* Giáo viên cũng cầnhướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập:

- Với phân môn Văn (Phần Văn bản)

+ Đọc lại toàn bộ văn bản trước khi học (Mặc dù ở phần học chính khoá đã đọc) Đối với văn bản là tác phẩm thơ phải học thuộc, là văn xuôi phải tóm tắt được nội dung của văn bản, học thuộc dẫn chứng

+ Với những tác phẩm có tác giả cần nắm chắc được về tiểu sử tác giả (Năm sinh năm mất( nếu có), tên khai sinh, bút danh, quê quán), sự nghiệp văn chương của tác giả đó, hiểu được hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

+ Nắm chắc được giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm (tìm hiểu phần nội dung cần đạt, phần ghi nhớ)

- Đối với phân môn Tiếng Việt

+ Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập từ dễ đến khó(Từ nhận biết đến thông hiểu, vận dụng ở mức độ thấp, vận dụng ở mức độ cao)

+ Với các biện pháp tu từ biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của phép tu từ đó trong hoàn cảnh sử dụng

+ Biết viết câu, viết đoạn (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn) với nhiều chủ đề và yêu cầu khác nhau (Diễn dịch, quy nạp…)

- Đối với phân môn Tập làm văn

+ Nắm được dặc trưng các kiểu văn bản: Miêu tả, Tự sự, Biểu cảm, Nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ

+ Sau khi đọc đề bài, phải biết tìm hiểu đề, tìm ý; biết cách lập dàn ý; biết viết các đoạn để hoàn chỉnh bài viết

Trang 7

* Hướng dẫn học sinh cách làm bài :

- Phần trắc nghiệm: Học sinh thường hay nhầm lẫn ở tác giả, phương thức biểu đạt, … vì thế giáo viên cần nhắc nhở thường xuyên để học sinh tránh các lỗi đó Cần cho học sinh nắm rõ các hình thức trắc nghiệm: trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm ghép đôi,

- Phần tự luận: Khi làm phần tự luận cũng cần chú ý ở từng câu Học sinh thường chủ quan khi đọc câu hỏi, thấy câu nào quen thường chú tâm vào làm mà không để ý đến thang điểm nên những câu ít điểm thì chú ý còn câu nhiều điểm thì làm rất sơ sài

… dẫn tới bài làm bị điểm thấp, không đạt yêu cầu

+ Đối với dạng tự luận ngắn, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách làm bài Không nhất thiết viết thành một bài có bố cục ba phần đầy đủ nhưng trong đoạn văn cũng cần có câu mở đoạn, phần nội dung và kết thúc

VD: Nêu ý nghĩa tình huống truyện “Làng” của Kim Lân bằng một đoạn văn:

“Làng” là một truyện ngắn thành công của Kim Lân Truyện thể hiện tình yêu làng của nhân vật ông Hai Tình cảm ấy của ông Hai được đặt trong một tình huống thử thách, tình huống ôngđột ngột nghe tin dữ: làng quê ông - làng Chợ Dầu, theo giặc lập tề Làng Chợ Dầu mà ông hằng tự hào, hãnh diện bấy lâu nay bỗng theo giặc Tình huống ấy giúp nhà văn có thể đi sâu khai thác nội tâm nhân vật để thể hiện rõ tình yêu làng và tinh thần kháng chiến của những người nông dân phải rời làng đi tản cư như ông Hai

+ Đối với dạng tự luận dài, giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết học sinh có thể vận dụng để lập dàn ý một cách thuần thục Giáo viên cũng cần viết mẫu cho học sinh một số bài văn để học sinh có thể dựa vào đó mà vận dụng

Ở từng lớp (7, 8, 9) nên rèn cho học sinh cách viết bài cho các kiểu văn bản nhất là văn bản nghị luận Trước hết là phần mở bài để ít nhất khi đọc một đề văn học sinh biết tự làm phần mở bài (dù là học sinh yếu) Muốn thế giáo viên có thể cung cấp cho học sinh nhiều cách mở bài., hướng dẫn cho học sinh một cách mở bài và viết gợi ý cho học sinh một cách mở bài Để lên các lớp trên học sinh biết viết phần thân bài (từ khâu viết đoạn)

* Sau mỗi tiết dạy, ra bài tập và hướng dẫn học sinh cách làm, những nội dung

cụ thể cần học thuộc, cần ghi nhớ để học sinh chuẩn bị cho tiết sau

c Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra, đánh giá

Trang 8

Với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh phải tự giác học tập

- Kiểm tra vở ghi: Kiểm tra chữ viết, kiểm tra nội dung ghi chép có đầy đủ không (nhắc nhở về cách ghi chép)

- Kiểm tra sách,tài liệu - sách tham khảo, vở nháp của học sinh Học sinh nào chưa có, chưa đúng yêu cầu nhắc nhở để kiểm tra lại Nên giới thiệu một số sách tham khảo cho học sinh sưu tầm để học tập

- Kiểm tra đầu giờ:

+ Kiểm tra miệng: Nội dung đã nhắc từ tiết trước

+ Vừa kiểm tra miệng, vừa kiểm tra viết: Kiểm tra miệng có thể là tác giả, bài văn; kiểm tra viết có thể cho học sinh viết nội dung nghệ thuật của tác phẩm truyện, bài thơ,…

+ Làm bài tập Tiếng Việt: Nếu bài tập trong sách giáo khoa nên kiểm tra sách của học sinh để tránh việc học sinh ghi lời giải vào bài tập trong sách Có thể ra bài tập tương tự SGK, bài tập nâng cao (HS khá, giỏi)

* Đối với học sinh chưa thuộc kĩ hoặc không thuộc Lần đầu cho kiểm tra vào cuối tiết, lần 2 cho học lại và kiểm tra vào tiết học chuyên đề, lần tiếp theo có thể bố trí riêng một buổi để kiểm tra nếu không sửa chữa sẽ mời gia đình đến để thông báo, nhắc nhở, trao đổi thêm Đối với những học sinh cá biệt như lười học, yếu kĩ năng giáo viên nên lập một danh sách riêng để chú ý kiểm tra nhiều hơn

d Kết hợp giữa học chính khoá và học chuyên đề (Học thêm, phụ đạo)

Bộ GD&ĐT đã cho phép các trường tổ chức học thêm để nâng câo chất lương dạy học các môn nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng Vì thế khi tổ chức các lớp học chuyên đề giáo viên phải biết lựa chon những kiến thức cơ bản nhất để dạy có hiệu quả vàgây sự hứng thú học tập bộ môn

Khi dạy học cần quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm tra, đánh giá vì dạy chuyên

đề có nhhiều thời gian so với dạy chính khoá

Ở mỗi khối lớp, cần chia theo các nội dung lớp để giảng dạy cho có hệ thống VD: Ở lớp 9, có thể chia thành các nội dung như: Truyện Trung đại, Thơ hiện đại, truyện hiện đại, Văn bản nhật dụng, Văn bản thuyết minh, Các phương châm hội thoại,

Trang 9

Kết thúc mỗi nội dung nên có các bài kiểm tra để đánh giá việc học tập của học sinh để đề ra cách giảng dạy cho phù hợp Những học sinh chưa đạt yêu cầu (bước đầu có thể kiểu tra học sinh từ điểm 2 đến 4.75) cần cho học sinh ôn lại để kiểm tra theo sự bố trí của giáo viên

e Phối hợp chặt chẽ vớinhà trường, với GVCN

Báo cáo với Ban giám hiệu,giáo viên chủ nhiệm về tình hình học tập chung của học sinh, nhất là những học sinh chưa chịu khó, chưa tích cực học tập, đề xuất các hình kỉ luật kịp thời

f Kết hợp gia đình học sinh

Phối hợp với gia đình để nâng cao chất lượng dạy - học: Giáo viên dạy Văn thường là các giáo viên chủ nhiệm nên có thể trao đổi với phụ huynhqua buổi họp phụ huynh, nếu không có thể đến gặp gỡ với gia đình, trao đổi qua điện thoại … để gia đình đôn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh giúp học sinh chăm chỉ tích cực hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn

Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ huynh từng lớp hoặc theo đối tượng học sinh (Trung bình, Yếu)để thông báo với gia đinh, bàn với gia đình những biện pháp nâng cao chất lượng học tập

V Đối tượng, số tiết dạy:

1 Đối tượng:

Đối tượng là những học sinh yếu kém môn Ngữ văn lớp 9, năm học 2019-2020 ở trường THCS Đồng Thịnh

2 Dự kiến số tiết dạy: 01

VI Hệ thống các ví dụ đặc trưng của chuyên đề

Trong chương trình, học sinh được nhiểu kiểu văn bản nhưng có lẽ kiểu văn bản nghị luận văn học về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích; về một đoạn thơ, bài thơ là khó nhất nên giáo viên cần tập trung hướng dẫn kĩ các em làm kiểu bài này

Hướng dẫn học sinh viết bài văn phải có bố cục đầy đủ gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài

a Hướng dẫn cụ thể ở từng phần:

* Mở bài:

Trang 10

Giáo viên trình bày quy trình ở đoạn văn phần mở bài về nhân vật văn học và

về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nhận biết qua đối chiếu sau:

Về nhân vật văn học Về đoạn thơ, bài thơ

(1) Giới thiệu tác giả -> (2) Tên (1) Giới thiệu tác giả -> (2) Tên tác phẩm -> (3) Thời điểm, hoàn cảnh tác phẩm -> (3) Thời điểm, hoàn cảnh sáng tác -> (4) Nhân vật chính -> (5) sáng tác -> (4) Trích ở đâu -> (5) Nêu Nêu ý kiến, đánh giá sơ bộ của mình về nhận xét, đánh giá sơ bộ về nội dung,

Như vậy, nhìn vào phần mở bài của hai kiểu bài, học sinh sẽ thấy cả hai đề có (1), (2), (3) giống nhau nhưng bắt đầu khác nhau từ (4) và (5) Điều này giúp học sinh

dễ nhớ

Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể mở bài theo trình tự như thế nhưng cách trình bày trên là không bắt buộc điều bắt buộc về nội dung phải có là (2) và (5) ở mỗi phần

* Ví dụ minh họa phần mở bài:

Đề 1: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn”Làng” của nhà văn Kim Lân.

Kim Lân là nhà văn có sở trường viết truyện ngắn(1) Vốn gắn bó, am hiểu cuộc sống nông thôn, hầu hết các tác phẩm của ông viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân(1’) Truyện ngắn “Làng” là tác phẩm tiêu biểu của ông(2)

Truyện được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp(3) Tác phẩm đã tập trung nói về tình yêu làng quê, lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư được thể hiện chân thực qua nhân vật ông Hai(4,5)

Đề 2: Phân tíchhai khổ thơ đầu trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”của Huy Cận

Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới với tập thơ “ Lửa thiêng” (1940) (1) Cảm hứng sáng tác của ông lúc đó thường viết về thiên nhiên và vũ trụ nhưng có nét phảng phất buồn (1’) Sau cách mạng tháng Tám, hồn thơ của Huy Cận rộng mở hoà nhịp với cuộc sống của nhân dân (1’’) “Đoàn thuyền đánh cá ”là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông (2) Bài thơ được sáng tác năm 1958,là món quà của vùng mỏ Hòn Gai- Quảng Ninh cho vào túi thơ của Huy cận (3) Tiêu biểu là hai khổ thơ đầu trong bài thơ (4) Hai khổ thơ đã khắc họa cảnh hoàn hôn trên biển và tâm trạng náo nức của người dân làng chài khi ra khơi đánh cá (5)

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w