1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BÁT ĐOẠN CẨM THỰC HÀNH

39 9,5K 100
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bát Đoạn Cẩm Thực Hành
Tác giả Bằng Cầm
Trường học Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Sách hướng dẫn luyện tập khí công
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

de de thuc hanh mon khi cong bat doan cam

Trang 1

mà tôi đã mắc phải từ tháng 7 năm 2008.

Đúng thế! Năm 2008 tôi phải nhập viện cấp cứu và phát hiện bịTiểu đường type II Theo lời khuyên của sách vở và một số bạn bè,ngoài việc ăn uống theo chế độ, tôi cần đi bộ và tập luyện một phươngpháp thể dục nào đó Cũng theo lời khuyên của một người bạn, tôi tìmđến môn “Bát đoạn cẩm” Cuốn sách mà tôi đọc đầu tiên là “Tự luyệnBát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm” của G/s Hàng Thanh Tôi thấy sách viếtcông phu nhưng và hấp dẫn tôi ngay từ những trang đầu tiên Nhưngkhi bắt đầu thực hành các động tác theo sách thì tôi chợt nghĩ khôngthể tự học phương pháp này nếu không có những hình ảnh minh họasinh động và cụ thể hơn nhất là có một số từ trong các khẩu quyết màtôi thấy chưa nắm bắt được Chính vì thế tôi tìm thêm các tài liệu,hình ảnh trên mạng thông tin với mong muốn có thể tìm hiểu thêm vềphương pháp luyện tập môn khí công này trong khi không tìm đượcmột người thầy hướng dẫn Vả lại tuổi không còn trẻ nên không cóđiều kiện tầm sư học đạo Trước hết tôi tìm thấy trên website

http://thuvien-ebook.com và tôi đã tải được một tập tin mang tênbatdoancam.rar Sau đó giải nén thành file batdoancam.prc và đọcđược dễ dàng với “mobilepocket reader” Khi đọc tập tin này tôi thấy

có rất nhiều điểm về từ ngữ rất lạ và tôi được biết tác giả là lương yBằng Cầm và được lấy xuống từ ykhoa.net của BS Phan Xuân Trung.Tuy nhiên khi mở website của BS Trung thì “Bát đoạn cẩm – bài khícông giúp tăng tuổi thọ” là một trong những bài viết trong mục “Sứckhoẻ người cao tuổi” được trình bày rất tốt theo tinh thần khoa họcchứ không có nhiều khuyết điểm như bài “Bài khí công “BÁT ĐOẠNCẨM” của l/y Bàng Cầm trong http://thuvien-ebook.com Tôi rất nảnchí và tiếp tục tìm kiếm thông tin trên mạng Nhưng cuối cùng cũng

Trang 2

tìm được các tập tin “video clip” trong youtube, đặc biệt là các tập tinminh họa của võ sư Phí Tường Trúc: http://youtube.com/phituongtruc

và Lý Khải Vinh: http://360.yahoo.yahoo.com/khaivinhly Xem cáchình minh họa và đối chiếu với sách của g/s Hàng Thanh, tôi thấynhiều điểm khác nhau Khi đọc sách của g/s Hàng Thanh tôi cũng đãbiết được rằng có nhiều phương pháp luyện tập “Bát Đoạn Cẩm” khácnhau tập trung ở hai phái Đạo Gia và Phật Gia Tuy nhiên tôi xem cácvideo clip minh họa thì thấy hình như các bài minh họa từ blog của võ

sư Phí Tường Trúc có vẻ là những bài cải biên dễ tập hơn và các độngtác liên hợp chặt chẽ với nhau hơn Vả lại trong những “clip” minhhọa đó còn nêu lên những lỗi có thể mắc phải khi tập và cả tác dụngcủa từng động tác Bởi vậy tôi quyết thực hành theo các clip này.Nhưng còn khẩu quyết thì sao? “vọng hậu tiền”, “cố thận eo” làkhông hiểu được Cuối cùng tôi tìm thấy văn bản của Tôn Tiểu Đậutrên mạng thông tin như sau:

站式少林八段锦口诀

双手托天理三焦,Song thủ thác thiên lý tam tiêu

左右开弓似射雕,Tả hữu khai cung tự xạ điêu

调理脾胃须单举,Điều lý tì vị tu đơn cử

五劳七伤往后瞧。Ngũ lao thất thương vãng hậu tiều

摇头摆尾去心火,Dao đầu bãi vĩ khứ tâm hoả

攒拳怒目增力气,Toàn quyền nộ mục tăng lực khí

两手攀足固肾腰,Lưỡng thủ phan (phàn) túc cố thận yêu

背后七颠百病消。Bối hậu thất điên bách bệnh tiêu

Bài quyết này tôi tải từ website http://baike.baidu.com Phần dịch

âm là tôi ghi thêm

Tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu thêm về các câu khẩu quyết và cónhận định như sau:

Tuy tôi biết rằng cái quan trọng không phải là chữ nghĩa (lýthuyết) mà là phương pháp thực hành nhưng dù sao cũng cần tìm hiểu

rõ ràng về chữ nghĩa thì thực hành mới đúng được Vả lại tự luyện tậpthì phải nghiên cứu thật kỹ để tránh được càng nhiều càng tốt việcthực hành sai có thể mang lại hậu quả không lường được Qua những

Trang 3

“clip” minh họa tôi được biết Bát Đoạn Cẩm ngoài thế (勢)dự bị vàthế thu công có tám thế chính còn gọi là tám thức (式) Nay thử phântích tám câu được gọi là tám thức của Bát Đoạn Cẩm (theo bài minhhoạ của Phí Tường Trúc):

Câu 1: Song thủ thác thiên lý tam tiêu (hoặc: “Lưỡng thủ kìnhthiên lý tam tiêu” không mấy khác biệt về ý nghĩa: Hai tay chống trời,chữa trị các bệnh thuộc tam tiêu: thượng tiêu (tâm, phế), trung tiêu( tì, vị), hạ tiêu (can, thận) Tôi không hiểu tam tiêu là kinh tam tiêunhư g/s Hàng Thanh đã hiểu mà là phủ tam tiêu Từ “lý” tôi khônghiểu là “tưởng” đến như g/s Hàng Thanh mà hiểu là giải quyết (xử lý)

Câu 2: Tả hữu khai cung tự xạ điêu (Tay trái và tay phải dươngcung tựa như bắn chim điêu)

Trong bài “Bài khí công “BÁT ĐOẠN CẨM”” lương y Bằng Cầm đãdịch: Tay trái, phải dương ra như xạ điêu bắn cung?

Trong phần minh hoạ “Thiếu Lâm Bát Đoạn Cẩm” do Lý Khải Vinhtải lên mạng thì thấy ghi là: Tả hữu lập cung tự xạ điêu và động táchơi khác với phần minh hoạ do Phí Tường Trúc tải lên mạng Tuynhiên ý nghĩa thì không mấy khác biệt

Câu 3: Điều lý tỳ vị tu đơn cử (Chữa trị các bệnh thuộc Tì và Vịcần giơ từng tay một)

G/s Hàng Thanh và Lương y Bằng Cầm đều ghi là: Điều lý tì vị đơn

cử thủ (có lẽ l/y Bằng Cầm chỉ chép lại từ bản của g/s Hàng Thanh) Tuy nhiên về ý nghĩa cũng không mấy khác biệt quan trọng

Câu 4: Ngũ lao thất thương vãng hậu tiều (Ngó về phía sau đểtrị năm chứng mệt nhọc và bảy chứng tổn thương)

G/s Hàng Thanh ghi: “ vọng hậu tiền” (chắc chắn là sai) L/y BằngCầm ghi là “ vọng hậu tiều” (đúng hơn, nhưng: đã “vọng” lại còn

“tiều”!) Cũng có sách ghi “hướng hậu tiều” coi như có lý

Câu 5: Dao đầu bài vĩ khứ tâm hoả (Lay chuyển đầu phô bày đuôi tâm hoả ra đi)

Đầu là đầu vĩ là đuôi nhưng người thì không có đuôi Vậy không hiểungười xưa muốn nói gì Hay muốn hình tượng hoá động tác giống như

Trang 4

một “con rồng”? Theo gs/ Hàng Thanh thì là rắn chứ không phảirồng.

Cái quan trọng là trong động tác này cần di chuyển chỉ phầnthân trên Và quan trọng hơn cả là động tác này có tác dụng “khứ tâmhoả” nghĩa là làm tan biến tâm hoả Theo quan niệm xưa Tâm (tim)thuộc hành hoả Khi nóng giận hoả bốc làm hại Tâm Vậy động tácnày có tính an thần Theo như bài của lương y Bằng Cầm thì tác dụngcủa động tác này là: Làm tăng lượng máu lưu thông, mất tính nóngnảy vì thiếu máu Làm máu lưu thông thì có thể hiểu còn như “tínhnóng nảy do thiếu máu thì hơi khó hiểu Về thứ tự thì trong minh hoạcủa Lý Khải Vinh ghi câu này là đoạn 7 chứ không phải là đoạn 5

Câu 6: Lưỡng thủ phan (phàn) túc cố thận yêu (Hai tay kéo (nắm) chân thận lưng được củng cố (làm cho thêm mạnh)

Câu này được lương y Bằng Cầm xếp vào đoạn 8 và được dịch: Haitay phang xuống chân, bền thận và giữ eo Cái này thì, theo tôi là đạihài hước!

Câu này trong phần minh hoạ của Lý Khải Vinh thì được xếp vàođoạn thứ 8 và ghi là: Song thủ ban tất cố thận yêu ( vẫn hợp lý)

Câu 7: Toàn quyền nộ mục tăng khí lực (Tay nắm đấm chặt trợnmắt như nổi giận khí lực được tăng thêm)

Câu này trong bài minh hoạ của Lý Khải Vinh được xếp vào đoạn thứ

Trang 5

Bối hậu khởi điểm giả bệnh tiêu chứ không phải “Bối hậu thất điênbách bệnh tiêu” nên ấn đầu xương cùng là phù hợp.

Đây chắc hẳn là cái “Biến của “Quyền” Cũng vì vậy trong thứcthứ 6 minh hoạ của “Võ học Thiếu Lâm” của Lý Khải vinh cũng rấtkhác so với bài minh hoạ của Phí Tường Trúc (thức thứ 8)

Vì “Bát Đoạn Cẩm” là một phương pháp luyện tập khí côngdưỡng sinh nên sau khi tìm hiểu về ý nghĩa của các khẩu quyết tôicũng cố gằng tìm hiểu xem “khí công dưỡng sinh” là gì?

Tôi có đọc qua “Khí công sức khỏe và điều trị” của B/s Ngô Gia

Hy và L/y Bùi Lưu Yêm _ Nhà xuất bản Long An (1988) Sau đó tôiđược đọc bài viết trên Website của B/s Kỳ Nam: Sưu Tầm về khí côngdưỡng sinh của tác giả Vũ Đức Hiền Âu Tôi thấy bài viết có chấtlượng và phù hợp với những kiến thức khoa học hiện đại Do đó tôi rấttâm dắc bài viết này Nay tôi xin được trích nguyên văn bài viết thay

vì phải biên soạn trong khi tôi chưa được học một cách bài bản về khícông

Trang 6

KHÍ CÔNG DƯỠNG SINH là gì?

co dãn có thể tạo nên sức ép lớn mạnh, tùy theo số lượng của nó

"Công" do chữ "công phu", người Trung Hoa phát âm là

"Kungfu", có nghĩa là việc làm được thực hiện trong một số lượng thời gian

Do đó, "khí công" có thể hiểu là một tiến trình hít thở không khí,

để gia tăng nguồn sinh lực của thể chất lẫn tinh thần trong conngười Trong đó, "dưỡng khí" (oxygen) được hấp thụ qua khôngkhí, và "thán khí" (carbon dioxide) được loại trừ ra ngoài cơ thể.Đây là hai yếu tố chính yếu trong việc gia tăng nguồn sinh lực cơthể

Trong võ thuật cổ truyền đông phương, khí công còn được gọi là

"nội công", một công phu tập luyện "tán tụ nội khí", triển khai tối

đa sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, để áp dụng vào kỹ thuật chiếnđấu, cũng như gia tăng sức khỏe thân tâm

II Lược Sử Khí Công:

Trong ý nghĩa quân bình hơi thở, khí công được bắt nguồn từthuở xa xưa, từ khi có sự hiện diên loài người trên quả đất này Căn

cứ vào văn hóa cổ truyền đông phương, khí công đã được áp dụngqua các phương pháp thực hành, và triết lý dẫn đạo, hầu hết, trong

ba môn học: Y học, Đạo học, và Võ học

Theo Hoàng Đế Nội Kinh (2697 – 2597 B.C trước Tây Lịch), vàsách Dịch Kinh (2400 B.C trước Tây lịch), nền tảng Đông Y họcđược dựa trên lý thuyết nguồn khí lực, Âm Dương và Ngũ Hành để

lý giải, điều trị bệnh tật và tăng cường sức khỏe con người

Vào thời nhà Thương (1783 – 1122 B.C trước Tây lịch), ngườiTrung Hoa đã biết dùng những dụng cụ bén nhọn bằng đá, để châm

Trang 7

chích vào các huyệt đạo trên cơ thể, nhằm gây ảnh hưởng đến sựdẫn truyền nguồn khí lực, trong việc trị bệnh cho con người.

Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, trong cổ thư Đạo Đức Kinh, tácgiả Lão Tử, một nhà hiền triết Trung Hoa, đã đề cập đến vai trò hơithở trong kỹ thuật luyện khí, để giúp con người kéo dài tuổi thọ Sửliệu Trung Hoa cũng cho thấy rằng các phương pháp luyện khí đã

có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770 – 221B.C trước Tây lịch) Sau đó, trong thời nhà Tần đến nhà Hán (221B.C trước Tây lịch đến 220 A.C sau Tây lịch), một số sách dạyluyện khí công đã được biên soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo

sĩ Các phương pháp truyền dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn cóchung những nguyên lý vận hành khí lực trong cơ thể

Vào thế kỷ thứ ba sau Tây lịch, nguyên lý về khí lực đã đượcminh chứng hiệu quả bởi y sư Hoa Đà, qua việc áp dụng kỹ thuậtchâm cứu, để gây nên tình trạng tê mê cho bệnh nhân, trong lúc giảiphẫu Cũng như, ông đã sáng chế những động tác tập luyện khí

"Ngũ Cầm Hí", dựa theo tính chất và động tác của 5 loại thú rừngnhư: Cọp, Nai, Khỉ, Gấu và Chim

Vào năm 520 – 529 sau Tây lịch, tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, người Ấn

Độ, tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, tỉnh Hồ Nam, ngài đã soạn ra sáchDịch Cân Kinh1, để dạy các môn đồ phát triển nguồn khí lực, tăngcường sức khỏe trên đường tu đạo, cũng như, thân thể được cườngtráng, gia tăng sức mạnh trong việc luyện võ

Về sau, dựa vào nguyên lý khí lực này, các đệ tử Thiếu Lâm đã sáng chế thêm những bài tập khí công như: Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình Quyền

Theo truyền thuyết, vào triều đại nhà Tống (950 – 1279 sauT.L.), tại núi Võ Đang, đạo sĩ Trương Tam Phong sáng chế bài nộicông luyện khí Thái Cực Quyền, gồm những động tác giúp ngườitập luyện cường kiện sức khỏe thân tâm

1 Nói đến “Dịch Cân Kinh” người ta thường nghĩ ngay đến cách luyện tập “vẫy tay” rất phổ biến tại VN trong thời gian qua Dịch cân kinh thực sự là tên tắt của “Dịch cân tẩy tuỷ kinh”, gồm 12 thức và sự luyện tập cũng không quá đơn giản Còn “Dịch cân kinh” “vẫy tay” là của một người Việt tự nhận là bác sĩ Lê Quốc Khánh “sáng tạo” không mấy đáng tin cậy Chúng ta nên tìm hiểu kỹ hơn trong bài viết của b/s Trần Đại Sĩ trình bày trong Đại hội Y khoa Châu Âu ngày 14- 10-2001 (tìm trên mạng thông tin).

Trang 8

Về sau, có rất nhiều bài tập khí công được sáng chế bởi nhiều võphái khác nhau Dần dần, các võ phái nhỏ, ít người biết đến, đều bịmai một, cùng với những phương pháp truyền dạy bị lãng quêntrong quá khứ Đến nay, một số ít các bài võ luyện khí công cònđược ghi nhận qua một số tài liệu hạn hẹp của Trung Hoa như: DịchCân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội CôngNgũ Hình Quyền, Thái Cực Quyền thuộc ba hệ phái của Trần Gia,Dương Gia và Vũ Gia, Bát Quái Quyền, Hình Ý Quyền, Lục HợpBát Pháp Quyền

III Triết Lý Khí Công

A Vũ trụ quan

Theo quan niệm Đông phương, khởi nguyên sự hình thành của

vũ trụ, vạn vật được bắt nguồn từ một khối "Khí" đầu tiên gọi là

"Thái Cực", bành trướng vô cùng tận Sau tiến trình nội tại, khối

"Khí" này được phân thành hai nhóm khí đối nghịch nhau: "KhíÂm" và "Khí Dương", được gọi là "Lưỡng Nghi" Hai nhóm "KhíÂm" và "Khí Dương" này chạm vào nhau, để sanh ra khí thứ ba, màLão Tử gọi là "Xung Khí" Từ đó, vũ trụ, vạn vật được hình thành.Đạo đức Kinh có ghi: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam,tam sinh vạn vật, vạn vật phụ âm nhi bảo dương, xung khí dĩ vihòa." Học giả Trương Hoành Cừ có nói:

"- Khí tụ lại thành hình, khí tán đi hình loại, muôn vật trở lạiThái Hư." Vạn vật biến chuyển, thay đổi không ngừng theo địnhluật phổ quát mà Kinh Dịch có ghi: "- Sinh, Trưởng, Thâu, Tàng."Cũng như, Phật Giáo quan niệm: "-Sinh, Trụ, Dị Diệt." Do đó, khí

là nguồn gốc, là sinh lực của vạn vật và vũ trụ

Hai tính chất căn bản là Âm và Dương của khí được quân bình, nằm trong ba loại khí tổng quát: Thiên Khí, Địa Khí và Nhân Khí

Thiên Khí đến từ vũ trụ thiên nhiên, với lực sống động vĩ đạihuyền diệu, giúp cho đại vũ trụ thiên nhiên được vận chuyển trongmột trật tự tuần hoàn Thí dụ: Mặt trăng, mặt trời, thái dương hệ, tất

cả bầu trời không gian vô tận đều là những nguồn chứa thiên khí.Thiên khí đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thời tiết,khí hậu và thiên tai Thí dụ như những hiện tượng gió thổi, mưa rơi,bão tố, sấm sét xảy ra đều nhằm mục đích tái tạo sự quân bình ÂmDương trong thiên khí

Trang 9

"Địa Khí đến từ quả đất, cũng như từ sự thấm nhuần, hoặc ảnhhưởng tác dụng của thiên khí trên quả đất Địa khí còn được sinh rabởi từ trường của quả đất, cũng như, hơi nóng được phát ra từ tronglòng đất Những vùng đất thường xảy ra núi lửa, hay những đườngrạn nứt trong lòng đất, để tạo nên những tai họa động đất, chính lànơi phát ra nguồn địa khí Sự di chuyển của địa khí được thể hiệnqua các hiện tượng như: đất cát di chuyển theo dòng nước lũ, đểmang bồi đắp tạo nên những nơi cồn đảo Trái lại, những vùng mấtđất sẽ trở thành sông sâu, lớn rộng Mặt khác, trong lúc có nhiềumưa, mặt đất trở nên đầy nước ngập lụt Trái lại, khi khí trời khô,nóng gắt, hạn hán, mặt đất trở nên khô cằn, nứt nẻ Tất cả nhữnghiện tượng nói trên đều tạo nên sự thay đổi địa khí, do bởi sự mấtquân bình âm dương tính trong địa khí.

"Nhân Khí" là sinh lực con người Con người là một tiểu vũ trụ,nằm trong sự chi phối của đại vũ trụ thiên nhiên Do đó, nhân khíphải chịu ảnh hưởng vào thiên khí và địa khí

B Nhân Sinh Quan

Con người khi còn là thai nhi trong bụng mẹ, được nuôi dưỡngbằng nguồn sinh lực (Nhân Khí) của bà mẹ, qua đường cuống rốnthai nhi Sau khi chào đời, qua tiếng khóc đầu tiên, hài nhi biết hítthở, hấp thụ nguồn Thiên Khí từ bên ngoài Nguồn thiên khí đầutiên này, khi được vào trong cơ thể hài nhi, biến thành nguồn "DinhKhí", và tác dụng làm nguồn sinh lực (Nhân Khí) của bà mẹ sẵn cótrong hài nhi, trở thành "Vệ Khí" được thể hiện bởi hai dòng: khínóng (Dương) và khí lạnh (Âm) Dòng khí nóng (Dương) chạy lênphần trên cơ thể đến các bộ phận: tim gan, phổi và não bộ trong khidòng khí lạnh (Âm) chạy xuống phần dưới cơ thể, đến các bộ phận:bụng dưới, thận, sinh dục và hai chân Tiếp theo, sự sinh tồn của hàinhi cần phải được nuôi dưỡng bởi nguồn Nhân Khí từ bên ngoài, doảnh hưởng của Thiên Khí và Địa Khí, qua môi trường không khítrong sạch, nước uống và thực phẩm (động vật và thực vật) NguồnNhân Khí (sinh lực) này được lưu chuyển điều hòa, trong nhữngđường ống ngang dọc của hệ thống Kinh, Mạch, Lạc, Huyệt, để liên

hệ đến các tạng phủ (các bộ phân như: Tim, phổi, bao tử, lá mía,ruột già, ruột non, gan, thận, túi mật và bàng quang )

Với tuổi thọ tăng dần, các đường ống dẫn khí lực này, càng ngàytrở nên trì trệ, yếu kém, trong việc cung cấp sinh lực (Nhân Khí)

Trang 10

nuôi dưỡng cơ thể, do đó, sức khỏe con người dễ trở nên suy yếu,bệnh tật, nếu không được bồi dưỡng đúng mức.

Để tái tạo sức khỏe bình thường, việc khai thông hệ thống kinhmạch, cũng như, quân bình Âm Dương tính trong nguồn sinh lực(nhân khí) rất cần thiết cho cơ thể con người Từ điểm này, Đông YHọc đã áp dụng một trong những trị liệu pháp như: dược phẩm(thuốc hóa học ở các lá, thân và rễ cây), Châm cứu pháp, Án mapháp (thuật xoa bóp trên các kinh mạch, và ấn ép trên các huyệtđạo), Khí công trị liệu (phương pháp hô hấp) và thể dục dưỡng sinh(áp dụng các động tác vận chuyển để đả thông kinh mạch)

Trong phép dưỡng sinh, người ta cần phải biết sống hòa hợp vớiluật thiên nhiên, để khai thác tối đa lợi thế của Thiên Khí và ĐịaKhí, trong việc giữ quân bình âm dương tính cho Nhân Khí của conngười Từ đó, sức đề kháng trong cơ thể được kiện toàn, sẵn sàngtiêu trừ các mầm mống bệnh chứng, có thể xảy ra cho con người

Ngoài ra, việc tập luyện khí công rất ích lợi, giúp cho Nhân Khíđược điều hòa, làm chậm sự thoái hóa của các tế bào trong cơ thể,cũng như, điều hợp thuận lợi với Thiên Khí và Địa Khí từ bênngoài

IV.Phương Thế Thực Hành

Trong khí công gồm có ba loại thở căn bản: thở sâu (hay thởthấp, hoặc thở Đan Điền), thở Ngực (hay thở trung bình) và thở cao

Để thực tập các bài khí công, học viên có thể áp dụng một trong ba

tư thế chánh yếu như: thế đứng, thế ngồi và thế nằm Trong mỗi tưthế chánh này còn được chia ra làm nhiều tư thế phụ như sau:

Với tư thế đứng còn có thế đứng tự nhiên, thế đứng chân trước chân sau, và thế đứng trung bình tấn (hai chân dang rộng ra hai bên trái, phải)

Với tư thế ngồi gồm có tư thế ngồi tréo chân như: ngồi Kiết Già,ngồi Bán Già, ngồi Xếp Bằng (ngồi tréo tự nhiên) và ngồi quỳ gối.Với tư thế nằm gồm có nằm thẳng người với lưng tựa phía dưới.Trong các tư thế đứng, ngồi, và nằm, tư thế đứng mang lại nhiềuích lợi hơn Cho nên, các tư thế đứng đã đã được áp dụng tối đa

Trang 11

trong các bài tập khí công của quyền thuật gia Sau đây là những íchlợi của tư thế đứng:

- Tư thế đứng rất thuận tiện, khi tập ở những nơi công cộng,ngoài trời, nơi có không khí trong lành như: công viên, đồng cỏ,rừng cây, bờ hồ, bờ sông, bờ biển, và các vùng ngoại ô

- Tư thế đứng còn giúp cho máu lưu thông dễ dàng trong hệthống tuần hoàn Do đó, nguồn khí lực dễ chuyển dẫn đến các bộphận trong khắp cơ thể

- Ngoài ra, tư thế đứng tránh được tình trạng ru ngủ như ở hai tưthế ngồi và nằm Cho nên, học viên có đủ thời gian hoàn tất việc tậpluyện

V Hiệu Quả Của Khí Công

Việc tập luyện khí công có thể tạo ra những tác động, ảnh hưởngtốt đẹp, giúp ích cho chức năng sinh lý của các bộ phận trong cơ thểnhư: bộ phận hô hấp, bộ phận tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn máu, vàthần kinh hệ, Cũng như, tái tạo sự hoạt động của nhiều triệu maoquản bị đình trệ, và làm chậm sự thoái hóa của các tế bào trong cơthể

Trong phép trị bệnh, việc áp dụng khí công đều đặn, cùng vớithói quen ẩm thực hợp phép kiêng cữ, cơ thể tái tạo sức khỏe bìnhthường cho bệnh nhân về các chứng: áp huyết cao hay thấp, bệnhtim, bệnh về đường máu, bệnh suyễn, bệnh táo bón, bệnh tiêu hóa,bệnh nhức đầu, bệnh nhức mỏi khớp xương và bắp thịt

Ngoài ra, việc tập luyện khí công còn giúp ích cho học viên giatăng sức mạnh tinh thần như: tập trung tư tưởng, tính tự chủ, tựkiểm soát nội tâm, tâm hồn thanh tịnh, và bình tĩnh để có một đờisống tình cảm an hòa, khắc phục được những trở ngại bất thườngtrong đời sống hàng ngày Để đạt được thành quả trong lúc tậpluyện khí công, tùy theo hoàn cảnh, học viên nên tuân hành nghiêmchỉnh theo một thời dụng biểu tập luyện đều đặn hàng ngày, vớinhững bài tập thích nghi, từng bước một, tuần tự tiến hành Nếu vội

vã, đốt giai đoạn tập luyện, sức khỏe của học viên dễ bị tổn thương.Cũng như, trong giai đoạn đầu tiên tập khí công, học viên nên cẩnthận tránh những khuyết điểm Việc tập luyện sai phép có thể tạo

Trang 12

nên những biến chứng, gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, vàlàm trở ngại cho cơ thể trong việc tập luyện.

HÔ HẤP TRONG KHÍ CÔNG

· Ý NIỆM VỀ KHÍ:

Đối với người Tây phương, "Khí" được hiểu bằng những danh từnhư: Energy, Vital Energy, Life Force, Bio-Force,Electromagnetism Cũng như "Animal Magnetism" ở Úc châu doMesmer, "Odic Force" ở Đức do Baronvon Reichenbach, "OrgoneEnergy" ở Mỹ do Wilhelm Reich, "Bioplamsm" ở Nga Sô doInyushin

"Khí" (Energy) tức là năng lực, năng lượng Khí thể hiện dướinhiều hình thức khác nhau như: Nhiệt năng, cơ năng, quang năng,điện năng, hóa năng, năng lực tinh thần,

Khí và vật có sự liên hệ mật thiết với nhau Khí cấu tạo ra vật, vàcùng kết hợp với vật Vật hoạt động sinh ra khí Cũng như, cơ quan

có sự liên hệ mật thiết với cơ năng Cơ năng quyết định sự hìnhthành và phát triển cơ quan Cơ quan sinh hoạt biến thành cơ năng.Nhà khoa học Einstein đã giải thích sự liên hệ giữa khí và vật bằngphương trình E = mc 2 Năng lượng khí bằng khối lượng nhân vớibình phương tốc độ ánh sáng Năng lượng khí và khối lượng vật chỉ

là một, nhưng thể hiện dưới hai hình thức khác nhau Khi khốilượng vật chất bị phá hủy, kết quả sẽ sinh ra năng lượng khí đượctỏa ra

Về phương diện sinh lý, cơ thể con người là một thể chất hóahợp của những tế bào, phân tử, nguyên tử khác nhau Tùy theonhững yếu tố và điều kiện sống chung quanh (như: thực phẩm, nướcuống, không khí, thời tiết, xã hội ), nguồn năng lực (khí) trong cơthể được gia tăng, hay bị suy giảm Trong đời sống hàng ngày,nguồn năng lực (Khí) đóng một vai trò rất quan trọng, trong sự liênquan mật thiết giữa cơ thể và tâm trí con người Cũng như, hơi thởqua việc hô hấp không khí là một yếu tố quan trọng nhất, trong tiếntrình phát sinh năng lực (Khí) con người Qua tiến trình hô hấpkhông khí, dưỡng khí (oxygen) trong không khí được gạn lọc nhưmột nhiên liệu căn bản, dùng đốt cháy thực phẩm, để sinh ra nănglực (khí), thán khí (carbon dioxide), và nước, theo phương trình hoáhọc như sau:

Trang 13

Food + Oxygen  Energy + Carbon Dioxide + Water

(Đồ ăn) + (Dưỡng khí)  (Năng lực) + (Thán khí) + (Nước)

Năng lực (khí) được sinh ra từ phản ứng hóa học của dưỡng khí

và đồ ăn, được dùng bồi dưỡng, điều hòa nhiệm vụ não bộ, và các

bộ phận trong cơ thể, cũng như, tạo nên một sức mạnh chịu đựng,dẻo dai về thể chất lẫn tinh thần Để có nguồn năng lực (khí) sungmãn, trong đời sống khỏe mạnh, ngoài hai yếu tố cần thiết phải cónhư dưỡng khí (Oxygen) (trong không khí trong lành), và thức ăntươi tốt (đầy đủ chất dinh dưỡng), người ta cần phải có thêm nhữngyếu tố hỗ trợ khác, không kém phần quan trọng như: nước uốngtinh khiết, ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi tịnh dưỡng, tâm trí quânbình, và vận động thể dục

Sau một công việc mệt nhọc, hay một ngày lao tâm, lao lực,người ta áp dụng một số phương pháp hô hấp (hít thở) không khíđúng cách Kết quả nhận thấy cơ thể khỏe mạnh, tinh thần tươi tỉnh.Sinh lực được phục hồi, nhờ vào sự biến năng của dưỡng khí(oxygen), được không khí mang vào cơ thể

Hơi thở của một người khỏe mạnh bình thường được gọi là hơithở tự nhiên, cần phải hội đủ bốn đặc tính: yên lặng, thanh thản, nhẹnhàng, và điều hòa Hơi thở của họ biểu lộ một cách dễ dàng, nhẹnhàng, liên tục, không cảm thấy mệt mỏi, không bị ràng buộc bởibất cứ điều kiện nào, kể cả việc ý thức về hơi thở Nói một cáchkhác, hoi thở khỏe mạnh tự nhiên là hơi thở không dài, không ngắn,

êm đềm, và đều đặn Khi đạt được hơi thở như thế, người ta cảmthấy nhận được sự khỏe khoắn, nhẹ nhàng trong cơ thể, tình cảm anhòa, tinh thần bình tĩnh, trong một linh hồn minh mẫn

Tuy nhiên, đối với người bệnh hoạn, sức khỏe yếu kém, hơi thởcủa họ thường có vẻ mệt nhọc, do sức cố gắng mà ra Hơi hít vào

vô cùng ngắn, thở ra thường kéo dài, đôi khi, ngược lại Những

Trang 14

người có hơi thở mất bình thường như thế, thể chất và tinh thần của

họ trở nên yếu đuối, đời sống tình cảm bất an, để đưa đến những nỗi

lo âu, buồn nản, thiếu ý chí kiên nhẫn, trong công việc hàng ngày.Tiếp tục như thế, trong một thời gian lâu dài Điều kiện sức khỏethể chất lẫn tinh thần của họ sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó, hơi thởcủa những người này cần được chăm sóc cẩn thận, trong lúc tậpluyện khí công Dần dần, với thời gian, khí công có thể giúp họphục hồi được hơi thở tự nhiên, khỏe mạnh bình thường

Nhịp độ thở trung bình của một người khỏe mạnh bình thường làmười tám hơi thở (ra vào) trong một phút Trong tiến trình tập luyệnkhí công, thời gian cho mỗi hơi thở (ra vào) càng lúc cần được kéodài thêm Vì vậy, khi đến giai đoạn tiến bộ, học viên nên tập đểnhịp độ thở trung bình giảm xuống, nghĩa là giảm dần số lần củahơi thở (ra vào) trong một phút

Các nhà thiền sư, đạo sĩ thường tập giữ cho nhịp độ thở (ra vào)

từ 5 xuống tới 2 hơi thở (ra vào) trong một phút Với tư thế ngồithiền tịnh tâm, họ có thể tập kéo dài trong 30 phút Có hai cáchthông thường để giữ cho nhịp độ thở giảm xuống như: tạo nên hơithở nhẹ nhàng, hay đưa hơi thở sâu xuống bụng dưới (đan điền)

· BỘ MÁY HÔ HẤP TRONG KHÍ CÔNG:

Đối với học viên mới nhập môn khí công, điều quan trong nhất

là việc hiểu biết về sinh lý căn bản của các bộ phận liên quan đếtiến trình hô hấp của con người như sau:

· Nhiệm vụ của phổi:

Bộ máy hô hấp của con người gồm có hai lá phổi, và những bộphận trung gian, để dẫn không khí ra vào hai lá phổi như: mũi,miệng, yết hầu, thanh quản, khí quản và cuống phổi Hai lá phổiđược nằm ở hai bên đường trung tuyến trong lồng ngực, và ngăncách bởi quả tim Lá phổi bên phải gồm có ba thùy Lá phổi bên trái

Trang 15

Bên trong mỗi lá phổi, được cấu tạo bởi vô số, khoảng 600 triệutúi nhỏ chứa không khí (Khí bào), chia thành nhiều chùm khí bào,

đi song song với nhiều chùm mạch máu lớn nhỏ chằng chịt Phổiđược cấu tạo bởi những mô mềm xốp, co dãn và có nhiều lỗ hìnhthức như một tổ ong Mỗi túi nhò khí bào chứa đựng một phầnkhông khí được hít vào Từ đó, dưỡng khí (oxygen) được thấmxuyên qua thành của các phế mao quản Sau đó, máu hữu dụng hóadưỡng khí (oxygen) và thải trừ thán khí (carbon dioxide) cùngnhững chất cặn bã, do máu góp nhặt được trong hệ thống Nếu thiếu

sự hiện diện của máu, những túi nhỏ khí bào sẽ bị thất thoát nguồndưỡng khí (oxygen), và được thay vào bằng thán khí (carbondioxide)

Thể tích của hai lá phổi ở người trưởng thành, trung bình chứa từ

4 đến 6 lít không khí, hoặc tương đương với số lượng không khíđược chứa trong quả bóng rổ (basketball) Nếu những mô tầng củahai lá phổi được tráng mỏng ra trên mặt phẳng, diện tích của nó cóthể phủ lên một nửa sân chơi quần vợt

Bên ngoài mỗi lá phổi được bao phủ bởi mặt trong của màngphổi vững chắc Mặt ngoài của màng phổi này được dính vào thànhtrong lồng ngực Vùng ở giữa màng phổi là một chất nước nhờn, đểcho hai lá phổi di chuyển linh động, trong lúc hít thở không khí

Vai trò hoành cách mô:

Thân người được chia làm hai phần: phần trên là lồng ngực,phần dưới là bụng Hai phần này được ngăn cách bởi một "HoànhCách Mô" (một màng thịt gân có hình nón chóp bầu) Sự co dãn củalồng ngực và hoành cách mô đã đóng một vai trò chủ yếu trong tiếntrình hít thở không khí

Lồng ngực chứa đựng hai lá phổi và tim, được bao phủ bởi bộxương sườn và xương ức Khi hít hơi vào, hai lá phổi bắt đầu nở lớndần dần và gây nên sự kích thích các bắp thịt liên tiếp giữa cácxương sườn Chính các bắp thịt này tác dụng tạo nên sự di động của

bộ xương sườn, để cho lồng ngực được căng phồng lên Do đó, bêntrong lồng ngực có thêm một khoảng trống đủ sức chứa thể tích giatăng của hai lá phổi Đây là loại thở bằng ngực (hay thở trung bình),không có sự ảnh hưởng của hoành cách mô Phần chủ yếu là sự dãn

nở lớn tối đa của lồng ngực, để đạt được một số lượng dưỡng khí

Trang 16

(oxygen) lớn nhất, trong một thể tích không khí tối đa ở vào vùnggiữa của hai lá phổi.

Đối với loại thở sâu (hay thở thấp, Đan Điền), khi hít hơi vào,không khí không bị dừng lại ở vùng giữa của hai lá phổi như nóitrên, nhưng không khí được đưa sâu xuống phần dưới của hai láphổi Đồng thời tạo nên một sức ép trên mặt chóp bầu của hoànhcách mô, khiến cho hoành cách mô bị đẩy thấp xuống phía bụngdưới, khoảng 4 phân (centimeters) Động tác này tạo nên mộtkhoảng trống, giữa mặt trên hoành cách mô và phía dưới của hai láphổi Do đó, không khí gia tăng làm cho phần đáy của hai lá phổi,dãn nở thêm xuống phía dưới Trong khi đó, tất cả những túi nhỏkhí bào, ở vùng dưới hai lá phổi, phải hoạt động tích cực, để có một

sự dãn nở lớn gia tăng tối đa Được như thế, các túi nhỏ khí bàomới đạt được một thể tích tồn trữ không khí tối đa Điều này rấtquan trọng, vì cần phải có một số lượng dưỡng khí (oxygen) tối đa,

để thay vào chỗ của số thán khí (carbon dioxide) cần được loại bỏ

ra ngoài, cũng như cần một số dưỡng khí (oxygen) để dùng vào việctác dụng phản ứng biến thể trong phổi

Ngoài ra, sức ép của hoành cách mô hướng xuống bụng dưới, đãkhiến cho một số máu dư đang ứ đọng trong các nội tạng, và màngruột được ép dồn vào bên trong các tĩnh mạch Cũng như, tạo nên

sự kích thích cho đôi dây thần kinh thái dương, giúp cho tâm trí trởnên thanh tịnh

Không khí được thở ra là buớc sau cùng cần thiết, trong tiếntrình hô hấp Song song với không khí được thở ra, hai lá phổi cothắt nhỏ lại dần dần, cùng lúc với lồng ngực hạ thấp xuống, vì cácbắp thịt giữa bộ xương sườn giảm dần tính kích thích, rồi trở lạibình thường Do đó, sức ép của hoành cách mô bị mất ảnh hưởng,rồi hoành cách mô bật hướng lên, theo sức đàn hồi tự nhiên Đồngthời tạo nên một sức đẩy hướng thượng, tác động vào phần đáy củahai lá phổi, giúp gia tăng sức ép từ dưới đáy phổi, tống mạnh khôngkhí dơ bẩn, còn ứ đọng lại từ đáy phổi ra ngoài

( sưu tầm từ "Khí Công Dưỡng Sinh" của Vũ Đức Hiền Âu)

Trang 17

TÔI ĐÃ TỰ LUYỆN BÁT ĐOẠN CẨM NHƯ THẾ NÀO?

Trước kia, khi còn trẻ, tôi đã tập thể dục theo phương pháp nổitiếng của Thụy Điển: phương pháp của Weirheim (môn thể dục khôngdùng dụng cụ) Với phương pháp Weirheim tôi đã biết lúc nào lây gân

và lúc nào không Cũng như khi đọc sách của g/s Hàng Thanh tôi cũngbiết chút ít thế nào là tập trung luyện khí và thế nào là tập trung dùnglực Nhưng theo tôi không nhất thiết trong một thức (thế) là tất cả đầudùng lực hay dùng khí Nó biến chuyển rất tinh vi thường là theo sự tựnhiên của cơ thể

Tôi bắt đầu luyện tập theo các câu khẩu quyết của “Tôn TiểuĐậu” Tuy nhiên tôi thay đổi thứ tự các câu, trước hết cho đúng luậtbằng trắc và trình tự luyện tập cũng có vẻ hợp lý hơn Về hình thức(động tác), tôi theo các bài minh họa của Phí Tường Trúc đồng thờiphối hợp với cách thở của Weirheim (những động tác co (tay, chânhoặc mình) thì thở ra và ngược lại thì hít vào Cũng theo lời khuyêncủa tác giả Vũ Đức Hiền Âu, tôi luyện tập từ từ và nghe ngóng tácdụng có tốt không: có thức tôi tập cả ba tháng mới thấy hình như kháđúng Cứ như thế đến nay hơn hai năm tôi đã có thể tập mỗi buổi liêntục 8 thức với thời lượng trên dưới 10 phút Tôi cũng phối hợp vớiphương pháp ngồi tập thở theo sách hướng dẫn của B/s Ngô Gia Hy

Tôi thấy trong người khỏe ra và ngày càng thấy kiểm soát đượcchứng bệnh Tiểu đường, kết quả xét nghiệm máu, tiểu rất tốt Tuy thờigian trên hai năm chưa đủ để kết luận hoàn toàn kiểm soát được chứngbệnh này nhưng dù sao cũng thấy có thể nên phổ biến kinh nghiệmcùng mọi người để may ra tìm được một phương pháp chung tốn ítthời gian mà thống trị được một chứng bệnh khá phổ biến hiện nay

Tôi xin chi tiết hóa quá trình luyện tập Bát Đoạn Cẩm

Ngoài 8 thức chính, cũng như bất cứ môn luyện tập nào, BátĐoạn Cẩm còn có thức dự bị và thức thu công nữa

Dự bị thức:

Thức dự bị là những động tác chuẩn bị để bước vào thức thứ nhất

Trang 18

1- Động tác chuẩn bị: đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, hai tay xuôi theo bên hông, chân khép.

2- Động tác 1: chân trái bước qua trái khoảng cách bằng ngangvai

3- Động tác 2: tay dang hai bên 45o so với mặt đất, bàn chânhướng trước

4- Động tác 3: khung tay về trước bụng, khuỵu gối xuống mộtchút

Trang 19

5- Thở tự nhiên từ 8 đến 10 lần.

Những sai sót cần tránh khi tập thức dự bị: khi khụyu gốikhông thấp quá luôn để ý hai đầu gối không vượt ra ngoài các đầungón chân; thân mình phải ngay thẳng không khom, không ngửa, haibàn chân song song nhau không đặt chân giống hình chữ bát (八 )cũng không cong các ngón vào trong

ĐỆ NHẤT THỨC : Song thủ thác thiên lý tam tiêu.

1- Tư thế chuẩn bị: sau thi hoàn tất thức dự bị, sau khi thở sâu

8-10 lần

2- Động tác 1: hai bàn tay đan vào nhau

Ngày đăng: 21/11/2013, 15:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Điều cần lưu ý: khi chuẩn bị giậm gót thân hình phải thật thăng bằng, cổ như treo lên chớ không được co rụt cổ. - BÁT ĐOẠN CẨM THỰC HÀNH
i ều cần lưu ý: khi chuẩn bị giậm gót thân hình phải thật thăng bằng, cổ như treo lên chớ không được co rụt cổ (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w