Bài báo cáo sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho những bạn có nhu cầu làm báo cáo thực tạp hoặc luân văn.Chúc các bạn thành công !
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Bất kể một sản phẩm nào được sản xuất ra thì mục tiêu cuối cùng luôn là đểtiêu dùng - đây là điều chắc chắn không một ai có thể phủ nhận Do đó, chuỗi liênhoàn và khép kín của nền kinh tế luôn luôn là sản xuất - tiêu dùng Sản xuất ra sảnphẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng – tiêu dùng quay lại kích thích tăng trưởng sảnxuất, cứ thế sản xuất – tiêu dùng hỗ trợ, kích thích nhau và luôn là hai phần không thểtách rời của một quá trình thống nhất Do đó, với một nền kinh tế đang trong giaiđoạn phát triển thì nhu cầu về vốn sẽ ngày càng cao, không chỉ cần vốn cho sản xuấtkinh doanh mà vốn phục vụ mục đích tiêu dùng cũng là một nhu cầu không thể thiếu
Vậy mà lâu nay, các Ngân hàng thương mại của chúng ta chủ yếu chỉ thíchcho vay phần đầu – phần sản xuất mà chưa cho vay phần sau – phần tiêu dùng củachu trình kinh tế, vì thế mà chúng đã tạo ra hiện tượng nghẽn giữa đường
Thật vậy, khi Ngân hàng cho các nhà sản xuất vay vốn để sản xuất ra các sảnphẩm mà khả năng chi tiêu hiện thời của người tiêu dùng không thể đáp ứng thì cácsản phẩm đó sẽ bị chất đầy kho, khả năng trả nợ cho Ngân hàng của các nhà sản xuất
bị giảm xuống, mong muốn được tiêu dùng của dân cư sẽ không được đáp ứng vàtình trạng thiểu phát của nền kinh tế sẽ xảy ra
Trước tình hình đó, để kích cầu nền kinh tế, đưa nền kinh tế thoát khỏi conđường hầm không lối thoát, Ngân hàng đã phát triển một loại hình cho vay mới, đó làcho vay tiêu dùng Việc phát triển loại hình cho vay này không chỉ có tác dụng gópphần giải quyết bài toán về sản xuất và tiêu dùng cho nền kinh tế mà nó còn có tácdụng tích cực đối với chính bản thân Ngân hàng – một đơn vị kinh doanh luôn vì mụctiêu lợi nhuận
Đồng thời, một hướng đi mới của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiệnnay là chia mảng kinh doanh của Ngân hàng ra làm hai bộ phận: Bộ phận kinh doanhNgân hàng Bán buôn (với các chiến lược về khách hàng là công ty lớn) - Bộ phậnkinh doanh Ngân hàng Bán lẻ ( với các chiến lược về khách hàng là thể nhân) Việcchuyển hướng này nhằm mục tiêu cơ cấu lại nguồn vốn kinh doanh của các Ngân
Trang 2hàng, tăng doanh số kinh doanh với các khách hàng là cá nhân – xây dựng một Ngânhàng hiện đại Chính vì thế nên việc phát triển cho vay tiêu dùng nằm trong chiếnlược phát triển tổng thể mảng kinh doanh Ngân hàng bán lẻ đang là xu thế tất yếu củacác Ngân hàng thương mại trong các giai đoạn hiện nay Đây là một hướng đi mới,một lĩnh vực kinh doanh đầy triển vọng cho các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Với những kiến thức đã học tại trường kết hợp với thời gian được nghiêncứu, học hỏi thực tế tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Bắc Sài Gòn đã khuyến khích
em viết đề tài “Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Bắc SàiGòn”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Phân tích tình hình hoạt động huy động vốn và tín dụng của Chi nhánhtrong giai đoạn 2006 – 2011
- Phân tích tình hình doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ và nợ xấucho vay tiêu dùng của Chi nhánh trong giai đoạn 2009 – 2011
- So sánh các chỉ tiêu trên với toàn hệ thống BIDV và một số chi nhánhNgân hàng khác
- Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nâng cao khả năngcạnh tranh và tăng trưởng cho vay tiêu dùng của Chi nhánh trong thờigian tới
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Bảng báo cáo tài chính của Chi nhánh trong giai đoạn 2006 – 2011
- Bảng báo cáo tài chính của BIDV trong giai đoạn 2009 – 2011
- Bảng báo cáo tài chính của Vietinbank Chi nhánh 3, Eximbank Chi nhánhSài Gòn
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Tìm hiểu tình hình huy động vốn và tín dụng của Chi nhánh trong giaiđoạn 2006 – 2011
- Thu thập số liệu về cho vay tiêu dùng của chi nhánh BIDV Bắc Sài Gòn
Trang 4Nhiều người vẫn đồng nghĩa hoạt động cho vay và hoạt động tín dụng của Ngânhàng là một nhưng thực ra không phải vậy Tín dụng rộng hơn cho vay, nó bao gồmcho vay và các hoạt động khác như chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài chính Có
thể hiểu rằng: Cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán.
Đối với hầu hết các Ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổngtài sản và tạo ra từ 1/2 đến 1/3 thu nhập của Ngân hàng Đồng thời, rủi ro trong cáchoạt động Ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay
1.1.2 Đặc điểm
Nhìn chung, tín dụng tiêu dùng có những đặc điểm sau:
- Giá trị món vay thường nhỏ lẻ, phân tán nhưng số lượng các món vay thì lại rất lớn
Các khách hàng thường tìm đến Ngân hàng nhằm mục đích vay tiêu dùng thôngthường có nhu cầu vay vốn không lớn, thậm chí còn khá nhỏ Điều này là do giá củahàng hoá dịch vụ tiêu dùng không quá đắt đỏ, hoặc khách hàng vay vốn đã có được
sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có trị lớn Chính điều này đã dẫn đến giá trịmón vay tiêu dùng thường rất nhỏ, phân tán nên chi phí quản lý cao Tuy vậy, trênthực tế tổng quy mô vay tiêu dùng của Ngân hàng lại rất lớn, đó là vì tuy mỗi món
Trang 5vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do đây là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng
và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư nên số lượng khách hàng tìm đến Ngânhàng vay vốn là rất đông, khiến cho tổng quy mô vay tiêu dùng lại trở nên khá lớn
- Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao
Loại hình cho vay tiêu dùng luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro khá lớn, caohơn loại hình cho vay tài trợ sản xuất kinh doanh dưới cả ba góc độ:
+ Thứ nhất: Luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo.
+ Thứ hai: Các rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp,
bệnh tật, tâm lý tiêu dùng của dân cư, mức độ ổn định xã hội
+ Thứ ba: Các rủi ro chủ quan như là tình trạng công việc hay sức khoẻ của
khách hàng, diễn biến tâm lý của khách hàng ảnh hưởng đến tài chính và khả năngtrả nợ của cá nhân và hộ gia đình Hoặc là do sự ảnh hưởng của các tổ chức trunggian (đơn vị, tổ chức có cán bộ công nhân viên vay vốn, các đơn vị chủ quản ), đặcbiệt là hình thức cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm cũng mang lại rủi ro rấtnhiều đối với loại hình cho vay này
Tóm lại, khả năng trả nợ sẽ thay đổi nhanh chóng khi khách hàng thay đổi điềukiện làm việc hoặc sức khoẻ, đồng thời, khả năng bù đắp từ các nguồn khác trongtrường hợp có rủi ro hầu như không có
- Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao và cứng nhắc
Không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổitheo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định ở một mứcnhất định, và đặc biệt phổ biến trong cho vay tiêu dùng trả góp Việc chia các khoảnvay thành nhiều kỳ hạn trả nợ (đối với cho vay tiêu dùng trả góp) hoặc quá trình vay
và trả nợ được thực hiện nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng(đối với cho vay tiêu dùng tuần hoàn như thẻ tín dụng, thấu chi) ngay từ khi bắt đầuthời kỳ tín dụng khiến lãi suất cho vay mang tính cố định, hầu như không thay đổitrong suốt quy trình tín dụng Ngoài ra, do độ rủi ro cao của các khoản vay tiêu dùngnên lãi suất trong cho vay tiêu dùng thường được ấn định khá cao để bao gồm cảphần bù rủi ro Và các khoản cho vay tiêu dùng càng nhiều rủi ro thì lãi suất càngcao
- Cho vay tiêu dùng thường có tính nhạy cảm theo chu kỳ
Trang 6Thật vậy, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầutiêu dùng của dân cư và cầu có khả năng thanh toán của họ, do đó nó có tính nhạycảm theo chu kỳ Cho vay tiêu dùng sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế phát triển - khi
mà người dân có mức thu nhập tương đối cao và ổn định, tình hình kinh tế xã hội đầylạc quan Và ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân
và hộ gia đình sẽ cảm thấy không mấy tin tưởng vào tương lai, nhất là khi họ thấy thunhập của họ giảm xuống và xu hướng thất nghiệp ngày càng tăng thì việc vay mượnNgân hàng sẽ được hạn chế, đặc biệt là việc vay mượn dành cho chi tiêu
- Chi phí cho một khoản vay tiêu dùng là khá lớn
Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trongdanh mục tín dụng của Ngân hàng Thực tế là quy mô mỗi món vay tiêu dùng thườngrất nhỏ, thời gian vay không kéo dài lâu, trong khi đó số lượng các món vay tiêu dùnglại rất lớn Hơn nữa, các thông tin về cá nhân thường không đầy đủ và chính xác hoàntoàn Điều này khiến cho Ngân hàng rất vất vả trong quá trình cho vay, từ khâu tiếpnhận hồ sơ, thẩm định khách hàng đến khâu giải ngân thu nợ Những điều kiện trênkhiến cho việc thực hiện một khoản cho vay tiêu dùng của Ngân hàng là khá tốn kém,mất rất nhiều chi phí cho các khoản vay này
- Lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng là đáng kể
Tương ứng với mức rủi ro cao như vậy thì các khoản tín dụng tiêu dùng cóđược một mức lợi nhuận rất lớn trong các nguồn thu của Ngân hàng Bên cạnh đó, sốlượng các khoản vay tiêu dùng khá nhiều khiến cho tổng quy mô cho vay tiêu dùngrất lớn, và cùng với mức lợi nhuận trên mỗi khoản vay tiêu dùng sẽ khiến cho lợinhuận thu về từ hoạt động cho vay là rất đáng kể trong tổng lợi nhuận của Ngânhàng
Chính vì triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi về đối tượng khách hàngtrong lĩnh vực này mà đối với hầu hết các nước phát triển hiện nay, cho vay tiêu dùng
đã trở thành một trong những nguồn thu chủ chốt của các Ngân hàng thương mại,đóng vai trò chủ đạo trong dịch vụ Ngân hàng cũng như quản lý Ngân hàng và vẫncòn tiếp tục hứa hẹn nhiều triển vọng trong việc phát triển loại hình tín dụng nàytrong tương lai Tại các nước đang phát triển, loại hình cho vay này cũng đang dần
Trang 7khẳng định được vai trò của mình, đem lại những lợi nhuận không nhỏ trong hoạtđộng cho vay của Ngân hàng.
1.2 Phân loại
1.2.1 Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay thì cho vay tiêu dùng bao gồm:
+ Cho vay tiêu dùng cư trú:
Đây là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm xây dựng hay cảitạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình
+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú:
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trảicác chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí du lịch, chữabệnh hay thanh toán tiền viện phí
1.2.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
+ Cho vay tiêu dùng trả góp
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ( gồm cả số tiềngốc lẫn lãi) cho Ngân hàng theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thờihạn cho vay Phương thức này được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặcthu nhập từng định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số
nợ vay Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các Ngân hàng thường chú ý tới một sốvấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất: Loại tài sản được tài trợ.
Thông thường thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hìnhthành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai.Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, Ngân hàng thường chú ý đến điều này vì Ngân hàngthường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâubền hoặc có giá trị lớn Bởi vì có như vậy thì người tiêu dùng mới được hưởng nhữngtiện ích do tài sản đem lại trong một khoản thời gian dài
- Thứ hai: Số tiền phải trả trước.
Nói chung thì các Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toántrước một phần giá trị tài sản cần mua sắm - số tiền này được gọi là số tiền trả trước.Phần còn lại, Ngân hàng sẽ cho vay Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để một mặt làmcho người đi vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tài sản, mặt khác lại có tác dụnghạn chế rủi ro cho Ngân hàng Một khi không cảm nhận được rằng mình là chủ sởhữu của tài sản được hình thành từ tiền vay thì người đi vay sẽ có thái độ miễn cưỡng
Trang 8trong việc trả nợ Ngoài ra, khi khách hàng không trả nợ, trong nhiều trường hợp,Ngân hàng đành phải tiếp nhận và phát mại tài sản để thu hồi nợ Hầu hết các tài sản
đã qua sử dụng đều đã bị giảm giá trị, tức là giá thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toáncủa tài sản, cho nên số tiền trả trước có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Ngânhàng hạn chế rủi ro Số tiền trả trước thường phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trướcnhiều và ngược lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá chậm thì số tiền trả trướcít
- Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng
- Môi trường kinh tế
- Năng lực tài chính của những người đi vay
+ Thứ ba: Chi phí của khoản vay.
Chi phí của khoản vay là chi phí mà người đi vay phải trả cho Ngân hàng vềviệc sử dụng vốn Chi phí này chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liênquan Chi phí khoản vay này phải trang trải được chi phí huy động vốn, chi phí hoạtđộng, rủi ro, đồng thời phải mang lại một phần lợi nhuận thoả đáng cho Ngân hàng
- Thứ tư: Điều khoản thanh toán.
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng,Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
- Số tiền thanh toán mỗi kỳ hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập trongmối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng
- Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thuhồi
- Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng
- Thời hạn cho vay không nên quá dài Thời hạn cho vay bị giới hạn bởi thờigian hoạt động của tài sản tài trợ Và nếu thời hạn cho vay qua dài dễ làm cho giá trịtài sản tài trợ bị giảm mạnh đồng thời rủi ro tín dụng cũng tăng lên Hơn nữa, khi thờihạn cho vay quá dài thì thiện chí trả nợ của những người đi vay cũng như việc thu hồi
nợ thường gặp nhiều rắc rối
+ Thứ năm: Số tiền khách hàng thanh toán cho Ngân hàng mỗi kỳ trả nợ.
Để xác định số tiền khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng trong mỗi kỳ trả
nợ, ta có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây:
- Phương pháp gộp (Add on Method): Đây là phương pháp thường được ápdụng trong cho vay tiêu dùng trả góp, do tính chất đơn giản và dễ hiểu của nó Theophương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi xuất và
Trang 9thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán đểtìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn trả nợ.
- Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method): Theo phương pháp này, vốngốc người đi vay phải trả cho từng kỳ hạn trả nợ được tính đều nhau bằng cách lấyvốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán Còn lãi phải trả mỗi kỳ hạn được tínhtrên số tiền khách hàng thực sự còn thiếu Ngân hàng
+ Thứ sáu: Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian
Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, các Ngân hàng thường tiến hành phân
bổ lại phần lãi cho vay đã được tính Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định
kỳ gắn liền với các kỳ hạn thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý haytheo năm tài chính
Ngân hàng thường áp dụng một số phương pháp như:N
- Phương pháp đường thẳng, áp dụng cho các khoản vay ngắn
- Phương pháp luỹ thoái, áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn
+ Thứ bảy: Vấn đề trả nợ trước hạn
-Cho vay tiêu dùng phi trả góp.
Theo phương thức này thì tiền vay được khách hàng thanh toán cho Ngân hàngchỉ một lần khi đến hạn Thường thì tín dụng tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp chocác khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài
-Cho vay tiêu dùng tuần hoàn
Đây là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó Ngân hàng cho phép khách hàng
sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai Theophương thức này thì trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhucầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phépthực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tíndụng
1.2.3 Căn cứ vào nguồn gốc các khoản nợ
+ Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng muanhững khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụcho người tiêu dùng Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ.Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàngđược bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu Công ty bán lẻ và
Trang 10người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá Theo nguyên tắc người muahàng phải trả trước một phần giá trị của hàng hoá.
Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho Ngân hàng
Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho Ngân hàng
* Ưu điểm của cho vay tiêu dùng gián tiếp:*
+ Cho phép Ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
+ Cho phép Ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay
+ Là nguồn gốc để mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt độngkhác của Ngân hàng
+ Trong trường hợp Ngân hàng có mối quan hệ tốt với các công ty bán lẻthì cho vay tiêu dùng sẽ có tính an toàn cao hơn, giúp Ngân hàng giảm bớt rủi ro
* Nhược điểm của cho vay tiêu dùng gián tiếp:*
+ Ngân hàng không được tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, điều nàydẫn đến Ngân hàng không thể kiểm soát được khách hàng mà công ty bán lẻ đã bánchịu, không biết được chất lượng tín dụng của họ ra sao
+ Ngân hàng không thẩm định được khách hàng trước khi cho vay, dễdẫn đến rủi ro cho Ngân hàng
+ Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao
Do những nhược điểm trên nên rất nhiều Ngân hàng không mặn mà với cho vaytiêu dùng gián tiếp, và chỉ có những Ngân hàng nào có cơ chế kiểm soát tín dụng rấtchặt chẽ mới tham gia vào hoạt động cho vay tiêu dùng này
Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này, khi bán cho Ngân hàng cáckhoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán choNgân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toáncho Ngân hàng
- Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán
lẻ đối với các khoản nợ của người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn
Trang 11trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã thoả thuận giữaNgân hàng với công ty bán lẻ.
- Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ choNgân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc liệu các khoản nợ đó
có được trả hay không Phương thức này chứa đựng nhiều rủi ro nên chi phí củakhoản vay này được Ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức trên và cáckhoản nợ được mua cũng được Ngân hàng lựa chọn rất kỹ Ngoài ra, chỉ có nhữngcông ty bán lẻ rất có uy tín với Ngân hàng mới được áp dụng phương thức tài trợ này
- Tài trợ có mua lại: Theo phương thức này thì khi thực hiện cho vay tiêu dùnggián tiếp với hình thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, ngườitiêu dùng không trả được nợ thì Ngân hàng buộc phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ.Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì Ngân hàng có thể bán lại chochính công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã đượcngười tiêu dùng sử dụng trong một thời gian nhất định
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó Ngân hàngtrực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ họ Cho vaytiêu dùng trực tiếp gồm các bước:
Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay
Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ
Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ
Công ty giao tài sản cho người tiêu dùng
Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho Ngân hàng
So với cho vay tiêu dùng gián tiếp thì cho vay tiêu dùng trực tiếp có một số ưuđiểm sau:
+ Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường
và trình độ của các cán bộ tín dụng Những người này thường được đào tạo cóchuyên môn và có nhiều kinh nghiệm nên các quyết định tín dụng trực tiếp từ Ngânhàng thường có chất lưọng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởicông ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ Ngoài ra, trong hoạt độngcông việc của mình, các nhân viên tín dụng thường có xu hướng chú trọng tới việc
Trang 12tạo ra các khoản cho vay có chất lượng trong khi nhân viên của các công ty bán lẻthường chú trọng tới việc tiêu thụ được nhiều hàng hoá Bên cạnh đó, tại các điểmbán hàng, các quyết định tín dụng thường được đưa ra vội vàng, có thể có nhiềukhoản tín dụng được cấp một cách không chính đáng Hơn nữa, trong một số trườnghợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với kháchhàng tốt của mình Nếu như người cấp tín dụng là Ngân hàng thì những điều này cóthể được hạn chế.
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp ởchỗ: cuối cùng quan hệ vay mượn chỉ diễn ra giữa Ngân hàng và người tiêu dùng,không liên quan tới công ty bán lẻ Khách hàng không trả được nợ thì phần lớn làkhông liên quan tới công ty bán lẻ
+ Khi khách hàng có quan hệ tín dụng trực tiếp từ Ngân hàng thì có rất nhiều lợithế phát sinh như: Ngân hàng có thể mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo ra hình ảnhtốt đẹp về Ngân hàng trong khách hàng Còn đối với khách hàng có cơ hội tiếp cậnđược với nhiều dịch vụ Ngân hàng hơn
1.3 Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng trong các NHTM.
1.3.1 Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với khách hàng
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu củangười tiêu dùng Do vậy, khách hàng của cho vay tiêu dùng cũng chính là người tiêudùng, đặc biệt là những người có thu nhập trung bình Nhờ những khoản cho vay tiêudùng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị cao, thoả mãn nhu cầutiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của họ chưacho phép
Trên thực tế, ta thấy rằng có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ýnghĩa quan trọng trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình Những nhu cầunày không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải thoả mãn Ví dụ như nhu cầu vềmua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm cácphương tiện như xe máy, ô tô, du lịch, học hành
Tuy rằng những nhu cầu thiết yếu nhưng của cải thì được tích luỹ theo thờigian, do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn Vì vậy, mà làm nảy sinh sự thật làngười ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt khi lớn tuổi Khi lợi ích cảmthụ được từ sự hưởng thụ đều có xu hướng giảm xuống Do đó, người tiêu dùng sẽtìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu là yếu tố thời gian và
Trang 13khả năng thanh toán của hiện tại và tương lai Điều này có nghĩa là người tiêu dùng
sẽ tìm cách để hưởng thụ trước số tiền sẽ có trong tương lai Nếu phân tích theo khíacạnh tài chính, việc mượn tiền trước của Ngân hàng để tiêu dùng khiến chúng ta phảitrả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy đổi luồng tiền ta sẽ có tại một thời điểm nào đótrong tương lai về thời điểm hiện tại
Chính những nguyên nhân trên, việc Ngân hàng thực hiện và mở rộng hoạtđộng cho vay tiêu dùng sẽ đem đến cho người tiêu dùng những lợi ích tốt nhất Ta cóthể khẳng định rằng người tiêu dùng là những người được hưởng trực tiếp và đềunhất những lợi ích do hình thức cho vay tiêu dùng mang lại
1.3.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với ngân hàng
- Tạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập,phân tán rủi ro
Vai trò của các Ngân hàng thương mại đối với xã hội ngày càng được khẳngđịnh hơn qua sự phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống Ngân hàng nói chung
và của Ngân hàng thương mại nói riêng Nhưng không vì thế mà các Ngân hàng cóthể thoát khỏi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức hoạt động trong lĩnhvực tiền tệ khác Ngày càng có nhiều tổ chức muốn cung cấp các dịch vụ mà Ngânhàng đã và đang cung cấp Và ngay cả giữa các Ngân hàng thương mại với nhau sựcạnh tranh giành giật thị trường và khách hàng ngày càng khốc liệt hơn Chính vìvậy, muốn tồn tại và phát triển các Ngân hàng phải không ngừng đổi mới, tìm tòi vàđưa ra những dịch vụ mới ngày càng có nhiều tiện ích cho khách hàng, từ đó nângcao thu nhập cho Ngân hàng Thực tế đã chứng minh, có những Ngân hàng thươngmại lớn trên thế giới đã thu về những khoản lợi nhuận kếch xù từ việc cung cấp cáckhoản cho vay tiêu dùng Ngoài ra, nếu xét riêng từng khoản tín dụng tiêu dùng thì tathấy cho vay tiêu dùng có rủi ro lớn Nhưng vì mỗi khoản tín dụng tiêu dùng có giátrị tương đối nhỏ, đặc biệt lại có nhiều sản phẩm tín dụng tiêu dùng nên xét trên toàncục của các khoản cho vay tiêu dùng thì rủi ro cũng không còn là một vấn đề lớn.Trên thực tế, các khoản cho vay tiêu dùng thường có lợi nhuận cao do mức lãi suấttính trên các khoản cho vay tiêu dùng cao Vì vậy, các Ngân hàng thương mại cũng
có thể kỳ vọng tăng lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng
- Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động cácloại tiền gửi cho Ngân hàng
Trang 14Thị trường cho vay tiêu dùng là một lĩnh vực mới được phát hiện, chỉ đến sauchiến tranh thế giới lần thứ hai, hoạt động cho vay tiêu dùng mới được phát triển vàlớn mạnh.
Hoạt động này giúp Ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng ,từ đó giúpNgân hàng có những thuận lợi trong hoạt động huy động vốn, đặc biệt là huy độngvốn từ dân cư Hơn nữa tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên các Ngân hàng cóthể thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút cáckhách hàng đến với các dịch vụ khác của Ngân hàng Trong khi đó các khoản tíndụng tiêu dùng tuy là những khoản tín dụng nhỏ nhưng nhu cầu về chúng lại rất lớnnên nếu khai thác được thị trường này thì các Ngân hàng thương mại có thể sử dụngđược một số lượng vốn lớn Hơn nữa, dân cư là khách hàng tiềm năng lớn của Ngânhàng, Ngân hàng muốn phát triển bền vững thì nên dựa vào đối tượng khách hàngnày
Trong khi cấp các khoản tín dụng tiêu dùng thì các Ngân hàng cũng góp phầnđẩy mạnh tiêu dùng, từ đó tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và các ngân hàng cóthêm những khoản cho vay mới phục vụ cho các nhà sản xuất Sản xuất phát triển lạicung cấp ra thị trường những sản phẩm mới làm nảy nở nhu cầu tiêu dùng Quá trìnhnày được lặp đi lặp lại không ngừng làm cho thị trường tiêu dùng ngày càng pháttriển
1.3.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế
Cho vay tiêu dùng có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo điều kiện thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế Trên thực tế, nhu cầu là vô hạn song “nhu cầu có khả năng thanh toán” mới đáng quan tâm Cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng được hưởng các
tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, nó rất cần thiết chonhững trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêucho gia đình và y tế Chính vì vậy, cho vay tiêu dùng là đòn bẩy hữu hiệu để tránhkích cầu tiêu dùng Để thoả mãn được nhu cầu đó, các nhà sản xuất sẽ gia tăng sảnxuất, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường, tạo ra nhiều công ăn việc làm.Đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh giữa các hãng sản xuất, các nhà kinh doanh về sảnphẩm, mẫu mã, chủng loại và các nhà sản xuất sẽ tìm cách để có thể đáp ứng mọi thịhiếu người tiêu dùng Một mặt thúc đẩy sản xuất phát triển, một mặt người tiêu dùng
có nhiều sự lựa chọn hơn, qua đó tạo sự năng động cho nền kinh tế Các nhà sản xuất
Trang 15muốn tồn tại thì cũng phải không ngừng cải tiến, tự hoàn thiện mình, làm cho nền sảnxuất ngày càng phát triển và phồn thịnh.
1.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay tiêu dùng
1.4.1 Doanh số cho vay tiêu dùng
Doanh số cho vay tiêu dùng là số tiền ngân hàng đã giải ngân cho khách hàngtrong 1 kỳ, thường là trong 1 năm Doanh số cho vay tiêu dùng thể hiện quy mô và sốlượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng Do đó, đây là một chỉ tiêu quan trọng đểđánh giá về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng trong 1 thời kỳ nào đó
1.4.2 Doanh số thu nợ tiêu dùng
Cũng giống như doanh số cho vay tiêu dùng, doanh số thu nợ tiêu dùng là sốtiền cho vay tiêu dùng thực tế mà ngân hàng đã thu hồi được trong 1 kỳ, thường là 1năm Nếu doanh số cho vay chỉ phản ánh số lượng và quy mô tín dụng, việc sử dụngvốn vay có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào công tác thu nợ của Ngân hàngcũng như việc trả nợ của khách hàng Nếu Ngân hàng thu nợ hay khách hàng trả nợđúng hạn thì xem như số lượng vốn đó được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả, từ
đó cho thấy đồng vốn có thể luân chuyển một cách dễ dàng Theo nguyên tắc vay vốntrong hoạt động tín dụng là vốn vay phải được thu hồi cả vốn gốc và lãi theo đúngthời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, từ đó có thể nói doanh số thu nợ cũng
là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng ởmỗi thời kỳ
1.4.3 Dư nợ cho vay tiêu dùng
Dư nợ là số tiền mà khách hàng còn nợ ngân hàng trong kỳ Dư nợ là mộttrong những chỉ tiêu đánh giá về chiều rộng và chiều sâu trong hoạt động tín dụngcuả Ngân hàng, đây là một chỉ tiêu hàng đầu mà bất kỳ một Ngân hàng nào muốn tồntại và phát triển đều phải quan tâm
1.4.4.Nợ quá hạn
Quyết định 127/2005/QĐ – NHNN có nêu: “Đối với các khoản vay khôngtrả nợ đúng hạn, được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng trả nợ đúnghạn và không chấp nhận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, thì số dư nợ gốc của hợp đồngtín dụng đó là nợ quá hạn và tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp thu hồi nợ”
Nợ quá hạn gián tiếp cho thấy được tính hiệu quả và an toàn trong hoạt độngtín dụng Việc cố gắng hạ thấp được tỷ lệ nợ quá hạn cũng đồng nghĩa với việc Ngânhàng đã thành công trong việc quản lý rủi ro của mình
1.4.5 Tỷ lệ nợ xấu
Trang 16Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, các tổ chức tín dụngphân loại nợ theo 5 nhóm
• Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ có khả năng thu hồi được cảgốc và lãi đúng hạn
• Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thuhồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khảnăng trả nợ
• Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không cókhả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn
• Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổnthất cao
• Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày,
nợ được đánh giá không có khả năng thu hồi, mất vốnNhóm nợ xấu bao gồm nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 Thông thường thìNHNN sẽ kiểm soát tỷ lệ nợ xấu của các NHTM ở 3%
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng
1.5.1 Nhóm các yếu tố khách quan
- Nhân tố tình trạng kinh tế
Chúng ta đều đã biết rằng nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dịch vụ của dân cư phụthuộc rất lớn vào tình trạng của nền kinh tế Khi nền kinh tế ở trong giai đoạn hưngthịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, mức sống của dân cư ngày một phát triển đilên thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng, bởi vì họ tin tưởng vào thu nhập của mình trongtương lai có thể chi trả được các khoản nợ để phục vụ mục đích nâng cao chất lượngcuộc sống Vì vậy mà tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng thời kỳ này sẽ tăng lên.Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, thiểu phát, không ổn định thìnhu cầu chi tiêu sẽ giảm do lúc này dân cư có xu hướng tích luỹ hơn là tiêu dùng, bởivậy tín dụng tiêu dùng thời kỳ này sẽ giảm xuống
- Nhân tố xã hội
Nhân tố xã hội bao gồm: quan niệm xã hội, phong tục tập quán, tình hình trật tự
an ninh, trình độ dân trí, độ tin tưởng lẫn nhau Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếptới các tác nhân tham gia vào quan hệ tín dụng tiêu dùng nói riêng và các tín dụng
Trang 17khác của Ngân hàng nói chung Bởi vì quan hệ tín dụng được hình thành dựa trên cơ
sở tín nhiệm lẫn nhau nên nếu khách hàng nào có uy tín với Ngân hàng, có thu nhập
ổn định, có trình độ cao thì sẽ được nhiều ưu đãi trong mối quan hệ này Đồng thời,nếu một Ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả, tạo được lòng tin trong dân chúngthì sẽ có nhiều sự lựa chọn của khách hàng hơn
Đồng thời, quan niệm xã hội, phong tục tập quán, trình độ dân trí… cũng ảnhhưởng mạnh mẽ đến nhu cầu, thói quen mua sắm của người dân từ đó cũng tác độngđến tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng
- Nhân tố pháp lý
Mỗi một chủ thể trong xã hội đều có quyền tự do làm theo ý thích của mình,việc họ muốn làm gì, muốn mua gì là phụ thuộc vào bản thân họ song phải trongkhuôn khổ mà pháp luật cho phép Do đó trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng cũngvậy, mỗi người đều có quyền vay bất cứ lúc nào họ có nhu cầu nhưng phải tuân thủtheo mọi quy định của Ngân hàng nhà nước Vì vậy, nếu những quy định của pháp
luật không rõ ràng, không đồng bộ, không ổn định, không kịp thời và có nhiều“ kẽ hở” thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng thương mại trong mọi hoạt động
tín dụng Ngược lại, nếu những văn bản pháp luật quy định rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ,kịp thời và ổn định thì sẽ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, góp phần vào cạnhtranh lành mạnh giữa các Ngân hàng thương mại trong hoạt động tín dụng Và đócũng là cơ sở pháp lý để Ngân hàng giải quyết các khiếu nại, tố cáo khi có các tranhchấp xảy ra trong hoạt động tín dụng
Ngoài ra, chính sách của Nhà nước cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hoạtđộng tín dụng tiêu dùng Thứ nhất là các chính sách của Nhà nước nhằm khuyếnkhích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài với mục tiêu phát triển kinh tế, tăngGDP, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động Thứ hai là các chính sáchcủa Nhà nước về giáo dục và đào tạo Hai chính sách này đóng vai trò quan trọngtrong việc mở rộng tín dụng tiêu dùng
1.5.2 Nhóm các nhân tố chủ quan
- Nhân tố chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng bao gồm: các yếu tố giới hạn mức cho vay đối với kháchhàng, kỳ hạn của khoản tín dụng, lãi suất cho vay, mức lệ phí, sự bảo đảm khả năng
Trang 18thanh toán, hướng giải quyết phần tín dụng thấu chi, các khoản vay có vấn đề Nếutất cả những yếu tố trên đều đúng đắn, hợp lý và linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa người tiêu dùng thì chắc chắn Ngân hàng sẽ thành công trong việc mở rộng hoạtđộng này Ngược lại, nếu chính sách tín dụng không đáp ứng được những yêu cầutrên thì Ngân hàng sẽ không mở rộng quy mô tín dụng tiêu dùng được.
Đặc biệt là trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì mộtchính sách tín dụng hợp lý, một chính sách đa dạng lãi suất hoá phù hợp với từng loạikhách hàng, từng kỳ hạn cho vay sẽ thu hút được nhiều khách hàng và thực hiệnthành công việc mở rộng tín dụng tiêu dùng
- Quy trình cấp tín dụng
Quy trình cấp tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định của Ngân hàngtrong việc cấp tín dụng, gồm các bước cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khichuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng
Việc xây dựng một quy trình cấp tín dụng hoàn thiện và hiệu quả có ý nghĩa rấtlớn trong công tác ngăn ngừa và hạn chế rủi ro xảy ra, đồng thời nó còn gây đượccảm tình với khách hàng và thu hút được nhiều khách hàng hơn
- Về thông tin tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác, kịpthời về khách hàng người đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Và trong hoạt động tíndụng, Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên nguyên tắc tin tưởng và sựhoàn trả Sự tin tưởng ở đây phụ thuộc vào thông tin có được Do vậy, để hoạt độngtín dụng tiêu dùng ngày càng được mở rộng với chất lượng cao, hiệu quả lớn thìNgân hàng phải nắm bắt được thông tin một cách kịp thời, chính xác về khách hàngvay vốn như:
+ Các thông tin phi tài chính, gồm có: tư cách, uy tín, năng lực quản lý,năng lực sản xuất kinh doanh, các mối quan hệ xã hội
+ Các thông tin gián tiếp bao gồm: tình hình kinh tế xã hội, thông tin về
xu hướng phát triển và khả năng cạnh tranh của ngành nghề
+ Các thông tin tài chính của khách hàng: khả năng về tài chính của kháchhàng, thu nhập hiện tại, khả năng trả nợ và bảo đảm tín dụng
- Tình hình huy động vốn của ngân hàng
Trang 19Do Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế hoạt động
theo phương thức“ nhận tiền gửi để cho vay” Bởi vậy, nếu nguồn vốn của Ngân
hàng huy động được ngày càng lớn và đa dạng thì càng tạo điều kiện cho hoạt độngtín dụng tiêu dùng phát triển
- Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị tại ngân hàng
Phải khẳng định rằng: việc mở rộng cho vay tiêu dùng có thành công hay khôngphụ thuộc phần lớn vào trình độ cán bộ công nhân viên và cơ sở vất chất, trang thiết
bị của Ngân hàng Dưới con mắt của khách hàng thì cán bộ Ngân hàng chính là hìnhảnh của Ngân hàng Nếu như trong quá trình giao tiếp với cán bộ Ngân hàng mà họcảm thấy an tâm về trình độ nghiệp vụ của các cán bộ, an toàn khi quan hệ với Ngânhàng thì chắc chắn khách hàng sẽ tìm đến đó Đồng thời, việc Ngân hàng trang bị đầy
đủ các thiết bị tiên tiến, phù hợp với phạm vi và quy mô hoạt động, phục vụ kịp thờicác yêu cầu của khách hàng thì sẽ giúp Ngân hàng có khả năng cạnh tranh và thựchiện việc mở rộng tín dụng tiêu dùng
- Tình trạng của người tiêu dùng
Mỗi người dân là một người tiêu dùng và trong cuộc đời họ ít nhất phải một lầnmua sắm những hàng hoá có giá trị lớn như: mua nhà, mua xe Và khi khả năng tàichính hiện tại của họ không đáp ứng được các dự định tiêu dùng thì họ sẽ đến Ngânhàng đặt quan hệ tín dụng Nhưng không phải người tiêu dùng nào cũng được Ngânhàng chấp nhận cho vay mà Ngân hàng phải xem xét tới những lần trả nợ trước, tìnhhình thu nhập có ổn định không Nếu những người đến Ngân hàng đều không có đủnăng lực tài chính thì cơ hội mở rộng tín dụng tiêu dùng chỉ là mục tiêu chứ khôngthực hiện được
Sau khi tìm hiểu về người tiêu dùng và về tín dụng tiêu dùng ta thấy rằng vấn
đề đáp ứng được đủ vốn cho người tiêu dùng trong xã hội là vấn đề mà cả hệ thốngNgân hàng và các cơ quan quản lý nhà nước cần phải quan tâm bởi vì nếu lĩnh vựcnày được phát triển nó sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ đến sự phồn thịnh của cả nềnkinh tế
Trang 20Chi nhánh được thành lập theo quyết định số 244/QĐ-HĐQT ngày 25/11/2005của Hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam; giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh số 4116000564 ngày 31/11/2005 của sở kế hoạch đầu tư ThànhPhố Hồ Chí Minh Chi nhánh BIDV Bắc Sài Gòn là chi nhánh cấp 1 , trực thuộcNgân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, là đại diện hợp pháp của Ngân HàngĐầu Tư và Phát Triển Việt Nam, có con dấu, có bảng tổng kê tài sản, hoạch toán phụthuộc trong hệ thống Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam.
Đến ngày 07/12/2007, Chủ tịch HĐQT BIDV đã ký quyết định đổi tên NgânHàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Tân Bình thành Ngân Hàng Đầu
Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn (BIDV- Bắc Sài Gòn) nhằm tạođiều kiện để đơn vị này phát huy tốt hơn vai trò trong hoạt động kinh doanh
Đây là đơn vị cấp 1 thứ 81 và là đơn vị thành viên thứ 91 của BIDV Tại thờiđiểm thành lập, Chi nhánh Tân Bình có tổng tài sản trên 500 tỷ đồng và chỉ có 2phòng giao dịch Hiện nay, Chi nhánh đã có tới 5 phòng giao dịch đặt tại địa bàn cácquận như: Tân Phú, Tân Bình, Gò Vấp và Huyện Củ Chi
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban.
Ban lãnh đạo
Với tư cách là chi nhánh cấp 1, BIDV Bắc Sài Gòn có cơ cấu tổ chức bộ máy điềuhành theo sơ đồ sau:
Trang 21Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ngân hàng BIDV – Chi nhánh Bắc Sài Gòn
Hiện nay, trong các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ của chi nhánh ngân hàng baogồm các phòng ban sau:
Phòng quan hệ khách hàng doanh nghiệp với các chức năng sau:
Đầu mối tham mưu và đề xuất với giám đốc chi nhánh xây dựng các văn bảnhướng dẫn chính sách, phát triển khách hàng, quy trình tín dụng phù hợp với điềukiện phát triển của chi nhánh, đề xuất hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng, xếploại khách hàng, xác định tài sản đảm bảo nợ vay
Chịu trách nhiệm maketing tín dụng: bao gồm thiết lập mợ rộng, phát triển hệthống khách hàng, giới thiệu và bán các sản phẩm tín dụng dịch vụ cho khách hàng,chăm sóc toàn diện khách hàng, tiếp nhận các yêu cầu dịch vụ, phản hồi của kháchhàng, phối hợp với các phòng liên quan đề xuất với giám đốc chi nhánh giải quyết,nhằm đáp ứng sự hài lòng của khách hàng
Tư vấn cho khách hàng sử dụng các sản phẩm tín dụng, dịch vụ và các vấn đềkhác có liên quan, phổ biến hướng dẫn, giải đáp thắc mắc cho khách hàng về quyđịnh, quy trình tín dụng của ngân hàng
Giám Đố c
T Ki m tra ổ ể
n i b ộ ộ Các Phó Giám Đố c
Trang 22Quản lý hồ sơ tín dụng theo quy định: tổng hợp, phân tích, quản lý thong tin vàlập các báo cáo về công tác tín dụng theo phạm vi phòng được phân công theo quyđịnh.
Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ tín dụng:
o Cho vay ngắn hạn (kể cả VNĐ và ngoại tệ) đồng thời thực hiện nghiệp vụbảo lãnh mở L/C và các loại bảo lãnh khác: dự thầu, thực hiện hợp đồng,thanh toán… cho tất cả các doanh nghiệp
o Cho vay trung hạn và dài hạn
o Cho vay tạm thời
o Các loại bảo lãnh
Phòng quan hệ khách hàng cá nhân với các chức năng:
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với khách hàng là cá nhân, hộgia đình, cá thể nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dung, baogồm:
o Cho vay cán bộ nhân viên không có tài sản đảm bảo
o Cho vay hỗ trợ nhu cầu về nhà ở
o Cho vay mua ô tô, phương tiện vận tải
o Cho vay hỗ trợ người đi lao động nước ngoài
o Cho vay hỗ trợ du học nước ngoài
o Cho vay cầm cố giấy tờ có giá,
o Cho vay cán bộ nhân viên mua cổ phần phát hành lần đầu tiên
o Cho vay theo hình thức khác theo quy định của BIDV và củachi nhánh
o Tiếp thị, tư vấn với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ và các tiện ích củacác sản phẩm ngân hàng
Trang 23 Phòng quản lý rủi ro:
o Tái thẩm định và phân tích các hồ sơ trung và dài hạn
o Tái thẩm định phân tích đánh giá các phương án trực tiếp, góp vốn mua
cổ phần
o Có ý kiến đối với các tờ trình của phòng tín dụng và các phòng giaodịch về việc tài trợ và xác định hạn mức vốn lưu động hằng năm chocác doanh nghiệp
o Hỗ trợ phân tích tín dụng đối với khách hàng chưa có quan hệ tín dụngbảo lãnh để trình hạn mức vay, bảo lãnh món
o Tư vấn cho Ban giám đốc trong việc đề ra các chính sách tín dụng
o Sưu tầm nghiên cứu, phổ biến các phương pháp thẩm định dự án cũngnhư các phương pháp đánh giá dự án
o Mở tài khoản tiền gửi cá nhân, thanh toán chuyển tiền cho cá nhân
o Thực hiện cho vay cầm cố, chiết khấu sổ tiết kiệm, chứng từ có giá khác do
Trang 24o Kiểm soát ký duyệt các giao dịch của giao dịch viên theo đúng quy trình, quyđịnh.
o Cùng một số nhiệm vụ khác
Phòng dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
o Mở tài khoản và quản lý tài khoản tiền gửi VND và ngoại tệ cho khách hàng làdoanh nghiệp theo quy định của ngân hàng Nhà Nước
o Huy động vốn ngắn ,trung và dài hạn bằng VND cũng như bằng ngoại tệ
o Thực hiện các hợp đồng dịch vụ chi hôi và cung cấp dịch vụ chi hội lươngphục vụ khách hàng là Doanh Nghiệp
o Giải ngân và thu hồi nợ vay cho khách hàng Doanh nghiệp
o Theo dõi, quản lý trả lãi tiền gửi theo đúng quy định
o Thực hiện các yêu cầu mua bán ngoại tệ đối với khách hàng Doanh nghiêp
o Thanh toán quốc tế phục vụ công tác xuất nhập khẩu
o Thực hiện các loại bảo lãnh ngân hàng
o Chăm sóc khách hàng, tiếp thị sản phẩm dịch vụ cho khách hàng Doanhnghiệp
Phòng tiền tệ kho quỹ
o Cân đối thu chi tiền mặt, ngoại tệ
o Thực hiện các giao dịch nhân và rút tiền gửi bằng VND và ngoại tệ
o Giữ vai trò thủ quỹ ATM
o Thực hiên các giao nhân áp tải tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá
o Quản lý vàng, bạc, kim khí đá quý
o Quản lý các ấn chỉ quan trọng, giấy tờ có giá, hồ sơ tài sản thế chấp
Trang 25o Thực hiện các dịch vụ tiền tệ, kho quỹ cho khách hàng: kiểm định tiền mặt giữ
hộ tài sản quý
o Quản lý các hoạt động của các bàn đổi ngoại tệ của các chi nhánh khi có điềukiện thành lập
Phòng kế hoạch nguồn vốn: thực hiện các công việc sau
o Quản lý và điều hành thanh khoản của ngân hàng
o Quản lý nguồn vốn và sử dụng vốn
o Tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn ký thác
o Quản lý công tác thanh toán nội địa
o Cùng một số công tác khác liên quan đến nguồn vốn ngân hàng
Phòng tài chính kế toán: thực hiện các công việc sau:
o Xây dựng và kiểm tra chế độ tài chính kế toán
o Công tác kế toán tổng hợp
o Công tác kế toán quản trị
o Công tác kế toán chi tiết
o Công tác hậu kiểm chứng từ kế toán
Phòng tổ chức hành chính: thực hiện các nghiệp vụ sau
o Thực hiện các nghiệp vụ hành chính quản trị
o Thực hiện các công tác thống kê báo cáo hoạt động tài chính theo định kỳ
o Bảo vệ tốt tài sản của chi nhánh
o Chuyển giao và tiếp nhận chứng từ giao dịch ngân hàng và công văn giữa chinhánh và hội sở hàng ngày
Tổ điện toán:
o Đảm nhiệm công tác quản trị mạng, hệ thống, dịch vụ hệ thống
Trang 26o Công tác an toàn bảo mật thông tin
o Phát triển ứng dụng ngân hàng điện tử và ứng dụng hỗ trợ hoạt động điềuhành ngân hàng, nghiên cứu công nghệ mới đưa vào áp dụng thực tiễn
Cùng các nhiệm vụ khác có liên quan
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh những năm gần đây 2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn.
Từ năm 2008 trở lại đây, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,thị trường tiền tệ nói chung và thị trường vốn nói riêng có những biến động phức tạp,
là công cụ điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất cũng thay đổi Trước áp lực cạnhtranh ngày càng một gay gắt, hệ thống BIDV nói chung và chi nhánh BIDV Bắc SàiGòn nói riêng vẫn giữ được quy mô nguồn vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng
Trang 27trưởng hàng năm của nguồn vốn này không lớn, nhưng tốc độ hàng năm luôn tăng, và
có tốc độ tăng trưởng trung bình là 32.96%/năm Tốc độ tăng trưởng lớn nhất chính
là nguồn huy động ngoại tệ, tăng trưởng bình quân 257.72%/năm; kế tiếp là nguồnvốn huy động được từ các tổ chức kinh tế, bình quân 108.7%/năm; xếp thứ 3 về tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm là nguồn huy động tiền gửi ngắn hạn, bình quân90.84%/năm Mặc dù, những nguồn vốn này có tốc độ tăng trưởng rất cao, nhưngchúng lại tăng trưởng không ổn định, có khi giảm rất nhanh như nguồn vốn trung vàdài hạn huy động trong năm 2009 chỉ là 33 tỷ đồng, giảm tới 97.05% so với năm
2008, và có những năm tốc độ tăng trưởng đột biến như nguồn huy động bằng VNDtrong năm 2009 tăng 1,226.02% so với năm 2008 Độ biến thiên lớn trong tốc độ tăngtrưởng hàng năm của các nguồn vốn này là một trở ngại trong quản trị tín dụng củangân hàng, vì nếu cơ cấu huy động thay đổi thì cơ cấu tín dụng cũng phải thay đổitheo để giảm rủi ro
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của chi nhánh BIDV Bắc Sài Gòn giai đoạn 2006 – 2011
ĐVT: %
Khoản
mục
Tốc độ tăng trưởng2007/2006 2008/2007 2009/2008 2010/2009 2011/2010 BìnhquânTổng
(Nguồn: Báo cáo tài chính BIDV Bắc Sài Gòn)
Biểu đồ 2.1: Tình hình huy động vốn của chi nhánh BIDV Bắc Sài Gòn trong giai đoạn 2006 – 2011
Trang 28(Nguồn: Báo cáo tài chính BIDV Bắc Sài Gòn)Phân tích vào số lượng vốn huy động được của chi nhánh trong giai đoạn 2006– 2011, ta có thấy rõ một điều: tổng số tiền huy động luôn tăng qua các năm 2006 –
2009, đặc biệt trong tốc độ tăng trưởng huy động năm 2009 so với 2008 lên tới98.31%, tương đương với 4,951 tỷ đồng Sự tăng trưởng nóng này xuất phát từ cuộcchạy đua lãi suất vào cuối năm 2008, đầu năm 2009 của các ngân hàng, điều này ảnhhưởng tích cực đến tâm lý của khách hàng, như có thời điểm lãi suất huy động lên tới19%/năm Bên cạnh đó, tình hình kinh tế đã có những dấu hiệu sáng sủa hơn sau thời
kì khủng hoảng toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2009 là5.32%, thuộc nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, đây cũng là mộtnhân tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh của nguồn vốn huy động trong năm2009
Tuy nhiên đến năm 2010, Ngân hàng vẫn đối mặt với những khó khăn của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, ảnh hưởng đến nguồn vốn và tính thanh khoản Bêncạnh đó, lạm phát quá cao (~11.75%) (Nguồn: Vnexpress.net), thị trường chứngkhoán liên tục giảm điểm Tất cả điều đó đã làm tổng nguồn vốn huy động năm 2010giảm 1,359 tỷ đồng, tương đương với tốc độ giảm là 13.61% Ta có thấy, nguồn vốnhuy động giảm chủ yếu là sự suy giảm của nguồn vốn huy động từ các TCKT liên tục
từ năm 2009 là 8,781 tỷ đồng, đến năm 2010 xuống còn 6,875 tỷ đồng, và tiếp tụcgiảm còn 6,511 tỷ đồng trong năm 2011
Nhưng sự giảm sút đó chỉ là một thời kì khó khăn tạm thời của chi nhánh, đếnnăm 2011, tốc độ huy động của chi nhánh đã tăng trở lại, tương đương với 483 tỷđồng và 5.6% Mặc dù lãi suất huy động năm 2011 đã giảm, do sự cẩn trọng trongchính sách tiền tệ của Quốc hội mà ngân hàng Nhà nước đã “tuýt còi” một số ngânhàng có mức lãi suất huy động “khủng” như Techcombank đã làm gương cho các chinhánh các ngân hàng khác giảm lãi suất xuống mức 13% – 15% (Nguồn:Vnexpress.net) Đây là mức lãi suất hầu như áp dụng chung cho mọi ngân hàng, vàkhông có ngân hàng nào áp dụng lãi suất đột biến nữa, nên tình hình huy động củachi nhánh lại trở về mức tương đương năm 2009 là 9,111 tỷ đồng (~9,987 tỷ đồngnăm 2009)
Trang 29Nhìn chung, tình hình huy động vốn của chi nhánh trong giai đoạn năm 2006 –
2011 là khá tốt, tốc độ tăng trưởng trung bình 67.26% cao hơn cả tốc độ của toàn hệthống BIDV toàn quốc Nhưng tăng trưởng nguồn vốn huy động cao còn phải cầnmột cơ cấu huy động hợp lý thì mới tránh rủi ro lớn về thanh khoản Từ đó đem lạinguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng
nợ xấu và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu
Năm 2011, chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc, triệt để theo tinh thần nghị quyết
số 11/2011/NQ-CP của Thủ tướng Chính Phủ về điều hành kinh tế vĩ mô Nhìnchung tăng trưởng tín dụng được kiểm soát chặt chẽ, phù hợp với tốc độ tăng trưởngkinh tế cũng như định hướng điều hành của BIDV và NHNN Giai đoạn 2006 – 2011,tăng trưởng tín dụng bình quân của chi nhánh là 65.61%, cao ~3 lần so với tốc độtăng trưởng của hệ thống BIDV (25%) Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng tín dụngtrung bình hàng năm trong giai đoạn 2006 – 2011 là 130.6%, một tốc độ tăng trưởngquá cao, quá nóng, và không phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy độngcùng thời kì Tốc độ tăng trưởng cao phải đi đôi với kiểm soát và quản lý chất lượng
Trang 30tín dụng, cơ cấu khách hàng và cơ cấu tín dụng Nếu tăng trưởng tín dụng quá nóng
sẽ dễ dẫn đến sự quản lý lỏng lẽo trong công tác kiểm tra, kiểm soát nguồn vốn củangân hàng, tỷ lệ nợ xấu cao sẽ ảnh hưởng chung đến toàn hệ thống BIDV Đây là mộtđiểm cần lưu ý trong công tác tín dụng của chi nhánh trong thời gian tới
Mặc dù tín dụng tăng trưởng liên tục trong năm 2006 – 2010, nhưng đến năm
2011, tín dụng đã giảm -7.5% so với năm 2010, chủ yếu là do dư nợ tín dụng TCKTgiảm 956 tỷ đồng, tương đương với tốc độ giảm 9.33% Mặc dù đây là một sự giảmsút về dư nợ, nhưng lại là một tín hiệu tốt chứ không phải tín hiệu xấu Đây chính là
sự điều chỉnh của chi nhánh trong năm 2011 để giảm nhiệt tín dụng, thay vì tăngcường dư nợ tín dụng, chi nhánh đã chuyển hướng nâng cao quản lý rủi ro, từ đónâng cao lợi nhuận Một hướng đi có lợi có tính thanh khoản của ngân hàng, đem lạilợi nhuận lớn trên một mức rủi ro thấp
Biều đồ 2.2: Cơ cấu tín dụng phân loại theo khách hàng và loại tiền trong giai đoạn 2006 – 2011
(Nguồn: Báo cáo tài chính BIDV Bắc Sài Gòn)Thông qua 2 biểu đồ này ta có thể rằng, trong cơ cấu tín dụng của chi nhánhthì dư nợ tín dụng TCKT và dư nợ tín dụng bằng VNĐ luôn chiếm tỷ trọng lớn quacác năm từ 2006 – 2011
Nếu phân theo khách hàng thì tín dụng TCKT luôn chiếm từ 75% trở lên, tíndụng bán lẻ chỉ chiếm một phần nhỏ và không ổn định Nhưng về số lượng thì dư nợtín dụng của tín dụng bán lẻ luôn tăng trưởng qua các năm
Bảng 2.4: Tình hình dư nợ tín dụng phân loại theo khách hàng của chi nhánh BIDV Bắc Sài Gòn giai đoạn 2006 – 2011
Trang 31Trong năm 2006, dư nợ tín dụng bán lẻ chỉ là 36 tỷ đồng, chiếm 8.63% trongtổng dư nợ tín dụng, nhưng đến cuối năm 2011, dư nợ này đã đạt đến 809 tỷ đồng,chiếm 8.01% trong tổng dư nợ tín dụng, tăng 773 tỷ đồng Dư nợ tín dụng bán lẻ đãtăng 21.5 lần chỉ trong vòng 5 năm, một mức tăng rất cao, chứng tỏ chi nhánh đã vàđang xem trọng loại tín dụng này Đây là một chiến lược đúng vì trong dài hạn, rủi rocủa tín dụng bán lẻ là thấp hơn so với tín dụng TCKT mà lợi nhuận đem lại cao hơn
vì lãi suất cho vay cao hơn, lãi suất cho vay mua nhà của chi nhánh BIDV Bắc SàiGòn trong năm 2012 lên tới 24%/năm, trong khi đó lãi suất cho vay khoảng 20% đốivới dự án
Nếu phân loại theo loại tiền thì dư nợ tín dụng bằng VND luôn chiếm ưu thế
so với dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ, có năm lên tới 98.84% như trong năm 2007.Điều này là dễ hiểu vì hầu hết các giao dịch trên thị trường tiền tệ Việt Nam nóichung đều sử dụng quốc tệ để giao dịch Nhưng ta có thấy, dư nợ bằng ngoại tệ cũng
đã chiếm một cơ cấu tăng trưởng qua các năm, tiêu biểu nhất là trong năm 2009, dư
nợ bằng ngoại tệ đã chiếm tới 47,24%, một con số gần tương đương với dư nợ VND
Và hầu như dư nợ ngoại tệ luôn tăng trưởng với tốc độ khá cao trong giai đoạn này,
từ 39 tỷ động năm 2006 đã tăng 4,017 tỷ đồng, từ là 4,056 tỷ đồng trong năm 2011.Một con số đáng kể trong vòng chỉ 5 năm
Ngoài ra, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn của Ngân hàng sau khi trừ dự trữ bắtbuộc là thấp, ví dụ như năm 2009, ngân hàng huy động được 9,987 tỷ đồng, bao gồm5,094 tỷ đồng bằng VND và 4,893 tỷ đồng bằng ngoại tệ Theo quy định của NHNN,
tỷ lệ dự trữ bắt buộc của tiền gửi VND không kì hạn và dưới 12 tháng là 3%, tiền gửingoại tệ không kì hạn và dưới 12 tháng là 8% thì dự trữ bắt buộc của chi nhánhkhoảng 5,094 x 3% + 4,893 x 8% = 544.26 tỷ đồng, tức là ngân hàng có thể cho vay9,987 – 544.26 = 9,442.74 tỷ đồng Nhưng thực tế, trong năm 2009 dư nợ tín dụngcủa ngân hàng chỉ là 8,979 tỷ đồng Điều này có nghĩa là tính thanh khoản của ngânhàng rất cao và cao hơn mức cần thiết, do đó sẽ lãng phí đi một khoản lợi nhuận.Ngân hàng vẫn có thể tăng thêm lợi nhuận bằng cách cho vay thêm mà vẫn đảm bảotính an toàn theo quy định của NHNN
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh.
2.2.1 Quy trình tín dụng cho vay tiêu dùng áp dụng tại Chi nhánh.
Trang 32a Quy trình cho vay tiêu dùng trả góp không có đảm bào tài sản đối với cán bộ công nhân viên
Đối tượng vay vốn:
Đối tượng vay vốn của loại hình cho vay này chủ yếu là những cán bộ côngnhân viên chức có thu nhập ổn định như: cán bộ, công nhân, công chức, viên chức,giáo viên Họ đều là công dân Việt Nam có năng lực pháp luật và hành vi dân sự Cụthể:
+ Cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị sản xuất kinhdoanh (các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần vốn chủ sở hữu của nhà nước) + Cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị hành chính sựnghiệp (trường học, bệnh viện)
+ Cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị an ninh, quốcphòng và các cán bộ công nhân viên thuộc các tổ chức khác do phòng tín dụng nơicho vay xem xét quyết định và tự chịu trách nhiệm
Điều kiện vay vốn:
+ Người vay phải có hộ khẩu thường trú tại địa bàn
+ Phải có phương án trả nợ, có nguồn trả nợ: lương, trợ cấp, thu nhậpkhác
+ Có mục đích sử dụng vốn hợp pháp
+ Tổ chức nơi người vay làm việc cam kết trích thu nhập hàng tháng trảcho Ngân hàng khi người vay không trả được nợ theo thoả thuận
+ Có giấy xác nhận của cơ quan quản lý và chi trả thu nhập
Hồ sơ vay vốn bao gồm:
+ Đơn đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ (mẫu in sẵn của Ngânhàng)
+ Bản sao Hợp đồng lao động của người vay vốn
+ Giấy CMND, bản sao hộ khẩu thường trú
+ Giấy xác nhận của tổ chức quản lý và chi trả lương nơi người xin vayvốn đang làm việc Chứng nhận về việc làm, thời gian công tác, hệ số lương
Thủ tục vay vốn:
Trang 33+ Tiếp nhận hồ sơ: Người vay hoặc người đại diện tại đơn vị trực tiếpmang hồ sơ vay vốn nộp cho Ngân hàng Nhân viên tín dụng sẽ tiếp nhận hồ sơ, saukhi kiểm tra thấy hợp lệ và đầy đủ sẽ tiến hành thụ lý hồ sơ và hẹn ngày thẩm tra hồ
sơ vay vốn
+ Thẩm định cho vay: Nhân viên tín dụng sẽ thẩm định lại những thôngtin mà khách hàng cung cấp trong hồ sơ vay vốn Nếu các thông tin đó là đúng và phùhợp với các quy định cho vay của Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ tiến hành cho vay.Nếu không đồng ý cho vay thì phải trả lời bằng văn bản
+ Giải ngân: Phòng tín dụng quyết định cho vay và nhân viên tín dụng hẹnlịch giải ngân với khách hàng
+ Theo dõi khoản vay, thu nợ hoặc xử lý khoản nợ vay trả trước hạn hoặcquá hạn( nếu có phát sinh)
Các thông tin khác về khoản vay:
+ Mức cho vay: Phải phù hợp với nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ củangười vay
+ Thời hạn cho vay: Thời hạn tối đa 5 năm và không dài hơn thời hạn laođộng còn lại trong hợp đồng lao động, thời hạn công tác trước nghỉ hưu
+ Lãi suất cho vay: Được áp dụng theo biểu lãi suất cho vay của Ngânhàng Lãi được trả hàng tháng
+ Lịch trả nợ: Ngân hàng thực hiện thu nợ gốc định kỳ theo sự thoả thuậngiữa Ngân hàng với khách hàng
b Quy trình cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo
Tài sản bảo đảm mà Ngân hàng chấp nhận cho vay là giấy tờ có giá,nhà và đất
- Giấy tờ có giá bao gồm: Giấy tờ có giá của Ngân hàng Đầu tư & Phát triểnViệt Nam, sổ tiết kiệm, trái phiếu do Kho bạc nhà nước và các Ngân hàng th-ương mại quốc doanh phát hành
- Nhà, đất của người vay phải bảo đảm: Nhà, đất có sổ đỏ, ở nơi có vị trí thuậntiện về mọi mặt
Đối tượng vay vốn: Cá nhân là công dân Việt Nam, có năng lực phápluật dân sự và năng lực hành vi dân sự
Điều kiện vay vốn: