Quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung của truyện trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại.... Tên đề truyện ngắn với t- cách là một bộ phận quan trọn
Trang 1Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học Khoa Học Xã Hội và nhân văn
luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Chuyên Ngành : ngôn ngữ học
Hà nội, 2009
Trang 2Đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học Khoa Học Xã Hội và nhân văn
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Nguyễn Hữu Đạt, ng-ời đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận luận này Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn tất cả các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ - Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, những ng-ời đã trang bị cho tôi những kiến thức vô giá trong suốt thời gian học tập tại tr-ờng
Hà Nội, tháng 03 năm 2009
Học viên
Trần Thị Thanh Xuân
Trang 4Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn v¨n nµy lµ trung thùc vµ ch-a ®-îc ai c«ng
bè trong bÊt k× c«ng tr×nh nµo kh¸c
Häc viªn TrÇn ThÞ Thanh Xu©n
Trang 5Kí hiệu viết tắt
- DN : diễn ngôn
- PTDN : phân tích diễn ngôn
- TĐ : tên đề
Trang 6mục lục
Ký hiệu viết tắt 3
Mục lục 4
Mở đầu 6
Ch-ơng 1 Những vấn đề lý thuyết cơ bản 11
1.1 Về vấn đề phân tích diễn ngôn 11
1.1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn 11
1.1.2 Những đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn 12
1.1.3 Ph-ơng pháp và đ-ờng h-ớng phân tích diễn ngôn 15
1.2 Một số vấn đề phong cách học liên quan đến đề tài 18
1.2.1 Phong cách học và vấn đề giao tiếp ngôn ngữ 18
1.2.2 Phong cách nghệ thuật 19
1.3 Truyện ngắn và tên đề truyện ngắn 24
1.3.1 Một vài vấn đề về truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại 24
1.3.2 Tên đề truyện ngắn với t- cách là một bộ phận của diễn ngôn văn bản nghệ thuật 28
Ch-ơng 2 Đặc điểm cấu tạo tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại 31
2.1 Phân tích tên đề ở bình diện hình thức 31
2.1.1 Một số mô tả hình thức 32
2.1.2 Mô tả cấu trúc ngữ pháp của tên đề 34
2.1.3 Những ph-ơng tiện tình thái của tên đề 38
2.1.4 Nhận xét 40
2.2 Phân tích tên đề ở bình diện nội dung 42
2.2.1 Mạch lạc 42
2.2.2 Mạch lạc của tên đề trong quan hệ với toàn bộ tác phẩm 43
2.3 Vai trò của tên đề đối với việc triển khai phần nội dung của một văn bản nghệ thuật 56
Trang 72.3.1 Tên đề với t- cách là yếu tố tích cực trong quá trình
triển khai nội dung tác phẩm 56
2.3.2 Sự hạn chế của tên đề đối với việc triển khai nội dung tác phẩm 59
Ch-ơng 3 Quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung của truyện trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại 63
3.1 Quan hệ giữa tên đề tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm 63
3.1.1 Tên đề với việc phản ánh số phận con ng-ời 64
3.1.2 Tên đề có ý nghĩa định h-ớng cho chủ đề tác phẩm 69
3.1.3 Tên đề định h-ớng về không gian xảy ra sự kiện 77
3.2 Quan hệ giữa tên đề và tên nhân vật 79
3.2.1 Tên tác phẩm trùng với tên nhân vật 80
3.2.2 Tên nhân vật + thành phần mở rộng 82
3.3 Quan hệ giữa tên đề và hình t-ợng tác phẩm 94
3.3.1 Hình t-ợng thể hiện ở việc sử dụng hình ảnh có tính chất biểu tr-ng 95
3.3.2 Hình t-ợng thể hiện ở việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ 99 3.3.3 Kết hợp bất th-ờng 104
Kết luận 107
Tài liệu tham khảo 110
Trang 8Mở đầu
1 lí do chọn đề tài
Có thể nói, văn học nghệ thuật nói chung và truyện ngắn nói riêng là những món ăn tinh thần không thể thiếu đ-ợc của con ng-ời Vai trò to lớn của nó đã đ-ợc khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ sáu nh- sau: "Không có một hình thái t- t-ởng nào có thể thay thế đ-ợc văn học nghệ thuật trong việc xây dựng những tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào nếp nghĩ, nếp sống của con ng-ời"
Đặc tr-ng tiêu biểu của một tác phẩm văn học chính là lấy ngôn ngữ làm chất liệu, làm ph-ơng tiện biểu hiện của mình Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi chính ngôn ngữ đã cụ thể hoá và vật chất hoá sự biểu hiện của chủ đề và t- t-ởng, tính cách và cốt truyện Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm, nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của ng-ời đọc với tác phẩm Xét trên ph-ơng diện sáng tạo nghệ thuật, có thể nói, ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học, - cùng với các sự kiện, các hiện t-ợng của cuộc sống - là chất liệu của văn học
Tên đề truyện ngắn với t- cách là một bộ phận quan trọng cấu thành tác phẩm, là một bộ phận hữu cơ, đ-ợc xem nh- nhãn mác hay hình ảnh thu nhỏ của một tác phẩm nghệ thuật, cũng không nằm ngoài đặc điểm trên Tên đề không chỉ là một đơn vị diễn ngôn của cấu trúc, ngữ nghĩa ngôn từ mà đó còn
là một đơn vị ngôn ngữ thể hiện năng lực sáng tạo của ng-ời viết Tên đề truyện ngắn cũng chính là công cụ đắc lực thể hiện định h-ớng, t- t-ởng của nhà văn đối với điều mình phản ánh Vì vậy, tên đề ngoài chức năng ngôn ngữ còn thể hiện rõ nét phong cách tác giả Tất cả đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cả về hình thức lẫn ngữ nghĩa của tên đề truyện ngắn
Trang 9Trong thời gian qua, tên đề nói chung đã đ-ợc nghiên cứu, phân tích từ
ph-ơng diện đơn vị ngôn ngữ: Nhờ đâu những tiêu đề bài viết có sức hấp dẫn của Hồ Lê (đăng trên tạp chí Ngôn ngữ S.P số 1 năm 1982); Cách ngắt dòng trong việc trình bày đầu đề ở các văn bản của Nguyễn Thị Tuyết Ngân (đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống năm 1982); Tiêu đề văn bản tiếng Việt
(NXB Giáo dục năm 2002) của Trịnh Sâm; Nh-ng ở bình diện đơn vị diễn ngôn nghệ thuật, tên đề truyện ngắn hầu nh- ch-a đ-ợc nghiên cứu một cách chi tiết và đầy đủ
Nhận thấy sự ảnh h-ởng và tầm quan trọng to lớn của tên đề truyện ngắn đối với quá trình triển khai ngôn ngữ trong toàn bộ tác phẩm; đồng thời mong muốn tìm hiểu một cách cụ thể về tên đề truyện ngắn là lí do để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này
2 ý nghĩa của đề tài
Giải quyết tốt vấn đề mà đề tài đề cập sẽ có ý nghĩa vô cùng to lớn cả
về mặt lí luận và thực tiễn
Tr-ớc hết, về mặt lí luận, thành công của luận văn sẽ góp một phần không nhỏ vào quá trình nghiên cứu tên đề truyện ngắn nói riêng và tên đề của văn bản nói chung theo ph-ơng pháp phân tích diễn ngôn Điều đó cũng có nghĩa là đề tài đã b-ớc đầu mở rộng phạm vi nghiên cứu của phân tích diễn ngôn
Về mặt thực tiễn, với t- liệu khảo sát là truyện ngắn đầu tay qua các thời kì, của rất nhiều thế hệ các nhà văn, luận văn mong muốn chỉ ra đ-ợc sự phong phú, đa dạng về phong cách trong quá trình tạo lập tên đề tác phẩm
Điều này sẽ có tác dụng to lớn đối với những ng-ời muốn b-ớc vào nghề cầm bút Không chỉ vậy, việc hiểu rõ một số đặc điểm của tên đề sẽ giúp ng-ời đọc
có h-ớng tiếp cận đúng để có thể dễ dàng hơn trong việc cảm thụ một tác phẩm nghệ thuật
Trang 103 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi lấy các diễn ngôn là tên đề của các truyện ngắn làm đối t-ợng nghiên cứu Cụ thể, chúng tôi tiến hành khảo sát tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại T- liệu đ-ợc chúng tôi thu thập và khảo sát gồm 200 tên đề truyện ngắn của 4 tập "Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam" Trong đó, tập 1 có tổng số 52 tác phẩm và tập 2 có tổng số 53 tác phẩm, đ-ợc xuất bản năm 2000, với tên gọi chung là "Tuyển chọn truyện ngắn đầu tay các nhà văn Việt Nam"; tập 3 có tổng số 44 tác phẩm và tập 4 có tổng số 51 tác phẩm, đ-ợc xuất bản năm
2004, có tên gọi chung là "Truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam"
4 nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra hai nhiệm vụ chính cho việc nghiên cứu của luận văn là:
- Về mặt cấu tạo, chúng tôi tập trung vào hai vấn đề là miêu tả đặc điểm hình thức và nội dung của tên đề truyện ngắn Từ những miêu tả cụ thể đó, chúng tôi b-ớc đầu đánh giá vai trò của cấu trúc tên đề đối với việc khai triển phần nội dung của một văn bản nghệ thuật
- Về ngữ nghĩa, chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích mối quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung của truyện ngắn với ba mối quan hệ chính là: quan hệ giữa tên đề tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm, quan hệ giữa tên đề tác phẩm và tên nhân vật, quan hệ giữa tên đề tác phẩm và hình t-ợng tác phẩm
Trang 116 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn đ-ợc chia làm ba ch-ơng, phân bố cụ thể nh- sau:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lí thuyết cơ bản
1.1 Về vấn đề phân tích diễn ngôn
1.2 Một số vấn đề phong cách học liên quan đến đề tài
1.3 Truyện ngắn và tên đề truyện ngắn
Ch-ơng 2: Đặc điểm cấu tạo tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu
tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại
2.1 Phân tích tên đề ở bình diện hình thức
2.2 Phân tích tên đề ở bình diện nội dung
2.3 Vai trò của cấu trúc tên đề đối với việc triển khai phần nội dung
của một văn bản nghệ thuật
Ch-ơng 3: Quan hệ giữa nội dung ngữ nghĩa của tên đề và nội dung của
truyện trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại
3.1 Quan hệ giữa tên đề tác phẩm và nội dung khái quát của tác phẩm
3.2 Quan hệ giữa tên đề và tên nhân vật
3.3 Quan hệ giữa tên đề và hình t-ợng tác phẩm
Trang 12Theo Crystal (1992), DN có thể xem nh- "một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt
là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, th-ờng tạo nên một đơn vị có mạch lạc, nh- bài truyền giáo, một lí lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể" [dẫn theo Nguyễn Hoà, 19, tr32]
Cùng đề cập tới vấn đề này, Cook (1989) đã coi DN nh- là "các chuỗi ngôn ngữ đ-ợc cảm nhận nh- có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích" [dẫn theo Nguyễn Hoà, 19, tr33]
David Nunan cho rằng DN "nh- là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này đ-ợc nhận biết là có liên quan theo một cách nào đó" Và PTDN chính là "nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng" [27, tr183]
Riêng về PTDN, cụ thể hơn, George Yule cho rằng "khi hạn chế trong các vấn đề về ngôn ngữ, PTDN tập trung vào cái đ-ợc ghi lại (nói hoặc viết) của quá trình theo đó ngôn ngữ đ-ợc dùng trong một số ngữ cảnh để diễn đạt
ý định" [35, tr158] ở một công trình nghiên cứu cùng Gillian Brown, Yule khẳng định "PTDN nhất thiết phải phân tích ngôn ngữ đang đ-ợc sử dụng Nh- thế nó không thể bị giới hạn trong việc chỉ miêu tả các hình thức ngôn ngữ với mục đích hay chức năng mà các hình thức này đ-ợc tạo ra để phục vụ các quan hệ giữa ng-ời với nhau" [5, tr15]
Trang 13Một trong số những nhà nghiên cứu trong n-ớc, Diệp Quang Ban, khi
đề cập tới vấn đề PTDN đã cho rằng khi phân tích các sản phẩm ngôn ngữ (ở cả dạng nói và viết) "với sự phân tích mặt sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể của chúng (có tính cả cái đ-ợc nói tới, cả hoàn cảnh, cả ng-ời dùng, cả ngôn ngữ) thì gọi là PTDN" [4, tr33]
Nguyễn Hoà cho rằng DN là "sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn đ-ợc sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể" [19, tr34] Trong đó, sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh
đ-ợc xây dựng dựa trên tính chủ đề và mạch lạc của DN Không chỉ vậy, trong quá trình giao tiếp, ngoài ngôn ngữ, cần chú ý tới các yếu tố phi ngôn ngữ tác
động đến sự kiện giao tiếp nh- các yếu tố hoàn cảnh tình huống hay điều kiện diễn ra DN, kiến thức nền, yếu tố văn hoá Đó chính là hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể của sự kiện Từ đó, PTDN đ-ợc hiểu là nghiên cứu mạch lạc, các hành
động nói, sử dụng kiến thức nền trong quá tạo lập và hiểu DN, cách thức xử lí
từ trên xuống, từ d-ới lên, t-ơng tác hay th-ơng l-ợng nghĩa
Những trình bày của chúng tôi ở trên đã phần nào thể hiện đ-ợc tính chất phức tạp của vấn đề Đã có rất nhiều xu h-ớng khác nhau song cho đến nay các nhà nghiên cứu đã đi đến sự thống nhất nhất định về khái niệm DN và PTDN
Trong luận văn này, để đáp ứng mục đích đề ra, theo chúng tôi, quan niệm của Nguyễn Hoà về DN và PTDN là rất phù hợp với nội dung nghiên cứu về tên đề truyện ngắn
1.1.2 Những đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn
1.1.2.1 Những đặc tính của diễn ngôn
Những đặc tính cơ bản của DN bao gồm: tính giao tiếp và tính kí hiệu, mạch lạc, và tính quan yếu
Tính giao tiếp và tính kí hiệu
Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt đ-ợc dùng làm ph-ơng tiện giao tiếp Với t- cách là một đơn vị giao tiếp ở bậc lớn hơn câu, DN tất yếu phải có tính giao tiếp và tính kí hiệu
Trang 14Nếu nh- nói chức năng của ngôn ngữ là giao tiếp thì ở cấp độ DN, điều
đó mới đ-ợc chứng minh một cách thuyết phục nhất Điều đặc biệt ở đây là chức năng giao tiếp của DN không còn dừng lại ở việc dựa trên cơ sở ý nghĩa của các kí hiệu mà còn liên quan đến ý định của ng-ời nói, hay mối quan hệ giữa ng-ời sử dụng và kí hiệu Nh- vậy, khía cạnh giao tiếp của DN với t- cách là một loại kí hiệu ngôn ngữ sẽ bao gồm hai mặt là ngữ nghĩa và ngữ dụng
Ngữ nghĩa có thể hiểu là nội dung biểu hiện hay nội dung mệnh đề, là ý nghĩa sự việc hay nội dung của sự kiện đã xảy ra, thể hiện qua các tham thể và mối quan hệ giữa các tham thể Nội dung mệnh đề thay đổi khi có sự thay đổi của một trong các yếu tố này
Dụng học, nh- đã nói ở trên, là ý nghĩa rút ra từ ý định của ng-ời nói Dụng học đặc biệt quan tâm đến lực ngôn trung của diễn ngôn Và với những
DN chứa nhiều câu thì dụng ngôn của nó sẽ là ý nghĩa ngữ dụng khái quát của toàn DN chứ không phải là dụng ngôn đơn lẻ của từng phát ngôn
Tính giao tiếp và kí hiệu của DN cũng đồng thời tham gia vào hai loại quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ là quan hệ cú đoạn và quan hệ hệ hình Sự hiện diện của hai loại quan hệ này chính là quá trình phản ánh khả năng kết hợp và lựa chọn DN tuỳ theo tình huống giao tiếp, chủ đề giao tiếp
Nh- vậy, có thể khẳng định rằng, với tính giao tiếp và tính kí hiệu của
DN, ngôn ngữ đã không còn là một hệ thống kí hiệu võ đoán mà là "một hệ thống tín hiệu giao tiếp có cơ sở" [19, tr50]
Tính mạch lạc
Trong một DN hay một văn bản, các câu là những cấu trúc cú pháp trọn vẹn nh-ng nếu không liên hệ với nhau về nghĩa và cùng h-ớng vào một chủ đề thì nhất định DN (hay văn bản) đó không có tính mạch lạc Theo David Nunan [27], mạch lạc là tầm rộng mà ở đó DN đựoc tiếp nhận nh- là có "mắc vào nhau" chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan với nhau
Trang 15Mạch lạc không phải là các ph-ơng tiện liên kết hay nội dung của văn bản mà chính các ph-ơng tiện liên kết là một ph-ơng thức thể hiện mạch lạc
Về mặt hình thức, các ph-ơng tiện liên kết trong một DN hay một văn bản sẽ cho ta cảm nhận trực quan về sự liên kết nhất định ở DN đó Song thực tế, có những văn bản không thể hiện tính liên kết nh-ng vẫn là văn bản do có mạch lạc Điều đó có nghĩa là mạch lạc còn đ-ợc tạo ra bởi cấu trúc, hay cách thức
tổ chức các yếu tố quan yếu của DN nhằm thể hiện những ý tứ tạo thành mục
đích nói Cách tổ chức đã làm cho các bộ phận hợp thành một thể thống nhất, hợp lí mạch lạc góp phần thể hiện chủ đề và đặc biệt là mang tính chủ quan của ng-ời viết
Những điều đã phân tích ở trên đã phần nào khẳng định mạch lạc là một trong những vấn đề quan trọng của DN Bởi vì, chính mạch lạc là "cái quyết
định để một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay một văn bản"
Tính quan yếu
Tính quan yếu, đ-ợc hiện thực hoá bởi các yếu tố quan yếu, có thể hiểu
là sự phù hợp về nội dung của các đóng góp trong quá trình giao tiếp Các
đóng góp ở đây chính là các yếu tố quan yếu phát triển nội dung của chủ đề
Xuất phát từ bản chất của tính giao tiếp gồm nội dung mệnh đề/biểu hiện và nội dung dụng học, các yếu tố quan yếu vì thế cũng đồng thời thực hiện hai chức năng là biểu hiện một sự thể gồm các tham thể, quá trình, và mối quan hệ giữa các tham thể cũng nh- ý nghĩa dụng học kèm theo Bên cạnh đó, tính chất quan yếu còn bị quy định bởi các yếu tố văn hoá và những thông tin ngữ cảnh
Về cấu trúc, khi các yếu tố quan yếu th-ờng xuyên xuất hiện cùng nhau
sẽ tạo nên cấu trúc quan yếu Cấu trúc này có vai trò tích cực trong việc tạo nên mạch lạc cho DN vì mạch lạc là sự hiện thực hoá của liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu Trong mối quan hệ qua lại phức tạp của các biến trên, các yếu tố quan yếu đ-ợc tổ chức theo một cách thức nhất định nhằm duy trì và triển khai đề tài theo những mối quan hệ nghĩa
- lôgic Và kết hợp đó phải thể hiện khả năng t-ơng thích về hành động nói
Trang 161.1.2.2 Phân loại diễn ngôn
Ngôn ngữ là một ph-ơng tiện giao tiếp trọng yếu của con ng-ời Trong khi đó tình huống giao tiếp là không giới hạn, vì thế sẽ có vô vàn các dạng DN
đ-ợc sử dụng cho phù hợp với những tình huống giao tiếp đó Để phân loại
DN một cách tuyệt đối là điều khó có thể thực hiện đ-ợc
Cho đến nay đã có rất nhiều cách phân loại khác nhau nh-ng cũng giao nhau trên nhiều ph-ơng diện Chủ yếu gồm một số h-ớng phân loại sau: dựa trên tr-ờng DN (sẽ có các loại DN về giáo dục, tôn giáo hay khoa học); dựa vào sự phân biệt giữa ph-ơng thức biểu đạt nói - viết hay chức năng; dựa vào cấu trúc của DN
Theo Halliday, cách phân loại DN dựa trên các tham tố tr-ờng DN, tính chất DN, hay cách thức DN có thể xem là hiệu quả và đáng tin cậy Trong đó, tr-ờng DN bao gồm các chủ đề đ-ợc đề cập đến và cũng thể hiện phần nội dung mệnh đề của mục đích giao tiếp Tính chất DN thể hiện mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia bao gồm cả ý nghĩa dụng học Cách thức DN là ph-ơng tiện ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết Từ các tham tố trên, các DN sẽ
đ-ợc phân thành các ngữ vực, tiếp đó là các thể loại cụ thể Chẳng hạn ngữ vực báo chí có các thể loại tin, bài bình luận, tin vắn, phóng sự điều tra ; ngữ vực khoa học gồm các tiểu ngữ vực nh- pháp lí, ngoại giao, th-ơng mại tiếp
đó là các thể loại cụ thể nh- hợp đồng, biên bản, tờ trình, quyết định ; ngữ vực hội thoại th-ờng ngày gồm các thể loại nh- hội thoại, chào hỏi, cuộc tranh luận
1.1.3 Ph-ơng pháp và đ-ờng h-ớng phân tích diễn ngôn
Theo George Yule [35], PTDN là phân tích cấu trúc của DN và dụng học Về cấu trúc, cần tập trung tới cái tạo nên một văn bản có hình thức tốt, các đề tài với t- cách là những nối kết t-ờng minh giữa các câu trong một văn bản tạo nên sự liên kết, hay các yếu tố tổ chức văn bản Về dụng học, nghiên cứu những ph-ơng diện của những điều không đ-ợc nói hay viết ra, phải quan tâm đến phía sau cấu trúc và hình thức trong văn bản, đến khái niệm tâm lí nh- kiến thức nền, niềm tin và sự mong đợi
Trang 17Có thể nói, PTDN luôn theo một ph-ơng pháp chung là nghiên cứu ngôn ngữ hành chức trong mối quan hệ với xã hội - văn hoá (ngữ cảnh) nh- trên song tuỳ theo cách tiếp cận là lấy cấu trúc làm xuất phát điểm rồi đi đến chức năng hoặc ng-ợc lại, lấy chức năng làm cơ sở rồi từ đó giải quyết cấu trúc mà có những đ-ờng h-ớng cụ thể Chúng tôi không có tham vọng giới thiệu hết các đ-ờng h-ớng trong PTDN mà chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một vài nét về những đ-ờng h-ớng nghiên cứu PTDN hiện nay cùng hệ thống ph-ơng pháp luận của nó, dựa trên tổng kết của Nguyễn Hoà [19] Cụ thể nh- sau:
Đ-ờng h-ớng dụng học, với cách tiếp cận đi từ chức năng của ngôn ngữ, đã xuất phát từ việc phân tích các yếu tố chức năng ngoài ngôn ngữ nh- ý
định của ng-ời nói, hành động của ng-ời nói, sự hiểu biết về các quy tắc cấu thành, hay sự hiểu biết về các quy tắc cộng tác trong giao tiếp Bên cạnh đó, dụng học còn đi tìm các mô hình, các cách thức thực hiện hành động nói trong các ngữ cảnh khác nhau Nh- vậy, theo dụng học, PTDN là xem xét DN trong mối quan hệ t-ơng tác giữa ng-ời sử dụng với ngôn ngữ, với văn hoá, với quan
hệ xã hội, hoàn cảnh xã hội,
Đ-ờng h-ớng biến đổi ngôn ngữ, đặt giả thiết rằng DN có tính tổ chức
và do vậy đã tìm kiếm cách thức tổ chức của hội thoại và sự đa dạng của các biến từ vựng, ngữ pháp nh- là bộ phận của một hệ thống chặt chẽ Đồng thời,
đ-ờng h-ớng này cũng thừa nhận những khác biệt về ngôn ngữ sử dụng trong các tình huống khác nhau Từ đó, phân tích ngữ vực gắn liền với PTDN ra đời,
là phân tích dựa theo ba tham tố: tr-ờng DN, cách thức DN và bầu không khí của ngữ vực để tìm hiểu yếu tố làm cho ngôn ngữ biến đổi khi tình huống giao tiếp thay đổi
Đ-ờng h-ớng ngôn ngữ học xã hội t-ơng tác, quan tâm đến ý nghĩa ngôn ngữ và ý nghĩa xã hội đ-ợc sản sinh ra trong quá trình t-ơng tác, từ đó đi tới xác lập một khung lí thuyết để phân tích phát ngôn không chỉ nh- các hành
động mà còn nh- các chỉ số của ý nghĩa cá nhân, văn hoá và xã hội
Trang 18Ph-ơng pháp phân tích DN tổng hợp, là đ-ờng h-ớng chức năng coi DN nh- là một quá trình t-ơng tác giữa các thành viên của xã hội Ph-ơng pháp này đặc biệt đề cập đến vấn đề mạch lạc và phân tích toàn bộ chỉnh thể DN dựa trên mạch lạc Nhiệm vụ hàng đầu của PTDN theo đ-ờng h-ớng này là phân tích cho đ-ợc hình thức cấu trúc thể hiện mạch lạc đó là tính tổ chức, liên kết, tính quan yếu Trong đó, cấu trúc là mạng l-ới các quan hệ của các yếu tố quan yếu, khi nói về cấu trúc là nói về việc kết hợp các yếu tố này vì thế tính quan yếu đựoc đánh giá là quan trọng nhất Các yếu tố quan yếu hiện diện trong DN với vai trò là những đơn vị từ ngữ, và sự lựa chọn các nguồn lực
từ ngữ này bị quy định bởi các "mục đích giao tiếp, ý định của ng-ời nói; các chiến l-ợc văn hoá, DN sẵn có trong một cộng đồng ngôn ngữ; hoàn cảnh xã hội (các nhân tố tham gia t-ơng tác, mối quan hệ, bản chất của bối cảnh tình huống); tính chất của các thể loại DN đã đ-ợc quy -ớc hoá; và khung văn hoá, niềm tin và hành động của các thành viên xã hội" [19, tr146] Cấu trúc, liên kết và quan yếu phải đ-ợc đặt trong mối quan hệ với các giá trị văn hoá; và
DN phải đ-ợc coi là ngôn ngữ hành chức với t- cách là sự t-ơng tác xã hội Nh- vậy, đ-ờng h-ớng này đã nhìn nhận chức năng và cấu thúc là hai thuộc tính cơ bản của ngôn ngữ, đồng thời chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa chúng, từ
đó khẳng định không nên quá tách bạch hay đối lập hai thuộc tính này khi PTDN
Ngoài ra còn có một số đ-ờng h-ớng PTDN nh- đ-ờng h-ớng dân tộc học giao tiếp, đ-ờng h-ớng phân tích hội thoại, phân tích DN trong tâm lí học xã hội, đ-ờng h-ớng giao tiếp giao văn hoá
Nh- vậy, qua những tổng kết về các đ-ờng h-ớng PTDN nh- trên chúng ta có thể thấy, các đ-ờng h-ớng PTDN tuy đ-ợc xây dựng trên những cơ sở ph-ơng pháp luận khác nhau song đều có điểm chung là nhìn nhận ngôn ngữ nh- công cụ của một quá trình t-ơng tác tạo nghĩa và cố gắng giải quyết mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, văn bản và ngữ cảnh, DN và giao tiếp
rõ ràng hơn
Trang 19Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin chọn ph-ơng pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu và khảo sát t- liệu
1.2 Một số vấn đề phong cách học liên quan đến đề tài
1.2.1 Phong cách học và vấn đề giao tiếp ngôn ngữ
Theo Hữu Đạt [12], những vấn đề về phong cách học, tuy đã đ-ợc đề cập tới rất sớm nh-ng chỉ đến khi những lí thuyết ngôn ngữ học đại c-ơng của
F de Saussure ra đời với những lí thuyết quan trọng nh-: lí thuyết về hệ thống
- cấu trúc, lí thuyết về tín hiệu, về cấp độ ngôn ngữ , lí thuyết về tính võ đoán
và tính có lí do thì phong cách học mới thực sự trở thành bộ môn khoa học
độc lập
Về đối t-ợng nghiên cứu của phong cách học, đã có nhiều thay đổi trong việc xác định phạm vi, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của ngôn ngữ học ở thời cổ đại, giai đoạn "văn - sử - triết bất phân", đối t-ợng của phong cách học chỉ bao gồm những lời nói hoa mỹ Đến sau Saussure, các yếu
tố biểu cảm của hệ thống ngôn ngữ và sự phối hợp các sự kiện lời nói để tạo ra các ph-ơng tiện biểu cảm đó đ-ợc xác định là đối t-ợng nghiên cứu của phong cách học Bên cạnh đó còn có một số quan điểm khác cho rằng các phong cách chức năng hay hiệu lực của việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ mới là đối t-ợng nghiên cứu của ngành khoa học này
Tuy nhiên, ngôn ngữ là ph-ơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ng-ời, vì vậy ngoài hệ thống - cấu trúc, không thể không xét tới các yếu tố phi ngôn ngữ tồn tại song song và cùng với ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp nh-: đối t-ợng tham gia giao tiếp, vốn sống, văn hoá, tính dân tộc Phong cách học chính vì thế phải xác định cho mình mục tiêu nghiên cứu là toàn bộ những khả năng thực tế về việc sử dụng các ph-ơng tiện ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp của con ng-ời nhằm tạo ra sự thống nhất giữa cơ chế của ng-ời nói và ng-ời nghe về một lĩnh vực nào đó, từ đó hệ thống thành những kiểu, dạng, khuôn mẫu cụ thể
Trang 20Đến đây, có thể khẳng định, phong cách học (chính là phong cách học ngôn ngữ ) là "bộ môn khoa học nghiên cứu những đặc điểm và phong cách sử dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể" [12, tr16] Đối t-ợng của phong cách học chính là văn bản và hoạt động của các loại văn bản
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở những lí luận về phong cách nghệ thuật, là lĩnh vực quan trọng trong phong cách chức năng, lấy đó làm cơ sở cho những khảo cứu cụ thể trên t- liệu thu thập đ-ợc
1.2.2 Phong cách nghệ thuật
Cho đến nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về phong cách nghệ thuật Trong luận văn này chúng tôi chỉ giới thiệu một định nghĩa cụ thể của Hữu Đạt nh- sau: "phong cách nghệ thuật là một phong cách chức năng đ-ợc dùng để sáng tạo hình t-ợng nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con ng-ời" [12, tr207]
1.2.2.1.Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật
Từ định nghĩa trên, Hữu Đạt khi đánh giá phong cách nghệ thuật đã nêu
ra các đặc điểm riêng nh- sau:
Chức năng ngôn ngữ
Tác phẩm nghệ thuật là sự phản ánh cuộc sống vì thế ngôn ngữ có chức năng vô cùng quan trọng là chức năng tác động tới tâm t-, tình cảm, suy nghĩ của bạn đọc Khác với những phong cách chức năng khác, ngôn ngữ trong tác
Trang 21phẩm nghệ thuật tác động đến ng-ời đọc thông qua hình ảnh và hình t-ợng Quá trình tác động đó đi theo các h-ớng chính nh-: tác động theo h-ớng giải trí, tác động theo h-ớng nhận thức, giáo dục, tác động theo h-ớng thẩm mỹ
Ba h-ớng tác động này đ-ợc phối hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn, cái này là nguyên nhân của cái kia theo nguyên tắc phát huy tính đa trị của các yếu tố ngôn ngữ, nhằm làm cho độc giả có cái nhìn sâu sắc và gần gũi hơn về cuộc sống, đồng thời nhận thức đ-ợc cái đẹp ở những góc độ khác nhau và
Quá trình chuyển mã từ mã ngôn ngữ sang mã hình t-ợng có sự khác nhau giữa các nền văn hoá Nó liên quan tới nhiều yếu tố nh- đặc điểm ngôn ngữ, truyền thống văn hoá, tập quán dân tộc, tín ng-ỡng, tôn giáo
Tên truyện ngắn, với t- cách là một bộ phận của văn bản nghệ thuật ngôn từ cũng thể hiện tính hình t-ợng rõ nét trong quá trình sử dụng ngôn từ của ng-ời viết Chính tính hình t-ợng cao trong ngôn ngữ tên đề truyện ngắn
đã tạo nên nét khái quát mà qua đó ng-ời đọc b-ớc đầu tiến gần tới dụng ý nhà văn
Đặc điểm về tính thẩm mỹ
Nghệ thuật không gì khác là h-ớng con ng-ời tới cái đẹp Trong một tác phẩm nghệ thuật, tính thẩm mỹ thể hiện ở sự mẫu mực về ngôn từ, việc lựa chọn từ, ngữ vì ngôn ngữ là công cụ chuyển tải t- t-ởng của nhà văn tới độc giả Hiện thực cuộc sống qua sự tái tạo có định h-ớng của nhà văn sẽ mang tính thẩm mỹ cao hơn Ngôn ngữ vì thế phải đ-ợc chau chuốt, gọt giữa Đó là
điểm làm cho một lời nói có tính nghệ thuật khác với một lời phi nghệ thuật
Trang 22Tuy nhiên, không phải lúc nào sự chau chuốt cũng đạt hiệu quả mà tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ nghệ thuật cần đ-ợc hiểu rộng hơn, đó là sự lựa chọn ngôn ngữ phải phù hợp, cân đối Đặc biệt, trong quá trình khắc hoạ tính cách nhân vật, việc sử dụng các từ ngữ thông tục không chỉ vẫn mang tính thẩm mỹ cao mà còn đạt hiệu quả vô cùng lớn nếu có sự lựa chọn đó phù hợp với tâm lí, nguồn gốc xuất thân, tình huống giao tiếp mà nhân vật xuất hiện
Tính sinh động và biểu cảm
Tính sinh động và biểu cảm là đặc tr-ng không thể thiếu trong phong cách nghệ thuật Chỉ trong phong cách nghệ thuật ng-ời nghệ sĩ mới có thể có những sáng tạo bất tận Một tác phẩm nghệ thuật chỉ dừng lại ở những miêu tả khô khan, thiếu sinh động, biểu cảm chắc chắn sẽ khó đi vào lòng ng-ời đọc
Tính sinh động cho phép ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật đ-ợc sáng tạo đến tối đa, chấp nhận sự xuất hiện những kết hợp từ, các kiểu kết cấu
cú pháp mới lạ Tất nhiên, mọi sự sáng tạo đều không đi chệch khỏi chuẩn mực và phải coi trọng việc sử dụng đúng chỗ, hợp lí, đặc biệt là những yếu tố tình thái
Về tính biểu cảm, các ph-ơng tiện biểu cảm của ngôn ngữ chính là yếu
tố làm nên tính biểu cảm của văn bản nghệ thuật Cùng một đề tài hoặc nội dung, một hiện t-ợng cuộc sống, một hiện t-ợng thiên nhiên nh- nhau nh-ng với cách thể hiện, tái tạo khác nhau sẽ tạo ra sức hấp dẫn khác nhau Vì vậy có thể nói, tính biểu cảm là yếu tố góp phần chinh phục ng-ời đọc
Với tên một tác phẩm nghệ thuật nói chung và tên đề truyện ngắn nói riêng, tính sinh động và biểu cảm lại càng đóng vai trò quan trọng trên hết bởi tên tác phẩm là cái đầu tiên đập vào mắt ng-ời đọc Một tên đề hấp dẫn sẽ kích thích sự chú ý đến nội dung Vì vậy tên đề cần có sự sáng tạo, chọn lọc kĩ càng trong từng câu chữ
Tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật
Đặc điểm về tính tổng hợp trong việc sử dụng ngôn ngữ trong phong cách nghệ thuật thể hiện qua việc sử dụng các ph-ơng tiện của tất cả các phong cách chức năng khác, kể cả những ph-ơng tiện đặc tr-ng nhất của một
Trang 23phong cách nào đó; và tính đa dạng trong hình thức thể hiện ngôn ngữ (ngôn ngữ tác giả - ng-ời kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại nội tâm)
Bên cạnh đó, điều đặc biệt nhất ở đây chính là, trong ngôn ngữ nghệ thuật, tính tổng hợp còn thể hiện ở hiện t-ợng xuất hiện rất nhiều từ ngữ địa ph-ơng, tiếng lóng, biệt ngữ, từ nghề nghiệp Đây là hiện t-ợng rất ít gặp trong ngôn ngữ của các phong cách chức năng khác
Sở dĩ ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tổng hợp sâu sắc nh- vậy vì đối t-ợng phản ánh của nghệ thuật là toàn bộ hiện thực cuộc sống gồm: thiên nhiên, xã hội, con ng-ời và những mối quan hệ phức tạp xung quanh Không chỉ vậy, con ng-ời trong xã hội tồn tại trong nhiều mối quan hệ khác nhau Vì vậy, để điển hình hoá nghệ thuật, xây dựng các hình t-ợng vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể, cần phải sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp, có tính tổng hợp nhất mới có thể miêu tả những diễn biến tâm lí, tình cảm của đối t-ợng một cách chính xác nhất
Đặc điểm về sử dụng từ, ngữ
Tác phẩm nghệ thuật là thông điệp của ng-ời nghệ sĩ muốn gửi gắm,
đồng thời nó cũng thể hiện tính cá nhân sâu sắc Ngôn ngữ nghệ thuật vì thế là kết quả của quá trình sáng tạo của ng-ời viết, mang tính biểu cảm và tính hình t-ợng sâu sắc
Điều đầu tiên dễ nhận thấy trong ngôn ngữ nghệ thuật là trong tác phẩm th-ờng có sự xuất hiện của các từ, ngữ nh- từ láy, từ t-ợng hình, t-ợng thanh Đó là những từ có sức gợi cảm cao, dễ tạo nên chất thơ chất hoạ cho ngôn ngữ nghệ thuật
Đặc điểm thứ hai là trong tác phẩm th-ờng có hiện t-ợng tách từ Khi
đó, nhà văn cấp nghĩa cho vỏ âm thanh của từ bằng ph-ơng pháp thêm yếu tố
mới đệm giữa các thành tố cấu tạo nên từ (ví dụ: nhanh nhẹn thành nhanh với chả nhẹn mang nghĩa phủ định) hay lặp hoàn toàn từng thành tố (ví dụ: loè loẹt - loè loè loẹt loẹt)
Trang 24Ngôn ngữ nghệ thuật th-ờng xuyên sử dụng các đơn vị cố định nh- thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ ở nguyên dạng hoặc đã qua cải biên Việc sử dụng nh- vậy tạo nét nghĩa khái quát, mang tính hình t-ợng cao trong quá trình miêu tả sự vật, hiện t-ợng
Về mặt câu, phong cách nghệ thuật th-ờng sử dụng câu có kết cấu mở rộng thành phần định ngữ, trạng ngữ
Ngoài ra, chúng ta còn có thể bắt gặp các loại kết cấu đảo với những loại cụ thể nh-: đảo vị ngữ, đảo trật tự các thành phần trong danh ngữ (số từ + danh từ, loại từ + danh từ)
Riêng với tên đề truyện ngắn, các kiểu cấu trúc mở rộng và kết cấu đảo th-ờng đ-ợc sử dụng qua sự sáng tạo của ng-ời nghệ sĩ nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật cao hơn
1.2.2.2.Kết cấu văn bản nghệ thuật
Mỗi văn bản nghệ thuật là một sự sáng tạo của ng-ời nghệ sĩ, phong cách nghệ thuật vì thế cũng có thể xem là phong cách thể hiện tính cá nhân sâu sắc Về kết cấu, so với các phong cách chức năng khác, phong cách nghệ thuật cũng có các kiểu kết cấu văn bản đa dạng nhất Chúng ta có thể thấy một
số dạng tiêu biểu nh-: kết cấu của văn bản thơ ca, câu đối, kết cấu văn bản văn xuôi, kết cấu văn bản kịch Trong luận văn này chúng tôi sẽ giới thiệu sơ l-ợc về kết cấu văn bản văn xuôi
Văn bản văn xuôi đ-ợc xây dựng theo cốt truyện vì vậy kết cấu của loại văn bản này mang tính phân đoạn đối với truyện ngắn, truyện vừa và ch-ơng hồi đối với tiểu thuyết Theo Hữu Đạt [12], kết cấu th-ờng gồm ba thành tố chung:
Trang 25vào phong cách cá nhân mà trật tự các thành tố trên có thể thay đổi, thậm chí, văn bản hoàn toàn có thể đ-ợc cấu thành chỉ bởi một đến hai thành tố
Tr-ớc sự khác biệt về kết cấu văn bản văn xuôi hiện đại nh- vậy, tên đề tác phẩm nghệ thuật nói chung, tên đề truyện ngắn hiện đại nói riêng chắc chắn cũng sẽ có hình thức và nội dung nào đó tuỳ thuộc vào kết cấu của bản thân tác phẩm
1.3 Truyện ngắn và tên đề truyện ngắn
1.3.1 Một vài vấn đề về truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại
1.3.1.1 Về khái niệm truyện ngắn
Tên đề truyện ngắn tuy có tính độc lập nhất định với toàn bộ phần còn lại của văn bản truyện ngắn nh-ng không vì thế mà nó mất đi mối quan hệ khăng khít với truyện về mặt nội dung Bên cạnh đó, tên đề cũng chịu sự chi phối rất lớn của đặc tr-ng thể loại Bàn đến tên đề truyện ngắn, ở luận văn này, chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ đặc tr-ng của truyện ngắn trong một ph-ơng diện nào đó Tr-ớc khi đi vào nội dung vấn đề, xin đ-a ra những
đặc tr-ng của truyện ngắn một cách khái quát nhất
Thuật ngữ truyện ngắn (short story - tiếng Anh) hiện đ-ợc dùng nh-
một thói quen, nh-ng trong thực tế để có cái nhìn thấu đáo về thể loại này thì vấn đề không hề đơn giản Vì vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều ý kiến của nhà văn, nhà nghiên cứu về thuật ngữ này ở đây, chúng tôi chỉ trích dẫn một cách hiểu mang tính chất từ điển nh- sau:
Truyện ngắn là "tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các ph-ơng diện của đời sống: đời t-, thế sự hay sử thi, nh-ng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đ-ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn ch-a phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn, nh-ng thực chất lại là những truyện dài viết ngắn lại Truyện
Trang 26ngắn thời trung đại cũng ngắn nh-ng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn nh- cổ tích, truyện c-ời, giai thoại, lại càng không phải là truyện ngắn
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t- duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện t-ơng đối muộn trong lịch sử văn học
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự
đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn th-ờng h-ớng tới việc khắc hoạ một hiện t-ợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con ng-ời Vì thế, trong truyện ngắn th-ờng có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn th-ờng không nhắm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong t-ơng quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn th-ờng là một hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con ng-ời
Cốt truyện của truyện ngắn th-ờng diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình ng-ời Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà th-ờng đ-ợc xây dựng theo nguyên tắc t-ơng phản hoặc liên t-ởng Bút pháp t-ờng thuật của truyện ngắn th-ờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung l-ợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu ch-a nói hết " [17, tr370]
Nh- vậy, truyện ngắn là một thể loại tiêu biểu, không thể thiếu trong bất cứ nền văn học nào Sở dĩ, truyện ngắn đóng vai trò to lớn nh- vậy vì đó là một thể loại năng động, có khả năng phản ánh sâu sắc hiện thực đời sống cũng nh- t- t-ởng của nhà văn
Trang 27Về đặc tr-ng thể loại, cũng giống nh- truyện dài và truyện vừa, truyện ngắn cũng có những đặc tr-ng riêng nhất định Cụ thể nh- sau:
- Một yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết Chi tiết trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, dung l-ợng lớn và lối hành văn nhiều ẩn ý, vì vậy nó có tính chất biểu t-ợng
- Nhân vật trong truyện ngắn tuy đ-ợc đặt trong các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại song ít khi trở thành một thế giới hoàn
chỉnh, một tính cách trọn vẹn mà "th-ờng là một hiện thân cho một trạng thái
quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con ng-ời"
1.3.1.2 Đặc điểm của truyện ngắn hiện đại
Luận văn lấy đối t-ợng khảo sát là tên đề truyện ngắn đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại Qua việc tìm hiểu tên đề truyện ngắn, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về ý t-ởng, t- duy ngôn ngữ thể hiện trong quá trình đặt tên cho tác phẩm văn học giai đoạn hiện đại
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t- duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại Vì vậy, truyện ngắn đích thực xuất hiện t-ơng đối muộn trong lịch sử văn học dân tộc
Theo Bùi Việt Thắng [32], truyện ngắn hiện đại Việt Nam có thể phân chia thành ba giai đoạn chính với những đặc tr-ng điển hình sau:
- Đặc tr-ng của truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945
Trang 28Tr-ớc hết phải nói đến tính xung kích của truyện ngắn trong nhiệm vụ khám phá đời sống ở giai đoạn lịch sử đầy biến động, các mâu thuẫn căng thẳng và sự phân hoá diễn ra sâu sắc, phức tạp Vì vậy, bên cạnh sự đa dạng về phong cách, bút pháp, cốt truyện tỏ ra nhạy cảm tr-ớc những biến cố phức tạp của đời sống, khám phá diễn biến tâm trạng con ng-ời Truyện áp sát tới đời sống, kể về cuộc đời của những con ng-ời bé nhỏ tầm th-ờng d-ới đáy xã hội
- Đặc tr-ng truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975
Bên cạnh đề tài chiến tranh, truyện ngắn giai đoạn này đi sâu vào cuộc sống th-ờng nhật với những mâu thuẫn kịch tính, cũng nh- những khoảnh khắc lãng mạn phía sau những lo âu, những giành giật giữa cái sống và cái chết Không gian nghệ thuật cũng từ đó mà mở rộng ra, nhân vật "v-ợt ra khỏi luỹ tre làng" (hoàn cảnh hẹp) để đến với một hoàn cảnh rộng lớn đ-ợc xác
định bởi những mối liên hệ với nhân dân và thời đại
- Đặc tr-ng truyện ngắn giai đoạn 1975 đến nay
Truyện ngắn giai đoạn này chủ yếu tập trung vào chuyện đời th-ờng, muôn mặt trong số phận đời sống con ng-ời, đặc biệt là những con ng-ời sau chiến tranh b-ớc vào cuộc sống mới và con ng-ời trong công cuộc đổi mới đất n-ớc Bút pháp vì thế mang xu h-ớng khái quát, triết luận, kể ít tả nhiều và sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời sống
Nh- vậy, so với truyện ngắn truyền thống, truyện ngắn hiện đại đ-ợc coi là xu h-ớng đổi mới với sự khác biệt rõ nét nhất ở khía cạnh cốt truyện và nhân vật Trong truyện ngắn hiện đại, do hành động cốt lõi của nhân vật rất
đơn giản, chỉ còn lại những động tác và nói năng nên d-ờng nh- không có cốt truyện Truyện ngắn hiện đại tập trung mọi sự chú ý vào con ng-ời, thân phận con ng-ời d-ới góc độ nhân loại Qua nhân vật, nhà văn không khái quát loại ng-ời mà khái quát kiếp ng-ời, đào sâu vào bản chất Ng-ời Chính vì vậy, cái cốt lõi của truyện hiện đại tất yếu không đ-ợc hiểu một cách hiển ngôn mà nằm trong "bề sâu, bề xa và bề sau" của câu chữ
Những đặc tr-ng thể loại của truyện ngắn hiện đại nh- trên đã tác động
to lớn tới đặc điểm ngôn ngữ tên truyện Truyện sẽ không đ-ợc đặt tên một
Trang 29cách chung chung mà thay vào đó sẽ là những cái tên có tính chất cụ thể, gần gũi, phản ánh những vấn đề cụ thể cũng nh- những con ng-ời cụ thể Đồng thời tên truyện cũng là sự thể hiện phong cách nhà văn
1.3.2 Tên đề truyện ngắn với t- cách là một bộ phận của diễn ngôn văn bản nghệ thuật
1.3.2.1 Định nghĩa
Tên đề còn hay còn gọi là tên, nhan đề, tít đề của truyện ngắn nói riêng và tác phẩm nghệ thuật nói chung, là một trong những bộ phận cấu thành một truyện ngắn (một truyện ngắn gồm phần tên đề và phần nội dung) Theo Trịnh Sâm [28], TĐ tồn tại t-ơng đối độc lập với phần nội dung còn lại của tác phẩm Phần nội dung còn lại của tác phẩm và TĐ có thể hình dung nh- hai bộ phận song song của một tác phẩm nghệ thuật nh-ng không vì thế
mà giữa chúng mất đi mối quan hệ chặt chẽ với nhau về chủ đề, t- t-ởng
Trong luận văn này, chúng tôi lấy đối t-ợng nghiên cứu là tên đề truyện ngắn trong các tác phẩm đầu tay của các nhà văn Việt Nam hiện đại và sử
dụng thuật ngữ tên đề để thống nhất trong quá trình làm việc
đạo của tác giả Có thể xem tên đề là cái thần của tác phẩm, là điểm nhấn quan trọng thể hiện sự sáng tạo ngôn từ cũng nh- t- t-ởng của nhà văn
Chức năng quan trọng tiếp theo của tên đề là chức năng tác động hình t-ợng Chức năng tác động là yếu tố nổi bật lên tr-ớc nhất của một tác phẩm nghệ thuật Sự tác động đó không dựa vào những lí lẽ khô khan hay số l-ợng các thông tin phản ánh mà nhờ vào hình ảnh và hình t-ợng Vì khi tiếp cận một tác phẩm nghệ thuật, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở bề mặt câu chữ,
Trang 30nội dung đích thực của tác phẩm chỉ đ-ợc giải mã khi ng-ời đọc đến đ-ợc với những gì ẩn sau ngôn ngữ, đó chính là hình t-ợng tác phẩm Tên đề với t- cách là một bộ phận chính của tác phẩm, là yếu tố đầu tiên tác động đến ng-ời
đọc, vì vậy để thực hiện tốt chức năng này đòi hỏi ngôn từ phải đ-ợc sử dụng hết sức sáng tạo, hình ảnh khái quát để tạo nên những tên đề mới lạ, hấp dẫn,
độc đáo về cấu trúc và giàu hình ảnh Làm đ-ợc điều đó là b-ớc đầu tên đề đã thực hiện đ-ợc chức năng giải trí, tiếp đến là chức năng nhận thức và giáo dục Thông qua hình t-ợng, tên đề đ-a đến cho ng-ời đọc những nhận thức đúng
đắn, đầy đủ về cuộc sống, h-ớng con ng-ời đến với cái "chân, thiện, mỹ" để
có đ-ợc những hành động đúng đắn phù hợp với quy luật của thực tiễn
1.3.2.3 Đặc điểm của tên đề truyện ngắn
Tr-ớc hết, có thể nói, tên đề văn bản trong phong cách nghệ thuật nói chung, tên đề truyện ngắn nói riêng khá phong phú và đa dạng về cấu trúc Tên đề th-ờng đ-ợc xây dựng với độ dài vừa phải và trong kết cấu tên đề th-ờng có mặt đầy đủ các kí hiệu văn tự tiếng Việt, các khuôn hình hội thoại, những từ ph-ơng ngữ, từ nghề nghiệp, thậm chí cả thuật ngữ Nói tóm lại, tên
đề truyện ngắn là cuộc sống đ-ợc nhận thức và mã hoá d-ới dạng kí hiệu văn
có mặt trong tên đề mà phải tiếp cận với toàn bộ tác phẩm
Theo nhận xét của Trịnh Sâm, "tiêu đề văn bản trong phong cách nghệ thuật có mấy đặc điểm ngôn ngữ sau:
a) Sử dụng một cách "tổng hợp" tất cả các ph-ơng tiện ngôn ngữ vốn là
đặc tr-ng trong kết cấu tiêu đề của một số phong cách khác Tất cả sẽ đ-ợc
Trang 31"thẩm thấu" chất văn ch-ơng d-ới sự "lan toả", chính xác hơn, d-ới áp lực của ngôn ngữ nghệ thuật
b) Tập trung với tần suất khá cao các ph-ơng thức biểu tr-ng, các biện pháp tu từ trong tiếng Việt Có thể nói, cấu trúc tiêu đề văn bản tiềm tàng nhiều chất thơ
c) Tiêu đề văn bản luôn luôn đa nghĩa, ý nghĩa hiển hiện chỉ là cái nền làm cơ sở cho các tầng nghĩa khúc xạ nảy sinh Và trong quan hệ với nội dung toàn văn bản, con đ-ờng hình thành nên các tầng ý nghĩa của cấu trúc tiêu đề rất tinh vi Đây cũng là nét riêng, khiến cho tiêu đề văn bản trong phong cách nghệ thuật khác biệt với tất cả tiêu đề trong phong cách khác." [28, tr62]
Nh- vậy, tên đề truyện ngắn là một bộ phận của diễn ngôn chịu ảnh h-ởng rất lớn của đặc tr-ng thể loại song việc đặt tên đề còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nh- chủ đề, nội dung tác phẩm; phong cách, bút pháp và khả năng sáng tạo của mỗi nhà văn
Trang 32đã từng viết những thể loại khác Tất cả đã phần nào thể hiện một cách chân thực bức tranh của nền văn học hiện đại n-ớc nhà với tất cả "sự bỡ ngỡ, trẻ trung, bồi hồi, phấn khởi, náo nức, dào dạt của nhà văn với nhiều phần việc, trải đều theo năm tháng gồm mảng nổi, mảng chìm mà họ là đại diện cho từng thế hệ, là th- kí của thời đại, ghi nhận sự bền bỉ, dẻo dai, hùng tráng và vinh quang của dân tộc" [40, tr6]
Trang 33Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tên đề trong 4 tập
truyện ngắn đầu tay đầu tay của các nhà văn Việt Nam một cách cụ thể
2.1.1 Một số mô tả hình thức
2.1.1.1 Về độ dài của tên đề
Qua quá trình khảo sát t- liệu, chúng tôi nhận thấy, độ dài của các tên
đề rất phong phú về số l-ợng âm tiết Cụ thể ở bảng tổng kết sau:
Tổng số truyện
Tỉ lệ (%)
- Tên đề có số l-ợng âm tiết lớn nhất là 13 âm tiết:
Cái chết của ng-ời nhạc sỹ chơi ghita theo ph-ơng pháp cổ điển
(Nguyễn Hiếu, 3-2004)
Trang 34- Tên đề có số l-ợng âm tiết ít nhất là 1 âm tiết:
Với 761 âm tiết/200 tên đề, trung bình độ dài âm tiết cấu tạo tên đề thu
đ-ợc là 4 âm tiết Nh- vậy, có thể thấy rằng, tên đề truyện ngắn có độ dài vừa phải, khá ngắn gọn, rất ít xuất hiện những tên đề có độ dài lớn Cụ thể: số l-ợng tên đề có độ dài từ 3 - 6 âm tiết chiếm 72%; những tên đề có độ dài trên
10 âm tiết chỉ chiếm 1%
2.1.1.2 Về đặc điểm cú pháp
Qua khảo sát 200 tên đề trong 4 tập truyện, chúng tôi thấy rằng các kiểu cấu tạo của tên đề th-ờng là: một từ (danh từ, động từ, tính từ) chiếm 15%, một ngữ (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ, trạng ngữ) chiếm 79%, kết cấu sóng
đôi (hai từ, hai ngữ trở lên) chiếm 3,5%, một kết cấu chủ - vị chiếm 2,5%
Có thể quan sát tỉ lệ trên qua biểu đồ sau:
Nh- vậy, tên đề truyện ngắn có kết cấu là một ngữ chiếm số l-ợng lớn nhất, tiếp đến là những tên đề có kết cấu là một từ Ngoài ra, chúng tôi còn thấy xuất hiện những dạng nh- kết cấu sóng đôi, kết cấu chủ - vị, song số l-ợng rất ít, hầu nh- không đáng kể
2.1.1.3 Về cách thức biểu hiện
Theo kết quả thu đ-ợc qua quá trình khảo sát t- liệu, chúng tôi nhận thấy, về mặt hình thức, tên đề truyện ngắn ở đây chủ yếu mang hình thức trần thuật Bên cạnh đó, tên đề có hình thức câu nghi vấn có xuất hiện nh-ng chiếm số l-ợng rất nhỏ và những dấu hiệu hình thức cụ thể (nh- dấu hỏi "?" ở
Một từ Một ngữ
Kết cấu sóng đôi Một kết cấu chủ - vị 79%
15%
3,5%
2,5%
Trang 35cuối câu) ch-a đ-ợc rõ ràng nên việc xác định kiểu tít này rất mơ hồ Trong luận văn này, dựa vào ngữ cảnh, chúng tôi xếp những câu nh- vậy vào nhóm câu hỏi tu từ có chức năng thể hiện tình thái (sẽ đ-ợc nêu rõ hơn trong phần những ph-ơng tiện tình thái của tên đề)
2.1.1.4 Về việc sử dụng các từ vay m-ợn
Trong kết cấu tên đề truyện ngắn th-ờng không những có mặt hầu hết các kí hiệu văn tự của tiếng Việt mà còn xuất hiện các từ vay m-ợn từ tiếng n-ớc ngoài, tiếng các dân tộc ít ng-ời ở Việt Nam Có thể thấy một số hiện t-ợng nh- sau:
Hiện t-ợng các từ vay m-ợn từ tiếng n-ớc ngoài (đ-ợc gạch chân)
Đó có thể là những danh từ chỉ tên riêng
Bobbi của tôi (Phạm Thị Minh Th-, 1-2000) Hoặc có thể là những tính từ
Kỷ niệm về cô bé tóc bôm bê (Lam Giang, 3-2004)
Hiện t-ợng dùng các từ thuộc tiếng dân tộc ít ng-ời ở Việt Nam (đ-ợc gạch chân)
Những khấc coong chung (Trung Trung Đỉnh, 2-2000)
(Coong: một loại vòng đeo tay bằng đồng của ng-ời Ba Na)
Theo thống kê của chúng tôi, những tên đề có xuất hiện hiện t-ợng vay m-ợn từ tiếng n-ớc ngoài, tiếng các dân tộc ít ng-ời chiếm 3% Tuy chiếm số l-ợng hạn chế nh-ng đã góp phần làm phong phú về mặt từ vựng của tên đề
2.1.2 Mô tả cấu trúc ngữ pháp của tên đề
Phân tích cấu trúc cú pháp của tên đề theo ngữ pháp truyền thống, chúng tôi nhận thấy có 3 dạng khái quát nh- sau:
- Tên đề có cấu trúc là từ (danh từ, động từ, tính từ )
Trang 36Tên đề có cấu trúc là từ th-ờng có cấu tạo:
Trang 37 Ngữ danh từ
- Ngữ danh từ xác định
Tiếng hát chị Hai Son (Đào Vũ, 1-2000)
Chiếc thuyền gạo trên sông Kinh Thầy (Dũng Hà, 1-2000) Những ng-ời trên đồng cỏ (Hồng Nhu, 1-2000)
Ông giám đốc mới đ-ợc đề bạt (Trần Hiệp, 2-2000)
Nàng Kim Chi sáu ngón (Đà Linh, 2-2000)
Khoảng rừng trong thành phố (Phạm Quang Đẩu, 3-2004)
- Ngữ danh từ không xác định
Một đứa trẻ (Nguyễn Thị Ngọc Tú, 2-2000)
Một lá th- (Viết Linh, 4-2004)
Điếu thuốc lá (L-ơng Hiệu Vui, 4-2004)
Rừng già, rừng non (Vũ Hữu ái, 3-2004)
Con chó và tên tù binh (Lê Văn Vọng, 2-2000)
Bông h-ờng bông cúc (Hoàng Văn Bổn, 3-2004)
Ngữ động từ
Ra kẻ chợ (Tô Hoài, 1-2000)
Chết trong cảnh đói (Mai Văn Tạo, 1-2000)
Nói bằng lời của mình (Hồ Anh Thái, 1-2000)
Trang 38Thật và giả (Lê Thành Chơn, 3-2004)
Về số l-ợng, tên đề có cấu trúc là ngữ chiếm tỉ lệ lớn nhất, trong đó, chiếm số nhiều là danh ngữ với những kết cấu mở rộng của nó Tên đề có cấu trúc dạng này cũng rất phong phú, đa dạng về mặt cấu tạo Cụ thể, chúng tôi nhận thấy:
Về cấu trúc thông tin, tên đề có dạng vị ngữ đã chứa l-ợng thông tin sự tình t-ơng đối rõ hơn nh-ng không lộ rõ chủ thể của hành động hay sự tình nên bí mật thật sự đằng sau nó cũng chính là chất xúc tác buộc ng-ời đọc phải
đi tìm câu trả lời sáng tỏ hơn trong tác phẩm
Những tên đề còn lại th-ờng đề cập tới những con ng-ời, địa danh, sự vật hiện t-ợng mà những tình tiết cụ thể chỉ xuất hiện trong tác phẩm Chính yếu tố ngắn gọn và không trọn vẹn của tên đề đã gợi sự tò mò của độc giả, cuốn hút họ tiếp cận với tác phẩm Chỉ khi tiếp cận với toàn bộ nội dung văn bản truyện còn lại, ng-ời đọc mới có thể hiểu hết những thông tin mà tên đề chuyển tải
Gió vẫn thổi từ rừng (Linh Nga Niê Kdam, 3-2004)
2.1.3 Những ph-ơng tiện tình thái của tên đề
Qua t- liệu thu đ-ợc, chúng tôi nhận thấy, tình thái là một trong những thành tố góp phần không nhỏ trong cấu tạo nên tên đề truyện ngắn
Tình thái chính là sự "phản ánh thái độ của ng-ời nói đối với điều mình nói ra, cách ng-ời nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn
Trang 39của tính hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu của điều đ-ợc thông báo" [18, tr51] Nh- vậy, ngữ nghĩa tình thái thuộc về lĩnh vực của ngữ nghĩa, nội dung của tên đề
Hình thức tình thái của tên đề không chỉ là những ph-ơng tiện có chức năng thể hiện tình thái mà còn có nhiều yếu tố ngôn ngữ khác đ-ợc dùng để biểu thị tình thái
Chúng tôi cho rằng, tình thái của tên đề là tổng hợp những tình thái đặt trong những thành tố cấu tạo nên tên đề đó Những yếu tố tình thái không gì nằm ngoài ngôn ngữ thể hiện và trong sự hành chức của mình thì các yếu tố
đó có quan hệ cấu trúc, ngữ nghĩa và chức năng
Những yếu tố tình thái của tên đề truyện ngắn th-ờng nằm trong chủ ngữ hoặc vị ngữ, hay cũng có thể biểu hiện trên toàn bộ tên đề trong những tr-ờng hợp tên đề có cấu tạo là một thành phần Thực tế khảo sát t- liệu cũng cho thấy rằng, tên đề truyện ngắn th-ờng có cấu trúc ngắn và tính tình thái của
nó đ-ợc thể hiện một cách phong phú qua: những ph-ơng tiện tình thái, mối quan hệ theo tr-ờng từ vựng, và cấu trúc cú pháp
Luận văn này chỉ dừng lại ở những miêu tả về tình thái của tên đề ở bình diện hình thức cấu trúc với một số nét chính nh- sau:
Bó hoa quá đẹp (Thanh Châu, 1-2000)
Những từ có ý nghĩa biểu thị sự tiếp tục của một tiến trình, hành
động: vẫn
Gió vẫn thổi từ rừng (Linh Nga Niê Kdam, 3-2004)
Tác tử phủ định
Trang 40Tác tử phủ định đ-ợc sử dụng trong tên đề truyện ngắn chủ yếu là:
không - với ý nghĩa phủ định sự tình
Nơi không còn là chiến khu (Trần Thanh Địch, 1-2000)
Một ng-ời không nổi tiếng (Lê Tri Kỷ, 2-2000)
Lời ru không bán (Lê Cảnh Nhạc, 2-2000)
Điều không thể nói ra (Vũ Đức Nguyên, 4-2004)
2.1.3.2 Mối quan hệ theo tr-ờng từ vựng
Qua quá trình khảo sát t- liệu, chúng tôi gặp những sự lựa chọn và đặc biệt là sự kết hợp từ vựng bất ngờ để xây dựng nên hình ảnh, tính chất cho sự tình mà tên đề nói đến Sự lựa chọn cách kết hợp từ vựng không cùng tr-ờng ngữ nghĩa đã đem đến cho ng-ời tiếp nhận những cảm xúc mạnh vì tính tình thái ẩn chứa của nó Vì thế, chúng tôi cho rằng, sự kết hợp và lựa chọn từ vựng
là một thủ pháp đ-ợc sử dụng nh- một ph-ơng tiện tình thái cấu trúc tên đề truyện ngắn
Tính cách của một vùng đất (Cao Duy Thảo, 2-2000)
Khoảng rừng trong thành phố (Phạm Quang Đẩu, 3-2004)
Lửa trong lòng biển (Ngô Tự Lập, 4-2004)
2.1.3.3 Cấu trúc cú pháp
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng, cấu trúc cú pháp cũng là một trong những ph-ơng tiện tình thái của tên đề truyện ngắn Cụ thể, cấu trúc cú pháp
đ-ợc sử dụng ở đây là cấu trúc đảo và câu hỏi tu từ
Cấu trúc đảo đã đ-ợc sử dụng với mục đích nhấn mạnh và đ-a thông tin mới trực tiếp đến ng-ời đọc Cách xử lí này đã tạo hiệu quả rất lớn trong việc chuyển tải t- t-ởng nhà văn
Bí ẩn một dòng sông (Võ Thị Xuân Hà, 1-2000)
Ngoài ra, cách sử dụng câu hỏi tu từ cũng tạo hiệu quả tình thái rất lớn trong việc đặt tên tác phẩm
Em có còn yêu ai (Vũ Hồng, 3-2004)