Người đã lận đận biết mấy nắng mưa để nhen nhóm trong lòng đứa cháu yêu quí của mình ngay từ tuổi thơ một tình cảm rộng lớn hơn tình bà cháu thông thường, đó là một ngọn lửa chứa chan ni[r]
Trang 1ĐỀ SỐ 1
1 Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
2 Phân tích đoạn thơ :
Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật)
BÀI VĂN THAM KHẢO
Đồng chí ! Ôi tiếng gọi sao mà thân thương tha thiết Bởi đây biểu hiện thật đầy đủ tình đồng đội của
anh bộ đội Cụ Hồ thời kháng Pháp Cảm nhận được tình cảm vừa thân quen vừa mới lạ trong cuộc sống
chiến đấu ấy, Chính Hữu, một nhà thơ - chiến sĩ đã xúc động viết bài thơ Đồng chí Với lời thơ chân
chất, tràn đầy tình cảm, bài thơ đã để lại bao cảm xúc trong lòng người đọc
Cả bài thơ thể hiện rõ tình đồng đội keo sơn gắn bó giữa những người chiến sĩ quân đội nhân dân trong cuộc sống chiến đấu gian khổ Họ là những người xuất thân từ nhân dân lao động chỉ quen việc
"cuốc cày" ở những vùng quê nghèo khác nhau, vì có chung tấm lòng yêu nước, họ đã gặp nhau từ xa lạ
bỗng trở thành thân quen Chính Hữu đã kể về những con người ấy bằng lời thơ thật xúc động :
Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Họ đều xuất thân từ những vùng đất khô cằn, nghèo khổ "nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá" Từ "xa lạ" gặp nhau Thật là thú vị, nhà thơ không nói hai người xa lạ mà là "đôi người xa lạ", vì
thế ý thơ được nhấn mạnh, mở rộng thêm "Hai người" cụ thể quá Đôi người là từng "đôi" một - nhiều
người Trong đơn vị quân đội ấy, ai cũng thế Hình ảnh những con người chẳng hẹn quen nhau nói lên
một sự thật Những con người vốn xa lạ khi tham gia kháng chiến, đã cùng nhau chiến đấu, cùng nhau chịu đựng gian khổ, chung lưng đấu cật bên nhau Vì thế họ trở thành thân nhau, hiểu nhau, thương nhau
và gọi nhau là "đồng chí".
Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí
Tình cảm ấy thật thân thương, thật tha thiết Giọng thơ đang liền mạch nhẹ nhàng, thủ thỉ tâm tình,
bỗng ngắt nhịp đột ngột Từ Đồng chí lại được tách ra làm câu riêng, một đoạn riêng Với cấu trúc thơ
khác thường ấy tác giả đã làm nổi bật ý thơ Nó như một nốt nhấn của bản nhạc, bật lên âm hưởng gây
xúc động lòng người Câu thơ chỉ có một từ Đồng chí - một tiếng nói thiêng liêng Đồng chí - một tiếng
reo, một sự cảm kích chất chứa nhiều đổi thay trong quan hệ tình cảm
Tình cảm ấy lại đựơc biểu hiện cụ thể trong cuộc sống chiến đấu kể cho nhau nghe chuyện quê nhà
Chuyện "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày", "Gian nhà không mặc kệ gió lung lay", cả chuyện "Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính" Từ những tâm tình ấy, ta hiểu, các anh chiến sĩ mỗi người đều có một
quê hương, có những kỉ niệm thân thiết gắn bó với quê nhà và khi ra đi họ mang theo hình bóng quê hương Các miền quê tuy khác nhau nhưng đều có những nét gần quí nhau Các anh cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng chịu gian khổ bên nhau Trong gian lao vất vả họ tìm được niềm vui, niềm hạnh phúc trong
mối tình đồng chí Làm sao các anh có thể quên được những lúc ướt mồ hôi, cùng chịu với nhau từng cơn ớn lạnh Cuộc sống bộ đội nghèo vất vả nhưng không thiếu niềm vui Dẫu áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá dẫu trời có buốt giá thì miệng vẫn cười tươi Tình cảm chân thành tha thiết ấy không diễn tả bằng lời mà lại thể hiện bằng cách nắm lấy bàn tay Thật giản dị và cảm động Không là vật chất của
cải, không là lời hoa mĩ phô trương Những người chiến sĩ biểu hiện tình đồng chí "tay trong tay" Chính đôi bàn tay nắm chặt đã nói lên tất cả ý nghĩ thiêng liêng cao đẹp của mối tình đồng chí
Đêm nay rừng hoang sương muối
Trang 2Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
Đoạn thơ kết vừa tả cảnh thực vừa mang nét tượng trưng Tác giả tả cảnh những người lính phục kích chờ giặc trong đêm sương muối giữa đèo núi cao Vầng trăng lơ lửng giữa trời như treo trên đầu
ngọn súng Đồng thời "Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tượng trưng Vừa thực, vừa mơ, vừa xa
vừa gần, vừa mang tính chiến đấu vừa mang tính trữ tình Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn Đây là hình ảnh đẹp tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu Hình ảnh thật độc đáo gây xúc động bất ngờ, thú vị cho người đọc Nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấu và mối tình đồng chí thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ
Bằng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chân thực gợi tả có sự khái quát cao Bài thơ là niềm xúc động về tình cảm cách mạng của người lính trong chiến đấu chống kẻ thù chung Nhà thơ đã xây dựng hình ảnh thơ từ những chi tiết thực của cuộc sống đời thường của người chiến sĩ, không phô trương, không lãng mạn hóa, thi vị hóa Chính những nét thực đó tạo nên sự thành công của tác phẩm Bài thơ đánh dấu một bước ngoặt mới trong phương pháp sáng tác và cách xây dựng hình tượng người chiến sĩ trong thơ thời kì chống Pháp
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời chống Mĩ cứu
nước Ông được gọi là "Viên ngọc Trường Sơn của thơ ca" bởi đã mang cả hào khí thời đại cùng dãy
Trường Sơn vào thơ Đặc biệt mảng thơ về người lính lái xe của thi sĩ đã để lại ấn tượng thật thú vị Đó
là những "Vết xe lăn" nóng bỏng trong những bài thơ trên đường ra trận thời chống Mĩ.
Trong số những vần thơ thông minh, dí dỏm về người lính lái xe này của Phạm Tiến Duật, phải kể
đến Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Bài thơ được viết năm 1969, in trong tập "Vầng trăng - Quầng lửa" Hình tượng thơ hết sức độc đáo :
những chiếc xe không kính băng băng ra trận bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh Để cuối
bài thơ, tác giả đưa ra một ý tưởng thật bất ngờ - đó là "trái tim cầm lái":
Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Ở phần đầu bài thơ, Phạm Tiến Duật đã giải thích rất đơn giản mà sắc sảo : "Không có kính không phải vì xe không có kính" bởi vì : "Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi" Chiến tranh bom đạn tàn phá, xe
không kính chắn gió vẫn ra trận thanh thản mà ung dung Hai câu đầu khi kết, tác giả một lần nữa tả hình dáng của chiếc xe quân sự thời chống Mĩ :
Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe thùng xe có xước Đã không kính - gió, bụi, mưa tuôn vào buồng lái, khó khăn chồng chất hơn khi xe lại không có đèn, rồi không có mui xe thùng xe có xước Một hình ảnh thực qua bao trận chiến Người lái xe phải huy động
mọi giác quan, năng lực để lái xe trong hiểm nguy Tất cả đều vượt qua bởi :
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim
Đây là chủ đề sâu thẳm của bài thơ Đây mới là điều hệ trọng và thiêng liêng mà cả bài thơ đầy
giọng "ngang tàng", lạc quan chưa hé lộ Nhà thơ đã nói đúng tinh thần thời đại : Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai (Tố Hữu) Cả nước lên đường đánh Mĩ vì Miền Nam ruột thịt Vậy là trái tim đã giúp những người lính vượt qua gian khổ trên những chiếc xe không kính, không đèn, không mui xe Trái tim rực lửa căm thù giặc và nóng bỏng yêu thương đồng bào Miền Nam ấy
chính là vẻ đẹp sâu thẳm của tâm hồn Việt Nam thời đánh Mĩ, là trái tim nhân hậu, thủy chung của cả dân tộc
Trang 3Thơ là thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp Phạm Tiến Duật đã thể hiện thành công tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam yêu nước trong những năm tháng đánh Mĩ hi sinh gian khổ mà vĩ đại của dân tộc ta
Chiến tranh đã lùi xa mãi mãi, nhưng những "dấu xe trên dãy Trường Sơn" của những chiếc xe
độc đáo một thời góp phần làm nên kì tích trong thơ Phạm Tién Duật sẽ còn đánh thức tâm hồn chúng
ta.
ĐỀ SỐ 2
1 Phân tích tính biểu tượng của hình ảnh : "Đầu súng trăng treo" (Đồng chí - Chính Hữu) và hình ảnh "trăng" (Ánh trăng - Nguyễn Duy).
1 BÀI VĂN THAM KHẢO
Hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu.
Đầu súng trăng treo là câu kết bài thơ Đồng chí, cũng là một biểu tượng đẹp về người chiến sĩ
thời kì đầu kháng chiến chống Pháp Trong đêm phục kích giữa rừng, bên cạnh hình ảnh thực là súng, là nhiệm vụ chiến đấu tạo nên con người chiến sĩ thì cái mộng, cái trữ tình là trăng Hình ảnh trăng tạo nên con người thi sĩ Hình ảnh chiến sĩ, thi sĩ hài hòa với nhau trong cuộc đời người lính cách mạng Hai hình ảnh tưởng là đối lập đặt cạnh nhau tạo ra ý nghĩa hoà hợp vô cùng độc đáo Súng là chiến đấu, gian khổ, hi sinh là hiện thực Còn trăng là tượng trưng cho hòa bình, gợi lên sự đẹp đẽ, thơ mộng, dịu dàng là lãng mạn Người lính cầm súng để bảo vệ hòa bình, khát khao hòa bình, không ngại gian khổ, hi sinh nhưng xét về phương diện tinh thần, tình cảm thì đây chính là cuộc chiến mang vẻ đẹp của chính nghĩa, của lòng yêu nước Súng và trăng : cứng rắn và dịu hiền, chiến sĩ và thi sĩ, có người còn gọi đây là một
cặp đồng chí.
Chính Hữu đã thành công với hình ảnh Đầu súng trăng treo - một biểu tượng thơ giàu sức gợi cảm Tác giả đã từng nói : "Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng đi phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật : Khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu Ba nhân vật quện với nhau tạo ra hình ảnh đầu súng trăng treo"
Đầu súng trăng treo, đã trở thành một biểu tượng đẹp của người lính cách mạng Việt Nam : Hiện thực
và lãng mạn, chiến sĩ và thi sĩ
Hình ảnh trăng của Nguyễn Duy
Ánh trăng của Nguyễn Duy với hình ảnh trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên đất nước mà còn
gắn bó với tuổi thơ, với những ngày kháng chiến gian khổ Vầng trăng mà mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên và đừng vô tình lãng quên
Hình ảnh trăng bắt đầu gắn với cuộc sống bình thường của con người và vầng trăng thời chiến
tranh Đầy ắp những kỉ niệm về vầng trăng trải rộng trên một thiên nhiên bao la với sông, với đồng, với bể Thời chiến tranh máu lửa vầng trăng đã thành tri kỉ với người lính Vầng trăng là biểu tượng đẹp của
những năm tháng nghĩa tình ngỡ không bao giờ có thể quên
Thật đáng sợ là sự thay đổi của lòng người Từ ở rừng, sau chiến thắng về thành phố, được sống
cuộc sống tiện nghi : ở buyn đinh, quen ánh điện, cửa gương Và vầng trăng tri kỉ, nghĩa tình đã bị người tri kỉ xưa lãng quên, dửng dưng Trăng được nhân hóa, lặng lẽ đi qua đường, như người dưng,
chẳng còn ai nhớ, chẳng ai hay
Bất ngờăngời gặpmột tình huống của nhịp sống thị thành : thình lình đèn điện tắt Vầng trăng xưa xuất hiện, vẫn tròn, vẫn đẹp, vẫn thủy chung với người Nước mắt rưng rưng của ngưòi lính, cái giật mình của người lính trước sự im lặng của trăng xưa hiện về nơi thành phố hôm nay là một biểu tượng
nghệ thuật mang tính hàm nghĩa độc đáo Đó là sự bao dung, độ lượng, nghĩa tình, thủy chung của nhân dân, sự trong sáng mà không hề đòi hỏi được đền đáp Đây chính là phẩm chất cao đẹp của nhân dân mà tác giả muốn ngợi ca, tự hào
Cũng là thông điệp hãy biết nhớ về quá khứ tốt đẹp, không nên sống vô tình Đó chính là ý nghĩa
sâu sắc của hình ảnh trăng trong bài thơ của Nguyễn Duy tự nhắc nhủ mình và muốn gửi gắm.
ĐỀ SỐ 3
1 Vẻ đẹp của người lính trong khổ cuối bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.
Trang 42 Từ hiểu biết về bài Đồng chí của Chính Hữu, em hãy viết một đoan văn theo luận đề :
Đồng chí mang một vẻ đẹp của thời đại mới.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Là người lính thuộc trung đoàn thủ đô rồi trở thành nhà thơ quân đội, Chính Hữu chủ yếu viết về
người lính và hai cuộc kháng chiến Đồng chí được sáng tác năm 1948, là bài thơ thành công nhất của
ông Cả bài thơ thể hiện rõ tình đồng đội, đồng chí gắn bó keo sơn của những chiến sĩ quân đội nhân dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp
Bài thơ mở đầu bằng những câu thơ mộc mạc, giản dị, chân chất khi tác giả giới thiệu về quê hương của các anh bộ đội Các anh mỗi người một quê - những vùng quê nghèo khó - song đã về đây để cùng tham gia kháng chiến, cùng chịu đựng gian khổ, chung lưng đấu cật bên nhau
Cuộc sống người lính vất vả biết bao nhiêu Nào : Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá Lại nữa,
những đêm trời rét chỉ có một mảnh chăn mỏng hay những cơn sốt rét rừng hành hạ Vượt lên trên tất
cả những khó khăn đó để "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" Chính đôi tay nắm chặt ấy đã nói lên ý
nghĩa thiêng liêng, cao đẹp của tình đồng đội, của ý chí quyết tâm đánh giặc
Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đặc sắc :
Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc
đời người chiến sĩ Trong bức tranh trên, nổi bật là ba hình ảnh gắn kết với nhau : Người lính, khẩu súng, vầng trăng giữa cảnh rừng hoang sương muối phục kích giặc Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ
vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn Tình đồng chí đã sưởi ấm
lòng họ Hình ảnh Đầu súng trăng treo là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh
tượng trưng
Tác giả Chính Hữu đã từng nói : "Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh, bốn chữ này còn có nhịp điệu như lắc của một cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng như một người bạn" Đó là hình ảnh
thực của cuộc kháng chiến, của những người lính khi chờ giặc tới
Ngoài tả thực, hình ảnh "Đầu súng trăng treo" còn mang ý nghĩa tượng trưng Đó là sự kết hợp giữa
bút pháp hiện thực và lãng mạn, vừa thực, vừa mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu Hình ảnh thơ thật độc đáo, gây xúc động bất ngờ, thú vị cho người đọc Nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấu và tình nghĩa thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ
Với nhịp chậm, giọng thơ hơi cao, ba câu thơ cuối của bài một lần nữa khắc họa chân thực mà sâu sắc về hình ảnh người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp
Tình cảm đồng chí, đồng đội là tình cảm thiêng liêng cao đẹp nhất của những người lính Đó là sức mạnh giúp họ vượt qua tất cả mọi khó khăn trở ngại, mọi thiếu thốn để chiến thắng kẻ thù Bài thơ
Đồng chí đặc biệt là ba câu kết như một lời nhắn nhủ với mọi người : Hãy biết nâng niu và gìn giữ
những tình cảm đẹp trong cuộc sống, phải biết kính trọng những người lính
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Vẻ đẹp của thời đại mới trong hình tượng thơ ở đây là tình đồng chí, đồng đội gắn với giai cấp của
người lính Cả bài thơ khai thác đời sống nội tâm, tình cảm của người lính Vẻ đẹp của bài thơ Đồng chí
là vẻ đẹp đời sống tâm hồn người lính, nơi phát ra vầng ánh sáng lung linh nhất là tình đồng chí đồng
đội : "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" Chỉ cần thương nhau tay nắm lấy bàn tay là đủ hơi ấm để chống chọi với cái rét run người nơi đại ngàn Những đêm rừng hoang sương muối Trong cái cầm tay
nhau ấy, hình ảnh đất nước và tinh thần đoàn kết giai cấp được diễn đạt thật cao đẹp, cô đọng và thuyết phục Chính tình cảm cao đẹp và lí tưởng sáng ngời "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" đó mà những
Trang 5người lính được nâng lên tầm cao khái quát trong đó có sự hài hòa giữa hiện thực và lãng mạn, trữ tình
Đầu súng trăng treo mang ý nghĩa sâu sắc cho tinh thần thời đại.
ĐỀ SỐ 4
Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã cho thấy hành trang mang theo con
đường ra trận là trái tim yêu nước Ý kiến của em ?
BÀI VĂN THAM KHẢO
Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm kháng chiến chống Mĩ Bản thân là anh bộ đội Trường Sơn, tác giả cảm thông và hiểu rõ tâm tình người lính, nhất là người chiến sĩ vận tải dọc Trường Sơn chở vũ khí, quân trang từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn Cùng
với thế hệ thanh niên hăng hái "Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai" Phạm
Tiến Duật mang niềm vui hăm hở của tuổi trẻ ra chiến trường Nhà thơ đã tạo cho mình một giọng điệu
thơ rất lính : khỏe khoắn, tự nhiên, tràn đầy sức sống, tinh nghịch tươi vui mà giàu suy tưởng Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tác phẩm tiêu biểu nhất của giọng thơ ấy, của hồn thơ ấy.
Kết cấu của bài thơ là hành trình của con đường ra trận Hành trình đó có những lúc dãi dầu nắng mưa, có những ngày vượt suối băng đèo và có tiếng reo cười trong tình thân chan hòa đồng đội, trong một mái ấm gia đình giữa đất trời bao la Kết cấu đó trước hết thể hiện qua số lượng chữ trong câu :
Mở đầu chặng đường hành quân là những khó khăn Vì vậy khổ 1, câu thơ đầu dài ra 10 chữ và kết
thúc bằng thanh trắc - hoàn toàn trái quy luật phối thanh bình thường của thơ vần nhịp Nó là điệu nói :
Không có kính không phải vì xe không có kính
Ba câu tiếp theo, khó khăn dần rút lại, tạo nên sự ung dung phong thái đỉnh đạc với số lượng chữ rút dần xuống và đằm lại về thanh điệu : 8 - 6 - 6, bằng - bằng - trắc
Hai câu thơ cuối khổ, thanh bằng chiếm tỉ lệ nhiều hơn, khoảng 2/3 Chính sự thắng thế của thanh bằng đã tạo nên sự thanh thản, ung dung cho khổ thơ mặc dù kết thúc của nó lại là thanh trắc
Chính thanh trắc này lại mở đường cho xe đi tới : Nhìn thẳng
Năm khổ thơ tiếp theo, số lượng câu chữ trở lại bình thường, hoán đổi đều đặn ở hai kiểu kết hợp : 7- 8- 8- 7- và 7- 7- 8- 7 Đường ra trận đẹp lắm, nên xe không kính cứ chạy băng băng, người lái xe đã
nhìn thấy, nhìn thấy và thấy Thấy gió xoa mắt đắng, thấy con đường chạy thẳng vào tim Quan trọng
nhất, thấy được nụ cười rạng rỡ của nhau Ấy cũng chính là thấy được lòng dũng cảm tiềm ẩn đằng sau những câu đùa vui và hành động tếu táo :
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi
Khổ thơ có một sự thay đổi đặc biệt so với toàn bài ở số lượng chữ trong câu thơ : 8- 8- 8- 8 Bốn câu thơ 32 chữ chia đều nhau thanh điệu bằng trắc ở bốn chữ cuối và trở lại kiểu phối âm bình thường bằng- trắc- trắc- bằng Câu kết của bài thơ mở rộng bằng sự phối hợp, luyến láy Bằng trắc tạo ra sự khẳng định vừa điềm tĩnh vừa kiên nghị :
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Đây là câu thơ mấu chốt của cả khổ thơ và cả bài thơ Hóa ra tất cả khó khăn thử thách ở phía trên kia chẳng là gì cả, dù cho bom rơi, pháo thả, dù xe không kính, dù đường ra mặt trận có khi đồng nghĩa với
cái chết thì người lính lái xe ra trận cũng luôn cảm thấy bình yên, an toàn bởi vì có một trái tim Đó là
trái tim biết thức vì Miền Nam, biết khát khao chân lí, hòa bình Hành trang ra trận cần biết bao một trái tim như thế
Bài thơ đã khắc họa đậm nét hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam : Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi Bài thơ không chứa đựng một ẩn ý sâu xa nào khiến người đọc phải suy luận, nêu giả
thiết hoặc là thế này hoặc là thế kia Tạo dựng hình ảnh thơ bằng ngôn ngữ thô mộc của đời sống thường nhật, không sử dụng các loại mĩ từ, mĩ cảm, ẩn dụ, chỉ ghi lại sự thật về những con người và cảm xúc mến yêu, tự hào về họ hình ảnh thơ thể hiện đã đạt tới độ chân thực cao mà vẫn rất thơ, đó là tài nghệ của Phạm Tiến Duật trong lao động sáng tạo Bài thơ có đầy đủ yếu tố cách tân và hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc của thơ ca dân tộc, nối tiếp truyền thống của thơ ca cách mạng viết về anh bộ đội trong hai cuộc trường chinh cứu nước vĩ đại của dân tộc ở thế kỉ XX
Trang 6ĐỀ SỐ 5
Hình ảnh người lính trong hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Lớp cha trước lớp con sau Đã thành đồng chí chung câu quân hành
(Tố Hữu) Trải qua ba mươi năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại, dân tộc ta đã làm nên kỳ tích hào hùng : đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Có thể nói, nhân vật trung tâm của thời đại đã làm nên huyền thoại, đó là anh bộ đội Cụ Hồ
Hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ đã trở thành cảm hứng đẹp trong thơ ca hiện đại Trong số những bài thơ
viết về đề tài này phải kể đến Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm
Tiến Duật Hai bài thơ gắn với hai giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ sẽ giúp chúng ta cảm nhận đầy đủ hơn về hình ảnh người lính
Chính Hữu sinh năm 1926 Năm 1946 ông nhập ngũ, là lính trung đoàn Thủ đô Đầu năm 1948 bài
thơ Đồng chí ra đời khi ông là chính trị viên đại đội Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, năm 1964 gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường sơn Bài thơ về tiểu đội xe không kính sáng tác năm 1969.
Hai nhà thơ thuộc hai thế hệ thi nhân nối tiếp nhau trong cuộc trường chinh của dân tộc Hai thi phẩm mà chúng ta đề cập tới đều trong số những tác phẩm tiêu biểu của mỗi giai đoạn văn học thể hiện thành công hình ảnh người chiến sĩ, sẽ còn sống mãi với thời gian
Đọc Đồng chí, cảm nhận chung của chúng ta là, người lính cách mạng trong kháng chiến chống
Pháp xuất thân từ nông dân Hình ảnh họ được Chính Hữu mô tả chân thực, giản dị mà cao đẹp Khác với khuynh hướng lãng mạn anh hùng mang dáng dấp tráng sĩ trượng phu của thơ ca đầu chống Pháp,
cảm hứng của Chính Hữu trong Đồng chí hướng về chất thực của đời sống, khai thác cái đẹp và chất thơ
trong cái "đời thực" của cuộc chiến đấu và người chiến sĩ Cái đẹp trong khó khăn, thiếu thốn và nhất là cái đẹp trong tình đồng chí, đồng đội, thắm thiết, sâu nặng :
Quê hương anh nước mặn đồng chua làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Tôi với anh đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí !
Đoạn mở đầu này có bảy dòng, theo ba cặp và cuối cùng dồn lại ở một từ : Đồng chí Một sự lí giải
tình đồng chí của nguời lính Đó là xuất phát từ sự giống nhau ở cảnh ngộ, xuất thân từ nghèo khó, là
cùng chung mục đích, lí tưởng, nhiệm vụ, chia sẻ gian lao (Súng bên súng đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ ) Một chữ chung khiến những người vốn xa lạ thành đôi tri kỉ và cao hơn là
thành đồng chí
Người xưa đánh giá tình bạn cao nhất bằng tri kỉ Chính Hữu nhìn thấy ở anh bộ đội Cụ Hồ một tình cảm còn sâu sắc hơn, gắn bó hơn - tình đồng chí Tình cảm này không phải chỉ vì sự cảm thông sâu xa tâm tư, nỗi lòng của nhau mà là cái chung lớn lao
Tất cả diễn đạt bằng lời không đủ, bao nhiêu lời thân thương, trìu mến nhất cũng trở thành sáo rỗng, không chuyên chở nổi sức nặng cảm động giữa những người lính, người đồng đội Vì thế đoạn thơ thứ hai có 10 dòng vẫn theo từng cặp tương ứng để cuối cùng dồn lại một hành động thay cho muôn lời :
"Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" Tình đồng chí giữa những người lính vệ quốc, nói như Chính Hữu :
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Trang 7Miệng cười buốt giá Chân không giày
Là tình cảm của cha ông thuở mới nổi dậy chống Pháp hồi giữa thế kỉ XIX truyền lại Tình của
những dân ấp, dân lân, "Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm - Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó" (Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu) Những con người
ấy vốn dĩ không đi vào cuộc chiến đấu cam go, thiếu thốn này bằng óc lãng mạn Nhưng cuộc chiến đấu trên chiến hào bảo vệ Tổ quốc đã khiến họ thành oai hùng, lãng mạn Bức tượng đài cuối bài thơ là sự phát triển tất yếu từ tình đồng chí :
Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo
Đó là cuộc đời thực của những người lính nông dân nghèo khổ nơi : nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá, áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày được tình cảm cách mạng cao đẹp tạc thành
dáng hình mới
Nếu Đồng chí là hình ảnh của anh lính nông dân chưa biết chữ thời kì đầu kháng Pháp thì người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một hóa thân khác Họ là những thanh niên học sinh đã qua 20
năm dưới mái trường Miền Bắc đi chiến đấu, giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước Người chiến sĩ
trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, cũng như Đồng chí vẫn cùng bốn phương hội tụ, nhưng với tất cả sự trong sáng, hồn nhiên, vô tư Họ, những người chiến sĩ lái xe, những chiếc xe từ trong bom đạn : đã về đây họp thành tiểu đội : Không có kính rồi xe không có đèn, không có mui xe Bởi vì : Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Nên phải chịu bao gian khổ : gió, bụi, mưa xối xả song :
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim Tình đồng chí, đồng đội trong bài thơ của Phạm Tiến Duật có cái tên chung là ta, chúng ta Tất cả đều là đồng chí : trẻ, khỏe, dũng cảm bất chấp nguy hiểm Không có kính không phải vì xe không có kính / bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Nhưng : Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng /Bụi phun tóc trắng cười ha ha / Mưa tuôn mau thôi / Gặp bè bạn kính vỡ rồi / Họ không cần nhiều tìm hiểu, không cần phải đồng cảnh ngộ, với họ từ trong bom rơi họp thành tiểu đội Nếu hình ảnh người chiến sĩ trong bài Đồng chí là một bức tượng đài : Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo thì người lính trong thơ Phạm Tiến Duật là một phù điêu những khuôn mặt trai trẻ, hồn nhiên Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là hai tiêu điểm trong
các tiêu điểm của hình tượng người lính - Anh bộ đội Cụ Hồ mà thơ ca dựng lên từ 30 năm chiến đấu gian khổ đến ngày toàn thắng 1975
ĐỀ SỐ 6
1 Không khí lao động khẩn trương, khỏe khoắn và tươi vui trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của
Huy Cận.
2 Chép lại theo trí nhớ 4 câu thơ đầu và 4 câu thơ cuối bài Đoàn thuyền đánh cá.
a) Phân tích ý nghĩa của hai hình ảnh thơ Mặt trời xuống biển và Mặt trời đội biển Bình luận tính chính xác của hai từ xuống và đội.
b) Trong hai đoạn thơ này, tác giả diễn tả tâm trạng của ai ? Đó là tâm trạng gì ?
BÀI VĂN THAM KHẢO
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một "bài thơ cuộc đời" Bài thơ được sáng tác năm 1958 nhân
một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả Thông qua một đêm đánh cá của đoàn thuyền lớn trên biển, tác giả ca ngợi kiểu lao động mới mẻ của người lao động tràn đầy lạc quan tin tưởng, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la Qua bài thơ ta cảm nhận được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH
Bài thơ mở đầu bằng khung cảnh :
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Trang 8Giới thiệu một ngày sắp kết thúc, sự vật bắt đầu nghỉ ngơi sau hành trình 12 giờ mệt mỏi Thế nhưng
với con người làm nghề đánh cá thì lại khác, dấu hiệu mặt trời xuống biển mở ra một sự bắt đầu với Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Đánh cá trên biển là công việc nặng nhọc, đầy nguy hiểm Vậy mà
những người đánh cá "lại" ra khơi với một tinh thần sảng khoái, tràn trề niềm vui, phấn chấn :
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Tiếng hát được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như một điệp khúc và nó trở thành âm thanh chủ đạo trong bài thơ:
- Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng
- Ta hát bài ca gọi cá vào
Tác giả miêu tả những con cá, những đàn cá gợi nên bức tranh sinh động về biển cả Hình ảnh đàn cá lóng lánh màu sắc như một bức tranh sơn mài
Giữa khung cảnh mênh mông, rộng lớn, hình ảnh người lao động xuất hiện với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả, làm chủ công việc của mình Hình ảnh thật khỏe khoắn, rắn chắc :
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã tô đậm lên hình ảnh những người lao động mới với tầm vóc ngang tầm vũ trụ và hòa nhập với khung cảnh trời nước bao la :
Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Trên cái không gian bát ngát của trăng, gió, trời, biển ấy, hình ảnh con người mới xuất hiện với chiều
kích của không gian Đó chính là bởi niềm vui hăng say lao động, làm giàu cho Tổ quốc
Công việc nặng nhọc của người lao động đánh cá đã trở thành bài ca lạc quan, nhịp nhàng cùng thiên nhiên:
Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Tiếng hát bay bổng, chứa chan tình cảm Bóng trăng xô sóng nước như gõ vào mạn thuyền Cái hiện
thực đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm đẹp thêm công việc đánh cá của người lao động Con người lao động hoà vào thiên nhiên, cất baìo ca giữa thiên nhiên Bài thơ kết thúc với cảnh rạng đông khi đoàn thuyền quay trở về:
Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Cuối câu thơ đậm bức tranh sống động, hấp dẫn về thành quả của người lao động Sau một đêm làm
việc vất vả, mệt nhọc, khẩn trương nay họ đã về bến với hình ảnh mắt cá huy hoàng cá phơi dài muôn dặm.
Đoàn thuyền đánh cá là khung cảnh lao động đầy khí thế của những con người mới, của cuộc sống mới
những tháng ngày hăng say xây dựng CNXH Bài thơ là bài ca yêu nghề, yêu đời, yêu cuộc sống, yêu sự nghiệp xây dựng đất nước của những người lao động Với bút pháp lãng mạn và cảm hứng không
gian quen thuộc, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một bài thơ hay của thơ ca hiện đại sau cách
mạng Tháng Tám
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Khổ thơ đầu :
Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Trang 9Khổ thơ kết :
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
a) Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, lấy cảm hứng từ cuộc sống lao động đánh
cá trên biển Hòn Gai vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX Trong bài thơ này tác giả sử dụng rất
nhiều hình ảnh đẹp, kì vĩ của thiên nhiên, vũ trụ, đặc biệt là hình ảnh "mặt trời xuống biển" và "mặt trời đội biển" ở khổ thơ đầu và khổ thơ kết Đây là hai hình ảnh nghệ thuật đặc sắc góp phần làm nên thành
công của bài thơ
"Mặt trời xuống biển" và "Mặt trời đội biển" là hai không gian, thời gian gắn liền với hoạt động
của đoàn thuyền đánh cá Đoàn thuyền xuất phát khi biển vào đêm, lúc vũ trụ nghỉ ngơi là lúc con người hoạt động Đoàn thuyền trở về khi một ngày mới xuất hiện trên biển, con người lao động thật hăng say, nâng lên tầm vóc vũ trụ
Từ "xuống" rất chính xác, diễn tả cảnh mặt trời lặn, nhưng là xuống biển, tức là đoàn thuyền xuất phát từ đảo xa bờ, không có bóng dáng đất liền, chỉ có bốn bề là biển mênh mông Còn từ "đội" ở
phần kết cũng rất chính xác vì diễn tả cảnh bình minh trên biển, mặt trời như được mọc lên từ biển, xuyên qua biển, tạo nên bình minh rực rỡ Hai hình ảnh này có ý nghĩa diễn tả đoàn thuyền lênh đênh trên biển, như thách thức biển khơi
b) Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là tiếng hát lãng mạn, hăng say lao động trên biển Cái tôi trữ tình
của nhà thơ hòa vào cái ta chung để diễn tả tâm trạng của những con người lao động mới xây dựng miền Bắc XHCN Đó là cái chất hào hùng không còn phải cúi mình trước biển khơi Bài thơ đem đến một cảm hứng lạc quan, khắc tạc tư thế chiến thắng của con người Họ lao mình vào biển và đêm trở về trong ánh hào quang Họ là những con người làm chủ thiên nhiên, làm nên những kì tích
ĐỀ SỐ 7
1 Hãy chọn một số câu thơ có giá trị nghệ thuật độc đáo trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận để viết một bài văn có tiêu đề: Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn
2 Viết lời bình cho khổ thơ sau đây :
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)
1 BÀI VĂN THAM KHẢO
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con người lao động mới hăng say, khỏe khoắn giữa thiên nhiên kì ảo Gam màu chủ yếu của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh Để rồi,
khi đọc thi phẩm ta cảm tưởng lạc vào đêm hoa đăng chiến thắng trên biển - hào hùng, tráng lệ và lãng mạn
Như bao bài thơ khác của Huy Cận, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá thật quen thuộc : mặt trời, trăng, sao, gió, mây Tuy nhiên, bằng cái nhìn của thi sĩ XHCN, đi giữa miền Bắc hòa
bình với ngòi bút miêu tả theo phong cách ấn tượng đầy tài năng ở bài thơ này, thiên nhiên đã trở nên chân thực, sống động mà tráng lệ, rực rỡ kì vĩ, lớn lao mà tinh tế Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên ấy, con người hiện lên khoáng đạt, lãng mạn, tin yêu cuộc sống và tinh thần hăng hái lao động Đặt mình vào tư cách con người lao động trên biển khơi mênh mông, Huy Cận đã lắng nghe được sự hòa hợp tuyệt diệu giữa thiên nhiên và con người
Bài thơ miêu tả hành trình ra khơi và trở về trong thắng lợi của đoàn thuyền đánh cá gắn với
hình ảnh mặt trời tráng lệ : "Mặt trời xuống biển như hòn lửa" - "Mặt trời đội biển nhô màu mới" Trong
câu thơ đầu tác giả sử dụng hình ảnh ví von vô cùng biểu cảm, giàu sức gợi và chuẩn xác Khi mặt trời xuống biển là lúc có hình dáng quả cầu đỏ sẫm Những tia sáng phản chiếu dưới mặt nước, lung linh như
Trang 10hoa lửa Vẫn mang nét tráng lệ, nhưng khác với hình ảnh mặt trời hoàng hôn ở phần đầu bài thơ, hình ảnh mặt trời ở cuối bài thơ lại là linh hồn của bình minh và đồng hiện cùng với sự cập bến đầy tốt lành của đoàn thuyền đánh cá
Hình ảnh bao quát bài thơ cho ta cảm giác về vũ trụ bao la thơ mộng Đó là mối quan hệ tương
hợp giữa con người với thiên nhiên trong lao động, với mặt trời tráng lệ, với đêm trăng huyền ảo, với mây trời, sóng nước và với cá - sinh lực, tinh lực của biển.
Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn trong bài chủ yếu là những hình ảnh miêu tả trực tiếp thiên nhiên nhưng đã gián tiếp làm rõ vẻ đẹp khỏe khoắn, khoáng đạt, tinh thần lao động hăng say, nhiệt tình của con người Chúng ta hãy đọc những vần thơ :
Câu hát căng buồm cung gió khơi Thuyền ta lái gió với buồm trăng Ta hát bài ca gọi cá vào
Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long Hàng loạt các hình ảnh thiên nhiên hiện ra cùng với hoạt động và tiếng hát của con người cùng đưa con thuyền lao động tiến vào trùng dương Trăng, sao, điểm tô cho bức vẽ con người xông pha vào đại dương bao la thêm phơi phới hơn Nhịp điệu lao động của con người đã mang nhịp thiên nhiên, vũ
trụ một cách nhịp nhàng, hài hòa Trong bài thơ : trời, mây, biển cả được tráng lệ hóa để mang hồn lao
động, con người lao động được cao cả hóa để mang tầm vũ trụ
Gấp trang thơ của Huy Cận lại, những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn vẫn còn mãi trong trí tưởng tượng của chúng ta Với cách sử dụng màu sắc, với cách vận dụng các thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa và thậm xưng, Huy Cận đã sáng tạo nhiều hình ảnh đẹp, đầy ý nghĩa Một không gian tráng lệ tràn ngập niềm vui và câu hát, một rạng đông trên biển và một rạng đông trong lòng người, vì đối với
Huy Cận "Trời mỗi ngày lại sáng" và "biển đang hát"
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận sau Cách mạng Tháng Tám, được in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lại sáng" Đây là bài thơ có kết cấu độc đáo : đoàn thuyền đánh cá xuất phát khi
đêm xuống trên biển và trở về khi bình minh đón chào một ngày mới trên biển Cả bài thơ là bức tranh lao động lung linh sáng đẹp trên biển, vừa là tiếng hát lạc quan của những chủ nhân biển khơi
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng âm hưởng của tiếng hát vui say lao động vẫn ngân nga trong lòng người :
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Câu đầu tiên của khổ thơ này được lặp lại gần như nguyên vẹn câu thứ tư của khổ thơ đầu bài
thơ, chỉ thay chữ "cùng" bằng chữ "với", nhưng đã tạo ra cảm giác tuần hoàn Câu hát căng buồm đưa thuyền đi thì giờ đây vẫn câu hát căng buồm lại đưa thuyền về Và bây giờ đoàn thuyền đã trở về trong một tư thế mới "chạy đua cùng mặt trời " Màu nắng chan hòa làm thành quả lao động thêm rực rỡ Hình ảnh mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi là sự kết hợp giữa màu sắc của mắt cá sống động, long lanh và ánh sáng chan hòa của mặt trời Câu thơ kết là hay nhất bởi cách dùng chữ thật tài tình : Mặt trời đội biển nhô màu mới - Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Huy Cận miêu tả chính xác chuyển động của mặt
trời, chuyển động từ từ, ban đầu là ánh sáng hừng lên, sau đó mặt trời nhô lên kết thúc một đêm Khổ thơ này tạo tương xứng với mặt trời xuống biển - đoàn thuyền ra khơi ở đầu bài thơ Và thành quả tốt đẹp (mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi) chính là cao trào của bài ca lao động
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca ngợi ca lao động, ngợi ca biển trời quê hương giàu đẹp
cùng những chủ nhân của đất nước Sự hài hòa giữa con người, thiên nhiên, tấm lòng, tình cảm của nhà thơ trong một trí tưởng tượng phong phú đã giúp thơ gây được sức hấp dẫn, ấn tượng về cuộc sống mới và con người mới
ĐỀ SỐ 8