Là Giỏo viờn dạy lớp 2 lõu năm, học sinh là con em vựng nụng thụn nờn tụi thấy vốn từ của cỏc em cũn ớt và khả năng sử dụng từ, cõu lại gặp rất nhiều khú khăn hơn; trong cỏc bài kiểm tra
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lí DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mụn Tiếng Việt cú vai trũ vụ cựng quan trọng trong quỏ trỡnh học tập cũng như giao tiếp của cỏc em Mụn Tiếng Việt giỳp cỏc em cú cỏc kĩ năng nghe, núi, đọc , viết phục vụ cho việc học và giao tiếp; ngoài ra mụn Tiếng Việt cung cấp cho cỏc em vốn
từ ngữ phong phỳ để cỏc em sử dụng trong quỏ trỡnh giao tiếp Phân môn
Luyện từ và câu là phân môn đóng vai trò quan trọng đối với
việc phát triển ngôn ngữ của học sinh nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng, là chìa khóa mở ra kho tàng văn hóa trên mọi lĩnh
vực đời sống, xã hội của con ngời Hơn nữa, phân môn Luyện từ
và câu giúp học sinh lĩnh hội Tiếng Việt, văn hóa, là công cụ giao
tiếp t duy và học tập Đối với học sinh lớp 2, vốn từ của các em còn rất hạn chế, việc tìm hiểu và sử dụng từ còn lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn cần phải đợc bổ sung và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập và giao tiếp Muốn nói hay viết giỏi đều phải dùng
từ Từ là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ Hiểu đợc nghĩa của từ
đã khó, còn phải biết dùng từ nh thế nào cho hợp văn cảnh, đúng ngữ pháp còn khó hơn Cho nên, việc dạy cho học sinh nắm vững Tiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy phân môn luyện từ
và câu, đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ở các lớp học trên Để dạy học luyện từ và câu ở lớp 2 có hiệu quả, không những đòi hỏi ngời thầy phải biết cách khai thác từ ngữ qua vốn sống của trẻ nhằm xây dựng hệ thống kiến thức trên cơ sở khai thác qua các câu có từ thuộc chủ đề nhằm bổ xung, củng cố, khắc sâu hệ thống kiến thức cho trẻ
Ngoài ra ngời giáo viên phải biết phối hợp một cách linh hoạt các phơng pháp đặc trng của môn học nh phơng pháp đóng vai,
ph-ơng pháp thảo luận nhóm, hỏi đáp theo cặp, tổ chức trò chơi…
để học sinh đợc thực sự tham gia xử lí các tình huống có vấn đề, lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả
Trờn thực tế, học sinh lớp 2 cú vốn từ ngữ rất hạn chế và khả năng sử dụng chớnh xỏc cỏc từ ngữ cỏc em cú được lại càng hạn chế hơn Ngoài về từ ngữ, cỏc em cũn khú khăn khi sử dụng và phõn biệt cỏc mẫu cõu cũng gặp rất nhiều khú khăn Là Giỏo viờn dạy lớp 2 lõu năm, học sinh là con em vựng nụng thụn nờn tụi thấy vốn từ của cỏc em cũn ớt và khả năng sử dụng từ, cõu lại gặp rất nhiều khú khăn hơn; trong cỏc bài kiểm
tra điểm số của phần Luyện từ và cõu của cỏc em cũn thấp, kộo theo phần Tập làm
văn của cỏc em cũng bị hạn chế trong cỏch viết cõu, dựng từ
Với mong muốn giỳp học sinh tăng thờm vốn từ, tăng khả năng sử dụng từ, cõu
trong học tập và giao tiếp, tụi đó lựa chọn viết đề tài: “Một số biện phỏp nõng cao chất lượng dạy và học Phõn mụn Luyện từ và cõu lớp 2” để cựng cỏc bạn đồng
nghiệp trao đổi thảo luận Từ đú, giỳp học sinh học Phõn mụn Luyện từ và cõu một
cỏch hiệu quả nhất
Trang 2II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Mục đích:
Xây dựng một số biện pháp dạy – học cho Phân môn Luyện từ và câu từ đó cải thiện chất lượng dạy và học của thầy và trò trường Tiểu học Quỳnh Trang – xã
Quỳnh Trang – Thị xã Hoàng Mai – Tỉnh Nghệ An trong giờ học Luyện từ và câu nói chung và Luyện từ và câu lớp 2 nói riêng.
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát: tôi dùng phương pháp khảo sát để kiểm tra tính khả thi của đề tài
- Phương pháp thực nghiệm: tôi lấy Phương pháp và cách tổ chức dạy học
Luyện từ và câu làm đối tượng nghiên cứu và học sinh lớp 2 trường Tiểu học
Quỳnh Trang là đối tượng thực nghiệm
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: tôi nghiên cứu các tài liệu khác nhau có liên quan đến các lĩnh vực của đề tài
- Phương pháp thống kê: tôi thống kê những số liệu thu được chính xác để từ
đó phân tích, đánh giá rút ra kết luận
- Phương pháp điều tra: đối tượng điều tra là giáo viên trực tiếp giảng dạy và học sinh lớp 2
- Ngoài ra tôi còn sử dụng nhiều phương pháp khác
III.GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Do giới hạn về thời gian tôi chỉ tập trung tìm hiểu về các phương pháp
dạy học Luyện từ và câu Lớp 2.
IV KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
Tôi có kế hoạch áp dụng đề tài này vào phần dạy – học Luyện từ và câu cho
học sinh lớp 2 của năm học 2014-2015 Nếu kết quả khả quan thì tiếp tục áp dụng cho những năm học tiếp theo ( có bổ sung)
B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trang 3Con người dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng cần có vốn kiến thức cơ bản
về từ và câu để học tập và giao tiếp Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên cung cấp cho
con người những kiến thức cơ bản đó Chính vì vậy Phân môn Luyện từ và câu
chiếm giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành những kiến thức- kĩ năng
cơ bản cho mỗi người
* Mục tiêu của Phân môn Luyện từ và câu lớp 2 là:
-Mở rộng vốn từ theo chủ điểm,củng cố hiểu biết về các kiểu câu (thông qua các
mô hình) và thành phần câu (thông qua các câu hỏi) đã học ở lớp 2 Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh và nhân hóa (thông qua các bài tập)
-Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng một số dấu câu
-Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng Tiếng việt văn hóa trong giao tiếp và thích học tiếng Việt
* Vị trí của phân môn Luyện từ và câu
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp
Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết
sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu
để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho HS có khả năng hiểu các câu nói của người khác Luyện từ và câu có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của các em
* Nội dung của Phân môn Luyện từ và câu:
a, Mở rộng vốn từ:
Ngoài những từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành ngữ được cung cấp qua các bài tập viết, học sinh được mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm và bước đầu được làm quen với một số từ ngữ địa phương thông qua các bài tập Luyện từ
và câu
b, Ôn luyện về kiểu câu và các thành phần câu:
-Về kiểu câu, biết đặt các câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào?
-Về thành phần của câu, biết đặt câu hỏi cho các bộ phận câu và mở rộng câu bằng trạng ngữ của câu, phụ ngữ của cụm từ
c, Ôn luyện về một số dấu câu cơ bản: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than; học thêm dấu hai chấm
* Các hình thức luyện tập:
a) Các bài tập về từ:
-Loại bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo chủ điểm;
-Loại bài tập giúp học sinh nắm nghĩa của từ;
-Loại bài tập giúp học sinh quản lí, phân loại vốn từ;
-Loại bài tập giúp học sinh luyện tập sử dụng từ
Trang 4b) Cỏc bài tập về cõu
-Trả lời cõu hỏi;
-Tỡm bộ phận trả lời trả lời cõu hỏi;
-Đặt cõu hỏi cho từng bộ phận cõu;
-Đặt cõu theo mẫu
c) Cỏc bài tập về dấu cõu
-Chọn dấu cõu đó cho điền vào chỗ trống;
-Tỡm dấu cõu thớch hợp điền vào chỗ trống;
-Điền dấu cõu đó cho vào chỗ thớch hợp;
-Ngắt cõu
Luyện từ và cõu là một môn học giữ vị trí chủ đạo trong chơng trình Tiếng Việt của lớp 2 Ngay từ đầu của hoạt động học tập ở trờng, học sinh đã đợc làm quen với lí thuyết của từ và câu Sau
đó, kiến thức đợc mở rộng thêm và nâng cao dần để phục vụ cho nhu cầu ngày một tăng trong cuộc sống của các em cũng nh trong lao động, học tập và giao tiếp
Vai trò quan trọng đặc biệt trong hệ thống ngôn ngữ, là đơn
vị trung tâm của ngôn ngữ Chính vì vậy, dạy luyện từ và câu có
vị trí rất quan trọng, không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm đợc ngôn ngữ nh một phơng pháp giao tiếp Việc dạy từ và câu ở giai đoạn đầu giúp học sinh nắm đợc một số về vốn từ, cõu, dấu cõu tạo điều kiện học tập và phát triển toàn diện Nó có nhiều khả năng để phát triển ngôn ngữ, t duy lôgic và các năng lực trí tuệ
nh trừu tợng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp… và các phẩm
chất đạo đức nh tính cẩn thận, cần cù Ngoài ra, phân môn Luyện
từ và câu còn có vai trò hớng dẫn và rèn cho học sinh kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết một cỏch thành thục
Luyện từ và câu là môn học nền tảng để học sinh học các
môn học khác trong tất cả các cấp học sau, cũng nh trong lao động
và giao tiếp trong cuộc sống, bởi nó giúp học sinh có năng lực nói
đúng Từ đó, sử dụng Tiếng Việt văn hóa một cách thành thạo làm công cụ t duy để học tập giao tiếp và lao động
Phõn môn Luyện từ và câu lớp 2 cả năm có 35 bài tơng ứng với 35 tiết và dạy trong thời gian 1 tiết/ 1 tuần:
+ Kì I gồm 18 bài trong đó có hai bài ôn tập và 16 bài mới + Kì II gồm 17 bài trong đó có 2 bài ôn tập và 15 bài mới
Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 đợc chia thành hai tập (tập một
và tập hai) mỗi tập dùng trong một kì ở sách Tiếng Việt lớp 2 đợc trình bày riêng theo từng phân môn : Tập đọc, kể chuyện, chính tả, tập viết, Luyện từ và câu, tập làm văn
Trang 5Ở lớp 2 sự tơng quan số tiết học giữa phân môn luyện từ và câu với các phân môn khác trong môn Tiếng Việt nh sau :
Sự phân bố các tiết trong môn Tiếng Việt
Tập
đọc
Kể chuyệ n
Chính
Luyện
từ và câu
Tập làm văn
Học kì
Học kì
Nh vậy, thời gian dành cho việc học Luyện từ và câu so với
các phân môn khác cũng tơng đối nhiều (chỉ kém phân môn tập
đọc và chính tả) Sang học kì II số tiết học một tuần của môn học này vẫn đợc giữ nguyên
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.Thuận lợi:
-Giỏo viờn xỏc định đỳng mục tiờu đặc trưng của phõn mụn nờn cú kế hoạch dạy
- học phự hợp
-Giỏo viờn luụn nhiệt tỡnh quan tõm giỳp đỡ học sinh yếu Cú hệ thống cõu hỏi
rừ ràng, dễ hiểu, dễ tiếp thu cho từng đối tượng học sinh
-Giỏo viờn sử dụng tốt cỏc đồ dựng dạy học cú sẵn và tự làm để phục vụ việc giảng dạy
-Cỏc hoạt động của thầy và trũ diễn ra nhịp nhàng hơn Thể hiện được mục đớch của từng hoạt động
-Việc vận dụng một số phương phỏp thuần thục và đạt hiệu quả cao
-Học sinh tham gia vào cỏc hoạt động luyện tập nhiều nờn kết quả tiến bộ hơn
2) Hạn chế:
a) Về sỏch giỏo khoa:
Sỏch giỏo khoa Tiếng Việt lớp 2 hiện nay núi chung và phõn mụn Luyện từ và cõu núi riờng cũn tồn tại một số điểm chưa hợp lý: mặc dự SGK đó chỳ trọng phương phỏp thực hành nhưng những bài tập sỏng tạo vẫn cũn ớt, đơn điệu, kiến thức dạy học sinh cũn mang tớnh trừu tượng nờn học sinh cũn gặp nhiều khú khăn trong quỏ trỡnh lĩnh hội cỏc kiến thức mới
b) Về giỏo viờn:
Trang 6- Trong giảng dạy giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật chất, phương tiện dạy học còn hạn chế
- Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn tiếng Việt
- Giáo viên đôi khi còn lúng túng trong việc giúp học sinh xác định yêu cầu đề bài, còn ngại tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm, theo cặp làm mất thời gian
- Kết hợp vận dụng một số phương pháp dạy- học chưa linh hoạt, hiệu quả chưa cao,phân bổ thời gian chưa hợp lí cho từng hoạt động trong mỗi tiết dạy
- Việc nắm nghĩa và giảng từ đôi khi còn lúng túng , chưa rõ ràng nên việc mở rộng vốn từ còn nhiều hạn chế
c) Về học sinh:
- Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc tiếp thu kiến thức còn hạn chế, đặc biệt các em là học sinh vùng nông thôn xa nên còn hạn chế tiếp cận sách báo, tài liệu và các hoạt động ngoài giờ có mục đích Vì thế vốn từ của các em còn nghèo và sử dụng nó trong thực tế khách quan còn hạn chế
- Đa số học sinh là con em gia đình nhà nông, các em chỉ nhận biết một cách cụ thể Nên việc tiếp thu các kiến thức về từ ngữ rất khó khăn
- Kĩ năng sử dụng dấu câu còn sai sót nhiều Đa số học sinh chưa xác định được
bộ phận trả lời cho câu hỏi ở các kiểu câu
- Trong suốt thời gian các em ít chịu khó ôn tập lại các kiến thức đã học
III NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 Tổ chức dạy học luyện từ và câu
Dựa vào mục đích và nội dung dạy học, ta có thể phân loại các bài học Luyện
từ và câu có thể chia thành hai loại: bài lí thuyết và bài thực hành Cũng vì vậy, tựu trung,dạy học Luyện từ và câu có thể chia thành hai phần: dạy lí thuyết, quy tắc sử
dụng từ, câu và dạy thực hành từ, câu
a) Tổ chức dạy bài lí thuyết về từ, câu
Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học nới chung và lớp 2 nói riêng không có mục đích
lí thuyết thuần tuý Vì vậy, ở đây chúng ta tạm dùng tên gọi bài lí thuyết về từ, câu để
gọi tên những bài Luyện từ và câu có nêu những nội dung kiến thức và quy tắc sử
dụng từ, câu được đóng khung trong SGK nhằm phân biệt với những bài thực hành từ, câu là những bài chỉ được tạo nên từ một tổ hợp bài tập Như ta đã biết, phân môn
Luyện từ và câu mang tính chất thực hành nên các kiến thức lí thuyết ở đây chỉ được
đưa đến cho HS ở mức sơ giản và tập trung chú trọng đến các quy tắc sử dụng từ, câu Sau khi đã xác định vị trí nội dung kiến thức và kĩ năng cần cung cấp cho học sinh,
GV cần nắm được các bước lên lớp Ở lớp 2 không có bài riêng lí thuyết như lớp 4-5
Trang 7mà nó lồng ghép lí thuyết trong các bài tập thực hành Vì ọc sinh lớp 2 còn trực quan đơn giản, chưa biết khái quát trừu tượng như học sinh lớp 4-5
b Tổ chức dạy bài thực hành Luyện từ và câu
Mục đích cuối cùng của việc học lí thuyết về từ và câu trong nhà trường là sử dụng các đơn vị ngôn ngữ một cách có ý thức để có thể hiểu đúng tư tưởng, tình cảm của người khác được thể hiện bằng ngôn ngữ và để biểu hiện chính xác tư tưởng, tình
cảm của mình trong hình thức nói và viết Những bài Luyện từ và câu được cấu thành
từ một tổ hợp bài tập được gọi là bài thực hành Luyện từ và câu mà tên bài chỉ được
ghi ở phần mục lục, những bài có tên gọi Mở rộng vốn từ, Luyện tập, những bài chỉ đặt tên theo tiết ở tuần ôn tập Vì những bài này được xây dựng từ những bài tập nên
việc tổ chức dạy học cũng là việc tổ chức thực hiện các bài tập Thực hành Luyện từ
và câu nhất thiết phải được dạy một cách có định hướng, có kế hoạch thông qua việc
tổ chức thực hiện các bài tập Luyện từ và câu Để tổ chức thực hiện tốt những bài tập
này, chúng ta xem xét chúng từ góc độ nội dung và những cơ sở xây dựng
* Hệ thống bài tập Luyện từ và câu
Như trên đã nói, bài tập Luyện từ và câu được phân loại theo các cơ sở khác nhau Dựa vào mục tiêu dạy học, phạm vi nội dung kiến thức, kĩ năng được hình thành, trước hết có thể chia bài tập Luyện từ và câu thành hai mảng lớn: mảng bài tập làm giàu vốn từ và mảng bài tập theo các mạch kiến thức về từ và câu Ngoài ra trong phân môn Luyện từ và câu còn có cả những bài tập ngữ âm – chính tả Đó là những bài tập quy tắc viết hoa Chúng ta cần lưu ý rằng, do tính tích hợp, của dạy học tiếng Việt, sự phân loại các bài tập như trên chỉ là tương đối Trong thực tế, những bài tập làm giàu vốn từ không tách rời với các mạch kiến thức về các lớp từ, cấu tạo và từ loại của từ Đó là các bài tập mở rộng vốn từ theo lớp đồng nghĩa, trái nghĩa, kiểu cấu tạo và từ loại; dạy sử dụng từ không thể tách rời với việc đặt câu Trong các bài tập theo các mạch kiến thức, dạng bài tập thuần tuý về từ hay câu ít được sử dụng, ví dụ kiểu bài tập khá phổ biến như:
- Chọn một cặp từ trái nghĩa ở bài tập 1, đặt câu với mỗi từ trong cặp từ trái nghĩa đó (TV 2 - tập 1 - trang 133)
- Viết một đoạn văn khoảng 5 câu về một loại trái cây mà em thích, trong đoạn văn có dùng một số câu kể “Ai thế nào?” vừa là bài tập về từ, vừa là bài tập về câu Cũng như không hiếm những bài tập có cả đặc tính phân tích và tổng hợp
Sau đây chúng ta đi vào phân loại bài tập luyện từ và câu, chỉ ra mục đích, nội dung, cơ sở xây dựng và những điểm cần lưu ý khi thực hiện từng kiểu loại bài tập
* Bài tập làm giàu vốn từ
Làm giàu vốn từ còn được gọi là mở rộng vốn từ, là nhiệm vụ của các bài học có tên gọi “Mở rộng vốn từ” Nhiệm vụ làm giàu vốn từ bao gồm các công việc dạy nghĩa
từ, hệ thống hoá vốn từ và tích cực hoá vốn từ Đó cũng chính là căn cứ để chia các bài tập làm giàu vốn từ thành ba nhóm lớn Sau đây, chúng ta sẽ đi vào xem xét ý nghĩa, cơ sở để xây dựng các bài tập làm giàu vốn từ và phân loại chúng
+ Bài tập dạy nghĩa từ
Các bài tập dạy nghĩa từ được quan niệm là những bài tập nhằm làm rõ nghĩa của các đơn vị mang nghĩa như tiếng, từ, cụm từ, các thành ngữ, tục ngữ
Trang 8Để tăng vốn từ cho HS phải cung cấp những từ mới, do đó công việc đầu tiên của dạy
từ là làm cho HS hiểu nghĩa từ Tầm quan trọng của việc dạy nghĩa từ cho HS đã được thừa nhận từ lâu trong phương pháp dạy tiếng Nó là nhiệm vụ sống còn trong
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em Việc dạy nghĩa từ được tiến hành trong tất cả các giờ học, bất cứ ở đâu có cung cấp từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm thì ở đó có dạy nghĩa
từ Bài tập giải nghĩa từ xuất hiện trong phân môn Luyện từ và câu không nhiều nhưng việc giải nghĩa từ lại thường xuyên phải thực hiện không chỉ trong giờ Luyện
từ và câu mà trong rất nhiều giờ học khác của môn học Tiếng Việt và các môn học
khác Để dạy nghĩa từ, trước hết GV phải hiểu nghĩa từ và biết giải nghĩa phù hợp với mục đích dạy học, phù hợp với đối tượng HS Đối với học sinh lớp tôi, tôi thường nêu một số biện pháp giải nghĩa như sau:
Giải nghĩa bằng trực quan: Giải nghĩa bằng trực quan là biện pháp đưa ra các vật
thật, tranh ảnh, sơ đồ để giải nghĩa từ
Tương ứng với biện pháp giải nghĩa từ bằng trực quan có các bài tập dạy nghĩa
từ bằng tranh vẽ Có thể chia các bài tập dạy nghĩa từ bằng tranh vẽ thành 3 dạng:
- Bài tập yêu cầu tìm sự tương ứng giữa từ cho sẵn với hình vẽ.
Ví dụ 1: Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dươi đây (các từ cho sẵn: học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo) (TV2 - tập 1)
Ví dụ 2: Chọn cho mỗi con vật dưới đây một từ chỉ đúng hoạt động của nó: nhanh, chậm, khoẻ, trung thành (TV2 - tập 1)
Những bài tập này vừa có tác dụng giúp học sinh nhận biết “nghĩa biểu vật” của
từ, vừa có tác dụng giúp các em mở rộng, phát triển vốn từ Đây là những bài tập dạy nghĩa từ đơn giản nhất Khi hướng dẫn giải các bài tập dạng này, chúng ta cần hướng dẫn học sinh lần lượt đối chiếu từng từ cho sẵn với hình ảnh tương ứng Học sinh đối chiếu đúng nghĩa là các em đã nắm được “nghĩa biểu vật” của từ
- Dạng bài tập dựa vào tranh tìm từ tương ứng.
Ví dụ 1: Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối) được vẽ dưới đây (TV2 -tập 1)
Ví dụ 2: Các tranh dưới đây vẽ một số hoạt động của người Hãy tìm từ chỉ mỗi hoạt động đó (TV2 - tập 1)
Ở những bài tập này, từ cần tìm không được cho sẵn, học sinh phải dựa vào tranh mà gọi tên sự vật, hoạt động Vì vậy, hướng dẫn giải những bài tập này, giáo viên cần cho học sinh quan sát tranh, suy nghĩ để tìm từ tương ứng
- Dạng bài tập gọi tên các vật được vẽ ẩn trong các tranh Đây là những bài tập vui
với các tranh đố
Ví dụ: Tìm các từ chỉ đồ vật học tập trong tranh sau (TV2 - tập 1)
Cũng như dạng bài tập 2, dạng bài tập này yêu cầu học sinh dựa vào hình ảnh của sự vật được vẽ trong tranh để tìm từ ngữ tương ứng Điểm khác nhau là ở chỗ: ở dạng bài tập này, các sự vật được vẽ trong tranh không hiển hiện rõ ràng mà được ẩn dấu, phải quan sát kĩ (kết hợp tưởng tượng) mới nhận biết được Những tranh ẩn này kích thích học sinh tìm tòi, gây hứng thú học tập cho các em Giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát kĩ bức tranh, phát hiện vật cần tìm trong tranh và gọi tên Mỗi tên gọi là một từ mà học sinh cần tìm được qua bài tập vui này
Trang 9Giải nghĩa các từ bằng các từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
Ví dụ: “Siêng năng là chăm chỉ”; “Ngăn nắp là không lộn xộn” Tương ứng với cách giải nghĩa này, SGK có các bài tập yêu cầu giải nghĩa bằng đồng nghĩa hoặc trái nghĩa
Ví dụ: Hãy giải nghĩa các từ dưới đây bằng từ trái nghĩa với nó:
a Trẻ con
b Cuối cùng
c Xuất hiện
d Bình tĩnh
M: Trẻ con: trái nghĩa với người lớn
(Tiếng Việt 2 - tập 2 - tr.137)
Yêu cầu của các bài tập này là dùng những từ cùng nghĩa hoặc có nghĩa trái ngược với nghĩa của từ cần giải nghĩa làm phương tiện để giải nghĩa từ Những từ đồng nghĩa được dùng để giải nghĩa phải là những từ gần gũi, quen thuộc với học sinh Loại bài tập này khơi gợi được sự liên tưởng tương đồng và khác biệt để kích thích học sinh xác lập được nghĩa của từ, đồng thời cũng giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn
từ cũng như góp phần hình thành khái niệm từ đồng nghĩa, trái nghĩa
Giải nghĩa bằng định nghĩa.
Giải nghĩa bằng định nghĩa là biện pháp giải nghĩa phổ biến nhất trong SGK Loại bài tập này có các dạng:
- Dạng 1: Cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu học sinh xác lập sự tương ứng
Ví dụ: Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa sau:
a Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được
b Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi
c Nơi đất trũng, chứa nước, tương đối rộng và sâu, ở trong đất liền (suối, hồ, sông) (Tiếng Việt 2 - tập 2 - tr 64)
Khi hướng dẫn giải kiểu bài tập này, GV phải làm cho HS hiểu ý nghĩa của từng yếu tố ở hai vế để thấy sự tương ứng cặp đôi Các em lấy lần lượt các từ ngữ ghép với một nội dung xem có sự tương ứng, tức là tạo thành câu đúng nghĩa không Nếu HS điền, nối đúng, tạo ra sự tương ứng hợp lí giữa nghĩa và từ là các em đã nắm được nghĩa từ
- Dạng 2: Cho sẵn từ, yêu cầu học sinh xác lập nội dung nghĩa tương ứng
Dạng bài tập này ít xuất hiện trong sách giáo khoa vì đây dạng khó đối với học sinh
Việc phân chia thành các biện pháp và các bài tập giải nghĩa như trên chỉ là tương đối Trong thực tế, khi giải nghĩa từ hoặc xây dựng những bài tập giải nghĩa, người ta thường kết hợp các biện pháp khác nhau: vừa dùng trực quan, vừa dùng đồng nghĩa, dựa vào ngữ cảnh hoặc sử dụng biện pháp định nghĩa Khi dạy nghĩa từ, ngoài việc xác định những từ sẽ dạy, biện pháp giải nghĩa, GV còn phải xác định sẵn những
từ nào mình sẽ giải nghĩa và những từ nào để HS giải nghĩa dưới hình thức thực hiện
Trang 10các bài tập giải nghĩa từ Việc lựa chọn các biện pháp giải nghĩa và hình thức bài tập giải nghĩa tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể
* Bài tập hệ thống hoá vốn từ
Dạng bài tập này còn gọi là những bài tập mở rộng vốn từ Như vậy, thuật ngữ
mở rộng vốn từ có lúc được dùng theo nghĩa hẹp, không phải để chỉ toàn bộ công việc làm giàu vốn từ cho HS Toàn bộ loại bài tập hệ thống hoá vốn từ yêu cầu HS tìm từ hoặc phân loại từ theo một dấu hiệu chung nào đó Dựa vào các quy luật liên tưởng khác nhau, người ta đã xây dựng bài tập tìm từ và phân loại từ theo những dấu hiệu khác nhau
Trong SGK Tiếng Việt 2, kiểu bài tập hệ thống hoá vốn từ chiếm tỉ lệ cao Dựa vào đặc trưng của hoạt động liên tưởng khi tìm từ ngữ, có thể chia bài tập hệ thống hoá vốn từ thành nhiều nhóm, dạng
Nhóm bài tập tìm từ
Dựa vào quy luật liên tưởng, người ta chia nhóm bài tập tìm từ thành:
1/Bài tập tìm từ có cùng chủ đề
Ví dụ 1: Tìm các từ:
- Chỉ đồ dùng học tập M: bút
- Chỉ hoạt động của HS M: đọc
- Chỉ tính nết của HS M: chăm chỉ
(TV2 - tập 1 - trang 9)
Ví dụ 2: Kể tên các loài cây mà em biết theo nhóm:
- Cây lương thực, thực phẩm M: lúa
- Cây ăn quả M: cam
- Cây lấy gỗ M: xoan
- Cây bóng mát M: bàng
- Cây hoa M: cúc
(TV2 - tập 2 - trang 87)
Các từ cần tìm ở đây thuộc cùng một chủ điểm từ ngữ, hay nói cách khác là cùng nằm trong một hệ thống liên tưởng Vì vậy dạng bài tập này ngoài tác dụng giúp
HS mở rộng vốn từ còn có tác dụng giúp HS hình thành, phát triển tư duy hệ thống
Về cách dạy, GV cần dựa vào các ví dụ mẫu trong SGK để hướng dẫn HS tìm từ Các
từ mẫu (còn gọi là từ điểm tựa) giúp HS hiểu rõ yêu cầu của bài tập, đồng thời có tác dụng gợi ý, định hướng cho HS trong việc tìm từ
Nhiều bài tập tìm từ ngữ cùng chủ điểm không có các từ mẫu, ví dụ: hãy tìm 3
từ nói về tình cảm thương yêu giữa anh chị em (TV2 - tập 1 – trang 116)
Các từ cần tìm có lúc được huy động trong vốn của HS, cũng có lúc bài tập chỉ yêu cầu HS tìm các từ có sẵn trong một văn bản Ví dụ: Tìm những từ chỉ người trong gia đình, họ hàng ở câu chuyện Sáng kiến của bé Hà (Tiếng Việt 2 - tập 1 - tr.82)