Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trang 1ĐỀ 06: Đánh giá quy định về việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
https://tailieu.vn/doc/xac-dinh-cha-me-con-va-quyen-nhan-than-trong-truong-hop-sinh-con-bang-ho-tro-sinh-san-theo-phap-luat-2280124.html
https://luatnqh.vn/viec-xac-dinh-cha-me-con-trong-truong-hop-sinh-con-bang-ky-
thuat-ho-tro-sinh-san-theo-luat-hon-nhan-va-gia-dinh/#Xac_dinh_cha_me_con_trong_truong_hop_nguoi_vo_trong_cap_vo_chong_ vo_sinh_va_nguoi_phu_nu_doc_than_sinh_con_bang_ky_thuat_ho_tro_sinh_san Dàn bài:
I. Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
2. Khái niệm xác định cha, mẹ, con
II. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Thụ tinh nhân tạo
2. Thụ tinh trong ống nghiệm
III. Điều kiện áp dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản
1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
2. Đối với phụ nữ độc thân
3. Người gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng
IV. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng
vô sinh và người phụ nữ đơn thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
1.2. Đối với người phụ nữ độc thân
2. Xác định cha, mẹ trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Trang 22.1 Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng
2.2 Xác định cha, mẹ, con … với tinh trùng của người hiến
V. Thực trạng ……
1. Thực trạng xã hội
2. Những điểm tích cực
3. Những hạn chế
Trang 3MỞ ĐẦU
Hiện nay, xã hội phát triển về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ, y
tế, …mang đến những thay đổi tích cực Tuy nhiên, sự phát triển với tốc độ nhanh chóng như vậy cũng đem đến nhiều vấn đề tiêu cực, khó khắc phục Trong đó, có vấn đề vô sinh trong sức khỏe sinh sản hiện nay Thực tế cho thấy hiện nay tại Việt Nam tỉ lệ vô sinh chiếm khoảng 8% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản Như vậy ở nước ta có đến hàng triệu cặp vợ chồng có nhu cầu sinh con nhưng vẫn chưa thể thực hiện được mơ ước của mình Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời, đặc biệt
là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, thực sự đã mang lại hạnh phúc lớn lao cho biết bao cặp vợ chồng Theo đó, vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đang ngày càng phổ biến và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, việc xác định cha, mẹ, con cũng có những nét đặc trưng riêng Từ những lý do trên em xin chọn vấn đề
này để nghiên cứu: “Đánh giá việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trơ sinh sản theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”.
NỘI DUNG
I. Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Theo Khoản 21, Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đưa ra định nghĩa về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như sau: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm” Trong y học và pháp luật quy định có hai kỹ thuật được áp dụng trong hỗ trợ sinh sản là: thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm Có thể thấy, thông qua việc sử dụng phương pháp liệt kê, quy định này chưa làm rõ được thế nào là
“sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” cũng như không thể hiện được đặc trưng của phương pháp này, đồng thời có thể dẫn đến những thiếu sót trong tương lai Dưới góc độ pháp lý, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có thể được định nghĩa như sau: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con có sự can thiệp của các kỹ thuật y sinh học công nghệ cao trong trường hợp quá trình mang thai tự nhiên của con người bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau, được
Trang 4tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật nhằmg đảm bảo việc thực hiện các quyền và nghĩa của các chủ thể
2. Khái niệm xác định cha, mẹ, con
Khái niệm xác định cha, mẹ cho con theo từ điển Luật học được hiểu là: “Định
rõ một người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định của pháp luật”, ngoài ra còn có khái niệm xác định con cho cha, mẹ là: “Định rõ một người là con của cha hoặc của mẹ trên cơ sở các quy định của pháp luật”
II. Một số kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1. Thụ tinh nhân tạo (IUI)
Với sự phát triển của xã hội hiện nay, thụ tinh nhân tạo đang là một trong những vấn đề nóng bỏng về sức khỏe sinh sản nhận được sự quan tâm đặc biệt của
xã hội Có thể thấy, thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh, hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng Phương pháp này sử dụng các
kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các
cơ sở y tế chuyên khoa
Dưới góc độ y học, thụ tinh nhân tạo được hiểu là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, thụ tinh nhân tạo hay còn gọi là bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn
2. Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
Theo khoản 1, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì: “Thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”
Trang 5Hay có thể hiểu, đây là phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng ở bên ngoài cơ thể và được thụ tinh trong ống nghiệm Đây là phương pháp điều trị hiếm muộn được áp dụng sau khi đã sử dụng phương pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thất bại do một số lý do sau: Tắc nghẽn ống dẫn trứng, lạc nội mạc tử cung, tinh trùng ít, yếu, dị dạng, trứng không đủ chất lượng, …Đây cũng là một trong những biện pháp được nhiều cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, phụ nữ độc thân lựa chọn và mang lại hiệu quả tương đối cao Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ-kĩ thuật tiên tiến, tỷ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm đã được cải thiện và nâng cao so với trước đây
III.Điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định: “Cặp vợ chồng vô sinh
và phụ nữ đọc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa” Như vậy, ta thấy pháp luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong các trường hợp sau đây:
1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Theo khoản 2, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì: “Vô sinh là tình trạng
vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai” Các nguyên nhân dẫn đến vô sinh có thể xuất phát từ người đàn ông và cũng có thể xuất phát từ người phụ nữ Vô sinh có thể là nguyên phát, nếu trong tiền sử họ chưa có thai lần nào hoặc là thứ phát nếu trong tiền sử họ đã có ít nhất một lần mang thai, sanh sẩy hoặc phá thai kế hoạch, rồi quá thời hạn một năm sau đó muốn có thai mà vẫn không có thai trở lại Theo Bộ Y tế, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 7,7% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản, tương đương với hơn 1 triệu cặp vợ chồng gặp phải các vấn đề vô sinh, hiếm muộn, trong đó, 40% là do nam giới, 40% là do nữ giới còn lại chưa rõ nguyên nhân1 Đồng thời, nó còn là vấn đề cấp thiết cho ngành y tế
1 http://www.baomoi.com/1-trieu-cap-vo-chong-viet-gap-vo-sinh-hiem-muon/c/c22921588.epi
Trang 6và toàn xã hội Để cải thiện vấn đề vô sinh, hiếm muộn Chính phủ Việt Nam đã đưa
ra Nghị định số 10/ 2015/NĐ-CP về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Nghị định ra đời không chỉ mang lại niềm vui cho những người bị vô sinh, hiếm muộn mà còn là hành lang pháp lý quan trọng cho giới chuyên môn và cho những người muốn điều trị vô sinh
2. Đối với phụ nữ độc thân
Khoản 6, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định: “Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật” Tức là, tại thời điểm đó, người phụ nữ đang không có quan hệ hôn nhân với bất kỳ ai Mặc
dù không muốn bị ràng buộc bởi hôn nhân nhưng họ vẫn muốn có một đứa con để yêu thương, chăm sóc, đó cũng là một trong những lý do dẫn đến người phụ nữ lựa chọn phương pháp này Cuộc sống công nghiệp hiện đại cùng nhịp sống hối hả không những cuốn hút phái nam mà cả phái nữ Càng ngày càng có nhiều phụ nữ độc thân lựa chọn biện pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thường nằm
ở đối tượng phụ nữ thành đạt
3. Người gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngân hàng tinh trùng lưu giữ tinh trùng trong các trường hợp sau:
3.1. Người tình nguyện hiến tinh trùng
Tại Điều 4, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và khoản 1 Điều 6 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, có quy định về việc hiến tinh trùng Mà theo đó “Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo theo quy định của pháp luật” Với quy định này
Trang 7người hiến tinh trùng phải là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì có quyền thể hiện ý chí trong việc hiến tinh trùng
Ngoài ra, người hiến tinh trùng phải là người không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau Hơn nữa, người hiến tinh trùng không bị nhiễm HIV.Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người mẹ và trẻ em
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định việc hiến tinh trùng là hoàn toàn tự nguyện và tinh trùng của người hiến chỉ được sử dụng cho một người và được hiến tại một cơ sở duy nhất Người hiến tinh trùng được đảm bảo giữ bí mật những thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, hình ảnh của mình
3.2. Cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh
Việc gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi được thực hiện trong các trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP: Cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh
Về điều kiện kết hôn, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên” Theo quy định này, độ tuổi tối thiểu khi người chồng trong cặp vợ chồng lưu giữ tinh trùng phải trên 20 tuổi Đây là độ tuổi theo quy định tại BLDS năm 2015 có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Vậy người chồng trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến việc lưu giữ tinh trùng, xử lý tinh trùng khi họ không có nhu cầu lưu giữ
3.3. Người có nguyện vọng lưu giữ cá nhân
Người có nguyện vọng lưu giữ tinh trùng cá nhân là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của mình hoặc vì lợi ích của chủ thể khác và có nghĩa vụ thực hiện các giao dịch mà mình xác lập Như vậy, người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì có quyền lưu giữ tinh trùng của mình
IV. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học chúng ta căn cứ vào Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 Do đặc thù của phương pháp sinh con khoa học mà việc xác định cha, mẹ, con có nhiều điểm khác với việc
Trang 8xác định cha, mẹ, con theo quá trình sinh con tự nhiên Do vậy, có thể dựa vào những căn cứ sau để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học:
1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh
và người phụ nữ đơn thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
- Trường hợp con sinh ra trong giá thú:
Con trong giá thú là con mà cha mẹ là vợ chồng trước pháp luật Như vậy đứa con sinh ra bằng phương pháp khoa học trong thời kì hôn nhân cũng được xác định là con trong giá thú.Căn cứ vào khoản 1, Điều 93 Luật HN&GĐ 2014 con được sinh ra theo phương pháp khoa học sẽ có cha là người chồng trong cặp vợ chồng trong cặp vợ chồng vô sinh Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 88 về xác định cha, mẹ, con cho đứa con trong giá thú
Thông thường khi nam nữ kết hôn với nhau, trở thành vợ chồng, trong thời kì hôn nhân mà người vợ sinh con thì con đó mặc nhiên được coi là con chung của hai vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán2 Trong trường hợp đặc biệt, con được sinh
ra theo phương pháp khoa học những vấn trong thời kì hôn nhân thì căn cứ vào Điều 88, đứa trẻ vẫn được xác định là “con chung” của vợ chồng tương tự như đứa con huyết thống
Cũng theo nguyên tắc đó, con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chất dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của khoản 1 Điều 88 Luật HN&GĐ 2014 Cùng với đó trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ kỹ thuật hỗ trợ kỹ thuật sinh sản Và với nguyên tắc tự nguyện, người
vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp
kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người
2 Quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ 2014;
Trang 9khác Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người cho tinh trùng
- Trường hợp con sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng không được cha thừa nhận: Theo Khoản 2 Điều 88 Luật HN&GĐ 2014, khi người cha nghi ngờ đứa trẻ không phải con mình thì có quyền yêu cầu giám định về gen để chứng minh đứa trẻ và mình không có cùng huyết thống
Thế nhưng với trường hợp đứa con được sinh ra theo phương pháp hỗ trợ sinh sản thì quan hệ cha, mẹ, và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, trong trường hợp cặp vợ chồng vô sinh, người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà
họ không được quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình Bởi vì khi làm đơn yêu cầu thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản, cả hai vợ chồng đều phải thể hiện ý chí đồng thuận đồng nghĩa với việc người chồng thừa nhận mình là người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh; do đó mối quan hệ cha, con với đứa trẻ được mặc nhiên thiết lập
- Trường hợp người vợ thụ tinh trong thời kì hôn nhân nhưng sinh con khi hôn nhân kết thúc:
Trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa học lại vướng phải một rào cản pháp lý, ảnh hưởng đến việc xác định mối quan hệ cha – con của đứa trẻ sau này Khoản 2 Điều 21 Nghị định 10/2015 quy định: “Trường hợp người gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi bị chết mà cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi nhận được thông báo kèm theo bản sao giấy khai tử hợp pháp từ phía gia đình người gửi, thì phải hủy số tinh trùng, noãn, phôi của người đó, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người đó có đơn đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản” Vậy nếu trong trường hợp số tinh trùng của người chồng đã được sử dụng không thể hủy mà người chồng chết, và do đặc thù của phương pháp sinh con khoa học nên thời gian từ lúc thực hiện kĩ thuật đến thời điểm có thể thụ tinh và sinh con có thể kéo dài hơn thời hạn 300 ngày, thì quan điểm của em cho rằng người cha đã chết vẫn được xác định là cha của đứa trẻ, bởi vì trước đó hai vợ chồng đã thể
Trang 10hiện ý chí mong muốn được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, hơn nữa giúp người
đã chết vẫn có cơ hội được sinh con
Như vậy, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản đối với cặp vợ chồng vô sinh thực tế vẫn còn nhiều tranh cãi Vấn đề này cần được Nhà nước quan tâm và giải quyết triệt để nhằm đảm bảo quyền lợi của người mẹ và đứa trẻ sinh ra bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản Điều 93 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như sau: "1 Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này" Đối chiều với quy định tại Điều 88, Luật HN&GÐ năm 2014: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhấn là con chung của v`8ợ chồng Con được sinh ra trong thời hạn
300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân Con khi sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha
mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng"
Vì vậy, căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh để xác định cha,
mẹ, con Bởi vậy mà trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhân là con chung sẽ không được áp dung đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản Và với nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phối của người khác Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người cho tinh trùng
1.2. Đối với người phụ nữ độc thân
Với lối sống hiện đại, độc lập về kinh tế, ưa thích cuộc sống tự do, không muốn ràng buộc với một người đàn ông, một số cô gái trẻ hiện nay đã quyết định thoả nỗi khát khao làm mẹ mà không cần đến chồng, họ đã tìm đến biện pháp có con băng phương pháp khoa học Các nhà xã hội học nhận định, đây là một hiện tượng của xã hội hiện đại Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con theo