1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

điểm mới luật hôn nhân gia đình

16 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 104,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước bảo hộ hôn nhân, đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng mà bằng pháp luật, nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn vì trong quan hệ hôn nhân, không chỉ có lợi ích riêng của hai vợ chồng mà còn có lợi ích của các thành viên khác trong gia đình, lợi ích của nhà nước và xã hội. Vì vậy. thông qua pháp luật, nhà nước chỉ giải quyết ly hôn khi có đủ những căn cứ theo quy định của pháp luật. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã kế thừa và phát triển những quy định về ly hôn của các văn bản pháp luật trước đây, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực đã giải quyết được rất nhiều những quan hệ mới phát sinh trong thực tiễn hiện nay. Trong đó, căn cứ ly hôn là một trong những chế định được quy định cụ thể và có nhiều điểm khác biệt so với luật cũ. Bài viết dưới đây sẽ đi sâu phân tích về đề tài: Điểm mới về căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để làm rõ nhận định trên.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I Căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 3

1 Nội dung căn cứ ly hôn 3

2 Các trường hợp ly hôn 5

2.1.Thuận tình ly hôn 5

2.2.Ly hôn theo yêu cầu của một bên 6

II Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ ly hôn 7 III Thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các vụ việc ly hôn 10

1 Những hạn chế, bất cập 10

2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn 12

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nhà nước bảo hộ hôn nhân, đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có nghĩa là giải quyết ly hôn tuỳ tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng mà bằng pháp luật, nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn vì trong quan hệ hôn nhân, không chỉ có lợi ích riêng của hai vợ chồng mà còn có lợi ích của các thành viên khác trong gia đình, lợi ích của nhà nước và xã hội Vì vậy thông qua pháp luật, nhà nước chỉ giải quyết ly hôn khi có đủ những căn cứ theo quy định của pháp luật Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã kế thừa và phát triển những quy định về ly hôn của các văn bản pháp luật trước đây, tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực đã giải quyết được rất nhiều những quan hệ mới phát sinh trong thực tiễn hiện nay Trong đó, căn cứ ly hôn là một trong những chế định được quy định cụ thể và có nhiều điểm khác biệt so với luật cũ Bài viết dưới đây sẽ đi sâu phân tích về đề tài: " Điểm mới về căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" để làm

rõ nhận định trên

Trang 3

NỘI DUNG

I Căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

1 Nội dung căn cứ ly hôn

Điều 89, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định:

“1 Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

Khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Toà án phải tiến hành điều tra và hoà giải, nếu hoà giải không thành thì Toà án cần xác định tình trạng của quan hệ hôn nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết Việc giải quyết ly hôn cần phải chính xác Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình Ngược lại, nếu việc giải quyết không chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh phúc gia đình, phá huỷ một cuộc hôn nhân còn có thể cứu vãn được và gây

ra hậu quả không đáng có Mặt khác, giải quyết ly hôn cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ thể

Để có một đánh giá chính xác về tình trạng quan hệ vợ chồng, Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã nêu rõ: được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, như : Người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hoà giải nhiều lần

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như : Thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy

Trang 4

tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau, như : Có quan hệ ngoại tình, đã được người chồng hoặc người vợ hay bà con thân thích của họ, hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có hành vi ngoại tình (Mục 8, điểm a.1, Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000)

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 của Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Trên thực tế cho thấy, nếu đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục có quan hệ sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm nhau thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được (Mục 8, điểm a.2, Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000)

Ngoài ra, mục đích của hôn nhân không đạt được theo Mục 8, điểm a.3, Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000 là không có tình nghĩa vợ chồng, không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt Con người tiến tới hôn nhân với mục đích mong muốn có được một cuộc sống hạnh phúc Do vậy, khi mục đích hôn nhân “không đạt được” thì quan hệ hôn nhân thường có tác động ngược lại Khi đó chấm dứt hôn nhân được giải quyết bằng việc ly hôn

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 89 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn” (khoản 2, Điều 78, Bộ luật dân sự năm 2005 ) Như vậy, quyết định tuyên bố mất tích của Toà án được coi là căn

cứ ly hôn nếu người vợ hoặc chồng của người bị mất tích yêu cầu được ly hôn Quy định này hoàn toàn phù hợp với mục đích của hôn nhân Nếu một trong hai

Trang 5

vợ chồng bị tuyên bố mất tích có nghĩa là họ đã biệt tích 2 năm không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết Chính sự vắng mặt đó của một trong hai vợ chồng đã làm cho quan hệ hôn nhân của họ tồn tại chỉ là hình thức Giải quyết ly hôn trong trường hợp này nhằm bảo vệ quyền cho người vợ hoặc người chồng ở nhà về các lợi ích nhân thân và lợi ích tài sản, đồng thời cũng nhằm củng cố mối quan hệ gia đình

2 Các trường hợp ly hôn

2.1.Thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng

Theo Điều 90 luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và các con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định”

Việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn phải được tiến hành ở Toà án nhân dân, pháp luật quy định việc thuận tình ly hôn là công nhận và đảm bảo quyền tự

do ly hôn chính đáng của hai bên vợ chồng

Giải quyết ly hôn trong trường hợp hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình

ly hôn, cần lưu ý rằng sự tự nguyện của hai vợ chồng không phải là căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân mà sự tự nguyện của hai vợ chồng yêu cầu chấm dứt hôn nhân chỉ là cơ sở để Toà án xét xử Cho nên, dù hai vợ chồng đã thuận tình ly hôn, việc xét xử vẫn phải theo đúng bản chất của sự việc, tức là phải dựa trên căn cứ ly hôn theo luật định Có như vậy mới đảm bảo được lợi ích của vợ chồng, con cái và lợi ích của xã hội

Trang 6

2.2.Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Ly hôn theo yêu cầu của một bên (của một bên vợ hoặc một bên chồng)

là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân

Điều 91, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi một bên

vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét, giải quyết ly hôn”.

Về nguyên tắc, Toà án chỉ xét xử ly hôn nếu xét thấy quan hệ vợ chồng

đã ở vào “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Như vậy, giải quyết ly hôn trong cả hai trường hợp

vợ chồng thuận tình ly hôn hoặc do một bên vợ hoặc một bên chồng yêu cầu ly hôn đều giống nhau về bản chất Bản án và quyết định ly hôn của Toà án đều là việc Toà án xác nhận một cuộc hôn nhân đã “chết”, không thể tồn tại được nữa Trong trường hợp một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn thì chỉ có một bên vợ, chồng tự nguyện và nhận thức được quan hệ hôn nhân đã tan vỡ, còn bên kia -người chồng, vợ không muốn ly hôn vì không nhận thức được mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng hoặc có thể nhận thức được nhưng lại xin đoàn tụ vì động

cơ nào đó

Về trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng, Nghị quyết

số 02/2000/NQ/HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn tại mục 10 như sau :

Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toà án phải tiến hành hoà giải Nếu hoà giải đoàn tụ không thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án

Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành Sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện kiểm sát không phản đối thì Toà án quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay

Trang 7

và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền

kháng nghị theo trình tự phúc thẩm (Mục 10, điểm a, Nghị quyết số

02/2000/NQ/HĐTP ngày 23/12/2000)

Trong trường hợp hoà giải đoàn tụ không thành thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên Toà xét xử vụ án ly

hôn theo thủ tục chung (Mục 10, điểm b, Nghị quyết số 02/2000/NQ/HĐTP

ngày 23/12/2000)

Đối với trường hợp người vợ, chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích có yêu cầu ly hôn, theo mục 8, điểm b Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

Theo quy định tại khoản 2, Điều 89: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mắt tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn

Thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

- Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn Trong trường hợp này, nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho

ly hôn, nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng

- Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó Trong trường hợp này, Toà án giải quyết cho ly hôn

II Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ ly hôn.

Ly hôn ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến lợi ích của vợ chồng, của các con và lợi ích của xã hội Vì vậy, khi giải quyết ly hôn

Trang 8

Toà án phải thận trọng để có quyết định đúng đắn Tuy nhiên, các căn cứ ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 như đã trình bày ở trên nhìn chung còn dàn trải và mang tính chất chung chung, chưa dự liệu được những tình huống phát sinh trên thực tế, nặng về ý kiến chủ quan của Tòa án khi giải quyết việc ly hôn, dẫn đến không bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các đương sự khi giải quyết ly hôn Để khắc phục những điểm bất cập, hạn chế trong quy định về căn cứ ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những thay đổi, bổ sung phù hợp

Về cơ bản, nội dung căn cứ ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn kế thừa trên cơ sở những quy định của luật cũ Tuy nhiên đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên có những điểm mới, cụ thể:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

“1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Thứ nhất, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung điểm mới khi

cho ly hôn khi có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng Như vậy, luật hiện hành quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giải quyết cho ly hôn Bởi qua tổng kết thực tiễn giải quyết các án kiện ly hôn của Toà án cho thấy số vụ ly hôn có hành vi ngược đãi, đánh

Trang 9

đập chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nguyên nhân dẫn đến ly hôn ở nước ta trong

đó thì đa phần phụ nữ là nạn nhân của tình trạng này Tình trạng bạo lực trong gia đình ngày càng gia tăng và thể hiện tính chất nghiêm trọng của nó Tình trạng bạo lực trong gia đình xảy ra do nhiều lý do khác nhau Có trường hợp do cuộc sống vật chất quá khó khăn Có trường hợp do ghen tuông, nghi ngờ một bên ngoại tình nên đã đánh đập nhau Tệ cờ bạc, nghiện ngập cũng là lý do dẫn đến tình trạng vợ chồng đánh đập, ngược đãi nhau Đa phần bạo lực trong gia đình dẫn đến tình trạng vợ chồng ly hôn, có trường hợp dẫn đến án mạng Bên cạnh đó, đối với những vi phạm khác, những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng trong đời sống vợ chồng là lý do để ly hôn thì luật cũng quy định rõ ràng phải

có cơ sở nhận định chung rằng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì mới giải quyết cho ly hôn

Như vậy, rõ ràng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa yếu tố lỗi

để xem xét cho ly hôn, qua đó thể hiện sự tiếp thu quy định của một số nước trên thế giới khi có sự kết hợp giữa thực trạng của hôn nhân và yếu tố lỗi để giải quyết việc ly hôn Đây là một quy định rất tiến bộ mang ý nghĩa quan trọng nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong tiến trình hội nhập quốc tế Điều này cũng đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của một bên và đồng thời tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết việc ly hôn trong cả nước

Thứ hai, theo quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì có thể

xin ly hôn thay cho người thân và luật cũng quy định cụ thể về lý do xin ly hôn, trong đó bạo lực gia đình là một lý do, căn cứ để người chồng hoặc người vợ có quyền yêu cầu tòa án cho ly hôn Cụ thể tại Khoản 2, Điều 51 trong Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau: 2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây

ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Trang 10

Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì kể từ nay, căn cứ để cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ

Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường hợp mong muốn xin ly hôn thay cho người thân bị mất năng lực hành vi mà không được do trước đây chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để xin ly hôn Chính điều này đã dẫn tới thực trạng có rất nhiều trường hợp vợ hoặc chồng muốn ly hôn nhưng lại Tòa án không thể tiến hành giải quyết được, có nhiều vụ việc kéo dài trong rất nhiều năm với nguyên nhân duy nhất là

do người vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự

Ngoài ra, trong Luật HNGĐ năm 2014 còn quy định cụ thể thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân là ngày Bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm của Tòa án phải gửi bản án, quyết định ly hôn

đã có hiệu lực pháp luật cho các tổ chức, cá nhân có liên quan

III Thực trạng áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết các vụ việc ly hôn.

1 Những hạn chế, bất cập.

Nhìn chung, căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đang là một chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm từ dư luận xã hội Các căn

cứ ly hôn này đã góp phần giải quyết tốt nhiều án ly hôn, giải phóng cho nhiều cuộc hôn nhân thoát khỏi những bế tắc Để từ đó, ly hôn không chỉ đơn thuần là làm tan rã những mối quan hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên

hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh Tuy nhiên theo quan điểm cá nhân thì quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ ly hôn còn những tồn tại sau:

Ngày đăng: 03/08/2018, 01:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w