1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành - môn xã hội học gia đình

13 667 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 155,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình sau đây viết tắt là HN&GĐ, nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng, đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA XÃ HỘI HỌC

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

Môn: Xã hội học gia đình

Đề bài : Hãy chọn một vấn đề thuộc lĩnh vực của xã hội học gia đình để phân tích.

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đặng Kỳ Duyên

Mã số sinh viên: 10030119

Hà Nội – 2012

Trang 2

MỤC LỤC

I Lý do chọn đề tài

II Lý thuyết áp dụng

1 Lý thuyết hành động xã hội M.Weber

2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lí G.Homans

III Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1 Tình hình nghiên cứu hiện nay

2 Điểm mới của đề tài

IV Nội dung nghiên cứu

1 Khái quát chung về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc phân chia tài sản.

2 Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản

3 Vướng mắc và khuyến nghị khi phân chia tài sản giữa vợ

và chồng

V Kết luận

I Lý do chọn đề tài

Trang 3

Gia đình là một tế bào của xã hội, là một tổ chức thu nhỏ nhất của xã hội,nơi có nhiều thế hệ cùng chung sống với nhau, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình

sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và giáo dục Trong đó quan hệ hôn nhân là cơ sở chính,cơ sở chủ yếu để hình thành gia đình

Nhận định được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Biểu hiện ở việc nước

ta đã ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam là một trong những quốc gia luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và coi đó chính là mục tiêu mang tính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nói chung và quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình nói riêng Đặc biệt là sự bình đẳng giữa vợ và chồng Chính vì vậy, trong các văn kiện của Đảng và trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng luôn được quan tâm sâu sắc

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (sau đây viết tắt là HN&GĐ), nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng, đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa

vợ chồng đã được đề cập khá cụ thể và chi tiết trong các quy định của pháp luật và ngày càng có xu hướng hoàn thiện hơn Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước

và của toàn xã hội đến vấn đề này đồng thời góp phần vào mục tiêu chung là bình đẳng giới của toàn thế giới Song các quy định đó vẫn còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện trong từng trường hợp cụ thể khi chia tài sản của vợ chồng dẫn đến việc chia tài sản còn nhiều sai sót và chưa đảm bảo quyền bình đẳng cho các bên

Hơn thế nữa, trong điều kiện kinh tế đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay, khi khối lượng tài sản của công dân tăng lên, nhu cầu riêng cũng nhiều hơn, ý thức, tâm lý tài sản riêng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, nghề nghiệp, sinh hoạt cá nhân được chủ động hình thành và phù hợp với tâm lý dân tộc, mong muốn tạo lập cho mình một khoản tài sản độc lập không bị phụ thuộc bất cứ ai kể cả giữa vợ và chồng cùng với tình trạng ly hôn ngày một gia tăng thì việc chia tài sản giữa vợ chồng là một yêu cầu hợp lý Và vấn đề phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng là một nhiệm vụ cần thực hiện

Trước tình hình thực tế về chia tài sản giữa vợ chồng trong những năm qua mặc dù

đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi cho cả đôi bên thì còn có không ít những trường hợp xảy ra mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ chồng sau khi chia tài sản Một điều dễ thấy trong các vụ án về chia tài sản giữa vợ chồng, người vợ thường là người phải chịu thiệt thòi hơn Đó là do phong tục tập

Trang 4

quán và tư tưởng lạc hậu luôn bảo vệ quyền lợi của người chồng vốn dĩ đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi tầng lớp trong xã hội Người phụ nữ còn có thái độ tự ti an phận không muốn tự đòi quyền lợi cho mình Bên cạnh đó là công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưa sâu rộng dẫn đến sự hiểu biết về pháp luật còn quá ít Chính vì thế vẫn tồn tại sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản

Tuân thủ và thực hiện nguyên tắc quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng là yêu cầu bắt buộc với tất cả các cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân trong xã hội Làm được điều đó sẽ góp phần xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu đồng thời củng cố và xây dựng chế độ HN&GĐ Xã Hội chủ nghĩa đặc biệt là bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ, giải phóng họ khỏi thân phận lệ thuộc và bất bình đẳng trong gia đình cũng như trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Nghiên cứu về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là việc làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa Xuất phát từ lý do đó tôi chọn đề tài “Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân gia đình hiện hành” để nghiên cứu

II Lý thuyết áp dụng

1 Lý thuyết hành động xã hội- M.Weber

Con người hành động là do yếu tố chủ quan do con người có nhu cầu phải làm-nhu cầu dẫn đến hành động Song môi trường hoàn cảnh cũng tác động dẫn đến hành động của con người

Qua nghiên cứu của Max-Weber- Nhà xã hội học nổi tiếng về hành động xã hội, người nghiên cứu có thể kiểm tra những suy nghĩ của mình với đối tượng Ông đã phân biệt 4 loại hành động như sau:

- Hành động hợp lý: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc tính toán

kỹ lưỡng lựa chọn phương tiện công cụ, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất

- Hành động hợp lý: là hành động được thực hiện nhờ bản thân hành động

- Hành động duy cảm: là hành động theo trạng thái cảm xúc bột phát gây ra

mà không có sự cân nhắc tính toán trước khi hành động

- Hành động truyền thống: là hành động tuân thủ theo thói quen, nghi lễ, phong tục tập quán được truyền từ đời này sang đời khác

Với lý thuyết này sẽ giúp cho đề tài đưa ra những giả thuyết, chứng minh, giải thích được hành động ly hôn của các cặp vợ chồng từ đó dẫn đến việc phân chia tài sản cho các bên

2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý – George Homans

Trang 5

George Homans cho rằng cách lý giải hợp lý nhất đối với hiện tượng xã hội là cách giải thích tâm lý học và các nguyên lý tâm lý học phải là những nguyên lý gốc của các khoa học xã hội trong đó có xã hội học

Hành vi xã hội sơ đẳng là hành vi mà con người lặp đi, lặp lại không phụ thuộc vào việc nó có được hoạch định hay không, diễn ra dưới nhiều hình thức từ phản xạ có điều kiện đến kỹ năng, kỹ xảo đến thói quen Hành vi xã hội học sơ đẳng là cơ sở của sự trao đổi xã hội giữa hai hay nhiều người.Homans chỉ ra ba đặc trưng cơ bản của hành vi

xã hội

Một là: Hiện thực hóa hành vi phải được thực hiện trên thực tế chứ không phải trong ý niệm

Hai là: Hành vi có được khen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác

Ba là: Người khác ở đây phải là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải là nhân vật trung gian của cấu trúc khoa học nào đó

Homans cho rằng: “Mô hình lựa chọn duy lý” của hành vi người tương thích một phần nào đó với các định đề của tâm lý học hành vi Sự trao đổi xã hội và mối quan hệ giữa các cá nhân thực chất là sự trao đổi lặp đi, lặp lại giữa họ với nhau

Bên cạnh đó lý thuyết này còn lí giải vì sao cá nhân lại chọn hành động này mà không chọn hành động khác Cá nhân luôn có xu hướng lựa chọn con đường phù hợp nhất với mình sao cho chi phí thấp nhất nhưng luôn gắn liền với phần thưởng Trong quá trình lựa chọn việc ly hôn để phân chia tài sản thì cả 2 bên đã nhận thức được đầy đủ và

rõ nhất về hành động của mình Sự bình đẳng là lựa chọn hàng đầu của việc phân chia

III Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1 Tình hình nghiên cứu hiện nay

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã có nhiều bài viết về tài sản vợ chồng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân… đề cập đến những khía cạnh khác nhau của tài sản vợ chồng:

Ví như “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình 2000” (Nguyễn Văn

Cừ, Tạp chí Luật học số 4/2000 Tr 3); “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” (Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học số 6/2002)… Ngoài ra cũng đã có những khóa luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu

về vấn đề tài sản vợ chồng như luận văn tốt nghiệp cao học luật khóa I của Thạc sĩ Hoàng Ngọc Huyên với nội dung “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình” và gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005 Đây thực sự là những công trình có giá trị về khoa học và thực tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu tập trung đi vào phân tích những khía cạnh chế độ

Trang 6

tài sản của vợ chồng theo luật HN&GĐ hiện hành chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ bình đẳng giới Chính vì vậy vấn đề “Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành” mặc dù đã được nghiên cứu và trình bày trong giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội và trong các giáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta, nhưng việc trình bày đó chỉ dừng lại ở một số vấn đề mang tính nguyên tắc mà không đi sâu vào giải quyết toàn diện vấn đề liên quan, đặc biệt là dưới khía cạnh bình đẳng giới

2 Điểm mới của đề tài nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là làm rõ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong các trường hợp chia tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam và đưa

ra những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo cho quyền bình đẳng đó được triệt để tuân thủ trong thực tế Đó là những điểm mới mà các đề tài nghiên cứu trước còn chưa hoàn thiện được

IV Nội dung nghiên cứu

1 Khái quát chung về quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc phân chia tài sản.

1.1 Khái niệm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng

Hệ thống pháp luật dưới chế độ phong kiến ở Việt Nam thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng Quan niệm của xã hội phong kiến cho rằng: Người phụ nữ khi đã lấy chống là thuộc hẳn về gia đình nhà chồng sống gửi thịt, chết gửi xương, thuyền theo lái, gái theo chồng, phu xướng, phụ tuỳ Tư tưởng trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến đã khiến cho người vợ lệ thuộc người chồng về mọi mặt trong quan hệ nhân thân và tài sản

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, pháp luật của Nhà nước đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ Hiến pháp và Luật Hôn nhân gia đình của Nhà nước ta đã quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó nguyên tắc vợ chồng bình đẳng luôn được khẳng định là một trong các nguyên tắc cơ bản

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tài sản chung của

vợ chồng bao gồm những tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác

mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng còn (có thể) gồm tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng

Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt ngang nhau đối với tài sản chung

Trang 7

Căn cứ để xác lập tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng dựa trên cơ

sở hôn nhân Kể từ khi kết hôn, trong suốt thời kỳ hôn nhân, toàn bộ những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Quyền bình đẳng giữa vợ

và chồng đối với tài sản chung thể hiện ở việc: tài sản chung đó không nhất thiết phải do

cả hai vợ chồng cùng tạo ra một cách trực tiếp mà có thể do một bên vợ hoặc chồng tạo ra

và cũng không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên Điều này xuất phát từ tính chất đặc biệt của quan hệ vợ chồng, được gắn kết bởi mối quan hệ tình cảm gia đình, vợ chồng cùng chung sức chung lòng để tạo dựng khối tài sản chung, cùng có trách nhiệm

và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dạy con cái Vợ chồng tuy hai mà một, vì vậy, công sức tạo dựng tài sản của người chồng đã hàm chứa cả công sức của người vợ và ngược lại

Thực tế, do điều kiện sức khoẻ, nghề nghiệp, công việc của mỗi bên khác nhau, thu nhập có sự chênh lệch, dẫn đến công sức đóng góp thực tế cho việc tạo dựng tài sản chung của vợ chồng khác nhau, thậm chí một bên vợ chồng không có thu nhập do đau yếu, tật nguyền, không có khả năng lao động để tạo thu nhập hoặc chỉ làm công việc nội trợ gia đình Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bên có thu nhập thấp hơn lại không có quyền sở hữu bình đẳng hoặc phụ thuộc vào bên có thu nhập cao hơn Luật Hôn nhân và gia đình luôn xác định nguyên tắc: trong thời kỳ hôn nhân, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của hai vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng Trong trường hợp đặc biệt chia tài sản chung của vợ chồng (khi ly hôn, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, và khi vợ chồng có yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân) đều áp dụng nguyên tắc chia đôi tài sản chung Vợ chồng hoàn toàn được bình đẳng về giá trị tài sản được chia trong khối tài sản chung, không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên

Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung còn thể hiện: việc xác lập, thực hiện và chất dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn; tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận (trừ tài sản đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng) Ví dụ: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản, có chữ ký của cả

vợ chồng Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng

1.2 Khái niệm chia tài sản của vợ chồng

Chia tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật

do Nhà nước ban hành quy định về nguyên tắc phân chia, căn cứ phân chia, phương thức phân chia cũng như hậu quả pháp lư của việc chia tài sản vợ chồng nhằm đảm bảo nhu cầu và lợi ích chính đáng của các bên vợ chồng

Trang 8

Chia tài sản của vợ chồng được xác định trong các trường hợp: Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; Chia tài sản khi ly hôn; Chia tài sản khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Ṭa án tuyên bố là đă chết Ngoài ra luật c ̣n quy định mét số trường hợp chia tài sản đặc biệt nhằm thỏa măn yêu cầu và phù hợp với thực tế cuộc sống khi giải quyết các

vụ án liên quan đến vấn đề chia tài sản có sự tham gia của vợ, chồng

2 Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ vợ chồng như: giải quyết tranh chấp tài sản, giải quyết ly hôn… Một trong những nguyên tắc hoạt động của Toà án nhân dân là độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, nên khi giải quyết các đơn kiện về HN&GĐ thì Toà án phải xét xử trên cơ sở các quy định của Luật HN&GĐ VD: Luật HN&GĐ năm 2000 dựa trên nguyên tắc vợ chồng bình đẳng đă quy định ra nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Hơn nữa đây cũng là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyết tranh chấp về HN&GĐ được khách quan, thống nhất, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các bên

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản trong gia đình Họ được hưởng những quyền ngang nhau, thực hiện nghĩa vụ như nhau về tài sản Đó là các quyền mà họ được Nhà nước trao cho và bảo đảm thực hiện

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản là cơ sở để ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi của người phụ nữ nhằm đảm bảo tính khả thi các quyền của phụ nữ được thực hiện trên thực tế đời sống, làm ổn định quan hệ HN&GĐ Đó chính là cơ sở để đảm bảo một gia đình dân chủ, ḥoà thuận và hạnh phúc

Quy định về quyền bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng góp phần thúc đẩy quá tŕnh xă hội hóa theo xu hướng bình đẳng thực sự từ trong gia đình đến cả xã hội, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trên toàn thế giới

Từ thực tế cuộc sống cho thấy, do bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng lạc hậu, phong kiến nên vẫn tồn tại trong xă hội sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng Sự bất bình đẳng ấy đă đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệ thuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của ḿnh Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản được khẳng định và thể hiện là một nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của người vợ, đẩy lùi tư tưởng lạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xă hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bình đẳng ở nước ta

Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xă hội đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề tài sản của

Trang 9

vợ chồng Đó là, khi họ muốn kinh doanh riêng cần phải sử dụng một phần tài sản chung

mà không muốn ly hôn hay vì một lý do nào khác thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản giữa vợ chồng là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn

Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản là một trong những cơ

sở góp phần triển khai các chương trình bình đẳng về giới, tránh bạo lực trong gia đình như: Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam đă phát động phong trào “Vỡ sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, “Vỡ sự tiến bộ của phụ nữ” Tất cả những ý nghĩa xă hội đó đều hướng tới sự bình đẳng giữa vợ chồng, sự bình đẳng trong xã hội – cái mà xã hội ta đang vươn tới

3 Vướng mắc và khuyến nghị khi phân chia tài sản giữa vợ và chồng

Qua việc phân tích, đề tài không đi sâu vào phân tích các điều kiện và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của pháp luật thực định, mà chủ yếu là muốn đưa ra một số vướng mắc cần có sự qui định hoặc hướng dẫn

cụ thể hơn nhằm hướng đến sự bình đẳng và đảm bảo quyền lợi của các bên khi phân chia

1 Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000) Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của

vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?

Khuyến nghị, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hợp người có quyền có đủ chứng cứ cho rằng, vợ chồng không có thoả thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người có quyền có thể yêu cầu Toà án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện thanh toán các khoản nợ Yêu cầu của người có quyền sẽ không được Toà án công nhận, nếu việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình của

Trang 10

người có nghĩa vụ hoặc bản thân vợ, chồng có nghĩa vụ có đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ.

2 Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ qui định, vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được Tuy nhiên, Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh Trước đây, Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã qui định: “Khi hôn nhân còn tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo qui định ở Điều 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) của Luật này” Trên cơ sở kế thừa qui định trên của Luật HN&GĐ năm 1986, khuyến nghị cần thiết phải qui định một giải pháp như sau:

Khi chia tài sản chung, Toà án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi tài sản chung được chia Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn qui định tại Điều 95 của Luật HN&GĐ; nếu tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì áp dụng các qui định tại các điều 97, 98 và 99 của Luật HN&GĐ.

3 Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “mở” Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện

Khuyến nghị, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sản bảo đảm cho các nhu cầu chung của gia đình.

Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hợp vợ chồng không thoả thuận được việc bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình, thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết Toà án quyết định mức đóng góp của các bên trên cơ sở nhu cầu thực tế của gia đình và khả năng kinh tế của các bên hoặc quyết định không chia toàn bộ tài sản chung, phần tài sản chung không chia được sử dụng cho nhu cầu của gia đình.

4 Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là

Ngày đăng: 18/12/2014, 20:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w