Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn duy
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRỊNH THỊ HẢI YẾN
ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG THƠ NGUYỄN DUY
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 1.1 Ẩn dụ tri nhận 10
1.1.1 Các quan niệm truyền thống về ẩn dụ 10
1.1.2 Các quan niệm mới về ẩn dụ 12
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Nguyễn Duy 32
1.2.1 Vài nét về Nguyễn Duy 32
1.2.2 Sự nghiệp thơ Nguyễn Duy 36
1.3 Tiểu kết 39 CHƯƠNG 2
Trang 3ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG THƠ NGUYỄN DUY
2.1 Về khái niệm ẩn dụ tri nhận 40
2.2 Giới thiệu về tuyển tập thơ Ngyễn Duy 42
2.3 Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nguyễn Duy 46
2.3.1 Giới thiệu chung 46
2.2.2.Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nguyễn Duy 47
2.2.2.1.Bảng thống kê chung 47
2.2.2.2 Ẩn dụ cấu trúc trong từng phần thơ 48
2.4 Khảo sát phân tích 51
2.4.1 Nguồn biểu trưng là bộ phận cơ thể con người 53
2.4.1.1 Nguồn biểu trưng là bộ phận bên ngoài cơ thể con người 54
2.4.1.2 Nguồn biểu trưng là bộ phận bên trong cơ thể con người 59
2.4.2 Nguồn biểu trưng từ thế giới tự nhiên 65
2.4.2.1.Nguồn biểu trưng từ thế giới động vât 65
2.4.2.2 Nguồn biểu trưng từ thế giới thực vật 68
2.4.2.3Nguồn biểu trưng từ hiện tượng tự nhiên 73
2.4.3.Nguồn biểu trưng từ các hiện tượng trong cuộc sống 78
2.4.3.1 Nguồn biểu trưng từ các hiện tượng thuộc văn hoá phong tục 80
2.4.3.2 Nguồn biểu trưng từ các hiện tượng thuộc đời sống lao động sản xuất của con người 83
Trang 42.5 Tiểu kết 85
CHƯƠNG 3 ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG THƠ NGUYỄN DUY 3.1 Về khái niệm ẩn dụ bản thể 87
3.2 Khảo sát chung 88
3.3 Các ẩn dụ bản thể trong thơ Nguyễn Duy 89
3.2.1 Ẩn dụ vật chứa, không gian hạn chế 90
3.2.2 Ẩn dụ vật chứa, công việc, hoạt động, trạng thái, tính chất 97
3.3 Tiểu kết 101
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến ẩn dụ Đã có nhiều công trình ngôn ngữ học hướng tới miêu tả các các cấu trúc ẩn dụ không chỉ ở phạm vi chật hẹp của những đơn vị ngôn ngữ riêng lẻ như từ, câu, mà mở rộng ra các loại ngôn bản như ca dao, tục ngữ, thơ và trong những lĩnh vực đời sống, xã hội
Vậy, vai trò và ứng dụng của ẩn dụ không còn chỉ là những phương tiện tạo ra những giá trị mĩ học mà còn nâng cao thành phương tiện của tư duy đời thường, làm phong phú sự hiểu biết của chúng ta về thế giới và con người
Và chính sự khám phá hiện thực, óc liên tưởng về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan của mỗi nhà thơ có tư duy khác nhau là nguồn
thôi thúc chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Duy” là đối tượng nghiên cứu của luận văn
Trang 6Nguyễn Duy sinh tại Thanh Hoá Sau khi tốt nghiệp phổ thông, năm
1965, ông về làm ruộng kiêm làm dân quân trực chiến máy bay Mĩ Năm
1966, Nguyễn Duy nhập ngũ, làm lính thông tin và làm báo trong quân đội Trong suốt thời gian từ 1971 đến 1975, Nguyễn Duy theo học khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà nội, làm báo văn nghệ giải phóng, rồi làm báo văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam
Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình, Nguyễn Duy đã giành được nhiều giải thưởng cao quý:
Giải nhất cuộc thi thơ 1972 – 1973 của Tuần báo văn nghệ
Giải thưởng thơ hạng A năm 1985 cuả Hội nhà văn Việt Nam
Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007
Nguyễn Duy là nhà thơ hiện đại được công chúng yêu mến Ông nổi lên
là một nhà thơ xuất sắc với thể thơ lục bát được giới phê bình đánh giá là người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống lục bát Nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn đã nhận định: “Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó”
Nghiên cứu đề tài ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Duy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhân, một vấn đề lý luận còn mới mẻ đối với ngôn ngữ học nước ta Ngoài ra nghiên cứu đề tài này còn giúp ích cho việc tìm hiểu những ngôn bản văn học trong nhà trường đạt kết quả cao
2 Lịch sử vấn đề
Trong nghiên cứu Việt ngữ học, ẩn dụ tri nhận là một khái niệm còn tương đối mới mẻ Người đầu tiên đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam dưới thuật ngữ “tri giác” là
Nguyễn Đức Tồn trong cuốn “Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với các dân tộc
Trang 7khác”(Nxb ĐHQG HN, 2002) Sau đó (năm 2007) Nguyễn Đức Tồn có bài
viết trực tiếp bàn về Bản chất ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận (Bản chất của ẩn dụ,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 10& 11, 2007)
Năm 2005 vấn đề ngôn ngữ học tri nhận đã được nghiên cứu trong cuốn
“Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt ”( Lý
Toàn Thắng, Nxb KHXH, H, 2005) Trọng tâm cuốn sách là vấn đề tri nhận không gian nên tác giả cuốn sách chưa dành một vị trí xứng đáng cho khái niệm ẩn dụ tri nhận cũng như khảo sát bước đầu về nó
Chuyên luận tiếp theo về ngôn ngữ học tri nhận của Trần Văn Cơ với
nhan đề: “Khảo luận ẩn dụ tri nhận”(NXB Lao động – Xã hội, 2009).Tác
giả cũng chỉ bàn về sự ra đời của ẩn dụ, bản chất ẩn dụ và sự phân lọai các kiểu loại ẩn dụ tri nhận (gồm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng và ẩn dụ kênh liên lạc)
Tác giả Hà Công Tài quan tâm chủ yếu tới đặc điểm và vai trò ẩn dụ trong việc xây dựng các hình tượng hoặc hình thể trong thơ ca Một số đề tài khoá luận, luận văn thạc sĩ cũng quan tâm tìm hiểu về ẩn dụ tri nhận Luận
án Tiến sĩ So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình Việt Nam của tác giả Hoàng Thị Kim Ngọc Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong ca dao của tác
giả Bùi Thị Dung, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, 2008 Và
Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận, mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ của Trịnh Công Sơn của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Đại học khoa
học xã hội và nhân văn T.P Hồ Chí Minh, 2009 Luận Văn đã được PGS.TS
KH Trần Văn Cơ nhận xét là “đã làm được một việc có ý nghĩa: tự giải thoát khỏi chiếc vòng kim cô của ngôn ngữ học thế kỉ XX”
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu thành công vể ẩn dụ tri nhận, nhưng việc nghiên cứu ẩn dụ trong trong thơ là một vấn đề vẫn còn
ít được quan tâm.Vì vậy, với luận văn này, chúng tôi muốn góp phần vào
Trang 8việc làm sáng tỏ thêm về ẩn dụ tri nhận, đặc biệt là ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể trong thơ Nguyễn Duy Và nguồn tư liệu phong phú của thơ Nguyễn Duy sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về ẩn dụ tri nhận trong những tác phẩm của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.3 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn sẽ đúc rút ra những bài học cần thiết cho việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông đạt kết quả cao hơn về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ sau:
1) Thống kê và phân loại các ẩn dụ trong trong Tuyển tập thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, Nhã Nam, 2010;
2) Khảo sát và mô tả các ẩn dụ trong tập thơ trên;
3) Phân tích vai trò của ẩn dụ trong các bài thơ để thấy giá trị thẩm mỹ của chúng
Trang 94) Chỉ ra những nét riêng, mang tính sáng tạo của hình tượng nhờ
hệ thống các ẩn dụ trong thơ Nguyễn Duy
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Duy Qua tư liệu khảo sát và thống kê, chúng tôi thấy rằng thơ Nguyễn Duy chỉ sử dụng chủ yếu hai loại ẩn dụ tri nhận là Ẩn dụ cấu trúc và Ẩn dụ bản thể Vì vậy luận văn tìm hiểu và trình bày kết quả nghiên cứu hai kiểu ẩn
dụ tri nhận này trong thơ ông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu được khảo sát chủ yếu trong luận văn là Tuyển tập thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, Nhã Nam, 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau: 5.1 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa bê mặt ngôn từ và nghĩa biểu trưng của hiện tượng ẩn dụ xuất hiện trong ngữ cảnh nhất định để thấy giá trị của chúng
5.2.Phương pháp miêu tả
Trên cơ sở lý luận chung, luận văn tiến hành miêu tả các ẩn dụ tri nhận trong tập thơ để phát hiện những giá trị ẩn sau chúng mà tác giả đã gởi gắm trong mỗi bài thơ
5.3 Phương pháp thống kê
Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ trong thơ, luận văn tiến hành phân loại chúng thành các tiểu loại theo các chủ đề và tìm tần số xuất hiện, giá trị biểu đạt của chúng trong văn bản tập thơ
Trang 106 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liêu tham khảo, Luận văn gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn Chương 2: Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nguyễn Duy
Chương 3: Ẩn dụ bản thể trong thơ Nguyễn Duy
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận
1.1.1 Các quan niệm truyền thống về ẩn dụ
Trong lý thuyết ngôn ngữ học cổ điển, ẩn dụ được coi là một vấn đề thuộc ngôn ngữ chứ không phải là vấn đề của tư duy Lối nói ẩn dụ được cho
là không có trong ngôn ngữ thông tục hàng ngày và ngôn ngữ hằng ngày không có ẩn dụ Nói cách khác, ẩn dụ chỉ được dùng trong các địa hạt bên ngoài ngôn ngữ đời thường Trong nhiều thế kỷ, người ta đã quá tin vào lý thuyết cổ điển, tới mức, chẳng hề nhận ra được rằng chẳng qua nó cũng chỉ
là lý thuyết mà thôi Người ta không chỉ tin lý thuyết đó là thật, mà còn lấy
nó để làm định nghĩa Phép ẩn dụ (metaphor) được định nghĩa là cách biểu đạt ngôn ngữ của tiểu thuyết hoặc thi ca trong khi chỉ có một hay vài từ chỉ một khái niệm nào đó được dùng vượt ra ngoài ý nghĩa thông thường của nó
để diễn đạt một khái niệm tương tự
Ẩn dụ trong ngôn ngữ là một lĩnh vực được giới nghiên cứu ngôn ngữ rất quan tâm bởi ẩn dụ là một hình thái một cụm từ được dùng để thể hiện một cụm từ khác có cùng hoặc gần sắc thái nghĩa Việc sử dụng ẩn dụ được các tác giả đánh giá là sinh động và có tính chủ động hơn lối suy diễn thông thường Một số các phương pháp tu từ khác cũng dùng để so sánh các sự vật như là phép hoán dụ, phép so sánh, cách nói bóng gió hay kể cả chuyện ngụ ngôn bởi chúng có khá nhiều nét chung với lối ẩn dụ mặc dù cũng có một đôi nét khác biệt trong cách mà sự vật được so sánh
Theo quan niệm truyền thống về ẩn dụ, các tác giả có điểm chung khi nói vê ẩn dụ được Nguyễn Đức Tồn tổng kêt lại trong Một cái nhìn mới về
Trang 12bản chất ẩn dụ: “Ẩn dụ là phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên
sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau” [27,1]
Trong Dẫn luận ngôn ngữ học, A.A Reformatxky giải thích: “Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là sự chuyển đổi, là trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc., hình thức, đặc tính vân động”[38, 54]
Theo B.N Golovin thì: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở giống nhau của chúng được gọi là
ẩn dụ” [37, 81]
Ju X Xtepanôp cho rằng: “Bản thân từ Metaphora từ tiếng Hy lạp cũng có nghĩa là “sự chuyển nghĩa” và khi “một từ tuy vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có sự liên hệ với cái biểu vật mới thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” [36, 51-52]
Các nhà Việt ngữ học cũng có những quan điểm tương tự Chẳng hạn,
Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật, chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau” [31, 159]
Theo Nguyễn Lân thì ẩn dụ là : “Phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên sự tương đồng, sự giống nhau giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến”[14]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chyển đổi tên gọi dựa và
sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau ” [7,
126]
Trang 13Đào Thản cũng giải thích về ẩn dụ: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần
để so sánh”[24]
Như vậy, tựu trung lại các tác giả khi xem xét vấn đề ẩn dụ đều có
điểm thống nhất ở cơ sở của ẩn dụ là sự “so sánh ngầm”, “chuyển đổi tên” gọi hay “chuyển đổi nghĩa” Như thế, các tác giả vẫn chưa chỉ ra được rằng
sự so sánh các sự vật với nhau chỉ là cơ sở của hiện tượng ẩn dụ; và không phải chỉ là phép so sánh ngang bằng; các sự vật tham gia vào quan hệ ẩn dụ
là khác loại nhau Nguyễn Đức Tồn đã tổng kết và khắc phục các hạn chế
đó Theo tác giả, dựa và đặc điểm, thuộc tính nào đó có thể đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng khác loại nhau rồi lấy tên gọi (và các đặc điểm, thuộc tính ) của sự vật, hiện tượng này (thường mang tính cụ thể hơn) để thay thế khi gọi tên hoặc nói về sự vật, hiện tượng kia (thường mang tính trừu tượng hơn) sẽ tạo ra được cách diến đạt ẩn dụ
Tiếp đó, các quan điểm mới về ẩn dụ ngày càng giải quyết thấu đáo về vấn đề ẩn dụ
1.1.2 Quan niệm mới về ẩn dụ
Các quan điểm mới về ẩn dụ được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu và chỉ ra rằng ẩn dụ không chỉ là hiện tượng của ngôn ngữ mà là
hiện tượng “hiện hữu trong tư duy và hành động thường nhật của chúng ta”
[32, 66]
Quan niệm cuả tác giả Phan Thế Hưng về ẩn dụ đã có sự gần gũi với
quan niệm của các nhà ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ Ông viết: “Ẩn dụ không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp loại thuộc về cấu trúc bề sâu của tư duy Nói cách khác, hiểu sự so sánh không
Trang 14phải là trung tâm của việc hiểu ẩn dụ, mà chính là hiểu được việc xếp loại”[15, 12]
Theo GS TS Nguyễn Đức Tồn: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm thuộc tính của sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở
sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có
ở chúng” [28,8] Tác giả cũng viết: “Hiện nay các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng thế giới như Lakoff và Johnson (1980) và những học giả khác đã khẳng định rằng ẩn dụ không phải chỉ là vấn đề của ngôn ngữ, nói cụ thể hơn, ẩn dụ được coi là phương thức tư duy của con người” [28,5] “Từ đó các nhà khoa học về ngôn ngữ và triết học đã xây dựng lý thuyết ẩn dụ ý niệm để mô tả cách chúng ta hiểu các khái niệm trừu tượng khi được hiện
thân hoá qua trải nghiệm cảm xúc của chúng ta” [28, 5] Nói đến ẩn dụ tri
nhận trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm tri nhận, thuật ngữ ngôn ngữ học tri nhận
1.1.2.1 Ngôn ngữ học tri nhận
Tri nhận là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận Nó “biểu hiện môt qua trình nhận thức hoặc tổng thể những quá trình tâm lý – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói phục vụ cho việc xử lý lời nói, chế biến thông tin Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá cả bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người” [1,58]
Như vậy, “Tri nhận là tất cả quá trình trong đó dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào não dưới dạng những biểu hiện tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh ) để có thể lưu lại trong trí nhớ của con người [1,
58]
Trang 15“Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như sự tính toán, nghĩa là xử lý thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác – thành mật mã khác, thành cấu trúc khác” [1,58]
Các qua trình tri nhận bao gồm: quá trình nhận thức, ý niệm hoá, phạm trù hoá, tri giác và các biểu hiện tinh thần đang diễn ra trong bộ não của con người, nhờ đó con người nhận được những tri thức về thế giới
Về Ngôn ngữ học tri nhận: Lý Toàn Thắng đã nêu rằng ngôn ngữ học tri nhận được hiểu là “ một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hoá các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó” Luận văn này chúng tôi quan tâm đến vấn đề ẩn dụ tri nhận
1.1.2.2 Ẩn dụ tri nhận
Khái niệm ẩn dụ tri nhận
Theo Black (1962), ẩn dụ chứa một "nội dung tri nhận xác thực" (positive cognitive content), Michael Reddy, người được Lakoff coi là "thực
ra đã có những đóng góp vượt lên cả những điều mình khiêm nhường đề ra"
đã cho rằng ẩn dụ là một quỹ tích của những suy nghĩ chứ không phải của ngôn ngữ và nó là một phần đáng kể và thiết yếu của phương cách ước định tri nhận thế giới (theo Lakoff,1993)
Có thể không phải là những người đầu tiên đặt ẩn dụ trong mối quan
hệ với tư duy mà cụ thể là khả năng tri nhận của con người nhưng mốc quan trọng trong sự phát triển của lý thuyết hiện đại của tri nhận luận về ẩn dụ
phải là 1980, khi công trình Metaphor we live by của G Lakoff và M
Johnson ra đời Lakoff và Johnson (1980) cho rằng: “Hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ ” Chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được quy
Trang 16ước hoá và từ vựng hoá và nhất là những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) một cách thuần tuý ngôn ngữ học mà sự thực là chúng ta có suy nghĩ hay ý niệm hoá phạm trù “đích” thông qua phạm trù “nguồn” Bởi hiện nay, tư liệu dịch thuật cũng như nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận ở nước ta chưa nhiều nên chúng tôi xin trích dịch nguyên một đoạn trong tài liệu mang tên "Lý luận mới về ẩn dụ " (Lakoff, 1993) khi bàn về khái niệm ẩn dụ dưới quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận
Lý thuyết chung của ẩn dụ nằm trong những đặc điểm của sự xác lập khái quát có tính liên tưởng Trong quá trình đó, những khái niệm trừu tượng hàng ngày như thời gian, trạng thái, thay đổi, nguyên nhân, kết quả hoặc mục đích đều trở nên có tính ẩn dụ Hệ quả là ẩn dụ (tức là khái quát có tính liên tưởng) chính là tâm điểm tuyệt đối của ngữ nghĩa học trong ngôn ngữ thông tục tự nhiên, và việc nghiên cứu ẩn dụ văn học là một sự mở rộng của việc nghiên cứu ẩn dụ trong ngôn ngữ hàng ngày Phép ẩn dụ được dùng đến hàng ngày (trong ngôn ngữ thường nhật) là một hệ thống khổng lồ gồm
vô số những khái quát liên tưởng, và hệ thống này được sử dụng trong ẩn dụ văn học Nhờ những kết quả thực chứng này, chữ ẩn dụ đã được dùng theo một cách khác trong những nghiên cứu về ẩn dụ lúc này có nghĩa là một khái quát có tính liên tưởng trong hệ thống khái niệm Khái niệm sự diễn đạt
có tính ẩn dụ được dùng để chỉ một biểu đạt ngôn ngữ (một chữ, một cụm
từ, hoặc một câu) thực hiện được sự khái quát có tính liên tưởng đó [ ] Khác với ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng, ẩn dụ ý niệm (hay tri nhận), ngoài chức năng quy ước hóa và từ vựng hóa còn có chức năng ý niệm hóa, thể hiện cách tư duy, tri nhận về sự vật của người bản ngữ theo những phương thức nhất định
Lý Toàn Thắng đã nói đến tầm quan trọng của ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ đặt trong sự so sánh với ẩn dụ - theo cách hiểu truyền thống và tu
Trang 17từ học Theo ông: “Ẩn dụ theo truyền thống văn học và tu từ học thường được coi là một trong hai (cùng với hoán dụ) kiểu chính của phép dùng từ theo nghĩa bóng, được xây dựng trên những khái niệm về sự tương tự và so sánh giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ; thí dụ chân núi (so với: chân người); ánh sáng chân lý ( so với: ánh sáng mặt trời ) Tuy nhiên, chúng ta chưa khảo sát và chưa đánh giá hết tầm quan trọng của ẩn dụ trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày và nhất là như một công cụ tri nhận mạnh mẽ để
ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng ”[30, 28] Nếu nhƣ ẩn dụ theo quan
điểm truyền thống bao giờ cũng mang tính quy ƣớc do đƣợc tạo thành trong một cộng đồng văn hoá – ngôn ngữ và đƣợc từ vựng hoá trong các hình thức
từ ngữ thì ẩn dụ tri nhận đƣợc xem là “công cụ tri nhận”(Black (1962)) Từ những dẫn giải về ẩn dụ, Lý Toàn Thắng đã đƣa ra cách hiểu mới về ẩn dụ: “
Ẩn dụ ý niệm là một sự chuyển di (transfer) hay một sự đồ hoạ (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích” [ 28,30] Cụ thể hơn, ông viết: “Thông thường các phạm trù ở mô hình nguồn cụ thể hơn, nghĩa là chúng ta thường dựa vào kinh nghiệm của mình
về những con người, những sự vật và hiện tượng cụ thể thường nhật để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng”[ 30, 30] Ông dẫn các ví dụ điển hình nhƣ : thời gian là tiền bạc, tình yêu là một cuộc hành trình Trong đó, tiền bạc, cuộc hành trình là nguồn; thời gian, tình yêu là đích Chẳng hạn, chúng
ta có thể dùng sắp hết tiền và cũng có thể dùng sắp hết thời gian; hoặc có thể dùng tiêu tốn thời gian và tiêu tốn tiền; giữ gìn tiền bạc, giữ gìn thời gian; mất tiền bạc, mất thời gian; ăn cắp tiền bạc, ăn cắp thời gian
Trần Văn Cơ cũng viết: “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm)
là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có những biểu hiện là hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới”[1,180] “Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng
Trang 18năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể
và những lớp đối tượng khác nhau” [1, 180]
Để tiện bề hiểu hơn về đồ chiếu trong hệ thống ý niệm, Lakoff và Johnson đã áp dụng một chiến lược đặt tên cho những đồ chiếu như vậy,
dùng trí nhớ đề nghị ra đồ chiếu này, theo hình thức: Target domain is source domain hay có thể là Target domain as source domain
Ví dụ như khi nói Love is a journey (Tình yêu là một cuộc hành
trình), ta sẽ dùng trí nhớ để nêu lên đặc điểm của các đồ chiếu (mapping) gọi
là The love-as-journey mapping:
- Người tình nhân tương ứng với người lữ khách
- Mối quan hệ yêu đương tương ứng với một phương tiện đi lại
- Mục đích chung của hai người yêu nhau tương ứng với điểm đến chung trong chuyến hành trình
- Những khó khăn trong quan hệ giữa họ tương ứng với những trở ngại trên đường đi
Điều cần lưu ý là không nên nhầm lẫn tên đồ chiếu Love is a journey với bản thân đồ chiếu Đồ chiếu tạo nên các sự tương ứng nên khi nói đến một ẩn dụ, ta nghĩ đến một loạt các tương ứng
Bản thân thuật ngữ ẩn dụ ý niệm đã bao hàm rằng ẩn dụ nằm ngay ở
tư duy của con người và biểu hiện lên bề mặt ngôn ngữ Tư duy và sau đó là ngôn ngữ về cơ bản là các quá trình ẩn dụ gắn liền với kinh nghiệm cá nhân
và các nền văn hóa Một số lý thuyết thỏa đáng về hệ thống ý niệm của con người là phải giải thích được các ý niệm: (1)căn cứ vào đâu, (2)cấu trúc như thế nào, (3)có quan hệ với nhau như thế nào, (4) và được định nghĩa như thế nào
Cái tạo nên một mệnh đề ẩn dụ Tình yêu là một cuộc hành trình
không phải là các từ hay cụm từ Đó chính là một đồ chiếu xuyên suốt các
Trang 19phạm vi ý niệm, từ phạm vi nguồn của các cuộc hành trình cho tới phạm vi đích của tình yêu Ẩn dụ không phải chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là của tư duy và lý luận Ngôn ngữ chỉ là thứ yếu, đồ chiếu mới chính là quan yếu vì nó chi phối việc sử dụng ngôn ngữ source domain và các cấu trúc suy
ra về các khái niệm target domain Đồ chiếu mang tính chất quy ước, là một
phần của hệ thống ýniệm của chúng ta
Đồ chiếu cho phép chúng ta nhìn thấy chính xác tình yêu ở đấy được
ý niệm hóa thành một cuộc hành trình.Và các ý niệm hóa ẩn dụ (metaphor)
để nói về một đồ chiếu ý niệm, và thuật ngữ biểu đạt ẩn dụ (metaphorical expression) được dùng nói tới một biểu đạt ngôn ngữ cá nhân, nghĩa là đồ chiếu quy định
Như vậy, theo Lakoff, ẩn dụ, với tư cách là một hiện tượng, có liên quan đến các đồ chiếu ý niệm và các biểu đạt ngôn ngữ cá nhân Một điều hết sức quan trọng là cần phải để cho các đồ chiếu và biểu đạt đó trở nên độc đáo Vì đồ chiếu đóng vai trò chính yếu và mang nghĩa khái quát hóa, cần giữ thuật ngữ ẩn dụ dùng cho đồ chiếu hơn là dùng cho biểu đạt ngôn ngữ
Về mặt nghĩa văn học, những mệnh đề nhỏ kiểu Love is a journey
được dùng theo kiểu thuật nhớ để đặt tên cho các đồ chiếu Do vậy, khi
chúng ta nói về ẩn dụ Love is a journey, chúng ta nhắc tới những khái niệm tương ứng vừa đề cập Trong tiếng Anh, mệnh đề Love is a journey là một
biểu đạt ẩn dụ được hiểu thông qua những tập hợp tương ứng (set of
correspondence) Ẩn dụ Love is a journey là một đồ chiếu ý niệm có các đặc
điểm khái quát hóa thành hai loại : Thứ nhất là khái quát hóa đa nghĩa (polysemy generalization) - một sự khái quát quan hệ với nghĩa của các biểu đạt ngôn ngữ; Thứ hai là khái quát hóa suy luận (inferential generalization): một sự khái quát hóa về các suy luận qua các domain ý niệm khác nhau - sự tồn tại của đồ chiếu mang lại một sự trả lời khái quát cho hai câu hỏi: Tại
Trang 20sao các từ dùng để nói về hành trình được dùng để miêu tả mối quan hệ? Tại sao các mẩu suy luận được dùng để lý giải về hành trình được dùng để lý giải quan hệ tình ái?
Việc đồ chiếu Love is a journey là một phần ấn định của hệ thống ý
niệm giải thích tại sao các cách dùng tưởng tượng và mới lạ của đồ chiếu lại
có thể được hiểu nhanh chóng, dựa trên những sự tương thích bản chất và
các kiến thức khác về các cuộc hành trình Vídụ trong lời một bài hát: We’re driving in the fast lane on the freeway of love Tri thức về hành trình đã gợi ra: Khi chúng ta lái xe trên mặt đường cao tốc, chúng ta sẽ đi rất nhanh nhưng cũng hết sức nguy hiểm và đầy phấn khích
Đồ chiếu ẩn dụ chung đã vạch ra tri thức nền về lái xe với tri thức về mối quan hệ tình yêu Sự nguy hiểm có thể xảy ra với phương tiện (tình yêu
có thể không bền lâu) hay hành khách (những kẻ tình nhân có thể bị thương, về mặt tinh thần) Sự hào hứng phấn khích của tình yêu – cuộc hành trình của sự ái ân Sự hiểu biết về lời bài hát là kết quả của sự tương thích ẩn
dụ đã có từ trước về ẩn dụ Love-as-journey Lời bài do vậy cũng không làm
khó người nghe tiếng Anh vì những sự tương thích ẩn dụ đã là một phần của
hệ thống ý niệm Ẩn dụ Love as Journey là một ví dụ cho ta thấy đó không
phải là một lối nói hình tượng (figure of speech), mà là một hình thức tư duy (mode of thought), được quy định bởi một đồ chiếu hệ thống từ phạm vi nguồn cho tới phạm vi đích
Mỗi một ẩn dụ, hay một đồ chiếu là một phần ấn định của những tương thích ý niệm qua các phạm vi ý niệm cụ thể Do vậy mỗi một đồ chiếu
ấn định một loại mở của các tương thích tiềm năng qua các mô thức suy luận
và phải được coi là một mẫu cố định về sự tương thích bản thể qua các miền (domain)
Lí thuyết ẩn dụ của ngôn ngữ học tri nhận cũng đã mở ra cách tiếp cận
Trang 21hoàn toàn mới mẻ và hé lộ cho việc nghiên cứu thành ngữ Theo cách hiểu truyền thống, thành ngữ (idiom) mang tính võ đoán nhưng theo cách hiểu của ngôn ngữ học tri nhận, thì hoàn toàn khác Chúng không hoàn toàn võ đoán mà là có nguyên do Nghĩa là, thành ngữ xuất hiện tự nhiên theo các quy tắc sản sinh (producetive rule), nhưng lại chỉ có thể phù hợp với một hay hơn một mô thức hiện hữu trong hệ thống ý niệm Một thành ngữ như spinning one’s wheel theo nghĩa tinh thần truyền thống là bánh xe của xe hơi
bị kẹt trong các vật liệu nào đó như bùn, cát, hay tuyết nên xe không thể nào chuyển động dù máy đã khởi động và bánh vẫn quay Một phần tri trức của chúng ta về hình ảnh này là tốn kếm rất nhiều sinh lực, năng lượng mà không mang lại kết quả, tiến bộ nào, rằng tình hình sẽ vẫn không thay đổi hiện trạng, và rằng sẽ phải mất rất nhiều công sức mới làm cho xe khởi động
và chuyển động được, và rằng điều đó là hầu như không thể Ẩn dụ Journey áp dụng vào trong tri thức về hình ảnh này Ẩn dụ này vạch ra đồ chiếu về tri thức phương tiện với tri thức về quan hệ tình yêu: Tốn công phí sức nhưng thể nào đạt được đến được mục đích chung, sẽ không thể nào thay đổi được hiện trạng, sẽ phải tốn rất nhiều công sức để cả hai cùng nhìn
Love-as-về một hướng v.v Tóm lại, khi thành ngữ có liên hệ với các hình ảnh quy ước, thì tất yếu sẽ phải có những ẩn dụ ý niệm mang tính nguyên nhân gắn kết, phụ thuộc để vạch ra đồ chiếu tri thức từ nguồn tới đích
Thật thú vị khi thấy những khái niệm về tình cảm như tình yêu và sự giận dữ được biểu đạt qua rất nhiều ẩn dụ cũng như rất nhiều trong số những khái niệm cơ bản thuộc các hệ thống ý niệm cũng được hiểu thông thường qua các khái niệm ẩn dụ như thời gian, chất lượng, tình trạng, sự thay đổi, hành động, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, tình thái và thậm chí là các khái niệm về một phạm trù lớn
1.1.2.3 Phân loại ẩn dụ
Trang 22Một số cách phân loại ẩn dụ của các tác giả tiêu biểu:
Theo Nguyễn Thiện Giáp nghiên cứu ẩn dụ voíư tư cách phương thức chuyển nghĩa của từ đã chia ẩn dụ ra thành các kiểu sau:
+ Giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng
Ví dụ: cổ là một bộ phận cơ thể người, nơi tiếp giáp đầu và người; tương tự với các sự vật: cổ chai, cổ tay Ẩn dụ này rất phong phú trong tiếng Việt
+ Giống nha về màu sắc:
Ví dụ: màu da trời, màu cánh sen
+ Giống nhau về chức năng
Ví dụ: Bến xe, bến sông, bến đò Đều là các đầu mối giao thông
+ Giống nhau về thuộc tính, tính chất
Ví dụ: nói ngọt lọt đến xương
+Giống nhau về đặc điểm vẻ ngoài nào đó
Ví dụ: NGười đàn bà đẹp được gọi là Kiều
Người đàn bà xấu được gọi là Thị Nở
Trang 23Đinh Trọng Lạc chia ẩn dụ với tư cách là biện pháp tu từ ra thành các nhóm:
Ví dụ: Đầu thôn, chân trời
Là loại thủ pháp có tính chất thuần tuý kĩ thuật dùng để cung cấp
những tên gọi mới bằng cách dùng vốn từ vựng cũ Ví dụ: mũi dao, mũi
thuyền
- Ẩn dụ nhận thức: nảy sinh ra do kết quả của việc làm biến chuyển khả năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi yêu cầu của chúng từ cụ thể đến trừu tượng
Ví dụ: mơn mởn vốn là từ dùng cho thực vât những được dùng cho
cả người - chỉ tuổi xuân của con người: Tuổi xuân đang mơn mởn
- Ẩn dụ hình tượng: là phương thức biểu giá riêng có của cá nhân nhà văn Nó tác động trực tiếp vào trực giác của người nhận và đem lại khả năng cảm thụ sự sáng tạo Nó đồng thời cũng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa
-Ẩn dụ của lời nói với hình ảnh còn tươi tắn được xây dựng từ trong văn cảnh cụ thể mà bao giờ cũng gắn với nó
- Ẩn dụ bổ sung còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, là sự kết hợp của hai hay nhiều từ chỉ những cảm giác sinh ra từ các trung khu của các cảm giác khác nhau Cơ sở tâm lý học của nó là sự tác động lẫn nhau giữa các giác quan, sự hợp nhất của chúng
- Ẩn dụ tượng trưng: là sự kết hợp của một khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm giác
Trang 24Ẩn dụ tượng trưng là đặc điểm của thơ, nó trở thành một phương tiện
tu từ đắc lực trong việc bộc lộ tâm hồn sâu kín qua cái cảm quan kì diệu của nhà thơ
Nhóm 2: Nhóm biến thể của ẩn dụ
Nhóm biến thể của ẩn dụ bao gồm nhân hoá và vật hoá
Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính của con người để biểu thị những thuộc tính, dấu hiệu không phải là con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của mình
Vật hoá còn được gọi là vật cách hoá, là một biến thể của ẩn dụ, trong
đó người ta dùng một hình thứcdi chuyển thuộc tính, dấu hiệu ngược chiều lại với nhân hoá, tức là lấy những từ biểu thị thuộc tính dấu hiệu của loài vật, đồ vật để biểu thị khái niệm, thuộc tính, dấu hiệu của con người nhằm mục đích châm biếm đùa vui và qua đó thể hiện thái độ, tình cảm kín đáo của con người
Ví dụ:
Người tình ta để trên cơi
Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ
Chiêm bao thì thấy dậy sờ thì không
(ca dao)
Nguyễn Đức Tồn trong bài viết Bản chất của ẩn dụ [ 29, 6] cũng đã
đưa ra quan niệm mới về ẩn dụ như sau:
“Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của
sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng” Như vậy dựa vào định nghĩa này có thể thấy tác giả chỉ ra hai loại
Trang 25ẩn dụ: ẩn dụ theo quan điểm truyền thống là “phép thay thế tên gọi” và loại
ẩn dụ tri nhận là “chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại”, và cả hai loại ẩn dụ đều cùng được dựa
trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng (các sự vật) theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng
Trong ẩn dụ ý niệm, Lakoff và đồng sự của mình bàn đến những loại
ẩn dụ khác nhau như ẩn dụ bản thể (ontological metaphor) là loại ẩn dụ định hình sự vật và và biến chúng thành thực thể (entities) và chất thể
(substances) để từ đó nói đến chúng, phạm trù hóa, phân loại và định lượng chúng Hoặc như ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) với việc sử dụng một
ý niệm nguồn có cấu trúc tổ chức cao và rõ ràng để tri nhận một ý niệm đích,
ẩn dụ hình ảnh (image metaphor) - đồ chiếu một hình ảnh lên một hình ảnh khác hay ẩn dụ định hướng (orientational metaphor) với các từ định hướng không gian
Cụ thể:
+ “Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của của một từ (hay một biểu thức) khác” Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết
quả của quá trình biểu trưng hoá vật thể và ngôn ngữ)
Chẳng hạn:
Con cáo - biểu trưng cho sự tinh ranh, khôn ngoan
Con ong - biểu trưng cho sự chăm chỉ cần cù
Đại bàng - biểu trưng cho lòng kiêu hãnh, dũng cảm
Với ẩn dụ tri nhận, nghĩa biểu trưng không được bộc lộ ra ngoài mà
nó tồn tại dưới dạng tiềm ẩn Nếu như ý nghĩa biểu trưng này mà bộc lộ hiển
Trang 26minh thì từ được sử dụng trong biểu thức ngôn ngữ này sẽ không là ẩn dụ nữa mà trở thành so sánh Chẳng hạn:
“Anh ta tinh ranh như một con cáo”( biểu thức tinh ranh được bộc lộ
hiển minh, con cáo được sử dụng làm chuẩn trong biểu thức so sánh)
Trong phạm vi hoạt động của ẩn dụ cấu trúc, chúng ta có thể gặp ẩn dụ cấu trúc trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Ví dụ:
Nhờ ai lên đến cung mây
Hỏi ông Nguyệt Lão nào dây tơ hồng
Nào dây xe bắc xe đông
Nào dây xe vợ xe chồng ở đâu
(ca dao)
Ông Nguyệt Lão ; dây tơ hồng tượng trưng cho cầu nối tình duyên đôi lứa Ông Nguyệt Lão tượng trưng cho vị thần làm mối xe duyên, dây tơ hồng là sợi dây kết nối tình yêu đôi lứa
Ẩn dụ cấu trúc thường có các miền nguồn và miền đích với những ý niệm được biểu thị:
Miền nguồn phát sinh những trí thức mới nhằm cấu trúc hoá các yếu
tố của ý niệm vị trí đích Ý niệm miền nguồn nói chung bao quát toàn bộ những tri thức mà con người đã đạt được trong quá trình tri nhận thế giới
Đó là tri thức về thế giới khách quan và thế giới chủ quan do con người sáng tạo ra nhờ phân tích văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc người bản ngữ Những tri thức về thế giới có thể quy làm 3 nhóm:
Những tri thức về con người và hoạt động của nó;
Những tri thức về thế giới tự nhiên và những biểu hiện của thế giới tự nhiên;
Những tri thức về xã hội và sinh hoạt xã hội
Trang 27Con người bao gồm các bộ phận của cơ thể, tên người và tên những công trình công cộng được dùng làm ý niệm miền nguồn cho ẩn dụ
Các bộ phận của con người bao gồm các bộ phân bên ngoài cơ thể: đầu, chân tay, cổ các bộ phận bên trong cơ thể (lục phủ ngũ tạng): tim, gan , phổi
Ví dụ:
- Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam
Tên người là tên của những con người nổi tiếng theo cả mặt tích cực
Tình yêu là quán trọ của cuộc đời
Thế giới tự nhiên: bao gồm các loài động vật thực vật Các loài động vật:
Chim, tôm cá, đại bàng Ví dụ: Nam đứng là một con cáo già
Các loài thực vật: cỏ, cây hoa quả và các bộ phận của chúng
Ví dụ: Duy là một cây văn của khối 9
Các hiện tượng của tự nhiên gồm các hiện tượng mưa, gió, bão, sấm, chớp Ví dụ:
- Ông ta làm mưa làm gió ngoài xã hội
- Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng (Thâm Tâm)
Trang 28- Trái đất sẽ ra sao nếu như một ngày kia không còn gió nữa
Lá cây bỗng hết xạc xào (Nguyễn Duy)
Hiện tượng tự nhiên còn bao gồm thế giới vô tri vô giác: hạt bụi, đá, sỏi, cát
Ví dụ: Có đá của lòng người trong thớ gỗ (Nguyễn Duy)
Hiên tượng xã hội bao gồm các hoạt động đấu tranh, chính trị, hoà
bình, cách mạng Ví dụ: Hạnh phúc là đấu tranh
Thuộc miền nguồn còn có thể có những ý niệm được cấu trúc hoá từ các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá liên quan đến hoạt động của con người
Miền đích bao gồm:
Các biểu ngữ định danh: là tên người, tên địa lý, tên các loài động thực vật
Ví dụ: - Sài Gòn là viên ngọc của Viễn Đông
- Đài Loan là con rồng của Châu Á
Các biểu ngữ trong lĩnh vực trí tuệ, cảm xúc, đạo đức, ý chí tình cảm
Ví dụ:
- Trí thức là sức mạnh
- Tình yêu là vật hiến
- Lòng căm thù là con dao hai lưỡi
Các biểu ngữ trong lĩnh vực thế giới quan và nhân sinh quan của con người: sống, chết, hoạ, phúc
Ví dụ: - Sống là đấu tranh
- Chết là về Trên đây là các ý niệm về miền nguồn và miền đích mà ẩn dụ cấu trúc thường quy chiếu
+ Ẩn dụ bản thể:
Trang 29Ẩn dụ bản thể “Thể thực chất là phạm trù hoá những bản thể trừu tượng bằng cách vạch ranh giới của chúng trong không gian”[1 ,312]
Ẩn dụ bản thể và chất liệu hình thành do kinh nghiệm của chúng ta trong việc tri giác những đối tượng vật lý và các chất liệu tạo nên một cơ sở khác nhau để ngữ nghĩa hoá các ý niệm vượt ra ngoài ranh giới của sự định hướng đơn giản Việc ngữ nghĩa kinh nghiệm của chúng ta trong các thuật ngữ đối tượng và chất liệu cho phép chúng ta chiết xuất ra một bộ phận của kinh nghiệm và giải thích chúng như những bản thể hoặc những chất liệu có tính gián đoạn thuộc cùng một loại nào đó
Biểu tượng về những loại ẩn dụ bản thể gồm: ẩn dụ vật chứa với : không gian hạn chế, trường thị giác; sự kiện, hành động, công việc, trạng thái
Ví dụ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Đầm và bùn là hai ẩn dụ vật chứa trong đó đầm là đối tượng - vật chứa, bùn là chất liệu - vật chứa
Các hoạt động, sự kiện nhờ các ẩn dụ bản thể nên được tri nhận và hiểu như những đối tượng; các công việc được biểu hiện bằng chất liệu, còn các trạng thái được hiểu như những vật chứa
+ Ẩn dụ kênh liên lạc / truyền tin:
“Ẩn dụ kênh liên / lạc truyền tin là quá trình giao tiếp như sự vận động của nghĩa “làm đầy” các biểu thức ngôn ngữ ( vật chứa) theo “kênh” nối người nói với người nghe” [1, 194]
Ví dụ: “Tin vui thắng trận lan truyền đi khắp mọi nơi.”
Trang 30+ Ẩn dụ định hướng:
“Ẩn dụ định hướng cấu trúc hoá một số miền và tạo nên một hệ thống
ý niệm hoá cho chúng, chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập theo kiểu như: lên - xuống, vào - ra, sâu - cạn, trung tâm- ngoại vi [1,319] Chẳng hạn đối với người Việt, trạng thái tình cảm
tích cực là “ở trên”, còn trạng thái tiêu cực là “ở dưới” Ví dụ chúng ta
thường nói: cười lên nào, xịu mặt xuống
Một số kiểu ẩn dụ định hướng không gian kiểu trên - dưới:
1-Hạnh phúc định hướng lên trên; nỗi buồn định hướng xuống dưới 2-Trạng thái có ý thức định hướng thì hướng lên trên; trạng thái vô thức thì định hướng xuống dưới
3-Sức khoẻ và sự sống định hướng lên trên; bệnh tật và cái chết định hướng xuống dưới
4- Nắm quyền lực hay sức mạnh thì định hướng lên trên; phục tùng quyền lực hay sức mạnh thì định hướng xuống dưới
1.1.2.4 Cơ chế nhận biết ẩn dụ
Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi của các sự vật hiện tượng khác loại ( cùng phạm trù dựa trên sự liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng)
Điều kiện để có ẩn dụ:
So sánh ngang bằng:
- hai sự vật hiện tượng khác loại;
- liên tưởng đồng nhất hoá chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng
Ví dụ: Lửa lựu: hoa lựu đỏ như lửa, (hoa) lựu = (lửa) lựu
Biển lúa (đồng) lúa = (biển) lúa
Cơ sở nhận biết ẩn dụ là sự đồng hoá ngầm
Trang 31Mô hình ẩn dụ tri nhận là : A là / như B
Trong đó: khái niệm A được làm rõ bởi khái niệm B
Khái niệm A là khái quát, khái niệm B là cụ thể
Từ dùng để chỉ B được chuyển sang dùng để chỉ khái niệm A là một trong những ẩn dụ
Ví dụ: “Thời gian là tiền bạc” Từ đó chúng ta suy ra:
Giữ gìn tiền bạc → Giữ gìn thời gian
Tiết kiệm tiền bạc → Tiết kiệm thời gian
Phung phí tiền bạc → Phung phí thời gian
Để có một ẩn dụ cần có những điều kiện sau:
1- Liên tưởng tương đồng dựa trên biểu thưc so sánh ngang bằng hai sự vật, hiện tượng khác loại nằm trong tư duy của con người
2- Lấy từ chỉ sự vật B gọi tên từ chỉ sự vật A ( trong đó khái niệm B thường là khái niệm cụ thể, khái niệm A thường là khái niệm trừu tượng, khái niệm A được làm sáng tỏ từ khái niệm B )
1.1.2.5 Vai trò và chức năng của ẩn dụ tri nhận
Trang 32Nhận định về thơ, Nguyễn Tuân cho rằng : Ở đâu có lao động thì ở đó
có sáng tạo ra ngôn ngữ Nhà văn không chỉ học tập ngôn ngữ của nhân dân
mà còn là người phát triển ra ngôn ngữ sáng tạo, không nên ăn bám vào người khác Giàu ngôn ngữ thì văn sẽ hay Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy nhưng sử dụng có sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước Có vốn mà không biết sử dụng chỉ như nhà giàu giữ của Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào để chỗ nào phải đúng vị trí của nó Văn phải linh hoạt Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp " (Nguyễn Tuân) Việc dùng các ẩn
dụ tri nhận trong tác phẩm thơ ca đã tạo nên cái sáng tạo ngôn ngữ của nhà thơ Bởi lẽ, với các ẩn dụ tri nhận, phần che lấp đi chính là các nội dung ý nghĩa sâu xa hay nghĩa biểu trưng của từ ngữ
Chúng tôi nhận thấy rằng trong cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận,
ẩn dụ có vai trò vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ đời thường hàng ngày
và đặc biệt nó là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để ý niệm hoá các phạm trù trừu tượng
Nếu trước đây ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ
mở cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì nay, với sự xuất hiện và phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ giờ được coi là cánh cửa bước vào thế giới tinh thần cũng như trí tuệ của con người cũng như là phương tiện nhằm khám phá ra những bí mật của quá trình tư duy mà trước đây bị coi là không thể thấu đạt được của con người
Trong ngôn ngữ và trong văn chương nghệ thuật, ẩn dụ tri nhận có vai
trò rất lớn Tác giả Phạm Thị Hồng Xuân trong bài Chức năng của ẩn dụ
[35] đã xét chức năng ẩn dụ trên hai phương diện cơ bản:
Ngôn ngữ và nhận thức, trong đó đối với ngôn ngữ ẩn dụ có 5 chức năng cơ bản:
Ẩn dụ làm giàu vốn từ ngôn ngữ
Trang 33Ẩn dụ làm giàu thêm ý nghĩa cho một từ
Ẩn dụ làm cho cách nói trở nên hàm súc
Ẩn dụ tạo ra những cách nói mới
Giúp cho người nói diễn đạt những tình cảm của riêng mình
Ẩn dụ làm cho câu thơ nhập nhoè nhiều ý nghĩa
Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó
có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau Bởi thế, nhờ ngôn ngữ học tri nhận, người ta hiểu rõ hơn, nắm bắt rõ hơn về quá trình ẩn dụ, nhờ đó, hé mở cánh cửa nhằm hiểu sâu sắc hơn các tầng bậc ngôn ngữ cũng như chính bản thân mình
Ẩn dụ tri nhận là một chìa khoá mở ra những hiểu biết mới của những biểu tượng tinh thần về thế giới và tạo ra những tri thức mới trên nền của cái
đã biết Ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự
giống nhau giữa các cá thể và những lớp đối tượng khác nhau
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp thơ Nguyễn Duy
1.2.1 Vài nét về cuộc đời Nguyễn Duy
Nguyễn Duy (sinh ngày 7 tháng 12 năm 1948), là một cây bút tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam (nhất là từ năm 1954 đến nay) Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa
Quê hương và gia đình có những ảnh hưởng quan trọng đến sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Duy Từ thuở nhỏ ông được bà ngoại đọc cho nghe rất nhiều hò vè, ca dao và những truyện nôm khuyết danh Bà ngoại Nguyễn Duy không biết chữ nhưng những gì bà thuộc lòng và đọc cho cậu
bé Nguyễn Duy Nhuệ (tên khai sinh của Nguyễn Duy) đã ăn sâu vào tiềm thức của nhà thơ sau này Nhiều người không hiểu tại sao Nguyễn Duy
Trang 34chuyên trị thể loại lục bát một cách điêu luyện và vận dụng ca dao vào thơ mình tài đến như vậy Đơn giản thôi, vì từ nhỏ thể thơ truyền thống này thông qua ca dao đã biến thành máu thịt, tâm hồn ông rồi “Tôi lớn lên ở vùng quê nghèo đất Hà Trung, Thanh Hóa Từ nhỏ, bà nội đã ru tôi bằng những điệu ru theo thể thơ lục bát dân gian Bởi thế, khi cầm bút, tôi đến với lục bát một cách tự nhiên, chứ không mất nhiều thời gian để lựa chọn một
lối đi hợp lý cho thơ mình” - nhà thơ Nguyễn Duy kể tại cuộc tọa đàm về
thơ Nguyễn Duy (Hà Nội 11/10/ 2010 Nhà thơ Nguyễn Duy là người được Viện Hàn lâm Rumania chọn để trao Giải thưởng Lớn về thơ năm 2010)
Những năm 1956 – 1957, thơ thiếu nhi ngoài miền Bắc phát triển rất mạnh Cuốn theo phong trào đó, mới 9 tuổi, Nguyễn Duy đã tập làm thơ với những bài tả cảnh trường em, ruộng vườn, người thân Bài thơ Nguyễn Duy
in báo đầu tiên vào năm 1957 khi đang học lớp 2
Năm 1962, Nguyễn Duy vào học cấp 2 ở Hà Nội, thời gian này ông đọc thêm được một số sách báo và cũng là lúc ông gửi thơ cho báo chí
nhưng không thấy nơi nào in Do đó, dù làm thơ rất sớm nhưng nhà thơ Nguyễn Duy chưa chạm chân được vào lãnh địa của thành công dù tài thơ của ông đến nay không ai phủ nhận
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông là một chiến
sĩ chiến đấu ở những nơi trọng điểm Năm 1965, Nguyễn Duy làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ Năm 1966 ông trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979) Thời gian đó, Nguyễn Duy đã trở
về với thơ lục bát Bài thơ lục bát đầu tiên của thời kỳ này được Nguyễn Duy sáng tác trong hai năm bắt đầu từ năm 1969 Và đến nay, bài thơ đó
Trang 35nằm trong chương trình giảng dạy của sách giáo khoa, rất nhiều thế hệ học trò thuộc nằm lòng với những câu: “Tre xanh xanh tự bao giờ/ Tự ngàn xưa
đã có bờ tre xanh” (Tre Việt Nam) Bài Tre Việt Nam cùng với Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm đã mang lại cho ông giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn
Nghệ năm 1973, từ đó tên tuổi Nguyễn Duy đã có chỗ đứng trên văn đàn Năm 1971, nghe đài gặp Hoài Thanh bàn chuyện ca dao hiện đại, trong đầu cậu lính trẻ Nguyễn Duy ghi nhớ mãi câu nói của Hoài Thanh:
“Cái gì còn tồn tại đến hôm nay thì hiện đại” Chính câu nói đó của Hoài Thanh góp thêm niềm tin mãnh liệt vào thể thơ lục bát Nguyễn Duy đang làm Vì rằng ca dao chưa bao giờ mất đi, vậy thì lục bát luôn luôn hiện đại Sau lần nghe Hoài Thanh nói chuyện, Nguyễn Duy viết thư gửi qua đài nhưng Hoài Thanh hồi âm từ Báo Văn Nghệ vì khi đó ông đang công tác ở đây Trong thư hồi âm, Hoài Thanh mời Nguyễn Duy đến Báo Văn Nghệ bàn chuyện in một trang thơ Cùng lúc nhận thư Hoài Thanh, nhà thơ Phạm
Hổ (trưởng ban thơ của báo) cũng viết thư cho Nguyễn Duy với cùng nội dung Số báo tết năm 1972, Nguyễn Duy được in 2 bài thơ trên Văn Nghệ trong khi nhiều nhà thơ tên tuổi chỉ có 1 bài
Sau chiến thắng 1975, Nguyễn Duy vẫn say sưa và tiếp tục con đường thơ của mình Tiếng thơ của ông ngày càng đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen thuộc, mà vẫn rất hấp dẫn đối với người đọc Tập
thơ nổi bật của Nguyễn Duy là tập Ánh trăng (1984) Tập thơ được coi là
một bước tiến trong thơ Nguyễn Duy, tập thơ đã được tặng giải A của Hội
nhà văn Việt Nam 1984 (cùng tập thơ Hoa trên đá của Chế Lan Viên) Ánh trăng tiếp tục viết về bộ đội, về công cuộc đời người lính sau chiến tranh với những vần thơ tha thiết và thấm thía những trăn trở băn khoăn (Ánh trăng, Nghe tắc kè kêu trong thành phố ) Cũng ở tập thơ này Nguyễn Duy còn
dành nhiều bài thơ viết về tuổi thơ, ruộng đồng, cây cỏ, những vùng quê với
Trang 36những con người thân thuộc bằng một tình cảm thiết tha, nặng tình, nặng
nghĩa (Đò Lèn, Tuổi thơ, Cầu Bố, Ông già sông Hòng, Gửi Huế, Lời của cây, Sông Thao, Đà Lạt một lần trăng ) Vẫn tiếp tục chất giọng ca dao
đậm đà, thân thuộc, nhiều bài trong ánh trăng viết theo thể lục bát hết sức nhuần nhị, ngọt ngào, nhiều khi khó mà phân biệt được chúng với những bài
ca dao (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường,
NXB Đại học Sư phạm, 2004)
Xuất hiện vào chặng cuối của cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước, từ khoảng 1972 trở đi, Nguyễn Duy đã trở thành một gương mặt tiêu biểu cho lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ Cho đến nay, Nguyễn Duy vẫn là một trong
số không nhiều nhà thơ "thời ấy" còn sung sức và được bạn đọc yêu thích
Có thể thấy tài năng và con đường thơ của ông phát triển và khẳng định gắn chặt với những năm tháng đầy biến động của lịch sử dân tộc Những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh, với chùm thơ đăng trên báo Văn nghệ, 1972, Nguyễn Duy đã chiếm được lòng mến mộ của độc giả Nhà phê bình Hoài Thanh có công phát hiện và giới thiệu Nguyễn Duy Ông khẳng định ở thơ Nguyễn Duy có một vẻ đẹp "không gì so sánh được", "quen thuộc mà không nhàm chán", "Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên", chất thơ của Nguyễn Duy chính là "cái hiền hậu, một cái gì rất Việt Nam" Cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1972-1973 tiếp tục khẳng định tài năng của nhà thơ trẻ này bằng việc trao
Giải Nhất cho chùm thơ 4 bài của Nguyễn Duy (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông) Năm 1973, tập thơ đầu tay của ông ra đời - tập Cát trắng Tập thơ tuy không phải bài nào cũng đạt,
nhưng người đọc đều thấy có nét đặc sắc riêng dễ nhận ra Đó là sự dung dị, đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, là cái chân chất, chắc bền sâu kín
Nguyễn Duy thường hướng nhiều về đất, ca ngợi cái sức mạnh âm
Trang 37thầm lặng lẽ, cái cần cù bền bỉ và chịu đựng hi sinh Những bài như Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Giọt nước mắt và nụ cười, Em bé lạc mẹ, là những bài thơ như thế
Ông từng làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và
là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam Nguyễn Duy được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
1.2.2 Sự nghiệp thơ Nguyễn Duy
Theo Hoài Thanh,“Thơ Nguyễn Duy thể hiện cái cao đẹp của con người không tuổi không tên” và cái “Chất quê đằm thắm”[23] Không những thế, còn “Đậm đà phong cách Việt Nam ” Tất cả điều đó được hiện
lên ở những tác phẩm chính của ông như:
Cát trắng, NXB Quân Đội Nhân dân, 1973
Bụi, NXB Hội Nhà văn, 1997
Thơ Nguyễn Duy (2010, tuyển tập những bài thơ tiêu biểu nhất của
ông)
Ở các thể loại khác, Nguyễn Duy cũng có nhiều tác phẩm thành công:
Em-Sóng (kịch thơ - (1983) , Khoảng cách (tiểu thuyết - 1986), Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký - 1986)
Khi đang còn là học sinh trường Phổ thông Trung học, Nguyễn Duy
đã làm thơ Sự nghiệp thơ ca luôn song hành với cuộc hành trình của một
Trang 38người chiến sĩ trong suốt cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và hành trình của một công dân trong thời đại hoà bình Trong văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Duy đã rất thành công trong cảm hứng ngợi ca đất nước
và nhân dân anh hùng Những tác phẩm được bạn đọc yêu mến : Cát trắng; Những ghi chép ở Trường Sơn
Từ sau năm 1975 đến nay, đất nước đang từng bước chuyển mình để
đi tới sự đổi mới toàn diện, đó là cái nền hiện thực để Nguyễn Duy hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề có tính chân thực cao về đời sống xã hội Nổi lên là đề tài về sự thức tỉnh tự giáo dục để hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách Nhiều bài thơ ông viết về những trăn trở, suy nghĩ của mình về tương lai đất nước, tương lai của con người và môi sinh (3 bài thơ) Bài thơ đầu
mang tên Đánh thức tiểm lực viết từ năm 1980 đến 1982 với những suy tư
về tiềm lực và tương lai của đất nước Bài thơ thứ hai được viết lúc ông đến
thăm Liên Xô và đến năm 1988 mới hoàn thành mang tên "Nhìn từ xa Tổ quốc" Bài thơ viết về những trì trệ, bất cập mà ông mắt thấy tai nghe trong
thời kì bao cấp, với những câu thơ rất mạnh mẽ, "như những nhát dao cứa vào lòng người đọc" (Lê Xuân Quang) Bài thơ thứ 3 viết sau đó chục năm,
mang tên Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vẫn cùng thi pháp với 2 bài thơ trước
nhưng chủ đề lại rộng hơn: những suy nghĩ về thiên nhiên, không gian và tương lai con người Những bài thơ như thế của Nguyễn Duy trở thành một tác phẩm văn học có sức thuyết phục như một bài bình luận - chính luận, một thiên Phóng sự, Bút ký, hay nếu xâu chuỗi, hệ thống Có nhà nghiên cứu cho rằng thơ Nguyễn Duy là hình ảnh sinh động về quá trình đổi mới, sự thay đổi trong quan niệm về phản ánh hiện thực và tư thế phát ngôn của nhà thơ
Nguyễn Duy có nhiều thành công ở thơ lục bát Thơ lục bát của Nguyễn Duy được viết theo phong cách hiện đại, câu thơ vừa phóng túng lại
Trang 39vừa uyển chuyển chặt chẽ Nguyễn Duy được giới phê bình đánh giá là
người đã góp phần làm mới thể thơ truyền thống này Bài thơ Tre Việt Nam
của ông đã được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt Nam
Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với
chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt nam trong tập Cát trắng
Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký Ông đã biên tập và năm 2005 cho ra mắt tập thơ thiền in trên giấy dó (gồm 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần
do ông chọn lọc) có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh minh họa của ông
Nguyễn Duy là nhà thơ có phong cách độc đáo Theo nhà phê bình
Hoài Thanh thì: “Khi mở những trang thơ Nguyễn Duy, cứ thoáng nghe “cái mùi bùn nặng ngấu”, mùi của rơm rạ, đất đai quen thuộc Cứ dậy lên đến khiến phải trăn trở khi hương cau ngan ngát lan toả khắp không gian, khi cái thơm nồng của bồ kết níu kéo, gợi thức cư ngân nga lời ru tha thiết mà nghẹn ngào chua xót Cứ thấy lạ mà quen, xa mà gần, to tát mà thì thầm, trầm tĩnh ”[23]
Đằng sau những trang thơ, ta thấy hình ảnh của nhà thơ tự do, yêu đời
và tự coi mình là “thi sĩ thảo dân” Nguyễn Duy chân thật đến mộc mạc khi
khắc hoạ chân dung và tính cách của mình Chính điều đó làm cho kiểu giao tiểp trữ tình của nhà thơ đạt hiệu quả nghệ thuật và hấp dẫn độc giả
Tìm hiểu những chặng đường thơ Nguyễn Duy, chúng tôi thấy ông
đúng là “một thi sĩ thảo dân” như nhận định của Chu Văn Sơn [5] Chất thảo
dân của Nguyễn Duy thể hiện ở việc khai thác những vẻ đẹp cao quý trong thế giới từ những sự vật bình dị của cuộc sống đất nước mình Thơ ông bám
rễ sâu vào cuộc sống đời thường để khơi nguồn sáng tạo Những đề tài mà nhà thơ đặc biệt quan tâm là những bà, những mẹ, những người nông dân
Trang 40“nơi thửa ruộng bạc phếch nứt nẻ”, hay nơi “váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa” với công việc trồng ngô, cấy lúa Nguyễn Duy thường hướng
ngòi bút của mình về với cội nguồn dân tộc với những hình ảnh bình dị và rất đỗi thân thương với nhà thơ như gốc rạ, đống rơm, những hạt lúa cháy, những ổ rơm vàng, những bát nước ngô non, những qủa dưa ếch bò toài qua cát nóng; với những con cò, cái bống, cái tôm Bằng nghệ thuật của thơ lục bát, bằng những hình ảnh ẩn dụ độc đáo, tất cả những hình ảnh ấy thể hiện được tình cảm dân dã và yêu quê hương đất nước của nhà thơ
Tình yêu đất nước trong thơ Nguyễn Duy còn thể hiện ở mong muốn
về một xã hội ổn định, không xô bồ, hỗn tạp với những mặt trái của cơ chế
thị trường, của “nấc thang của biểu giá sinh hoạt” mong muốn đó được nhà thơ thể hiện chân thành mà mộc mạc “Đơn sơ mà kì diệu chính là diện mạo bao trùm của cái đẹp Nguyễn Duy Đơn sơ chứa đựng kì diệu, kì diệu ngay trong đơn sơ” (Chu Văn Sơn) Chính vẻ đẹp đó làm nên phong cách
nghệ thuật thơ của Nguyễn Duy, trong đó có việc sử dụng ẩn dụ mà những phần tiếp theo của luận văn sẽ trình bày
[[
1.3.Tiểu kết
Ẩn dụ có mối quan hệ chặt chẽ với tư duy, cụ thể nó là một phương thức tư duy của con người Ẩn dụ tri nhận hay ẩn dụ ý niệm được hiện thân hoá qua trải nghiệm cảm xúc của chúng ta Tất cả những gì vốn là phẩm chất riêng của bản thân con người đều có thể suy nghĩ kiểu ẩn dụ tri nhận
Chương thứ nhất của luận văn trình bày những vấn đề cơ bản về lý thuyết của ẩn dụ tri nhận để làm cơ sở tiếp tục thực hiện các phần nội dung nghiên cứu quan trọng tiếp theo của luận văn Qua những trang thơ của Nguyễn Duy, luận văn sẽ khai thác, phân tích những nhóm từ, những biểu