1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ tri nhận trong thơ nông quốc chấn

110 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 691,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể coi ẩn dụ tri nhận là con đường ý niệm hóa về sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan thông qua các từ, ngữ đó có liên quan đến văn hóa dân tộc; là phương tiện của tư duy để co

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MA THỊ THÚY NGỌC

ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG THƠ NÔNG QUỐC CHẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MA THỊ THÚY NGỌC

ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG THƠ NÔNG QUỐC CHẤN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Tồn

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Xác nhận của trưởng khoa chuyên môn

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học

GS.TS Nguyễn Đức Tồn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Nguyễn Đức Tồn người thầy đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã giảng dạy, khoa Sau đại học, Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Sau cùng, xin gửi lời tri ân đến gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học viên Cao học Ngôn ngữ K19 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và viết luận văn

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2013

Tác giả

Ma Thị Thúy Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 9

1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận – khái niệm và sự phân loại 9

1.1 Khái niệm và bản chất của ẩn dụ 9

1.2 Khái quát về ẩn dụ tri nhận 12

1.2.1 Các quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ 12

1.2.2 Ngôn ngữ học tri nhận 16

1.2.3 Khái niệm ẩn dụ tri nhận 18

1.3 Phân loại ẩn dụ tri nhận 23

1.3.1 Ẩn dụ cấu trúc 23

1.3.2 Ẩn dụ bản thể 24

1.3.3 Ẩn dụ kênh liên lạc/ truyền tin 25

1.3.4 Ẩn dụ định hướng 25

2 Một số nét về nhà thơ Nông Quốc Chấn 26

2.1 Tiểu sử và cuộc đời 26

2.2 Sự nghiệp sáng tác 28

Trang 6

Chương 2: ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG THƠ NÔNG QUỐC CHẤN 33

2.1 Giới thiệu về tuyển tập thơ Nông Quốc Chấn 33

2.2 Các phạm vi là miền nguồn của ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn 35

2.2.1 Miền nguồn là con người và các bộ phận của cơ thể con người 35

2.2.2 Nguồn biểu trưng là những công trình, vật dụng do con người sáng tạo ra 46

2.2.3 Nguồn biểu trưng từ thế giới tự nhiên 53

2.3 Các ý niệm quy chiếu thuộc miền đích của ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn 71

2.4 Đặc điểm ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn từ góc độ văn hóa-dân tộc và tư duy ngôn ngữ 77

Chương 3: ẨN DỤ BẢN THỂ TRONG THƠ NÔNG QUỐC CHẤN 81

3.1 Khảo sát chung 81

3.2 Ẩn dụ bản thể trong thơ Nông Quốc Chấn 81

3.2.1 Ẩn dụ vật chứa, không gian hạn chế trong thơ Nông Quốc Chấn 81

3.2.2 Ẩn dụ vật chứa, công việc hoạt động, trạng thái, tính chất trong thơ Nông Quốc Chấn 87

3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn 90

3.3.1 Những quan niệm văn hóa thế giới 91

3.3.2 Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt và các dân tộc thiểu số anh em 92

3.3.3 Trải nghiệm sống của chính nhà thơ 95

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ẩn dụ tri nhận là một trong các bộ phận quan trọng của lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, một lý thuyết thuộc loại hiện đại nhất của nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay [4,5] Nó gắn liền với đặc trưng văn hóa của người bản ngữ, được sử dụng rộng rãi trong văn học nghệ thuật, khoa học và trong đời sống thường nhật của con người Có thể coi ẩn dụ tri nhận là con đường ý niệm hóa

về sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan thông qua các từ, ngữ đó có liên quan đến văn hóa dân tộc; là phương tiện của tư duy để con người nhận thức

thế giới, miêu tả thế giới, cải tạo thế giới và sáng tạo tinh thần

Ẩn dụ tri nhận là vấn đề còn tương đối mới mẻ trong nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu hướng tới mở rộng miêu

tả ẩn dụ trong các loại ngôn bản như ca dao, tục ngữ, thơ và trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày Qua đó, có thể thấy được vai trò và tác dụng tích cực của

ẩn dụ với tư cách là phương tiện tư duy của con người, giúp con người khám phá hiện thực, làm phong phú thêm sự hiểu biết của chúng ta về thế giới

Nhà thơ Nông Quốc Chấn tên thật là Nông Văn Quỳnh, quê gốc ở tỉnh Bắc Kạn, là người dân tộc Tày, sớm giác ngộ tham gia cách mạng

Sự nghiệp văn thơ của Nông Quốc Chấn gắn liền với sự nghiệp 50 năm hoạt động cách mạng của ông Nông Quốc Chấn đã để lại một sự nghiệp văn thơ không chỉ có ý nghĩa đối với nền văn học các dân tộc thiểu số, mà còn cho

cả nền văn học Việt Nam Nhắc đến thơ ông, người ta thấy hiện lên một cách chân thực và sinh động về hình ảnh con người, cuộc sống và cảnh vật thiên nhiên nơi núi rừng Việt Bắc: Ông am hiểu sâu sắc thành ngữ, tục ngữ, những bài dân ca của các dân tộc thiểu số và vận dụng sáng tạo trong sáng tác thơ ca của mình Nhờ đó Nông Quốc Chấn đã tạo nên một phong cách thơ rất riêng Thơ Nông Quốc Chấn tràn đầy tính hiện thực và cũng thấm đẫm bản sắc văn

Trang 8

hóa dân tộc Ông là cánh chim đầu đàn của những người làm văn học cách mạng của các dân tộc thiểu số Ông là người mở đường, người để lại dấu ấn sâu đậm không thể quên, không chỉ với văn học các dân tộc thiểu số hiện đại nói riêng mà có vị trí vững chắc trong tiến trình văn học cách mạng Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX (Tô Hoài)

Được nhắc đến như một cây đại thụ của nền văn học thiểu số, Nông Quốc Chấn đã nhận được nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước cho sự nghiệp hoạt động văn hóa, văn học của mình

Song, chưa có đề tài nào thực sự đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn Vì vậy, bằng những nhận thức mới mẻ về ẩn

dụ tri nhận, bằng tình yêu sâu sắc với thơ Nông Quốc Chấn, chúng tôi quyết

định chọn Ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn làm đề tài nghiên cứu

của luận văn

Nghiên cứu đề tài ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn mong muốn

sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận, một vấn đề lý luận còn mới mẻ đối với ngôn ngữ học nước ta Ngoài ra nghiên cứu

đề tài này còn giúp ích cho việc tìm hiểu và giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường nói chung, các tác phẩm của nhà thơ Nông Quốc Chấn nói riêng được đầy đủ và toàn diện hơn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Ẩn dụ tri nhận là một lĩnh vực còn tương đối mới mẻ trong nghiên cứu Việt

ngữ học Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn trong cuốn “Tìm hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với các dân tộc khác)”, (Nxb ĐHQG HN, 2002) đã đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam dưới thuật ngữ “tri giác” Sau

đó (năm 2007) Nguyễn Đức Tồn có bài viết trực tiếp bàn về Bản chất ẩn dụ và

ẩn dụ tri nhận (Bản chất của ẩn dụ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10& 11, 2007)

Trang 9

Năm 2005, tác giả Lý Toàn Thắng đã nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ học tri nhận trong cuốn “Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” (Nxb KHXH, H, 2005) Trọng tâm cuốn sách là vấn đề tri nhận không gian nên tác giả cuốn sách chưa dành một vị trí xứng đáng cho khái niệm ẩn dụ tri nhận cũng như khảo sát bước đầu về nó

Chuyên luận tiếp theo về ngôn ngữ học tri nhận của Trần Văn Cơ (2007)

đã dành từ trang 292 đến trang 326 để bàn về ẩn dụ tri nhận Sau đó cũng chính tác giả Trần Văn Cơ đã dành hẳn một chuyên khảo để nghiên cứu về vấn đề này với nhan đề: “ Khảo luận ẩn dụ tri nhận” (Nxb Lao động – Xã hội, 2009) Tác giả cũng chỉ bàn về sự ra đời của ẩn dụ, bản chất ẩn dụ và sự phân lọai các kiểu loại ẩn dụ tri nhận (gồm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng

Hà Nội, 2008; Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ẩn dụ với các nhóm từ liên quan đến ngôi nhà theo lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận (có đối chiếu so sánh hai ngôn ngữ Anh – Việt) của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn, Đại học khoa học xã hội

và nhân văn Hà Nội, 2009; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận, mô hình ẩn dụ cấu

trúc trên cứ liệu ca từ của Trịnh Công Sơn của tác giả Nguyễn Thị Thanh

Huyền, Đại học khoa học xã hội và nhân văn T.P Hồ Chí Minh, 2009; Luận

văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ Tố Hữu của Phạm Minh Châu, Đại Học Hải Phòng, 2012; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ nguyễn Duy của Nguyễn Thị Yến, 2012, Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Luận văn thạc sĩ Ẩn

dụ tri nhận trong thơ Xuân Diệu của Nguyễn Thị Thùy, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, 2013; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ Chế

Trang 10

Lan Viên của Phạm Thị Thu Thùy, Đại học Hải Phòng, 2013; Luận văn thạc sĩ

Ẩn dụ tri nhận trong thơ Lưu Quang Vũ của Phạm Thị Hoài, Đại học Hải

Phòng, 2013; v.v…

2.2 Nhà thơ Nông Quốc Chấn được biết đến như một nhà hoạt động văn hóa

đầy tâm huyết và mẫu mực Thơ ông thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu phê bình có tên tuổi như: Xuân Diệu, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Hà Minh Đức, Nguyễn Ngọc Thiện, Huy Cừ… Không chỉ được nghiên cứu từ góc độ phê bình văn học mà thơ ông còn được nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học Dù

ở những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng chúng ta đều thấy rằng thơ Nông Quốc Chấn là tiếng nói giản dị, chân thành, câu thơ mộc mạc nhưng đậm chất trữ tình, thấm đẫm tinh thần văn hóa dân gian, dân tộc

Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện đã nhận xét về ngôn ngữ thơ Nông Quốc Chấn: “Tính chất khẩu ngữ bình dị, thật thà của câu chữ, bộc lộ cách cảm, cách nghĩ chất phác…những câu thơ nhìn bề ngoài ngỡ như là viết kiểu ứng tác, khá dễ dàng không màu mè, rào đón, bọc giấu mà cứ trần trụi, thật như đếm và thẳng như cây bương”

Vũ Khiêu trong Tuyển tập Nông Quốc Chấn (Nxb Văn hóa dân tộc, H, 1998) đã nhận xét: Thơ anh nhiều lúc hoang sơ như cây rừng, gập ghềnh như sườn núi Nhưng đọc thơ anh, người ta dần nhận ra có cái gì đáng yêu, từ tâm hồn anh có cái gì trong trắng như hoa ban, ngọt lành như suối mát…

Như vậy, mặc dù có nhiều đề tài nghiên cứu thành công về ẩn dụ tri nhận, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn Vì vậy luận văn này có thể coi là công trình đầu tiên đặt ra vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống và tương đối đầy đủ về ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn Nguồn tư liệu phong phú của thơ Nông Quốc Chấn sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về ẩn dụ tri nhận trong thơ ông, đồng thời góp thêm một cái nhìn về nghệ thuật xây dựng hình tượng trong tác phẩm của ông

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.2 Bằng việc nghiên cứu các ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn, và qua

cơ chế của ẩn dụ tri nhận được sử dụng trong các bài thơ, hi vọng có thể làm sáng

tỏ nghệ thuật xây dựng hệ thống hình tượng trong thơ Nông Quốc Chấn và có thể thấy được thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả, đồng thời có cơ sở để khẳng định những thành công của nhà thơ trong việc sử dụng và sáng tạo ngôn

ngữ dân tộc từ góc độ đặc điểm văn hóa dân tộc và tư duy ngôn ngữ

3.1.3 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn mong muốn rút ra

những bài học cần thiết cho việc dạy và học văn trong nhà trường phổ thông đạt kết quả cao hơn về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung vào một số khía cạnh sau:

3.2.1 Thống kê, phân loại các ẩn dụ tri nhận xuất hiện trong các tập thơ được

khảo sát của Nông Quốc Chấn

3.2.2 Khảo sát, mô tả tất cả các ẩn dụ tri nhận nói trên

3.2.3 Phân tích vai trò của ẩn dụ trong các bài thơ để thấy giá trị thẩm mỹ

của chúng

3.2.4 Chỉ ra những nét riêng, mang tính sáng tạo của hình tượng nhờ hệ thống

các ẩn dụ trong thơ Nông Quốc Chấn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát chủ yếu của luận văn là các bài thơ được in trong các

tập thơ của Nông Quốc Chấn: Tiếng ca người Việt Bắc (Nxb Văn học, H, 1960), Đèo Gió (Nxb Văn học, H, 1968), Dòng thác (Nxb Văn học, H, 1977), Suối và biển (Nxb Văn học, H, 1984)

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Trên cơ sở tập hợp ngữ liệu về các loại ẩn dụ trong thơ Nông Quốc Chấn, luận văn tiến hành phân loại chúng thành các tiểu loại và tìm hiểu tần số xuất hiện, giá trị biểu đạt của chúng trong thơ Nông Quốc Chấn

5.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phương pháp này được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng của hiện tượng ẩn dụ xuất hiện trong những ngữ cảnh nhất định để thấy những giá trị của chúng

5.3 Phương pháp miêu tả

Trên cơ sở lý luận chung, luận văn tiến hành miêu tả các ẩn dụ tri nhận xuất hiện trong các tập thơ để phát hiện những giá trị ẩn sau chúng mà nhà thơ gửi gắm vào mỗi tác phẩm

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về lí luận

Khảo sát ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong nghệ thuật thơ ông, khẳng định tài năng “cánh chim đầu đàn” của ông đối với văn học cách mạng của các dân tộc thiểu số Việt Nam Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng đã xác định giá trị của các ẩn dụ tri nhận trong sự phát triển của thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung

Trang 13

6.2 Về thực tiễn

Luận văn đóng góp vào thực tiễn phân tích và giảng dạy thơ Nông Quốc Chấn nói riêng và các tác phẩm thơ ca trong nhà trường phổ thông nói chung

Nó còn góp phần thúc đẩy việc tìm hiểu tác phẩm văn học dựa trên mối quan

hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ từ ngữ

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương:

Chương 1: Những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận - khái niệm và sự phân loại

1.1 Về khái niệm và bản chất của ẩn dụ

1.2 Khái quát về ẩn dụ tri nhận

1.2.1 Các quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ

1.2.2 Ngôn ngữ học tri nhận

1.2.3 Khái niệm ẩn dụ tri nhận

1.3 Phân loại ẩn dụ tri nhận

1.3.1 Ẩn dụ cấu trúc

1.3.2 Ẩn dụ bản thể

1.3.3 Ẩn dụ kênh liên lạc

1.3.4 Ẩn dụ định hướng

2 Một số nét về nhà thơ Nông Quốc Chấn

2.1 Tiểu sử và cuộc đời

Trang 14

ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể Vì vậy luận văn tập trung chỉ trình bày và phân tích hai loại này

Chương 2: Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn

Luận văn sẽ phân tích, đưa ra bảng thống kê chung về ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn Gồm các mục:

2.1 Giới thiệu về tuyển tập thơ Nông Quốc Chấn được chọn khảo sát

2.2 Các phạm vi là miền nguồn của ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn 2.3 Các ý niệm quy chiếu thuộc miền đích của ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn

2.4 Đặc điểm ẩn dụ cấu trúc trong thơ Nông Quốc Chấn từ góc độ văn hóa-dân

tộc và tư duy ngôn ngữ

Tiểu kết

Chương 3: Ẩn dụ bản thể trong thơ Nông Quốc Chấn

3.1 Khảo sát chung

3.2 Ẩn dụ bản thể trong thơ Nông Quốc Chấn

3.2.1 Ẩn dụ vật chứa, không gian hạn chế trong thơ Nông Quốc Chấn

3.2.2 Ẩn dụ vật chứa, công việc, hoạt động, trạng thái, tính chất trong thơ Nông Quốc Chấn

3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn

3.3.1 Những quan niệm văn hóa thế giới

3.3.2 Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ

3.3.3 Trải nghiệm sống của chính nhà thơ

Tiểu kết

KẾT LUẬN

Trang 15

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận – khái niệm và sự phân loại

1.1 Khái niệm và bản chất của ẩn dụ

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến ẩn dụ Từ các bình diện: Từ vựng học, ngữ nghĩa học, phong cách học, triết học ngôn ngữ và gần đây là bình diện dụng học và ngôn ngữ học tri nhận Đã có nhiều công trình ngôn ngữ học hướng tới miêu tả các các cấu trúc ẩn dụ không chỉ ở phạm vi chật hẹp của những đơn vị ngôn ngữ riêng lẻ như từ, câu, mà mở rộng ra các loại ngôn bản như ca dao, tục ngữ, thơ và trong những lĩnh vực đời sống, xã hội Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về

ẩn dụ nhưng hầu hết các quan điểm đều thống nhất cho rằng: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa chúng”

Nguyễn Đức Tồn trong Đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy đã chỉ ra một số quan niệm của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ:

A.A.Reformatxki giải thích: “Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là sự chuyển đổi, là trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên

sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động,…” [41,465 ] B.N.Golovin định nghĩa: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” [41,465] O.X Akhmanova đã định nghĩa ẩn dụ: Ẩn dụ là “phép chuyển nghĩa dùng trong các từ và ngữ có ý nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự giống nhau”(Dẫn theo [41,465])

Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam:

Nguyễn Văn Tu quan niệm: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ

Trang 16

tượng của ta mà gọi một sự vật, chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau” [45,159]

Nguyễn Lân giải thích ẩn dụ là “phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên sự tương đồng, sự giống nhau…giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến”

Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật này bằng tên một sự vật khác giữa chúng có mối quan hệ tương đồng” [1,54]

Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào

sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [7,162] Đào Thản đã giải thích khái niệm ẩn dụ cũng theo quan điểm như vậy trong mối quan hệ với sự so sánh: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần

so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [26,143]

Đinh Trọng Lạc cũng khẳng định: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang

ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B

có tên gọi được chuyển sang dùng cho A” [16,52] Theo Nguyễn Đức Tồn, tuy

ẩn dụ được xem như một sự so sánh nhưng không phải tất cả các kiểu loại so sánh đều có thể làm nên ẩn dụ Cơ sở hình thành nên ẩn dụ chỉ có một tiểu loại đặc biệt đó là tiểu loại so sánh đồng nhất trong kiểu loại so sánh ngang bằng [38] và [40]

Cũng theo Nguyễn Đức Tồn, dựa vào tiểu loại so sánh đồng nhất này cơ chế thay thế tên gọi theo phép ẩn dụ được diễn ra như sau: Tên gọi A của sự vật, hiện tượng hay tính chất…nào đó (kí hiệu là x) có thể được sử dụng để thay thế cho tên gọi B của sự vật, hiện tượng hay tính chất…nào đó khác loại

Trang 17

(kí hiệu là y) khi tư duy con người liên tưởng đồng nhất hóa x và y theo phương diện nào đó Về logic thì chỉ có sự đồng nhất hoặc tương đồng hoàn toàn mới cho phép có thể dùng cái này để thay thế cho cái kia được

Bởi vậy, câu so sánh hai sự vật làm cơ sở cho ẩn dụ phải là câu bao hàm

sự đồng nhất hóa hai sự vật ấy, nên có thể được gọi là câu đẳng nhất hay câu đẳng thức Do đó, cơ sở của ẩn dụ chính là sự đồng nhất hóa ngầm Chỉ khi nào câu diễn đạt quan hệ đồng nhất hóa các sự vật thì mới có cơ sở cho sự xuất hiện hiện tượng ẩn dụ Để diễn đạt quan hệ đồng nhất hay đẳng nhất, dạng câu điển hình nhất trong tiếng Việt thường dùng quan hệ từ “là” hoặc từ “như” (từ biểu thị quan hệ tương đồng trong sự so sánh về một mặt nào đó: tính chất, cách thức, mức độ, hình thức bên ngoài…) [38] và [40]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu bản chất của ẩn dụ đó là “phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng” [40,8]

Tóm lại, ẩn dụ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng về cơ bản họ thống nhất rằng cơ

sở của ẩn dụ là sự so sánh ngầm hay chuyển đổi tên gọi hay chuyển nghĩa của

ẩn dụ - đó là sự tương đồng ở một hoặc một vài nét nào đó giữa các sự vật hiện tượng…Khi xem xét vấn đề ẩn dụ, các tác giả vẫn chưa chỉ ra được rằng sự so sánh các sự vật với nhau chỉ là cơ sở của hiện tượng ẩn dụ; và không phải chỉ là phép so sánh ngang bằng; các sự vật tham gia vào quan hệ ẩn dụ là khác loại nhau Nguyễn Đức Tồn đã tổng kết và khắc phục các hạn chế đó Theo tác giả, dựa vào đặc điểm, thuộc tính nào đó có thể đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng khác loại nhau rồi lấy tên gọi (và các đặc điểm, thuộc tính ) của sự vật, hiện tượng này (thường mang tính cụ thể hơn) để thay thế khi gọi tên hoặc nói

về sự vật, hiện tượng kia (thường mang tính trừu tượng hơn) sẽ tạo ra được cách diễn đạt ẩn dụ Ẩn dụ tiếp tục được nghiên cứu ở giai đoạn sau với những

Trang 18

hướng nghiên cứu mới đa chiều hơn, đưa ra những cách giải quyết thấu đáo hơn về vấn đề ẩn dụ

1.2 Khái quát về ẩn dụ tri nhận

1.2.1 Các quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ

Theo Trần Văn Cơ ( Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ), Nxb KHXH, H, 2007), những quan điểm tiền tri nhận về ẩn dụ được trình bày trong các công trình của Bain (1887), Barfield (1962), Black (1969), Cohen (1975), Empson (1935), Goodman (1968), Henle (1958), Murry (1931), Verbrugge and Carrell (1977)…v.v… Donald Davidson đã tóm tắt và phê phán các quan điểm

đó đồng thời phát biểu cách hiểu riêng của mình về ẩn dụ trong bài báo có tựa

đề “ What Metaphors Mean” (Ẩn dụ nghĩa là gì) Có các quan điểm sau:

- Ẩn dụ thuộc phạm vi sử dụng

Theo Davidson, ẩn dụ bên cạnh nghĩa đen của từ còn tạo thêm ý nghĩa khác nào đó Nhiều người nghĩ về tính song nghĩa của ẩn dụ Nghĩ như vậy là hoàn toàn sai lầm Cần phân biệt ý nghĩa của từ và sự sử dụng chúng, ẩn dụ hoàn toàn thuộc phạm vi sử dụng Ẩn dụ liên quan đến việc sử dụng từ và câu một cách hình ảnh (hình tượng) và hoàn toàn phụ thuộc vào nghĩa thông thường hay nghĩa đen của từ và câu

Không thể giải thích được từ hành chức như thế nào khi chúng tạo ra những ý nghĩa ẩn dụ và hình ảnh hoặc chúng biểu hiện chân lý ẩn dụ Nghĩa đen và những điều kiện chân/ngụy tương ứng có thể gán cho từ và câu không phụ thuộc vào những hoàn cảnh sử dụng đặc biệt nào Ẩn dụ buộc chúng ta phải lưu ý đến một sự giống nhau nào đó thường là mới và bất ngờ giữa hai (hoặc nhiều) sự vật

Hiện này còn đang bỏ ngỏ nghĩa sơ cấp, hay nghĩa đen của từ Ẩn dụ có phụ thuộc vào nghĩa mới, hay nghĩa mở rộng hay không - đó còn là vấn đề Nhưng ẩn dụ phụ thuộc vào nghĩa đen của từ thì điều này không còn nghi ngờ

gì nữa: nghĩa sơ cấp hoặc nghĩa đen của từ vẫn còn ngay cả trong trường hợp

sử dụng chúng như ẩn dụ

Trang 19

- Ẩn dụ và từ đa nghĩa

Có thuyết chủ trương rằng ẩn dụ là một trong những nghĩa của từ đa

nghĩa Điều này rõ ràng không phù hợp với cách hiểu ẩn dụ Khi nói: “Hắn ta

là một con chó sói”, trong trường hợp này, “chó sói” được dùng như một ẩn dụ

chứ không phải nghĩa thứ hai của từ này, nghĩa là nó vẫn giữ mối quan hệ với lớp loài vật có tên gọi là “chó sói” song nó được dùng để định tính chủ thể

- Ẩn dụ và trò chơi chữ

Ẩn dụ xa lạ đối với trò chơi chữ Trong ẩn dụ có hai nghĩa khác nhau - nghĩa đen và nghĩa hình ảnh Chúng tồn tại đồng thời Có thể hình dung nghĩa đen như là nghĩa ẩn, còn nghĩa hình ảnh mới mang trọng trách chính

Chẳng hạn: trong trường hợp chơi chữ: “Da trắng vỗ bì bạch” không có

ẩn dụ nào, chỉ có lối chơi chữ dựa trên hiện tượng đồng nghĩa của từ gốc Hán Việt và từ Hán Việt: da= bì, trắng= bạch

Những lý thuyết về ẩn dụ bao gồm: Thuyết so sánh (so sánh tương ứng,

so sánh tỉnh lược hoặc rút gọn), thuyết san bằng ý nghĩa hình ảnh của ẩn dụ với nghĩa đen của sự so sánh đều có một khiếm khuyết chung lớn: Chúng biến ý nghĩa ở chiều sâu, không hiện rõ của ẩn dụ thành quá rõ ràng, quá dễ hiểu D.Goldman cho rằng sự khác nhau giữa so sánh và ẩn dụ không đáng kể Ông

đã phân tích sự khác nhau giữa hai phương thức biểu hiện: Có thể nói “một bức tranh buồn”, và cũng có thể nói “bức tranh giống như một người buồn” Nhưng theo Davidson, rất sai lầm khi khẳng định rằng chúng nêu ra một nét chung nào

đó Việc so sánh nói lên rằng có sự giống nhau, nhưng lại bắt chúng ta phải tự mình tìm ra nét chung, hoặc những nét chung nào đó Ẩn dụ không khẳng định

Trang 20

một cách hiển ngôn sự giống nhau, nhưng nếu chúng ta biết rõ rằng đó là ẩn dụ, thì chúng ta có nhiệm vụ tìm những nét chung nào đó

- Quan điểm thay thế

Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn theo quan điểm: Biểu thức ẩn

dụ luôn luôn được dùng thay cho một biểu thức nghĩa đen nào tương đương với

nó đều có thể được gọi là quan điểm thay thế đối với ẩn dụ Chẳng hạn, có người phát biểu rằng ẩn dụ là một từ thay thế cho một từ khác do hiệu lực của

sự giống nhau hoặc tương đồng giữa cái mà chúng biểu hiện

Theo quan điểm này, ẩn dụ dùng để truyền đạt cái ý mà về nguyên tắc có thể biểu hiện một cách trực tiếp Việc hiểu ẩn dụ giống như việc giải mã hoặc giải câu đố

- Quan điểm tương tác

Quan điểm tương tác đối với ẩn dụ do M.Black (1962) chủ trương gồm 7 điểm sau:

(1) Ẩn dụ có hai chủ thể khác nhau: một chủ thể chính và một chủ thể phụ (2) Những chủ thể này nếu được xem như những hệ thống thì có lợi hơn

là xem chúng như những đối tượng

(3) Cơ chế ẩn dụ thể hiện ở chỗ chủ thể chính được kèm theo một hệ thống “những hàm ngôn liên tưởng” có liên hệ với chủ thể phụ

(4) Những hàm ngôn này chính là những liên tưởng đã được thừa nhận, trong ý thức của người nói chúng liên hệ với chủ thể phụ, nhưng trong một số trường hợp đó có thể là những hàm ngôn không chuẩn

(5) Ẩn dụ dưới dạng hàm ngôn chứa đựng những phán đoán về chủ thể chính có thể ứng dụng cho chủ thể phụ Nhờ đó ẩn dụ lựa chọn, trừu xuất và tổ chức những đặc tính hoàn toàn xác định của chủ thể chính và loại bỏ những đặc tính khác

(6) Điều đó kéo theo những thay đổi trong nghĩa của những từ thuộc cùng nhóm hay cùng hệ thống với biểu thức ẩn dụ Một số trong những thay đổi đó có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ

Trang 21

(7) Nói chung không có sự “gán ép” nào bắt buộc đối với sự thay đổi nghĩa, không có quy tắc chung nào cho phép giải thích tại sao một số ẩn dụ có thể chấp nhận sự thay đổi nghĩa

Chỉ cần so sánh đơn giản cũng có thể thấy rằng mục (1) không tương thích với những hình thái đơn giản nhất của quan điểm thay thế, mục (7) không

ăn khớp với quan điểm so sánh, còn những mục khác thì không chấp nhận quan điểm so sánh

Song cũng không nên quá nhấn mạnh sự khác nhau giữa ba quan điểm

ấy Ẩn dụ thay thế và ẩn dụ so sánh hoàn toàn có thể được thay thế bằng cách trực dịch, tất nhiên có bị mất đi một phần nào đó vẻ đẹp sắc sảo và sinh động nhưng không bị mất đi nội dung tri nhận Còn ẩn dụ tương tác thì không được

bổ sung bằng bất cứ cái gì

- Ẩn dụ và những điều kiện chân/ngụy

Nếu những mệnh đề ẩn dụ là chân hoặc ngụy với ý nghĩa thông thường nhất, thì rõ ràng rằng chúng thường là ngụy Sự khác nhau về ngữ nghĩa rõ rệt nhất giữa ẩn dụ và so sánh thể hiện ở chỗ tất cả các so sánh đều là chân, còn đa

- Ẩn dụ và nghĩa đen của từ

Ngoài nghĩa đen, ẩn dụ không hề còn mang một nội dung nào đó hoặc có một ý nghĩa nào đó khác nữa Tất cả những lý thuyết vừa được trình bày trên

Trang 22

đây đều không hiểu mục đích của mình Sai lầm của những thuyết ấy là ở chỗ chúng tập trung vào nội dung của những tư tưởng do ẩn dụ gợi ra, rồi đưa cái nội dung đó vào cho bản thân ẩn dụ Song vấn đề là ở chỗ bằng cách nào ẩn dụ

có liên quan đến cái mà nó bắt chúng ta phải nhìn thấy Ẩn dụ bắt chúng ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác

- Ẩn dụ là phương thức của tư duy

D.Davidson trong bài báo của mình ông không thừa nhận ẩn dụ mang một nghĩa nào đó khác ngoài nghĩa đen của từ Nghĩa của ẩn dụ hoàn toàn phụ thuộc vào nghĩa đen của từ, nó không phải là một nghĩa trong từ đa nghĩa, ẩn dụ liên quan đến cách dùng từ, nghĩa là nó thuộc phạm vi lời nói

Ẩn dụ không phải là so sánh Ẩn dụ nhờ sự giống nhau giúp ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác Do đó có thể hiểu rằng ẩn dụ là một phương thức của tư duy

1.2.2 Ngôn ngữ học tri nhận

1.2.2.1 Về khái niệm tri nhận

Tri nhận là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận Nó “biểu hiện

một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lý (tinh thần, tư duy)- tri giác, phạm trù hóa, tư duy, lời nói…phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá cả bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người” [4,58]

Như vậy, “tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào não dưới dạng những biểu hiện tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh…) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người” [4,58]

“Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự tính toán, nghĩa là xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác- thành mật mã khác, thành cấu trúc khác” [4,58]

Trang 23

Các quá trình tri nhận bao gồm: Quá trình nhận thức (trí tuệ hay ý thức), ý niệm hóa, phạm trù hóa, tri giác và các biểu tượng tinh thần đang diễn ra trong bộ não của con người, nhờ đó con người nhận được những tri thức về thế giới

1.2.2.2 Về ngôn ngữ học tri nhận

Lý Toàn Thắng đã nêu rằng ngôn ngữ học tri nhận được hiểu là “một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác và ý niệm hóa các sự vật và

sự tình của thế giới khách quan đó” [29,15-16] Khi bàn về vấn đề “tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ”, Dirven đã nhận xét khái quát rằng: “Ngôn ngữ học tri nhận là (…) một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng (ngôn ngữ), bao quát các bình diện chức năng, dụng học, tương tác, và xã hội- văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng” [29,19] Các nhà ngôn ngữ học tri nhận nói chung cho rằng: “Ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực (real - time perseption) và sự tạo sinh theo thời gian các chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập, được cấu trúc hóa” Họ từ chối cách nhìn tự tri của ngôn ngữ, và cho rằng, cái mà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm trước hết là vai trò của các khả năng tri nhận chung trong ngôn ngữ, cho nên, nhiều nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận có mục đích là “làm sáng tỏ cấu trúc ý niệm và các khả năng tri nhận được ứng dụng cho ngôn ngữ và nhằm chỉ ra rằng ngôn ngữ có thể được mô hình hóa một cách hợp lí bằng cách sử dụng chính những cấu trúc

ý niệm và những khả năng tri nhận chung này” [29,18]

Theo đó, đối tượng mà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm nghiên cứu là ngôn ngữ tự nhiên của con người trong mối quan hệ với con người, thực hiện chức năng làm công cụ của tư duy, công cụ xử lí và chế biến thông tin để tạo ra tri thức và cảm xúc cho con người và nó hành chức dưới hai dạng nguyên lí cơ bản: “Dĩ nhân vi trung” và phản ánh mối tương tác giữa những nhân tố tâm lí, giao tiếp, chức năng và văn hóa

Trang 24

Tác giả Trần Văn Cơ chỉ ra rằng ngôn ngữ học tri nhận quan tâm đến 7 vấn đề cơ bản: 1- Nghiên cứu các quá trình tạo sinh và hiểu ngôn ngữ tự nhiên; 2- Nghiên cứu vấn đề phạm trù hóa ngôn ngữ; 3- Nghiên cứu khái quát vấn đề

ý niệm và ý niệm hóa thế giới; 4- Nghiên cứu các siêu phạm trù ngữ nghĩa tri nhận; 5- Nghiên cứu những ý niệm cảm xúc của con người; 6- Nghiên cứu ý niệm con người với bộ nhị nguyên xác / hồn; 7- Nghiên cứu các mối quan hệ ẩn

dụ tri nhận trong ngôn ngữ

Trong giới hạn đề tài nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi quan tâm đến vấn đề thứ 7, đó là: Ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ

1.2.3 Khái niệm ẩn dụ tri nhận

Dưới góc nhìn tri nhận luận, Black (1962) đã coi ẩn dụ như là công cụ tri nhận, nghĩa là nó không phải chỉ là một phong cách biểu thị các tư tưởng bằng ngôn ngữ mà còn là một phong cách để tư duy về các sự vật (theo Trần Văn Cơ [4])

Sau này Lakoff và Johnson trong cuốn Metaphors we live by (1980) [51]

đã đưa ra một quan niệm về ẩn dụ hoàn toàn khác với quan niệm ẩn dụ truyền thống Đó là ẩn dụ ý niệm Theo đó, ẩn dụ ý niệm là ý niệm được diễn tả qua phương thức ẩn dụ, ẩn dụ không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà nó còn là một phương thức của tư duy, là một quá trình tri nhận, phần lớn các hệ thống ý niệm mà con người dựa vào để tư duy và hành động về bản chất đều được tạo lập và giới định qua phương thức ẩn dụ

Với cách hiểu ẩn dụ là phương thức của tư duy, ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ẩn dụ là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình, phạm trù hóa được đánh giá lại trong bối cảnh ý niệm mới Bản chất của ẩn dụ tri nhận là sự ngữ nghĩa hóa và cảm nhận những hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn

dụ ý niệm- cognitive/conceptual metaphor)- đó là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý

Trang 25

niệm mới và không có nó thì không thể nhận thức được tri thức mới Và về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau [4,293-294] Với cách tiếp cận chung nhất, ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ

Ẩn dụ thường có quan hệ không phải với những đối tượng cô lập riêng

lẻ, mà với những không gian tư duy phức tạp (những miền kinh nghiệm cảm tính và xã hội) Trong quá trình nhận thức, những không gian tư duy không thể quan sát trực tiếp này thông qua ẩn dụ xác lập mối tương quan với những không gian tư duy đơn giản hơn hoặc với những không gian tư duy có thể quan sát được cụ thể (chẳng hạn, cảm xúc của con người có thể so sánh với lửa, các lĩnh vực kinh tế và chính trị có thể so sánh với các trò chơi, với các cuộc thi thể thao…) Trong quá trình này, không gian không thể quan sát trực tiếp được ý niệm hóa và nhập vào trong một hệ thống ý niệm chung của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định Đồng thời cùng một không gian tư duy có thể được biểu tượng nhờ một hoặc một số ẩn dụ ý niệm [4,294]

Trong tài liệu của Phan Thế Hưng, các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng: Ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ văn học mà còn “là một công cụ tri nhận hữu hiệu để con người ý niệm hóa các loại hình trừu tượng Ẩn dụ do vậy không chỉ là một phương thức diễn đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ mà còn là một phương thức để tư duy về sự vật” [14,9]

Trong đó, ông cũng điểm qua những tư tưởng cơ bản của những học giả được xem là “thuỷ tổ” của phương pháp tri nhận về ẩn dụ như: Kant, Blumemberg, Weinreich Họ đã đưa ra quan điểm nghiên cứu về mối quan hệ giữa ẩn dụ và tri nhận, đã bước đầu tạo nền tảng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm sau này Kant cho rằng, với những khái niệm không gắn liền trực tiếp với trực giác cảm xúc và những khái niệm này cần phải được gián tiếp “cảm xúc hóa”; ông

Trang 26

gọi đây chính là chức năng tri nhận của ẩn dụ Tuy nhiên ông không nhắc tới từ

“ẩn dụ” nhưng lại đề cập tới “biểu tượng” Còn với Blumemberg lại giới thiệu

ẩn dụ tuyệt đối, và theo ông, ẩn dụ có thể là những thành tố cơ bản của ngôn ngữ triết học Tư tưởng cốt lõi trong phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận của ông là quan tâm đến cấu trúc bề sâu của tư tưởng Ông viết: “Ẩn dụ học cố gắng tìm hiểu cấu trúc sâu của tư tưởng, lớp dưới của bề mặt, chất liệu

để tạo nên hệ thống” [14,10] Ông đưa ra các thuật ngữ như mô hình tri nhận,

ẩn dụ nền, mô hình văn hóa…Qua phân tích các ví dụ, ông đã phần nào xác

định phương hướng của việc chuyển đổi ẩn dụ từ phạm trù này sang phạm trù khác; và đóng góp tiên phong trong nghiên cứu về thuyết ẩn dụ ý niệm, về mối quan hệ giữa ẩn dụ ngôn ngữ và mô hình văn hóa cũng như về sự phân tích chức năng ẩn dụ Còn Harald Weinreich- nhà ngôn ngữ học người Đức (1958)

đã “trình bày hiểu biết ẩn dụ ý niệm, phân tích ẩn dụ ngôn ngữ không phải biệt lập theo “trường hình ảnh” tương tự như ẩn dụ ý niệm ngày nay” [14,11] Trường hình ảnh của Weinreich thuộc loại “AB” mà có thể diễn dịch thành ẩn

dụ ý niệm theo mẫu “A là/như B” và ngược lại Ví dụ: cuộc đời - hành trình, hôn nhân- chuyến xe

Phương pháp của Weinreich đã thể hiện được hai nguyên lý về mô hình

ẩn dụ cũng như sự cần thiết của ẩn dụ; và nói rõ về mô hình tri nhận ẩn dụ nhất

là nếu chúng xuất hiện theo những trường hình ảnh mang tính nhất quán, chắc chắn phải được xem như là mô hình tri nhận (cognitive models) Nhờ vai trò của mô hình tri nhận, ẩn dụ ý niệm (tương tự như “trường hình ảnh”) thực sự quyết định cái nhìn về thế giới (World view) của chúng ta Và “ẩn dụ chỉ thiết lập nên sự tương tự (analogies), tạo nên các mối tương đẳng (correspon dences) chứ ẩn dụ không phản ánh sự giống nhau (similarities), có thực hay tưởng tượng như thuyết ẩn dụ cổ điển”

Reddy (1979) với lý thuyết “ẩn dụ dẫn đường” (conduit metaphor), đã chỉ ra rằng: “Sự giao tiếp (bằng ngôn ngữ) là sự chuyển đổi tư tưởng (biểu tô

Trang 27

qua sự vật) từ trí não của người này sang trí não của người khác Người đầu tiên chuyển ý nghĩ của mình thành từ ngữ, chuyển các từ ngữ này đến người thứ hai và người thứ hai chuyển dịch ý nghĩ đó từ các từ ngữ nhận được Đó là cách ẩn dụ diễn ra trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta” [14,13] Tác giả cũng cho rằng “trọng tâm của ẩn dụ không phải là bản thân ngôn ngữ mà là ý nghĩ hay tư tưởng đằng sau đó” [14,14] Sau này, Lakoff (1993) cũng đã nhận định rằng: “Reddy là người đầu tiên đã khái quát hóa được khái niệm giao tiếp bằng ẩn dụ và tiếp cận được hệ thống ẩn dụ ý niệm để các nhà ngôn ngữ học,

ẩn dụ học, và khoa học tri nhận về sau tiếp tục nghiên cứu các hệ thống tư tưởng về ẩn dụ mà con người dựa vào đó để lý luận, để hành động, đồng thời làm nổi bật cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ” [14,14]

Lakoff và Johnson (1980)[51] cho rằng đối với đa số mọi người thì ẩn dụ

là một công cụ trong thi ca và là một biện pháp tu từ, vấn đề thuộc về ngôn ngữ bậc cao chứ không phải thuộc về ngôn ngữ hàng ngày Song, hai tác giả lại đưa

ra một quan điểm ngược lại: “…trái lại chúng tôi nhận thấy rằng ẩn dụ tỏa khắp đời sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư tưởng và hành động Xét về cách chúng ta suy nghĩ và hành động, hệ thống khái niệm thông thường của chúng ta về bản chất mang tính ẩn dụ” [14,14] Lakoff đề xuất rằng

“ẩn dụ (metaphor) dùng để gọi ánh xạ (maping), còn từ biểu ngữ ẩn dụ (metaphorical expression) để chỉ cho các từ, cụm từ dùng để biểu thị các tương ứng giữa hai phạm trù” [14,15]

Để tiện hiểu hơn về đồ chiếu trong hệ thống ý niệm, Lakoff và Johnson đã

áp dụng một chiến lược đặt tên cho những đồ chiếu như vậy, dùng trí nhớ đề nghị ra đồ chiếu này, theo hình thức: Target domain is source domain hay có thể

là Target domain as source domain (miền đích là /với tư cách như miền nguồn)

Ví dụ như khi nói Love is a journey (Tình yêu là một cuộc hành trình),

ta sẽ dùng trí nhớ để nêu lên đặc điểm của các đồ chiếu (mapping) gọi là The love-as-journey mapping:

Trang 28

Trong đó:

- Những người yêu nhau là lữ khách trong cuộc hành trình

- Mối quan hệ yêu đương là phương tiện di chuyển

- Mục đích chung của hai người yêu nhau là điểm đến chung trong chuyến hành trình

- Những khó khăn trong quan hệ là những trở ngại trên đường đi

Điều tạo ra ẩn dụ tình yêu là một cuộc hành trình không phải là các từ hay

cụm từ mà là sơ đồ ánh xạ chuyển tiếp giữa hai phạm trù khái niệm, từ phạm trù nguồn đến phạm trù đích Và như thế “tình yêu là một cuộc hành trình là ẩn

dụ, và các câu, từ diễn đạt trạng thái tình yêu như nêu trên là biểu trưng ẩn dụ hay ngôn từ ẩn dụ” [14,15]

Từ đó, ta có thể khái quát thành sơ đồ ẩn dụ ý niệm như sau:

Mô hình tri nhận tuyệt đối (tri thức khái quát về thế giới) sơ đồ ánh

xạ trong ẩn dụ ý niệm (chính yếu) + ngôn ngữ (từ, cụm, câu) (thứ yếu) => ẩn

hệ thống của ẩn dụ Trên cơ sở đó, ẩn dụ không chỉ thuộc phạm trù ngôn ngữ

mà còn thuộc phạm trù tri nhận, giải thích được ý nghĩ và hành động của chúng

ta qua ngôn ngữ hàng ngày (…) cho nên không chỉ nghiên cứu ẩn dụ qua cấu trúc ngôn từ

2- Ẩn dụ ý niệm là một quan điểm mới mẻ trong nghiên cứu ẩn dụ học,

nó được tìm hiểu song hành với sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, tâm lý học nhận thức, nhân chủng học và các khoa học khác có liên quan

Như vậy, ẩn dụ theo quan điểm truyền thống cũng chứa vấn đề tư duy nhưng chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu sâu Còn với quan điểm của

Trang 29

các nhà tri nhận về ẩn dụ, họ xem ẩn dụ không chỉ là một biện pháp tu từ văn học mà còn là một công cụ tri nhận hữu hiệu của con người Ẩn dụ do vậy không chỉ là một phương thức diễn đạt ý nghĩ bằng ngôn ngữ mà còn là phương thức để tư duy về sự vật Dù là các quan điểm truyền thống về ẩn dụ hay quan điểm mới trong nghiên cứu ẩn dụ thì chúng vẫn không loại trừ nhau

mà có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau

1.3 Phân loại ẩn dụ tri nhận

Trong cuốn Metaphors we live by (Chúng ta sống trong ẩn dụ), Lakoff

và Johnson (1980) [51] đã phân thành 4 loại ẩn dụ tri nhận như sau: Ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc và ẩn dụ định hướng

1.3.1 Ẩn dụ cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hay một biểu thức) khác Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hoá vật thể và ngôn ngữ) và sự liên tưởng [4, 36]

Chẳng hạn: - Con cáo - biểu trưng cho sự tinh ranh, khôn ngoan

- Đại bàng - biểu trưng cho lòng kiêu hãnh, dũng cảm

Ẩn dụ cấu trúc thường có các miền nguồn và miền đích với những ý niệm được biểu thị:

Miền nguồn đóng vai trò rất quan trọng trong ẩn dụ cấu trúc, bởi lẽ đó là

nơi phát sinh những tri thức mới nhằm cấu trúc hóa những yếu tố nghĩa của ý niệm ở vị trí đích Nói chung, những ý niệm của miền nguồn bao quát toàn bộ những tri thức mà con người đạt được trong quá trình tri nhận thế giới Đó là tri thức về thế giới khách quan và về thế giới chủ quan do con người sáng tạo ra nhờ những phương tiện ngôn ngữ và văn hóa dân tộc của người bản ngữ Có thể quy những tri thức về thế giới thành những nhóm sau: Những tri thức về con người và hoạt động của nó; những tri thức về tự nhiên và những biểu hiện

Trang 30

của tự nhiên; những tri thức về xã hội và sinh hoạt xã hội; ngoài ra thuộc miền nguồn còn có những tri thức về thế giới do con người tưởng tượng ra

Miền đích có thể là tất cả những ý niệm đã được ngữ nghĩa hóa nghĩa là

cần được giải thích bằng những tri thức do ý niệm thuộc miền nguồn cung cấp

Đó có thể là: Những biểu ngữ định danh; những biểu ngữ trong lĩnh vực trí tuệ, cảm xúc, đạo đức, ý chí… của con người hoặc những biểu ngữ trong lĩnh vực thế giới quan, nhân sinh quan của con người

Trên đây cũng chỉ là một vài tổng kết nhỏ về các ý niệm thuộc miền nguồn và miền đích mà ẩn dụ cấu trúc thường quy chiếu, để có thể liệt kê tất cả những ý niệm đó, đòi hỏi một công trình nghiên cứu khác, quy mô hơn và có nhiều thời gian hơn

1.3.2 Ẩn dụ bản thể

Ẩn dụ bản thể (ontological metaphors) thực chất là quá trình “vật thể hóa” những bản thể trừu tượng và vạch ra ranh giới của chúng trong không gian

Ẩn dụ bản thể và chất liệu hình thành do kinh nghiệm của chúng ta trong việc tri giác những đối tượng vật lí và các chất liệu tạo nên một cơ sở khác để ngữ nghĩa hóa các ý niệm vượt ra ngoài ranh giới của sự định hướng giản đơn

Ẩn dụ bản thể là những phương thức giải thích các sự kiện, hành động, cảm xúc, tư tưởng…vốn là những khái niệm trừu tượng, xem chúng như những vật liệu và chất liệu

Biểu tượng về những loại ẩn dụ bản thể gồm: ẩn dụ vật chứa với: không gian hạn chế, trường thị giác; sự kiện, hành động, công việc, trạng thái

Các hoạt động, sự kiện nhờ các ẩn dụ bản thể nên được tri nhận và hiểu như những đối tượng; các công việc được biểu hiện bằng chất liệu, còn các trạng thái được hiểu như những vật chứa

Trang 31

1.3.3 Ẩn dụ kênh liên lạc/ truyền tin

Ẩn dụ “kênh liên lạc/ truyền tin” là “quá trình giao tiếp như sự vận động của nghĩa “làm đầy” các biểu thức ngôn ngữ (vật chứa) theo “kênh” nối người

nói với người nghe” [4,318] Do đó, có cách nói đại loại: Mọi người xì xầm truyền tai nhau những lời đàm tiếu…

1.3.4 Ẩn dụ định hướng

“Ẩn dụ định hướng cấu trúc hoá một số miền và tạo nên một hệ thống ý niệm hoá cho chúng, chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập theo kiểu như: lên - xuống, vào - ra, sâu - cạn, trung tâm- ngoại vi [4, 318] Chẳng hạn đối với người Việt, trạng thái tình cảm tích cực

là “ở trên”, còn trạng thái tiêu cực là “ở dưới” Ví dụ chúng ta thường nói: cười lên nào, xịu mặt xuống

Một số kiểu ẩn dụ định hướng không gian kiểu trên - dưới:

1- Hạnh phúc định hướng lên trên; nỗi buồn định hướng xuống dưới 2- Trạng thái có ý thức định hướng thì hướng lên trên; trạng thái vô thức thì định hướng xuống dưới

3- Sức khoẻ và sự sống định hướng lên trên; bệnh tật và cái chết định hướng xuống dưới

4- Nắm quyền lực hay sức mạnh thì định hướng lên trên; phục tùng quyền lực hay sức mạnh thì định hướng xuống dưới

Với bốn loại ẩn dụ mà Lakoff và Johnson đề nghị: Ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ kênh liên lạc, chúng ta thấy phạm vi ẩn dụ

ý niệm được mở rộng rất nhiều so với cách hiểu truyền thống về ẩn dụ như một phương thức của tu từ học hay của thuật hùng biện Có thể nói, cách hiểu về ẩn

dụ tri nhận như trên đã phản ánh được khá đầy đủ năng lực biểu hiện phong phú của ngôn ngữ tự nhiên của con người, ngôn ngữ của giao tiếp thường nhật

Trang 32

2 Một số nét về nhà thơ Nông Quốc Chấn

2.1 Tiểu sử và cuộc đời

Nông Quốc Chấn (1923 – 2002), thuở nhỏ có tên là Nông Văn Đăm, tên khai sinh là Nông Văn Quỳnh, tên bí mật từ năm 1941 đến năm 1944 khi tham gia cách mạng là Quốc Bảo, từ 1944 đến nay tên thường dùng là Nông Quốc Chấn Ông là người dân tộc Tày, quê gốc cũng như nơi sinh ở bản Nà Cọt ( còn gọi là Bó SLảng) thuộc xã Châu Khê, Bằng Đức, Ngân Sơn, Bắc Kạn Thân sinh ông là Nông Ích Mèo, làm đồ nho, thầy tào, mất năm 1940; mẹ đẻ là Gia Thị Đẹp, làm ruộng, mất năm 1964

Nông Quốc Chấn khi còn nhỏ học ở trường làng rồi trường tỉnh Học chữ Nho tại làng do gia đình đón thầy đồ từ Cao Bằng và Nam Định tới dạy Khi người anh thôi học từ Hà Nội về, ông tiếp tục học chương trình Pháp Việt do người anh tổ chức lớp dạy tư ở nhà Khi ông 18 tuổi, ngoài việc làm ruộng ông còn tham gia các hoạt động xã hội trong làng như viết văn cúng tế giúp thầy tào, mở lớp dạy tư Ông đã học xong chương trình Đại học về khoa học xã hội

và có dịp tiếp xúc thêm về văn hóa thế giới

Sớm gặp được cách mạng, từ cuối năm 1941 ông tham gia công tác ở địa phương và giữ các trách nhiệm từ bí thư Hội Thanh niên Cứu Quốc đến chủ nhiệm Ban chấp hành Việt Minh xã Đến 1945, thoát li gia đình đi hoạt động theo sự phân công của đoàn thể; mở lớp huấn luyện chính trị sơ giải, tổ chức đội Tuyên truyền xung phong chuẩn bị chống Phát xít Nhật, thành lập các căn

cứ địa mới, trở thành chính trị viên đại đội Quân Giải phóng Châu Ngân Sơn Năm 1946, ông được về Hà Nội học công việc quản lí chính quyền cách mạng, việc tuyên truyền và văn hóa, sau đó làm Trưởng ty Thông tin Bắc Kạn, trúng

cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Cuối 1946, Nông Quốc Chấn đi học lớp chính trị do Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở tại Quốc Oai

Năm 1947, ông được gặp các nhà văn Nam Cao, Tô Hoài (phụ trách báo Cứu Quốc phát hành ở Việt Bắc), được động viên, giúp đỡ viết báo, sáng tác

Trang 33

trường ca Việt Bắc tức Slấc (Việt Bắc đánh giặc) Năm 1948, Nông Quốc Chấn

tham gia Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ Bắc Kạn, kiêm chủ bút tờ báo Tin tức Bắc Kạn Năm 1949, ông tham gia Ban thường vụ tỉnh ủy Bắc Kạn, chuẩn bị

mở chiến dịch giải phóng quê hương Tháng 9 năm 1949, Thị xã Bắc Kạn được giải phóng, Nông Quốc Chấn được cử đi học trường Nguyễn Ái Quốc mở tại Quảng Nạp Cuối năm 1949, ông giữ chức vụ Thư kí Hội Văn hóa tỉnh Bắc Kạn Đến năm 1950, ông tham gia chiến dịch giải phóng Cao – Bắc – Lạng Tháng 6 năm 1951, Nông Quốc Chấn được đi dự Đại hội liên hoan thanh niên sinh viên thế giới lần thứ hai tại Berlin

Từ 1954- 1956, Nông Quốc Chấn học lý luận Mác – Lênin ở nước ngoài, sau đó trở về Việt Bắc công tác Ông là đại biểu Hội đồng nhân dân khóa II Năm 1957, ông tham gia Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, được bầu vào Ban chấp hành Hội, được Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định là Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng

Từ năm 1958 đến năm 1964, ông là Khu ủy viên Đảng bộ Khu tự trị Việt Bắc, phó ban Tuyên huấn Khu ủy, Chủ tịch Hội văn nghệ Việt Bắc, Giám đốc

sở Văn hóa Việt Bắc, Chủ nhiệm nhà xuất bản Việt Bắc

Từ năm 1964 đến khi mất, Nông Quốc Chấn đã kinh qua nhiều chức vụ ở Hội Văn nghệ, Hội Nhà văn, Bộ Văn hóa Từ năm 1970, là Thứ trưởng Bộ Văn hóa, kiêm nhiệm các chức vụ ở cơ sở: Giám đốc Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc (1970-1973), Tổng biên tập tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (1973-1975), Giám đốc Nhà xuất bản Văn học (1979-1980), Hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du (1983-1985), Hiệu trưởng trường Đại học Văn hóa (1984)…

Nửa thế kỉ lao động sáng tạo không ngừng và đảm nhiệm nhiều công tác

do Đảng giao, ông đã dành nhiều công sức, tâm huyết để xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên, Nam Trung

Bộ và Nam Bộ…Với những cống hiến hết mình vì sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn hóa, văn học nghệ thuật, nhà thơ Nông Quốc Chấn đã được tặng

Trang 34

thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1999…

Nông Quốc Chấn trong lòng bạn đọc với tư cách là nhà thơ dân tộc thiểu

số, người con của núi Hoa từ tốn, đôn hậu Ở ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “làm văn nghệ” và “làm chính trị”, giữa nhà thơ và nhà quản lý Dù ở thời điểm nào, ông vẫn là con người của Đảng, của cách mạng và của nhân dân Ông làm thơ vì cách mạng, vì đời sống và nhận thức của đồng bào Điều đó đã đưa ông trở thành một trong những nhân sĩ tiêu biểu của các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỉ XX

2.2 Sự nghiệp sáng tác

Nông Quốc Chấn là lá cờ đầu của nền văn học thiểu số Việt Nam, đóng góp một phần không thể xóa nhòa vào thơ hiện đại và thơ ca cách mạng Việt Nam Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và lao động nghệ thuật miệt mài, Nông Quốc Chấn đã để lại sự nghiệp sáng tác có giá trị lâu bền

Quá trình sáng tác của Nông Quốc Chấn gắn bó với quá trình hoạt động cách mạng qua các giai đoạn lịch sử Ông sáng tác nhiều thể loại, trong đó thành công hơn cả là thơ Thơ Nông Quốc Chấn có cả thơ bằng tiếng Tày và

thơ dịch từ tiếng Tày sang tiếng Việt (Kinh) Trong đó phải kể đến Dọn về làng

đã đạt giải nhì cuộc thi thơ tại Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới

lần thứ hai tại Berlin (Đức) Một số tác phẩm chính như: Việt Bắc đánh giặc (1947), Đi Bá Linh về (1952), Tiếng ca người Việt Bắc (1960), Đèo Gió (1968), Dòng thác (1976), Suối và biển (1984)…

Bên cạnh thơ, Nông Quốc Chấn còn sáng tác truyện thơ Tiêu biểu như:

Cần Phja Bjoóc ( Người núi Hoa)

Nói đến Nông Quốc Chấn, người ta thường nhắc nhiều về thơ Tuy nhiên, ông còn là một cây bút tiểu luận giàu tâm huyết, là một trong số hiếm hoi

Trang 35

những tác giả người dân tộc thiểu số làm công tác lý luận, nghiên cứu, phê bình

văn hóa Các tác phẩm lý luận phê bình đã ra mắt bạn đọc như: Đường ta đi, Một vườn hoa nhiều hương sắc, Chặng đường mới…Tập sách của ông Một ngôi nhà sàn Hà Nội do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 1999 là tập hợp

những bài thơ, những hồi kí, những kí sự, tiểu luận viết trong những năm trước khi ông mất (2002)

Ngoài lý luận, nghiên cứu, phê bình, ông còn viết truyện ngắn và là tác giả của nhiều bài bút kí, đặc biệt là những bài viết về đất nước Lào anh em Nhưng trên hết thảy, ông là một nhà thơ Nhiều tác phẩm của ông đã được chọn in trong các tuyển tập thơ trong nước, thơ Việt Nam ở nước ngoài (Liên Xô, Pháp, Bungari, Mông Cổ…) Thơ ông đã đặt mốc lịch sử đưa thơ dân tộc thiểu số sang một gia đoạn mới, bước vào quỹ đạo hiện đại của thơ ca Việt Nam Hơn

50 năm hoạt động văn hóa văn học, Nông Quốc Chấn trở thành con chim đầu đàn, người thầy, người cha, người anh trong giới văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

2.3 Phong cách thơ Nông Quốc Chấn

Có thể nói rằng: Nông Quốc Chấn là một trong những nhà thơ Tày xuất sắc nhất trong đời sống thơ ca Việt Nam hiện đại Ông đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng nền thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, vào sự phát triển của nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung - theo hướng hiện đại hoá mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Là một nhà thơ, nhà lí luận, nhà văn hoá nên ông luôn ý thức một cách sâu sắc rằng cần phải bảo vệ, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng một nền văn hoá Việt Nam hiện đại Chính vì vây, trong suốt cuộc đời hoạt động văn hoá, nghệ thuật của mình - Nông Quốc Chấn luôn luôn nhấn mạnh đến việc thể hiện, ngợi ca những vẻ đẹp của nền văn hoá dân tộc - đặc biệt trong thơ ông là vẻ đẹp của nền văn hoá Tày vùng Việt Bắc Ông đã thể hiện một cách hết sức sinh động những nét bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc

Trang 36

Tày nói riêng, của các dân tộc thiểu số vùng cao Việt Bắc nói chung vào trong tác phẩm của mình

Trong thơ Nông Quốc Chấn hình ảnh thiên nhiên, con người miền núi với cuộc sống lao động, chiến đấu, với đời sống văn hoá tinh thần phong phú, với các phong tục, tập quán lâu đời vẫn còn được hiện lên một cách sinh động Đọc thơ ông người ta nhận thấy rất rõ: cách cảm, cách nghĩ, cách nói, cách diễn đạt của người miền núi với thứ ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, giầu hình ảnh với giọng điệu thơ vui tươi, hồn nhiên, chân thật nhưng cũng rất lãng mạn, bay bổng Và đó chính là những yếu tố làm nên tính dân tộc trong thơ ông, làm nên phong cách nghệ thuật của ông

Thơ Nông Quốc Chấn cũng như cuộc đời ông là lấy cảm xúc từ cách mạng, kháng chiến, nó hướng về phục vụ đời sống và nhận thức cho đồng bào

mình nên ta rất ít thấy ở ông sự cầu kì, cố tình “làm dáng làm vẻ” bằng chữ

nghĩa, mà nó chân tình như chính cách nói, cách nghĩ của người miền núi Nhà thơ đã rất chú ý và đã thành công trong việc sử dụng lời ăn, tiếng nói, cách diễn đạt với lối so sánh ví von của người dân tộc miền núi cũng như cách tư duy của

họ trong các sáng tác của mình Do đó ông đã tạo nên một nét riêng với những câu thơ, những hình ảnh thơ rất đặc biệt - vừa hồn nhiên, ngộ nghĩnh, vừa chân thật vừa lãng mạn, vừa thú vị bởi sự bất ngờ, đáng yêu trong từng câu chữ, trong từng sự liên tưởng, trong từng hình ảnh của thơ ông

Hình ảnh thiên nhiên được hiện lên với vẻ hùng vĩ, hoang dã mà tráng lệ thấm đượm tình người Thiên nhiên ấy vừa bí ẩn, vừa gần gũi, vừa dữ dội, vừa hiền hoà Thiên nhiên ấy đã nuôi dưỡng, chở che đồng bào, chở che cách mạng trong suốt những năm ròng chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược Một niềm tự hào, một sự biết ơn sâu sắc đối với thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ,

ân nghĩa đó luôn hiện rõ trong những bài thơ, câu thơ của Nông Quốc Chấn

Hình ảnh con người hiện lên vô cùng sống động trong các sáng tác của nhà thơ Người mẹ thương yêu con hết lòng, tảo tần trồng ngô, trồng lúa ,

Trang 37

nuôi con, là những chàng trai, cô gái khoẻ mạnh, tràn đầy sức sống, hăng say lao động và cũng rất dũng cảm trong chiến đấu chống lại kẻ thù, là những anh

bộ đội đơn sơ, giản dị, nhưng rất anh dũng trong chiến đấu chống quân thù Họ cũng là những người có tình yêu mãnh liệt, chân thật, thuỷ chung, son sắt

Thơ Nông Quốc Chấn gần gũi, trong sáng, tinh túy đến độ người đọc tưởng mình cũng làm được thơ Một lối sáng tác đi từ tiếp thu truyền thống văn nghệ lâu đời của dân tộc mình để dần dần hình thành một bản lĩnh thơ, in đậm cá tính nghệ thuật độc đáo khó trộn lẫn, cùng là một kiểu tư duy chân chất, thật thà, vừa phục vụ sát sao các nhiệm vụ cách mạng, đáp ứng các nhu cầu nóng bỏng của thời cuộc vừa bay bổng lãng mạn vừa phóng khoáng vươn tới cái đẹp, nhân bản, sâu sắc mà hóm hỉnh Nông Quốc Chấn còn vận dụng sáng tạo lời thơ cũng như giai điệu của các bài: sli, lượn, phongslư của dân tộc Tày vào các sáng tác của mình Đó là lối hát đối đáp, lối ngâm thơ, lối viết thơ đậm chất trữ tình của

dân tộc Tày trong đời sống văn hoá của họ Ví dụ các bài: Tiếng ca người Việt Bắc, Gửi Bắc Kạn, Mùa xuân trên quê hương…Ngoài ra trong quá trình sáng

tác, nhà thơ Nông Quốc Chấn hay sử dụng các thể loại thơ năm chữ, bảy chữ - một thể loại khá đặc trưng trong thơ Tày Ví dụ như trong hàng loạt các bài thơ:

Bài thơ Pắc bó, Ba bố con họ Hoàng, Hoa núi bạc, Gặp người cùng họ ở Hà Nội (thể thơ năm chữ); hoặc các bài: Mưa gió, Khóc đồng chí, Bộ đội ông cụ, Dọn về làng, Tìm trâu, Bài thơ tháng Tám… Cái hồn dân tộc đã thấm sâu vào

trái tim ông, nó tạo nên một phong cách Tày không thể trộn lẫn giữa muôn ngàn giọng thơ khác trong đời sống thơ ca hiện đại Việt Nam

Có thể nói về thơ ông như cách nói của nhà thơ Dương Thuấn: Thơ ông đem đến nhiều thi liệu mới đậm sắc thái dân tộc, nên sống bền chặt trong lòng người đọc - nhất là người đọc là người miền núi, người dân tộc thiểu số

Là một nhà thơ, một nhà văn hoá lớn của dân tộc Tày nói riêng, của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung, Nông Quốc Chấn đã có nhiều đóng góp trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy nét đẹp của nền văn hoá dân tộc vốn rất

Trang 38

đặc sắc và phong phú qua các sáng tác của mình Ông cũng chính là nhà thơ Tày đi tiên phong trong việc hiện đại hoá thơ ca của dân tộc mình Ông đã góp phần không nhỏ vào việc làm phong phú giầu có thêm vốn ngôn ngữ thơ ca của dân tộc Tày Ông chính là niềm tự hào, là người con ưu tú của dân tộc Tày nói riêng, của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung trong lĩnh vực văn hoá thời

kỳ hiện đại

Tiểu kết

Chương 1 đã trình bày những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài, bao gồm một số vấn đề về ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận, ngôn ngữ học tri nhận, các loại ẩn dụ cấu trúc,ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc và ẩn dụ định hướng Đồng thời luận văn cũng giới thiệu một số nét về cuộc đời hoạt động cách mạng, sự nghiệp sáng tác và phong cách thi ca của nhà thơ Nông Quốc Chấn

Qua sơ bộ tìm hiểu và thống kê tư liệu, chúng tôi nhận thấy các hiện tượng ẩn dụ được sử dụng trong thơ Nông Quốc Chấn chủ yếu thuộc hai loại:

ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể Vì vậy luận văn tập trung chỉ trình bày và phân tích hai loại ẩn dụ ý niệm này

Trang 39

Chương 2

ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG THƠ NÔNG QUỐC CHẤN

2.1 Giới thiệu về tuyển tập thơ Nông Quốc Chấn

Thơ Nông Quốc Chấn là tiếng nói có suy nghĩ, có cảm xúc, có hình ảnh Tiếng nói ấy vừa phản ánh hiện thực cuộc sống xã hội vừa có sức truyền cảm đối với quần chúng nhân dân, dân tộc

Chặng đường thơ Nông Quốc Chấn gắn bó với chặng đường đời của nhà thơ Tuy là người làm thơ chuyên nghiệp nhưng ông hầu như không có thời gian chuyên tâm sáng tác, ông chủ yếu tận dụng những chuyến đi trong nước, nước ngoài, tiền tuyến hậu phương,miền xuôi hay miền ngược để “bầu rượu-

túi thơ” không bao giờ vơi cạn Những tập thơ Tiếng ca người Việt Bắc ( Nxb Văn học, H, 1960), Đèo Gió ( Nxb Văn học, H, 1968), Dòng thác ( Nxb Văn học, H, 1977), Suối và biển (Nxb Văn học, H, 1984) đều mang sắc thái riêng và

để lại ấn tượng trong lòng người đọc

Tiếng ca người Việt Bắc là tập thơ đầu tiên của Nông Quốc Chấn Những

bài thơ gợi cho ta nghĩ đến thời kì Mặt trận Việt Minh còn hoạt động bí mật, nhớ đến căn cứ địa Việt Bắc của thời kì đó Hình ảnh quê hương và con người Việt Bắc những năm trước Tổng khởi nghĩa, những ngày Cách mạng tháng Tám thành công, rồi chiến thắng Điện Biên Phủ hiện lên rõ nét Tập thơ cũng là tiếng nói hân hoan, vui sướng khi Khu tự trị Việt Bắc thành lập Sợi dây nối liền những bài thơ của Nông Quốc Chấn và dẫn dắt tình cảm người đọc với thơ ông chính là Việt Bắc – quê hương yêu dấu của ông, ông diễn đạt nó, ca ngợi

nó, ông theo Việt Bắc để làm thơ, gửi gắm vào đó là tất cả tình cảm thương mến, tha thiết với quê hương và đồng bào mình

Cùng với nguồn thơ Việt Bắc, trong tập thơ này còn có một số bài thơ làm trong những dịp ông đi công tác ở nước ngoài, nối tình hữu nghị Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Triều Tiên…

Trang 40

Đèo Gió là bước tiếp nối của Tiếng ca người Việt Bắc, chủ yếu là các bài

thơ đã xuất hiện trên báo chí Có khá nhiều bài thơ vượt qua ngưỡng cửa chính luận để đến với bạn đọc một cách thấm thía ân tình, tác giả đã dựng lên được nhiều hình tượng độc đáo mà vẫn dung dị Nhiều bài thơ đã kết hợp được yếu

tố chính luận với cảm xúc hình tượng, tác giả không nói mà gợi, không kể mà

vẽ, ý tứ cứ hiện lên tự nhiên thanh thoát Đó là một sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong thơ ông Tuy nhiên có nhiều bài thành công nhưng vẫn giữ được hơi

thở của Tiếng ca người Việt Bắc

Dòng thác xuất bản năm 1977 ảnh hưởng nhiều của thơ dân tộc, tư tưởng

của tập thơ này chủ yếu là kết quả của những gì đã có từ trước Nhà thơ Huy

Cừ nhận xét: “Đọc thơ anh người ta thấy anh ảnh hưởng khá rõ của truyện thơ dân tộc Anh đã từng mê say Nam Kim Thị Đan, Lài Hán Xuân…những bài hát dân gian cùng những bài phongslư tình tứ Điều này để lại dấu ấn khá rõ ràng

trong mấy bài thơ có nhân vật trữ tình của anh Chẳng hạn như Em là con gái Sơn La, Hoa núi Bạc…trong những trường hợp này, một lối biểu hiện giàu tính

tự sự, trữ tình của các trường ca, truyện thơ dân tộc, đã làm chất liệu tư tưởng được nêu lên ở bài thơ trở nên óng ánh, xúc động [27, 681]

Suối và biển rất Nông Quốc Chấn, một Nông Quôc Chấn truyền thống và

hiện đại, cụ thể mà khái quát, hơi thơ như cổ mà không cổ, xuất phát là truyền thống nhưng kết thúc là hiện đại Ngoài những bài thơ về quê hương đất nước còn có những bài nhà thơ viết trong những chuyến đi thăm các nước bầu bạn anh em với tình cảm thân thiết, ngợi ca, gắn bó Tập thơ này đã khẳng định sự phát triển của thơ Nông Quốc Chấn ở giai đoạn sau

Thơ Nông Quốc Chấn tràn đầy tính hiện thực, nhưng cũng thấm đẫm

bản sắc văn hóa dân tộc “Ông là cánh chim đầu đàn của những người làm văn học cách mạng của các dân tộc thiểu số Ông là người mở đường, người để lại dấu ấn sâu đậm không thể quên, không chỉ với văn học các dân tộc thiểu số hiện đại nói riêng, mà có vị trí vững chắc trong tiến trình văn học cách mạng Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX” (Tô Hoài)

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w