1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng trong thơ nguyễn duy

123 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thơ tính biểu tượng được thể hiện rõ bởi đặc trưng hình thức, thế giới biểu tượng trong sáng tác thơ của tác giả là cách tiếp cận xác đáng nhất để khám phá tư duy nghệ thuật và pho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MAI TUẤN ANH

BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60220121

Hà Nội, tháng 12/2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MAI TUẤN ANH

BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60220121

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lưu Khánh Thơ

Hà Nội, tháng 12/2018

Trang 3

Đồng thời, trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn

Tác giả luận văn

Mai Tuấn Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 11

6 Cấu trúc của luận văn 11

NỘI DUNG 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ NGUYỄN DUY 12

1.1 Khái niệm biểu tượng 12

1.1.1 Biểu tượng 12

1.1.2 Biểu tượng văn hóa 15

1.1.3 Biểu tượng văn học 17

1.1.4 Biểu tượng nghệ thuật trong thơ 19

1.1.5 Phân biệt biểu tượng và một số khái niệm gần gũi 20

1.2 Hành trình sáng tạo và những đóng góp về thơ của Nguyễn Duy trong nền thơ ca dân tộc 26

1.2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy 26

1.2.2 Những đóng góp về thơ của Nguyễn Duy trong nền thơ ca dân tộc 29 Chương 2: NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC TRONG THƠ NGUYỄN DUY 31

2.1 Biểu tượng thiên nhiên 32

2.1.1 Biểu tượng thiên nhiên gắn với không gian rộng lớn 33

2.1.2 Biểu tượng thiên nhiên gắn những vật cụ thể 47

2.2 Biểu tượng gắn với con người 68

2.2.1 Biểu tượng gắn với cuộc sống con người 69

Trang 5

2.2.2 Biểu tượng gắn với cơ thể con người 83

Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY 89

3.1 Không gian và thời gian nghệ thuật 90

3.1.1 Không gian nghệ thuật 90

3.1.2 Thời gian nghệ thuật 95

3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 100

3.2.1 Ngôn ngữ mang đậm màu sắc dân gian truyền thống 101

3.2.2 Ngôn ngữ đời sống 104

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 6

“Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” mà sáng tạo chính là động lực cho sự phát triển, nói như M.Gorky “cái bình thường nhất là cái chết của nghệ thuật” chính vì thế đòi hỏi người nghệ sĩ phải có quá trình lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ một cách nghiêm túc Đối với thơ ca được cho là thể loại bị chi phối bởi cảm xúc hơn cả, tâm hồn người nghệ sĩ nhạy bén hơn ai hết

Theo Vũ Cao “Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ trong những bài thơ hay” (Đôi điều ghi lại về anh Với khát vọng Chân Thiện Mỹ) Còn theo Huy Cận “Thơ chưa hay thì có cũng bằng không có” (Vô cùng thương tiếc nhà văn Hoài Thanh

Văn nghệ, số 3, 1982) Nhưng cái đẹp, cái hay của văn chương phải mang bản sắc riêng biệt, độc đáo Nghiên cứu biểu tượng trong thơ là xu hướng chiếm lĩnh hữu hiệu theo đúng đặc trưng của thơ Trong thơ tính biểu tượng được thể hiện rõ bởi đặc trưng hình thức, thế giới biểu tượng trong sáng tác thơ của tác giả là cách tiếp cận xác đáng nhất để khám phá tư duy nghệ thuật và phong cách của chính họ với những ẩn chìm trong ý thức và vô thức sáng tạo của thi sĩ

Thuộc thế hệ văn nghệ sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cùng với Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mĩ Dạ, Thanh Thảo, Thu Bồn, Trần Mạnh Hảo… Nguyễn Duy sớm khẳng định được tài năng, cá tính sáng tạo của mình Nguyễn Duy- một nhà thơ tiêu biểu, gương mặt xuất sắc trong nền

Trang 7

thơ ca đương đại Ông viết nhiều thể loại nhưng nhiều nhất, nổi bật nhất vẫn

là thơ Thơ Nguyễn Duy cũng nhiều loại từ thơ ngắn, tự do, lục bát đến thơ dài và gắn liền với cuộc đời, con người Thơ Nguyễn Duy thẫm đẫm tình cảm, nhiều khắc khoải, nói thầm nói thì, lắng đọng Và cả nhiều thông cảm, sẻ chia Thơ Nguyễn Duy nhiều bài có cái ngang tàng, táo bạo chủ yếu giai đoạn sau năm 1975 nhưng vẫn sâu sắc đánh dấu sự trưởng thành ở hồn thơ, mang tính triết lí khiến chúng ta phải giật mình, suy ngẫm Thơ là tiếng lòng, là cảm xúc

sự rung động chân thành từ tâm hồn, cái cốt cách trong thơ Nguyễn Duy không chỉ dừng lại ở mặt câu chữ nói sao cho hết cái tình, cái lý

Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy- là một hướng lý giải những trăn trở, suy tư của con chữ để bật nổi những con số còn giăng mắc, ẩn chìm sâu nơi đáy tâm hồn nhà thơ Thiết nghĩ, đã đến lúc cần có cái nhìn khách quan và khoa học hơn về những giá trị cũng như đóng góp thơ Nguyễn Duy cho nền thơ ca đương đại nói riêng và trên nhiều khiá cạnh Đến với hệ thống biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy là đến với những xúc cảm mang đậm sắc màu như những lớp mỏ quặng tâm tư mà nhà thơ cố công khai thác từ những dư vang cuộc đời Chính vì những lý do đã nêu ở trên chúng tôi

lựa chọn đề tài Biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy cho luận văn tốt nghiệp của

mình

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Vấn đề biểu tượng trong thơ

Trong thơ ca đương đại, sự xuất hiện của lý thuyết biểu tượng và

những tài liệu có giá trị đến vấn đề biểu tượng nghệ thuật như Các biểu tượng trong nghệ thuật, Khám phá các biểu tượng trong văn học của tác

giả Raymond Firth được Đinh Hồng Hải dịch và đặc biệt là công trình

nghiên cứu Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của các tác giả Jean

Chavalier, Alain Gheerbrant thực sự đem lại làn gió mới, thổi thêm sinh

Trang 8

khí cho xu hướng tiếp cận tác phẩm văn học Từ lý thuyết biểu tượng, tác phẩm thơ được khám phá với góc nhìn mới mẻ, trở thành một trong số những vấn đề trọng tâm và được các nhà nghiên cứu tìm cách lí giải, phân tích rất nhiều Khi đào sâu thế giới biểu tượng còn những tầng lớp nghĩa

ẩn khuất, thế giới vô thức của sự sáng tạo là cách tiếp cận đúng với đặc trưng của thơ

Với sự ra đời của lý thuyết biểu tượng nó nhanh chóng được làm đầy và hoàn thiện bởi hàng loạt các công trình nghiên cứu về biểu tượng trong thơ Khi tiếp cận thơ từ góc độ biểu tượng nó trở thành xu hướng mang lại hiệu quả cao trong việc chiếm lĩnh tác phẩm và đi vào tìm hiểu, khám phá thế giới tâm hồn của chủ thể sáng tạo ngôn ngữ, suy cho cùng cách tiếp cận “đứa con” tinh thần là cách ngắn nhất đến với tác giả Có thể khẳng định sự lên ngôi, thắng thế của các công trình nghiên cứu thơ khi vận dụng lý thuyết biểu tượng

Chúng ta có thể kể tên hàng loạt các công trình nghiên cứu phê bình thể hiện sự nở rộ, xác lập chỗ đứng cho việc sử dụng lý thuyết biểu tượng trong tiếp cận thơ đương đại Việt Nam nói riêng và thơ ca nói chung: Tác giả Hoàng Thị Huế, (khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Huế) với

bài viết Biểu tượng giấc mơ trong thơ Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử (năm 2012)

đã có những hướng lí giải những mộng mơ nghệ thuật trong thơ Nguyễn

Bính, Hàn Mặc Tử nói riêng, trong Thơ mới nói chung đã mở ra những chiều

kích khám phá mới về đời sống, về bản thể con người, như một cách tìm câu trả lời cho những truy vấn khẩn thiết muôn đời của nhân loại

Trong chuyên luận Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian (năm 1998)

của Hà Công Tài đã tiến hành phân tích từ đó chỉ ra sự khác biệt giữa biểu tượng trăng trong thần thoại, cổ tích với biểu tượng trăng trong thơ ca Tác

giả Nguyễn Thị Yến, với bài viết Biểu tượng miệng trong thơ Hàn Mặc Tử

Trang 9

(Qua ba tập Gái quê, Đau thương và Xuân như ý), tạp chí Phê bình văn học

(2015) đã chỉ ra hình thức diễn đạt của miệng- tự thân nó có những giá trị thẩm mỹ riêng mà khó hình ảnh- biểu tượng nào thay thế được mang đậm dấu

ấn cá tính sáng tạo Hàn Mặc Tử

Bài viết, Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam,

một cái nhìn khái quát, tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, (số 55),

tháng 3/2017, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã nhận xét “Sự phân biệt về phương diện xã hội dành cho nam và giới nữ trong văn hóa Việt Nam truyền thống đã có ảnh hưởng lớn đến biều tượng về người nam và người nữ trong văn học Việt Nam từ văn học dân gian, qua văn học trung đại đến văn học đầu thế kỷ XX” [47, tr.20]

Trên tạp chí Văn hóa dân gian, Trương Thị Thanh Nhàn có hàng loạt bài viết như năm 1991 Gía trị biểu trưng nghệ thuật của một số vật thể nhân tạo trong ca dao, đã khẳng định khả năng biểu trưng văn hóa nghệ thuật của

các vật thể nhân tạo và cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng nghệ thuật tạo nên nét đặc trưng cơ bản trong nghệ thuật của ngôn ngữ ca dao Tiếp năm 1992,

bài viết Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm mỹ, ở bài

viết này tác giả chủ yếu nghiên cứu về biểu tượng sông và cho rằng biểu tượng này tham gia vào hệ thống biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật ca dao và

có giá trị tín hiệu thẩm mỹ

Theo Trần Thị Hường, với bài viết Biểu tượng cánh đồng và tiếng hát trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945-1975, tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, (số 61), năm 2017, đã nêu lên quan điểm thơ kháng chiến

Việt Nam giai đoạn này là di sản của lịch sử, mang đậm dấu ấn văn hóa trong

đó biểu tượng cánh đồng và tiếng hát, biểu trưng cho thành quả cách mạng

““Cánh đồng” là biểu tượng cho quê hương, mùa màng, dâng hiến, gặt hái và sinh sôi “Tiếng hát” là giai điệu của chiến thắng” [20, tr.51]

Trang 10

Trên tạp chí Nghiên cứu văn học (số 3) năm 2011 tác giả Lương Minh Chung cùng bài viết Những biểu tượng làng Việt cổ trong thơ ca Hoàng Cầm

đã phần nào khái quát những giá trị biểu tượng văn hóa truyền thống làng Việt cổ gắn liền với người dân Kinh Bắc nói riêng và nhân dân vùng đồng

bằng Bắc Bộ nói chung

Lý thuyết biểu tượng cũng đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả, trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu trong phạm vi các trường đại học Trong những năm gần đây xuất hiện nhiều đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ áp dụng cách tiếp cận tác phẩm thơ dưới góc độ vận dụng lý thuyết biểu tượng:

Luận văn thạc sĩ văn học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

(năm 2014) của tác giả Đặng Thị Hiền với đề tài Biểu tượng vườn và nước trong Hồng lâu mộng, đã tiến hành nghiên cứu so sánh, đối chiếu biểu tượng vườn và

nước trong dòng chảy cội nguồn văn hóa, văn học Trung Quốc từ đó làm nổi bật những sáng tạo và những giá trị nghệ thuật của biểu tượng vườn và nước trong

Hồng lâu mộng

Tác giả Trần Thị Hường, với luận văn thạc sĩ, trường Đại học khoa học xã

hội và Nhân văn Hà Nội năm 2012, Biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ, đã tiến

hành khảo sát, thống kê, giải mã những biểu tượng xuất hiện trong những sáng tác của Lưu Quang Vũ Tác giả chỉ ra các dạng biểu tượng: có nguồn gốc tự nhiên, có nguồn gốc từ đời sống xã hội và con người cuối cùng là những biểu tượng tâm tưởng

Lã Thị Dung, với đề tài khóa luận tốt nghiệp năm 2012, Biểu tượng trong tập truyện Mưa Nhã Nam của Nguyễn Huy Thiệp, đưa ra 3 quan điểm có tính tổng kết cho công trình nghiên cứu của mình, biểu tượng trong tập truyện Mưa Nhã Nam: biểu tượng về thiên nhiên, biểu tượng về sự vật, biểu tượng về con người

Trang 11

Luận văn thạc sĩ năm 2008 của tác giả Đỗ Ngọc Thư với đề tài Khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ Mùa xuân và Trái tim trong thơ Xuân Diệu nghiên cứu từ góc độ

ngôn ngữ học đã đề cập đến hai trong số các biểu tượng thơ Xuân Diệu: biểu tượng mùa xuân và trái tim chỉ ra nội hàm của chúng

Trong công trình luận văn thạc sĩ năm 2014 của tác giả Hoàng Thi Kim

Nhẫn, Biểu tượng thơ Tố Hữu giai đoạn 1945- 1975, nghiên cứu khảo sát hành

trình sáng tạo thơ Tố Hữu qua các tập thơ sáng tác giai đoạn này từ đó chỉ ra những biểu tượng thơ diễn tả hiện thực chiến tranh và diễn tả tình cảm lãng mạn Cách mạng, là hai nội dung chủ chốt, quan trọng

Đoàn Thị Hồng Sương (2014), với đề tài luận văn thạc sĩ Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả tiến

hành nghiên cứu khảo sát và so sánh những biểu tượng nghệ thuật tiểu biểu trong thơ Xuân Diệu với thơ nói chung từ đó chỉ ra những sáng tạo nghệ thuật mang dấu

ấn phong cách Xuân Diệu

Theo tác giả công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ năm 2013, Trần Hà

Phương với đề tài Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh, đã nêu và chỉ ra

những biểu tượng nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh mang tính truyền thống và cách tân

Đã có rất nhiều công trình, bài viết phân tích, kiến giải chứng tỏ sức hút mạnh mẽ của lý thuyết biểu tượng trong văn học nghệ thuật Điều đó cho thấy sức hút hết sức lớn trong việc khám phá thế giới sáng tạo nghệ thuật thơ và phong cách tác giả

2.2 Những nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy

Nguyễn Duy được xem là gương mặt tiêu biểu cho nền thơ hiện đại nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung Nguyễn Duy làm thơ từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, xuất hiện trên thi đàn Việt Nam những năm 70 của thế kỷ XX, Nguyễn Duy gây ấn tượng nơi người đọc về một hồn thơ đầy

Trang 12

triển vọng Với khả năng viết đều, viết khỏe, Nguyễn Duy đã tạo dựng được một sự nghiệp thơ đáng nể Từ lâu sáng tác của ông đã thu hút sự quan tâm của người đọc cũng như giới nghiên cứu phê bình trong và ngoài nước Hiện nay đã có hàng loạt công trình, bài viết, nghiên cứu đánh giá về thơ Nguyễn Duy Dựa vào nguồn tư liệu khảo sát được và phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi điểm lại một số vấn đề nổi bật, những nhận định quan trọng làm cơ

sở khảo sát, phân tích ảnh hưởng đến biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy

Từ việc khảo sát các công trình nghiên cứu đánh giá về thơ Nguyễn Duy có thể chia làm các nhóm:

Một là loại bài tìm hiểu những bài thơ, tập thơ tiêu biểu

Hai là, loại bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy

Ba là, những bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của chính nhà thơ về tác phẩm của mình

Có thể nói người phê bình sớm nhất về thơ Nguyễn Duy là Hoài Thanh

với bài viết Đọc một số bài thơ Nguyễn Duy (báo Văn nghệ số 442, 1972) đã

khẳng định thơ Nguyễn Duy đang trong quá trình hình thành: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc…Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên…Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình…” [45, tr.5] Lời nhận xét ngắn gọn, nhẹ nhàng mà chính xác, thấm sâu giúp người đọc có cái nhìn bao quát về một hồn thơ trẻ

Quan San trên báo Văn nghệ với bài viết Đọc một số bài thơ chào mừng chiến thắng năm 1972 qua chùm thơ của Nguyễn Duy Cát trắng, Bà mẹ Triệu Phong, Em bé lạc mẹ, Đêm trăng Thạch Hãn, đã đề cập đến tính thời sự

mang hơi thở chiến tranh trong thơ Nguyễn Duy: “Nóng hổi bài thơ trên chiến trường Quảng Trị là chùm thơ nhỏ của Nguyễn Duy” [39]

Trang 13

Sự trưởng thành của thơ Nguyễn Duy được đánh dấu bằng giải A báo

Văn nghệ cho tập Ánh trăng qua đó gây chú ý với giới nghiên cứu, phê bình Phải kể đến Nguyễn Quang Sáng qua bài Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy in trong phụ lục tập thơ Mẹ và em, đã cho người đọc hình dung sự phong

phú về đề tài sáng tác của nhà thơ bên cạnh đề tài chiến tranh: “Ngoài mảng thơ về đề tài chiến trận, thơ Nguyễn Duy chủ yếu dành cho những đề tài muôn thủa: tình yêu con người và đất nước quê hương…Trong Thơ Nguyễn Duy có hầu hết gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [40, tr.91]

Lê Quang Hưng trong bài viết Thơ Nguyễn Duy và Ánh trăng in trên tạp chí Văn học (số 3) năm 1986, chủ yếu bình giá tác phẩm và phát hiện

“chất dân gian trong thơ Nguyễn Duy” [16, tr.155-158], “Những bài thơ trong

Ánh trăng thật đậm đà chất ca dao, nhiều đoạn thơ nhuần nhụy ngọt ngào

khiến cho người ta khó phân biệt được đâu là ca dao đâu là thơ…” [16, 158]

Vương Trí Nhàn khi đọc tập thơ Về đã nhận thấy “Một bản sắc đã đến

lúc định hình” “Thơ Nguyễn Duy những năm 90 gợi ra cảm tưởng một bản sắc đã chín, đã định hình Ở đó có tất cả những phóng túng nồng nàn lẫn những ngang trái khó chịu mà đã yêu thơ anh người ta phải chấp nhận” [28, dẫn theo http://vuongdangbi.blogspot.com/2008/10/nguyn-duy.htm]

Kiều Thu Huyền với đề tài khóa luận Bản sắc thơ Nguyễn Duy, tác giả

đã cho thấy những nét đẹp của thế giới nội tâm phong phú của cái tôi trữ tình đầy cá tính sáng tạo, một phong cách nghệ thuật đậm nét đa dạng

Tác giả Phạm Thị Phương với đề tài luận văn tốt nghiệp Thơ Nguyễn Duy nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật đã cố gắng làm rõ một số vấn đề tư duy

trong thơ Nguyễn Duy “cái tôi trữ tình, hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu” [35, tr.168]

Trang 14

Năm 2009, trong luận văn tốt nghiệp, học viên Mai Thị Thủy Tiên với

đề tài Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy đã đi sâu tìm hiểu cảm hứng

nghệ thuật cảm hứng chủ đạo trong thơ ông giai đoạn trong và sau chiến tranh được truyền tải trên nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau

Trên tạp chí Khoa học năm 2011 Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Tạ Chí Hào có bài viết Chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy, tác giả đã tiến hành

khảo sát những yếu tố nội dung và hình thức nổi trội thể hiện chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy: “Bài viết này tập trung nghiên cứu biểu hiện của chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy, từ thơ viết về chiến tranh đến thơ viết về cuộc sống đời thường, thơ đề cập tới những vấn đề lớn lao đến thơ về những truyện đời thường, nhỏ nhặt Mặt khác, bài viết cũng tìm hiểu nghệ thuật thể hiện, chất hài hước trong thơ Nguyễn Duy thông qua một số phương tiện nghệ thuật như thể thơ, từ ngữ, phép điệp và giọng điệu” [15, tr.118]

Trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả bài viết Sáng tạo trong cách sử dụng tính từ- Một biểu hiện đổi mới của thơ Nguyễn Duy- Hữu Đạt đã có hướng

tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ Tác giả đưa ra nhận xét: “sáng tạo trong cách

sử dụng tính từ, đặc biệt là việc tạo ra các tính từ láy mới là một trong những nhân tố quan trọng làm đổi mới thơ Nguyễn Duy…sự đổi mới phong cách thơ Nguyễn Duy đã làm thay đổi mạnh mẽ về phương thức biểu đạt lẫn phương thức xây dựng hình tượng trong thơ Việt Nam hiện đại” [10, tr.24]

Bài viết của Lam Điền tạp chí Văn hiến Việt Nam nhan đề Nhà thơ Nguyễn Duy, từ chuyện làng sang chuyện nước nhân buổi gặp mặt Nguyễn

Duy với những người yêu thơ ông và bạn bè, đồng nghiệp tại Đường sách thành phố Hồ Chí Minh với nội dung theo cách gọi của Nguyễn Duy “nói chuyện thơ từ chuyện làng sang truyện nước”

Tìm hiểu về phong cách cũng như thơ Nguyễn Duy còn rất nhiều các công trình, bài viết đề cập đến điều đó cho thấy vị thế của thơ Nguyễn Duy

Trang 15

trên thi đàn thơ ca nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung Các bài viết đã đi vào tìm hiểu nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Duy từ những khía cạnh và mục đích khác nhau Tuy nhiên các bài viết mới dừng lại qua việc nghiên cứu một bài thơ, một tập thơ, một góc độ nào đó trong thơ ông…chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu khảo sát toàn diện hệ thống biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy Đây là những tư liệu hết sức quý giá

giúp chúng tôi thực hiện đề tài luận văn Biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này các biểu tượng nghệ thuật trong

thơ Nguyễn Duy, về mặt cơ sở lý luận chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát chủ yếu các tài liệu liên quan đến lý thuyết về biểu tượng

Mục đích nghiên cứu của luận văn: Tổng hợp những vấn đề lý luận

chung về biểu tượng và tìm hiểu biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy

Phạm vi đề tài luận văn là toàn bộ thơ Nguyễn Duy và đặc biệt người viết trọng tâm đến “Biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy”, trong quá trình tiến hành nghiên cứu khảo sát để làm nổi bật đề tài chúng tôi còn so sánh với tác phẩm của các tác giả khác

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp liên ngành: Nguyễn Duy là tác giả nổi bật của thơ ca hiện

đại Việt Nam, thơ ông phản ánh bộ mặt xã hội, thời đại và đời sống văn hóa của con người Việt Nam trước và sau năm 1975 vì thế khi nghiên cứu biểu tượng thơ Nguyễn Duy đỏi hỏi cách tiếp cận liên ngành (lịch sử, văn hóa…)

Phương pháp thống kê, hệ thống hóa: Nhằm chỉ ra một cách chính xác

số lần xuất hiện của các biểu tượng và so sánh được tần suất xuất hiện giữa các biểu tượng

Trang 16

Phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại: Trên cơ sở so sánh với những tác phẩm của các tác giả khác và trong chính sáng tác Nguyễn Duy để làm nổi bật thế giới biểu tượng trong tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Duy Phương pháp thi pháp học: Khám phá nội dung và ý nghĩa của từng biểu tượng cũng như sự hình thành các biểu tượng trong tư duy thơ Nguyễn Duy Ngoài ra luận văn còn sử dụng kết hợp các thao tác như: diễn giải, phân tích, tổng hợp, phê bình…để giải mã thế giới biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy

5 Đóng góp của luận văn

Nguyễn Duy là hiện tượng thi ca độc đáo được nhiều người quan tâm

nghiên cứu ngay từ khi xuất hiện trên thi đàn Thơ Nguyễn Duy cũng được nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng tiếp cận thơ Nguyễn Duy từ phương diện biểu tượng nhằm giải mã những tầng nghĩa ẩn sâu trong mạch ngầm văn bản thông qua lớp trầm tích biểu tượng để làm nổi bật phong cách thơ độc đáo Nguyễn Duy Từ đó khẳng định vị trí đóng góp của ông trong tiến trình của thơ ca Việt Nam

Với đề tài Biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy, luận văn còn góp phần

vào hướng nghiên cứu, phê bình văn học từ lý thuyết biểu tượng

Người viết cũng hi vọng rằng những tư liệu và kết quả của luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Nguyễn Duy trong nhà trường được tốt hơn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tư liệu tham khảo luận văn được

chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung và hành trình sáng tạo thơ Nguyễn Duy Chương 2: Những biểu tượng nghệ thuật đặc sắc trong thơ Nguyễn Duy Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG

TẠO THƠ NGUYỄN DUY 1.1 Khái niệm biểu tượng

Biểu tượng trong tiếng Hán: “Biểu” có nghĩa là: “bày ra”, “trình bày”,

“dấu hiệu”, để người ta dễ nhận biết một điều gì đó “Tượng” có nghĩa là

“hình tượng” Còn trong Tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ “symbol” Thuật ngữ “symbol” được bắt nguồn từ Hi Lạp “Symbolon” có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấu hiệu, triệu chứng…Cũng có thuyết cho rằng symbol bắt nguồn từ động từ Hi Lạp “Symballo” có nghĩa là “ném vào một vị trí”, “liên kết”, “suy nghĩ về”…Biểu tượng (symbol) là thuật ngữ được nhiều ngành khoa học nghiên cứu sử dụng với những hàm nghĩa khác nhau (dẫn theo Lưu

Thị Thu Biểu tượng mặt trời trong đời sống văn hóa và văn học dân gian Việt Nam) Từ xưa, biểu tượng dùng với nghĩa chỉ một vật bị tách, cắt ra làm đôi,

mỗi mảnh được giữ bởi hai người, sau này khi 2 người có cơ hội gặp nhau mảnh vỡ ấy ghép lại chính là bằng chứng nhận ra mối quan hệ cũ Như vậy biểu tượng chia ra và kết lại với nhau chính là ý tưởng phân li và tái hợp, đồng nghĩa mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ: “Mọi biểu

Trang 18

tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ: ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ, vừa là kết nối những phần của nó đã bị vỡ ra” [6, tr.23] Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ kéo theo những nhận định, quan điểm khác nhau nhằm lý giải ý nghĩa và vai trò của biểu tượng trong đời sống tinh thần và văn hóa

Theo Chu Hy, nhà triết học cổ Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131-

1200) trong Dịch thuyết cương lĩnh khi bàn về biểu tượng đã viết: “Tượng là

lấy hình này để tỏ nghĩa kia”, tức là dùng cái “có thể hiểu biết” để nói lên điều “khó có thể hiểu biết”, hay dùng cái cụ thể để nói cái trừu tượng, dùng

cái tĩnh để nói cái động dùng cái hữu hình để nói cái vô hình….Theo Từ điển triết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan- cảm tính, khái quát về các sự vật

và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo trong ý thức và không có

sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật hiện tượng đến giác quan” [46, tr.86] Có hai điểm cần chú ý ở đây: biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức,

nó xuất phát từ hiện thực khách quan- là hình thức phản ánh cảm tính, được giữ lại và tái tạo trong đầu óc con người Thế giới biểu tượng rất phong phú nhưng nó còn phụ thuộc vào môi trường và năng lực, khả năng nhận biết của mỗi người

Theo Từ điển tiếng Việt, biểu tượng được hiểu là “hình thức của nhận

thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật và giác quan đã chấm dứt” hay “kí hiệu bằng hình

đồ họa trên màn hình máy tính, tượng trưng cho một chương trình, một file dữ liệu, người sử dụng có thể kích chuột vào đấy để chọn một thao tác hoặc ứng

dụng phần mềm nào đó” [32, tr.112] Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán-

Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi): “Biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã

Trang 19

chấm dứt” [14, tr.23] Quan niệm tương tự cũng thấy trong Từ điển tâm lý do

Vũ Dũng chủ biên, định nghĩa biểu tượng: "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai." [7, tr.41] Theo quan niệm phân tâm học của Freud: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” Quan niệm tương tự cũng

thấy trong Từ điển Larousse cho rằng: “Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh,

con vật sống động, hay đồ vật, biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh

cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó” và Từ điển tiếng Việt: “Biểu tượng

là một hiện tượng tâm sinh lí do một số sự việc ở ngoại giới tác động và giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thước hoặc nhìn thấy hình ảnh

nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức” [32, tr.67] Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lý, biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi các sự vật, hiện tượng ở bên ngoài tác động vào giác quan của con người và nó là một giai đoạn cao của nhận thức cảm tính Biểu tượng còn giúp con người nhận thức được những thuộc tính, bản chất, quy luật của sự vật đem đến cái nhìn sâu hơn về sự vật Điều quan trọng, biểu tượng gắn liền với trí tưởng tượng của con người, biểu tượng của tưởng tượng thường gắn liền với lĩnh vực nghệ thuật, trong đó có thơ ca “Tổng kết định nghĩa về thuật ngữ biểu tượng trong các từ điển trên thế giới, Đinh Hồng Hải, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng trong những năm gần đây, đã tóm lược: “Biểu tượng có tính đa nghĩa, nhưng chúng

ta có thể chia làm hai nghĩa chính là biểu hình và biểu ý Trên thế giới, thuật ngữ symbology được nhiều từ điển giải thích với các ý nghĩa: 1-Việc nghiên cứu hoặc sử dụng các biểu tượng và 2- Tập hợp các biểu tượng (1: the study

Trang 20

or use of symbols 2: symbols collectively) Các từ điển nghệ thuật có thêm một ý nghĩa là: 3- Nghệ thuật sử dụng các biểu tượng để nhắc đến một trào lưu nghệ thuật thịnh hành ở châu Âu vào thế kỷ XIX Như vậy, thuật ngữ symbology trong tiếng Anh tương đương với nghiên cứu biểu tượng (hoặc biểu tượng học) trong tiếng Việt” [34, tr.128]” [17, tr.7, dẫn theo Nguyễn Thị Quỳnh Hương]

1.1.2 Biểu tượng văn hóa

Theo một thống kê chưa đầy đủ thì trên thế giới có khoảng 2000 dân tộc, mỗi một dân tộc lại chứa đựng những nền văn hóa đa dạng và phong phú, làm nên cái chất riêng đặc trưng của dân tộc đó Một trong những nhân tố quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần nhân loại, hình thành nên

sự khác biệt của mỗi nền văn hóa chính là biểu tượng Biểu tượng mang lại những giá trị đặc sắc về văn hóa cho mỗi dân tộc, quốc gia Để hiểu hơn về biểu tượng văn hóa, trước tiên cần chú ý đến khái niệm văn hóa Về khái niệm văn hóa chứa đựng nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt về đời sống vật chất và tinh thần của con người Do điều kiện luận văn tốt nghiệp có hạn nên chúng tôi không đi sâu phân tích các kiến giải

về văn hóa thay vào đó sẽ đưa ra một số quan điểm có tính khái quát liên quan đến biểu tượng văn hóa phục vụ cho nội dung chính luận văn

UNESCO đưa ra nhận xét: “Văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người

có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” (trích

theo Toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa) Các tác giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới lại cho rằng: “những gì được gọi là biểu tượng khi nó

được một nhóm người đồng ý cho rằng nó có nhiều hơn một ý nghĩa là đại điện cho chính bản thân nó” [6, tr.25] hay “Mọi nền văn hóa đều có thể xem xét như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn

Trang 21

ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn

giáo…” Theo Từ điển bách khoa Văn hóa học, “biểu tượng- một loại ký hiệu

đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó Biểu tượng văn hóa khác ký hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng mối liên hệ tâm lý và tồn tại mà

nó biểu trưng” [2, tr.50]

Biểu tượng văn hóa mang giá trị vật chất và tinh thần có khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng lớn hình thức cảm tính của nó, tồn tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho nền văn hóa nhất định Biểu tượng văn hóa của mỗi dân tộc có sự khác nhau, nó ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, là mạch nguồn mang giá trị tâm linh, chứa đựng hơi thở của thời đại Đồng nghĩa với việc biểu tượng trong mỗi nền văn hóa không đảm bảo sự tồn tại vĩnh viễn, nó chỉ thích hợp trong giai đoạn nhất định của lịch sử, đồng thời trên cơ sở biểu tượng có sẵn cùng với sự phát triển của văn hóa dẫn đến hình thành những biểu tượng văn hóa khác nhau, quá trình này luôn tồn tại tiếp diễn Quy luật giao lưu giữa các nền văn hóa sẽ dẫn đến sự ra đời của nền văn hóa mới kéo theo những giá trị vật chất và tinh thần của biểu tượng văn hóa mới ra đời, có nghĩa các biểu tượng cũ sẽ mất đi hay tạm thời bị lãng quên, đến một chừng mức cơ hội nào đó khi gặp đủ các nhân tố cần thiết nó

sẽ được hồi sinh, hiểu theo một cách bổ sung, “biểu tượng chịu sự chi phối của ngôn ngữ, tâm lí, quan niệm của dân tộc và thời đại” Ví dụ biểu tượng

“rồng” trong văn hóa Việt Nam qua các thời kỳ có sự khác biệt về hình dáng

và ý nghĩa tượng trưng To tem rồng có nguồn gốc từ văn hóa Trung Hoa, người Việt Nam tiếp nhận, trong văn hóa tâm linh rồng là biểu tượng cộng gộp tất cả các ước vọng tốt đẹp nhất của cuộc sống nhân sinh khác hẳn so với hình ảnh con rồng Trung Hoa như một biểu tượng của quyền lực, sức mạnh của đế quốc và Hoàng đế Trung Hoa

Trang 22

1.1.3 Biểu tượng văn học

Trong tác phẩm văn học, nội dung và hình thức có quan hệ mật thiết với nhau giống như 2 mặt của tờ giấy đã có mặt này phải có mặt kia, chúng có tác động qua lại bổ sung cho nhau Nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại, thông qua nội dung tác phẩm để tái hiện đời sống qua con mắt chủ quan mà văn học là nghệ thuật của ngôn từ luôn đề cao sự sáng tạo Hay hiểu theo nghĩa khác, nghệ thuật trong văn học “là hai lần nói dối ngọt ngào”, nhà văn tiếp nhận cuộc sống hiện thực dưới cái nhìn nghệ thuật và bản chất của những tác phẩm đó đã chứa nghệ thuật Để xây thế giới như vậy đòi hỏi nhà văn, bên cạnh “vốn trời cho” phải có sự lao động nghệ thuật thực sự nghiêm túc, một trong những nhân tố quan trọng là biểu tượng nghệ thuật Biểu tượng được nhìn qua lăng kính của người nghệ sĩ và gắn với tư tưởng của chủ thể sáng tạo “Biểu tượng rơi vào ký ức nhà văn từ chiều sâu ký ức văn hóa và được làm sống lại trong văn bản mới, như một hạt giống đánh rơi vào lòng

đất” (trích Biểu tượng trong hệ thống văn hóa- Lotman JU M, tạp chí Sông hương, 10/11/2013)

Từ điển thuật ngữ văn học, cắt nghĩa biểu tượng dưới góc độ văn học

“…Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới…nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng Cho nên, trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời” [14, tr.24] Từ điển cũng đánh giá vai trò của chủ thể sáng tạo đối với những

Trang 23

biểu tượng: “Bên cạnh những biểu tượng thể hiện ý thức chung của xã hội, trong văn nghệ, có rất nhiều biểu tượng in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn, nhà thơ…Những biểu tượng do các nhà văn, nhà thơ sáng tạo ra thường chứa đựng nhiều ý tứ kín đáo, thâm trầm, thậm chí bí hiểm” [tạm 14, tr.27] Nhà văn, nhà thơ không chỉ là người kế thừa những giá trị biểu tượng nghệ thuật chung mà luôn luôn đòi hỏi xu hướng cách tân, bổ sung ý nghĩa cho những biểu tượng cũ và làm phát sinh những biểu tượng mới Ví dụ: Trăng trong thơ Nguyễn Du gợi tình, gợi cảnh Trăng trong thơ Xuân Diệu đem lại cảm giác bâng khuâng nhẹ nhàng cho người đọc Còn với trăng trong thơ Hàn Mặc Tử là cả một thế giới đầy bí ẩn, dị thường Trăng có lúc được ẩn

dụ, lúc được nhân hóa làm cho nó mang một phong cách độc đáo và khác lạ Xuân trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi căng tràn sức sống, là một sự tiếc nuối

tươi trẻ, mang hơi thở của tình yêu (bài Cây chuối) thì xuân trong thơ chữ

Hán của Ức Trai lại pha chất cô liêu, tượng hình, có lúc bình dị nhưng lại có khi huy hoàng, tráng lệ, gợi cho người ta cái cảm giác trầm buồn, cô quạnh lẫn một chút hờn dỗi của người anh hùng cô thế thu mình về ẩn dật trong thiên nhiên núi rừng sau những thăng trầm của thời cuộc, sau những trải nghiệm đau đớn của bản thân

Như vậy, nói tóm lại “biểu tượng nghệ thuật mang chức năng mã hoá cảm xúc tư tưởng quan niệm của nhà văn về đời sống; kết tinh bản sắc văn hoá suy nghĩ quan niệm của dân tộc; thể hiện sâu sắc dấu ấn của thời đại khuynh hướng văn học Hệ thống biểu tượng tồn tại như những mớ nghệ thuật lưu giữ dấu ấn dân tộc thời đại khuynh hướng sáng tác và cái riêng của nhà văn Nhà văn có thể dùng những biểu tượng trong đời sống đặt nó vào trong một chỉnh thể mới cấp cho nó những quan hệ mới để không những chuyển cảm xúc tư tưởng của mình vào trong nó mà còn tạo cơ hội để nó có thể mang

Trang 24

thêm ý nghĩa” [50, dẫn theo ngu-bieu-tuong-nghe-thuat-suu-tam.html]

1.1.4 Biểu tượng nghệ thuật trong thơ

Khi nói đến thơ ca, chúng ta liên tưởng đến ngay cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ…khách quan của chủ thể trữ tình được gửi gắm qua nội dung

và hình thức của nó là ngôn ngữ Biểu tượng trong thơ (tác phẩm trữ tình nói chung) là một loại biểu tượng nghệ thuật Biểu tượng nghệ thuật trong thơ thường có giọng điệu, cảm xúc cụ thể trong cách cảm và cách nghĩ, đây được xem như dấu hiệu nhận biết phong cách đặc trưng của mỗi nhà thơ Thơ ca có dung lượng ngắn, ít ỏi nhưng có sức nén, khái quát cao, nên các biểu tượng trong thơ thường có tính đa nghĩa và ấn tượng, đó chính là ngòi nổ làm nên sức sống của thơ Biểu tượng trong văn học dân gian chứa đựng những giá trị văn hóa của cộng đồng được nhân dân khéo léo truyền tải qua lời ca tiếng hát bằng những hình ảnh ẩn dụ hết sức thân thương gần gũi Đến với văn học viết, biểu tượng trở thành một phương tiện nghệ thuật để các nhà thơ, thi sĩ sử dụng trong tác phẩm của mình để nhằm truyền tải những quan niệm, suy tư…về cuộc sống, con người, xã hội Nhìn chung biểu tượng trong thơ mang tính kế thừa giá trị truyền thống đồng thời đề cao sự sáng tạo, làm mới bổ sung cho những biểu tượng cũ, hoặc làm phát sinh những biểu tượng hoàn toàn mới Sự đa dạng, phong phú biểu tượng nghệ thuật trong thơ mang tính quyết định và khẳng định cái tôi cá nhân độc đáo, cá tính Ví dụ trong thơ ca truyền thống con thuyền là biểu tượng cho người con trai gắn liền với sự chủ

động, Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền!

Khi đến thơ Xuân Quỳnh, nhà thơ đã biến hóa một cách sáng tạo cách nói của

dân gian, con thuyền lại gắn với người con gái Nếu phải cách xa em/ Anh chỉ còn bão tố/ Nếu phải cách xa em/ Anh chỉ còn bão tố

Trang 25

1.1.5 Phân biệt biểu tượng và một số khái niệm gần gũi

Như đã nêu ở trên, do thuật ngữ biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, lại có nhiều cách kiến giải chưa có sự thống nhất nên không dễ dàng để xác định nội hàm mà biểu tượng truyền tải Tuy nhiên để có một cái nhìn toàn diện về ý nghĩa của biểu tượng trong đề tài luận văn thì chúng ta cần phân biệt được biểu tượng và một số khái niệm gần gũi, liên quan Cách phân biệt cũng chỉ dừng ở mức tương đối, không đơn thuần xác định chính xác ngay được, chúng ta cần đặt vào hoàn cảnh cụ thể để có cái nhìn toàn cảnh chính xác

1.1.5.1 Phân biệt biểu tượng và hình tượng

Ở góc độ của luận văn chúng tôi xem xét dưới bình diện hình tượng

nghệ thuật, theo Từ điển tiếng Việt: “Hình tượng (imgae) hình tượng là sự

phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính”

[32, tr.690] Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học nhận xét: “Hình tượng nghệ

thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng khái quát làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại…Vì những lẽ trên, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lí tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình” [14, tr.147] Chúng ta có thể thấy, mối tương quan và gắn bó khá chặt chẽ với nhau của hình tượng và biểu tượng trong quá trình hình thành nên tác phẩm nghệ thuật có giá trị nhận thức cảm tính và chủ quan trong việc phản ánh thực tại có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Trong thực tế, hình tượng nghệ thuật

Trang 26

và biểu tượng nghệ thuật vẫn tồn tại và thường được dùng lẫn lộn với nhau, mặc dù bản chất của chúng là khác nhau: hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt quá giới hạn của hình thức biểu đạt cụ thể, tức là có vai trò biểu hiện trọn vẹn nghĩa của hình tượng Còn biểu tượng vượt qua giới hạn của một sự biểu đạt “Khái niệm hình tượng nghệ thuật, nói lên phương thức nhận thức

và sáng tạo lại hiện thực theo cách riêng biệt, độc đáo và chỉ có ở nghệ thuật Bất cứ một sự vật, hiện tượng khách quan nào có trong đời sống hiện thực, nếu được mô phỏng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều trở thành hình tượng nghệ thuật Nhìn chung, hình tượng thường được hình thành trong mối quan hệ giữa thế giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người Song, hình tượng không là bản sao chép máy móc theo đúng nguyên mẫu của thế giới hiện thực, bởi vì nó thuộc về thế giới của tinh thần- thế giới của sự sáng tạo Hình tượng không chỉ phản ánh hiện thực mà còn khái quát hóa, điển hình hóa toàn bộ thế giới hiện thực, nhằm tìm ra được những yếu tố cốt lõi nhất của hiện thực khách quan Nhưng, hình tượng không giống với các khái niệm mang tính trừu tượng, mà nó mang tính biểu hiện hết sức sinh động và độc đáo để làm nên tác phẩm nghệ thuật” [23, dẫn theo http://caycanhthanglong.vn/ve-tinh-hinh-tuong-va-tinh-bieu-tuong-trong-tac-pham-van-hoa-nghe-thuat.html]

Hình tượng cho phép người viết tái hiện cuộc sống một cách chân thực trên cơ sở chất liệu hiện thực nhưng không phải chụp một cách y nguyên mà

có sự sáng tạo nghệ thuật khiến cho thế giới trong tác phẩm văn học thêm sinh động, giàu sức sống Hình tượng nghệ thuật mang tính hàm súc cao, nó

có thể truyền đạt được những nội dung cuộc sống phong phú trong một bức tranh, một pho tượng, một vở kịch, một bản nhạc, một bộ phim, hay chỉ trong một câu truyện ngắn,…Ví dụ hình tượng nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, đã làm thay đổi hẳn quan niệm về người nông

Trang 27

dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Thơ kháng chiến giai đoạn 1945-

1975, chúng ta hiểu thêm cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của con người sống trong chiến tranh ác liệt, đặc biệt hình tượng người lính Cách mạng được khắc họa qua chất trữ tình và chất anh hùng ca hoà quyện trong hồn thơ, trong mỗi bài, mỗi câu, mỗi ý thơ Hình tượng nghệ thuật còn mang tính đa nghĩa có thể đem đến cho người đọc những cách thưởng thức hay những cách lí giải ở nhiều góc độ khác nhau

1.1.5.2 Phân biệt biểu tượng và ẩn dụ

Phân biệt biểu tượng và ẩn dụ chỉ mang tính tương đối, khó có thể một cách rành ròi là rất khó vì hai khái niệm này rất dễ nhầm lẫn bởi chúng đều

có phương thức chuyển nghĩa của lời nói Tuy nhiên chúng vẫn có những

điểm khác biệt cơ bản Theo Từ điển tiếng Việt nhận xét: “Ẩn dụ (metaphor)

là phép dùng từ ngữ dựa trên sự liên tưởng một đối tượng này với đối tượng khác và gọi bằng tên của đối tượng khác và gọi bằng tên của đối tượng khác

ấy, nhằm nêu bật một tính chất nào đó” [32, tr.30] Còn Từ điển thuật ngữ văn học chỉ ra mối quan hệ giữa ẩn dụ và biểu tượng cụ thể như sau: về sự

giống nhau “hình thành trên cơ sở đối chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng, có những phương diện, khía cạnh, những đặc điểm gần gũi, tương đồng, nhằm làm nổi bật bản chất, tạo ra ý nghĩa cụ thể sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó” [14, tr.24], về sự khác biệt “ẩn dụ và hoán dụ đều mang ít hay nhiều ý nghĩa biểu tượng, nhưng biểu tượng không phải bao giờ cũng là những hoán dụ, ẩn dụ…biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng…trong khi đó, ẩn dụ và hoán dụ nhiều khi có khuynh hướng làm mờ ý nghĩa biểu vật, trực quan của lời nói; nếu như ý nghĩa của

ẩn dụ, hoán dụ trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản, thì ý nghĩa của biểu tượng tồn tại cả ngoài văn bản” [14, tr.24,25] Sự khác nhau giữa biểu tượng

và ẩn dụ còn được thể hiện trong bài viết Kết cấu nghệ thuật thơ ca trữ tình

Trang 28

dân gian Nga, của nhà văn V.I Eramina: “Ẩn dụ thơ ca được sinh ra nhất

thời và mất đi rất nhanh Biểu tượng được hình thành trong quá trình dài và sau đó trong hàng trăm năm, ẩn dụ là yếu tố biến đổi, biểu tượng thì không đổi và bền vững Ẩn dụ là phạm trù thẩm mĩ và phần lớn tự do tách khỏi phong cách ước lệ Biểu tượng thì ngược lại, giới hạn nghiêm túc bởi hệ thống thi ca xác định” Từ những ý kiến nhận định sâu sắc về mối quan hệ giữa ẩn dụ và biểu tượng trên, trong luận văn chúng tôi phân biệt ở những khía cạnh trên: ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có xu hướng nghiêng về một ý nghĩa cụ thể riêng biệt, không ổn định trong khi biểu tượng có xu hướng ổn định về nghĩa

và ý nghĩa của biểu tượng là sự phức tạp, đa nghĩa; ẩn dụ chủ yếu được tạo nên từ văn bản tác phẩm, nhiều tác phẩm của nhiều nhà văn còn biểu tượng vượt qua ngoài tác phẩm mà nhà văn sáng tạo mà còn từ phía độc giả tiếp nhận Như đã nêu ở trên sự phân biệt giữa biểu tượng và ẩn dụ khó có thể xác định rạch ròi nhưng chúng ta cũng có thể khẳng định ẩn dụ và biểu tượng không thể là một Xét ví dụ:

Với hai câu thơ của Viễn Phương trong bài Viếng lăng Bác:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

Đối với hình ảnh mặt trời trong thơ Viễn Phương: tác giả đem hình tượng so sánh đặt ra trước để nâng cao giá trị hình tượng so sánh Mặt trời trước tiên là hình ảnh thực biểu tượng cho sự sống diễn ra hàng ngày và cho

sự trường tồn vĩnh cửu tất yếu của cuộc sống Nhà thơ ví Bác như chân lí ấy, như ánh sáng vĩnh cửu ấy Người đọc có thể bắt gặp một sự so sánh không gượng ép, gần như là hiển nhiên của nhà thơ Biện pháp ẩn dụ được sử dụng đúng chỗ của Viễn Phương đã làm tăng giá trị biểu cảm Đối với hình ảnh mặt trời trong thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi/ Mặt

Trang 29

trời của mẹ em nằm trên lưng” cũng là hình ảnh mặt trời, nhưng tác giả bài

thơ đã sử dụng với một tác dụng khác Lúc này, mặt trời không là biểu tượng cho chân lí hay một sức mạnh vĩnh cửu mà nó được đem ra làm biểu tượng cho sự sống, cho niềm tin của một người mẹ đối với con Qua đó, ngợi ca tình cảm mẹ con thiêng liêng

1.1.5.3 Phân biệt biểu tượng và tượng trưng

Như đã nêu ở trên thuật ngữ biểu tượng (symbol) được dùng với hai

nghĩa: biểu tượng và hình ảnh tượng trưng nhưng thực chất giữa tượng trưng

và biểu tượng vẫn có sự khác biệt Sách Lí luận văn học tập 2 viết: “Tượng

trưng là hình tượng bóng gió của từ ngữ biểu thị một ý nghĩa độc lập cố định

đó thành ước lệ” [37, tr.132] Sách Từ điển thuật ngữ văn học viết: “phạm trù

tượng trưng nhằm chỉ cái phần mà hình tượng vượt khỏi chính nó chỉ sự hiện diện của một ý nghĩa nào đó vừa hòa hợp với hình tượng vừa không đồng nhất với hình tượng” [14, tr.390] Còn Chu Quang Tiềm cho rằng, tượng trưng chính là quá trình phiên dịch những ý tưởng trừu tượng thành ý tưởng:

“Đối với những khái niệm trừu trượng thì hiện ra trong đầu óc nhà nghệ thuật phải phiên dịch thành những ý tưởng cụ thể rồi mới có thể biểu hiện thành tác phẩm Sự phiên dịch ấy chính là tượng trưng” Từ những nhận định trên, chúng tôi rút ra nhận định cho sự khác biệt cơ bản giữa tượng trưng và biểu tượng: tượng trưng mang tính cố định về mặt ý nghĩa khi nói đến nó ngay lập tức người ta nghĩ ngay đến một hình ảnh nào đó, một hình ảnh tượng trưng, ví dụ: xiềng xích là tượng trưng của sự nô lệ, bánh xe răng cưa tượng trưng cho công nghiệp, hoa sen mầu trắng tượng trưng cho trạng thái tinh thần đã được gạn lọc, cho sạch hết đi các chất độc hại ; còn biểu tượng mang tính biến đổi thể hiện ở sự bổ sung, sáng tạo…thể hiện dấu ấn nhà văn Biểu tượng được sử dụng có sự lặp lại nhiều lần để biểu hiện diễn đạt một loại ý nghĩa thì dễ thành tượng trưng Ví dụ: trong thơ ca dân gian cặp hình ảnh trúc- mai biểu tượng

Trang 30

của tình cảm trai gái, tình yêu lứa đôi thì trong thơ bác học trở thành một quy ước mang tính tượng trưng cho phẩm chất người quân tử, tình bạn thắm thiết, tri kỉ nhà nho:

Trúc mai bạn cũ họp nhau quen

Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng

1.1.5.4 Phân biệt biểu tượng và phóng dụ

Sách Từ điển thuật ngữ văn học viết về phóng dụ: “Một hình thức chuyển nghĩa trong văn học, còn gọi là nói bóng hoặc ám chỉ Các hình tượng

hoặc hình ảnh kết hợp với nhau trong cấu trúc hoàn chỉnh để tạo sự liên tưởng tới ý nghĩa khái quát, trừu tượng trên cơ sở của ý nghĩa cụ thể…Phóng dụ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng Nghĩa cụ thể chỉ là phương tiện để tạo liên tưởng Nghĩa trừu tượng mới là mục đích” [14,

tr.263] Còn sách Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới chỉ ra sự khác biệt giữa

biểu tượng và phóng dụ: “Biểu tượng không phải là một phóng dụ, cũng chẳng phải là một ký hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp

để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất, ta mà hồ, nghi hoặc của tâm linh” [6, tr.24], “Phóng dụ là một thủ thuật lý tính không bao hàm ý nghĩa chuyển dịch sang một bình diện mới của tồn tại, cũng không đào thêm vào một chiều sâu của ý thức; đây là sự biểu hình, ở cùng một cấp độ ý thức, cái mà đã có thể biết khá rõ bằng một cái khác Biểu tượng báo hiệu một bình diện ý thức khác với cái hiển nhiên lí tính; nó là mật mã của một bí ẩn, là cách duy nhất để nói

ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác; nó không bao giờ có thể được cắt nghĩa một lần là xong, mà cứ phải giải mã lại mãi, cũng giống như một bản nhạc không bao giờ chơi một lần là xong mà đòi hỏi một lối biểu diễn luôn luôn mới” [6, tr.18] Từ những nhận định trên, chúng ta thấy điểm

Trang 31

khác biệt cơ bản nhất giữa biểu tượng và phóng dụ: phóng dụ mang tính chất

cố định, tĩnh tại; biểu tượng có một trong những đặc trưng là tính năng động

và biến đổi linh hoạt

1.2 Hành trình sáng tạo và những đóng góp về thơ của Nguyễn Duy trong nền thơ ca dân tộc

1.2.1 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy

Nhà thơ Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông

Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9- Khe Sanh, Đường 9- Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979) Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi còn đang là học sinh trường phổ thông Trung học Lam Sơn, Thanh Hóa, trong cuộc thi thơ do tuần báo Văn nghệ tổ chức năm 1973, nhà thơ Nguyễn Duy

đoạt giải nhất với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam, Bầu trời vuông trong tập Cát trắng Năm 1997, Nhà thơ Nguyễn Duy quyết định tạm “gác

bút” dừng mọi hoạt động sáng tác để chiêm nghiệm lại bản thân Sau đó ông tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lên các chất liệu tre, nứa, lá, thậm chí bao tải Từ năm 2005, nhà thơ Nguyễn Duy đã cho ra mắt các tác phẩm thơ được

in trên giấy dó Trong đó có 30 bài thơ thiền thời Lý, Trần do ông chọn lọc với khổ giấy 81 cm x 111 cm Thơ có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh kèm theo ảnh nền và hình ảnh minh họa của chính tác giả

Trang 32

Tháng 09/2015, ông tuyên bố tự xóa tên khỏi các hội đoàn văn nghệ: 1- Hội Nhà văn Việt Nam;

2- Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh;

3- Ban Vận động thành lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam

Hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn Duy hơn 40 năm qua, từ những sáng tác đầu tiên đã nhận được sự quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình ghi nhận qua các giải thưởng, cho những cống hiến nghệ thuật không ngừng nghỉ của nhà thơ:

Năm 1973, Đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần Báo Văn Nghệ

Năm 2007, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

Năm 2010, Giải thưởng lớn về thơ của Viện Hàn lâm Rumani, năm

1.2.1.1 Giai đoạn trước năm 1975

Nhà thơ Nguyễn Duy đặc biệt thành công với thể thơ lục bát được viết theo phong cách hiện đại, đây là thể thơ quen thuộc của dân tộc, có cảm giác

ai cũng có thể viết được nhưng hay và đặc sắc lại rất khó Chính vì vậy, Nguyễn Duy đã được giới nghiên cứu, phê bình đánh giá là người góp phần làm mới thể thơ lục bát truyền thống Nguyễn Duy sáng tác rất sớm khi còn

Trang 33

ngồi trên ghế nhà trường Thơ Nguyễn Duy giai đoạn trước 1975 với sự ra đời

của các tác phẩm như: Trận địa tím (1969), Khẩu súng trên tay ta (1970), Khúc hát dân ca (1970), Tiếng hát mùa gặt (1971), đặc biệt được biết tới rộng rãi với những bài thơ quen thuộc như Tre, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Nguyễn Duy mới được phát hiện trên thi đàn Cát trắng là tập thơ đầu tay của

Nguyễn Duy, với tập thơ này ông được đánh giá là nhà thơ tiềm năng và đã định hình được diện mạo và hồn thơ riêng Nhưng đúng như người bạn vong niên của tác giả là nhà văn Nguyễn Quang Sáng (trong bài viết in ở cuối tập

Mẹ và em) đã nhận xét, thơ Nguyễn Duy hồi ấy còn non nớt, mà tác giả thì

còn trong cơn trăn trở tìm tòi

1.2.2.2 Giai đoạn sau năm 1975

Giai đoạn sau 1975 chứng kiến bao đổi thay của đất nước, các văn nghệ

sĩ không phải ngoại lệ, Nguyễn Duy cũng nằm trong số đó Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, khi cuộc chiến khép lại, cũng giống như các văn nghệ sĩ khác thơ Nguyễn Duy vẫn mang nặng tình cảm đồng đội, tình yêu quê hương nhưng đồng thời đầy suy ngẫm về cuộc sống con người, những góc khuất cuộc sống hôm nay Hồn thơ Nguyễn Duy giai đoạn này chứng kiến sự trưởng với với sự thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức Thời gian đã làm cho những câu thơ thêm sâu sắc và ý nghĩa, đúng như các cụ thường nói “gừng càng già càng cay” Nếu trước đổi mới, dư âm của cuộc chiến tranh với chiến thắng lẫy lừng của toàn dân tộc ảnh hưởng tới nhiều bài thơ của Nguyễn Duy, thì sau đổi mới, ông lại có cái nhìn thể hiện khá toàn diện về chiến tranh với cả động, cả tĩnh, chủ quan, khách quan…Đặc biệt, nội dung trong thơ Nguyễn Duy mang cảm hứng đời tư thế sự thêm vào

đó là sự xuất hiện của chất liệu đời thường trước tác động của đời sống, với ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ bác học, thể thơ lục bát gần gũi và thơ tự

do làm phương diện nhận thức biểu hiện và sáng tạo, một giọng thơ có nhiều

Trang 34

phẩm chất thuần nhất Dân dã mà hiện đại, từng trải dạn dày song lại run rẩy tinh tế, cay đắng ngậm ngùi ngay trong khi cười cợt đắm say, lam lũ dông dài

mà vẫn có những nét cao sang riêng, thơ Nguyễn Duy những năm 90 gợi ra cảm tưởng một bản sắc đã chín, đã định hình ở đó có tất cả những phóng túng nồng nàn, lẫn những ngang trái khó chịu đầy tính chiêm nghiệm Có thể khẳng định thơ Nguyễn Duy giai đoạn sau 1975 đánh dấu độ “chín” cả về con người lẫn hồn thơ, như lời đánh thức cõi tâm tình đang dần ngủ quên giữa bao bộn bề đời thường, khiến con người ta những phút giây giật mình, để nhận ra chính mình đã bỏ quên chính mình, chạy theo những gì khó lí giải bằng sự gần gũi, bình dị “Đơn sơ mà kỳ diệu là diện mạo bao trùm lên cái đẹp của Nguyễn Duy Đơn sơ chứa đựng kỳ diệu, kỳ diệu ngay trong đơn sơ Cái đẹp

ấy sẽ chi phối ngòi bút của anh trong việc sáng tác nên thế giới nghệ thuật của mình từ nội dung đến hình thức, từ cảnh vật đến nhân vật…Quan điểm ấy đã giúp Nguyễn Duy đi suốt con đường nghệ thuật của mình” [41 tr.38-53], đó

là những lời nhận xét của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn mang tính khái quát quan niệm nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy

1.2.2 Những đóng góp về thơ của Nguyễn Duy trong nền thơ ca dân tộc

Nguyễn Duy viết nhiều thể loại nhưng nhiều nhất, tiêu biểu nhất vẫn là thơ Thơ Nguyễn Duy nhiều loại từ thơ ngắn, tự do, lục bát đến thơ dài Những tập thơ chính gồm:

Trang 35

Thơ Nguyễn Duy (2010, tuyển tập những bài thơ tiêu biểu nhất)

Nói về người và thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bình luận một cách thân ái "Hình hài Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc trên đám đất hoang đó"

Tiểu kết: như vậy chương 1 chúng tôi trình bày vắn tắt những cách tiếp

cận biểu tượng dưới góc độ những vấn đề cơ bản của lý thuyết biểu tượng từ những quan điểm khía cạnh khác nhau: văn hóa, văn học và biểu tượng trong thơ… và tiến hành phân biệt biểu tượng với một số khái niệm gần gũi như: hình tượng, phóng dụ, ẩn dụ, tượng trưng Đồng thời chúng tôi còn tiến hành tìm hiểu hành trình sáng tạo và những đóng góp của Nguyễn Duy cho nền thơ

ca dân tộc Trên những cơ sở lý luận đó, chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề xuất cách phân loại biểu tượng, một số hướng tiếp cận và giải mã những yếu tố góp phần xây dựng biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy ở các chương tiếp theo

Trang 36

Chương 2: NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT ĐẶC SẮC

TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Thế giới nghệ thuật rất đa dạng và phong phú mà biểu tượng là một cách biểu hiện quan niệm thẩm mĩ của nhà văn về cuộc đời và con người Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy còn thể hiện ở sự lựa chọn và

sử dụng các phương tiện nghệ thuật để miêu tả hiện thực và nội tâm một cách sinh động và sâu sắc những chiều kích khác nhau của cuộc sống muôn màu Tìm hiểu thế giới biểu tượng nghệ thuật của thơ sẽ giúp người đọc hoá giải, khám phá được phần nào lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt nhưng đầy uẩn khúc, chất chứa bao nỗi niềm suy tư của hồn thơ Nguyễn Duy

Thế giới nghệ thuật trong toàn bộ sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Duy nói chung là một thế giới đa âm sắc, đầy cá tính sáng tạo, mang tính truyền thống và cách tân, hiện đại tạo nên những nét lạ thường, độc đáo, ta bắt gặp hàng loạt những hình ảnh đầy chất thơ và giàu sức gợi cảm, hết sức gần gũi

và quen thuộc nhưng cũng đầy phá cách sáng tạo độc đáo thể hiện phong cách Nguyễn Duy Qua quá trình khảo sát, không khó để chúng ta nhận thấy chất liệu chính trong thơ Nguyễn Duy lấy từ hiện thực cuộc sống chân thực, từ những thứ gần gũi nhất với quê hương, với nguồn cội nơi chôn rau cắt rốn cho đến những biến đổi của kiếp nhân sinh và cuộc sống nhưng được nhà thơ sáng tạo nâng tầm trở thành những biểu tượng nghệ thuật mang giá trị cao Từ những đặc điểm tính chất nổi bật của biểu tượng chúng ta có thể chia thế giới

biểu tượng trong thơ Nguyễn Duy làm 2 loại: biểu tượng thiên nhiên; trong đó

biểu tượng thiên nhiên gắn với không gian rộng lớn như sông, trăng, gió; biểu tượng thiên nhiên gắn những vật cụ thể như tre, cỏ dại, con cò, bụi, cát trắng

Trang 37

Biểu tượng gắn với con người trong đó biểu tượng gắn với cuộc sống con

người như bầu trời, ổ rơm, xó bếp, màu trắng; biểu tượng gắn với cơ thể con

người như bàn chân, bàn tay Nhìn chung những biểu tượng này chiếm vị trí

quan trọng trong hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn Duy, tuy không trải dài qua các chặng đường nhưng tần số xuất hiện và sử dụng nhiều hơn cả Có thể nói các biểu tượng chúng tôi chỉ ra gần như đã bao trọn đời sống tâm hồn và

sáng tác nghệ thuật Nguyễn Duy

2.1 Biểu tƣợng thiên nhiên

Thiên nhiên, từ xưa đến nay, luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi nhân say đắm, “tức cảnh sinh tình” và “thả hồn” thơ Nhưng ở mỗi nhà thơ lại

có cách thưởng thức cái đẹp khác nhau, những cảm nhận khác nhau, họ tận hưởng cũng chẳng giống nhau và cũng chính vì thế những tứ thơ, những vần thơ luôn mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân cũng như cảm xúc, tư tưởng của mỗi người Nguyễn Bính được mệnh danh, được ưu ái với những tên gọi hết sức thân thương gần gũi mà hồn hậu chân thực- nhà thơ của hồn quê, nhà thơ chân quê, ca sĩ của đồng ruộng Bởi tấm lòng, tình cảm gắn bó máu thịt của ông với quê hương luôn hiện hữu trong những câu thơ, bài thơ đầy ắp những hình ảnh gần gũi, thân quen về cuộc sống nơi thôn dã Từ lũy tre làng, giậu mùng tơi, giàn trầu, hàng cau liên phòng đến lối ngõ trải rơm, màu hoa đại, hương gạo tám thơm, men nồng rượu nếp… tất cả đều đẹp đẽ, nên thơ qua cái

nhìn, cách nghĩ và cảm xúc của thi sĩ tài hoa Khi đọc Bức tranh quê của Anh

Thơ để bắt gặp những chi tiết phải nhận là lạ Thiên nhiên trong thơ bà là những thứ rất mộc mạc, dân giã và quê mùa, nó là tất cả những gì như máu thịt gắn liền với tuổi thơ của bất kỳ một cô bé, hay cậu bé chăn trâu nào…đó

là những lũ chuồn chuồn nhớ nắng, rặng duối, hoa mướp, hoa xoan, đom đóm hay khung cảnh hội hè, đêm vắng, đám xẩm… và cả cái cảnh, một ông già với con ngựa trên đường xuống huyện mỏi mắt chờ đò Đến với thơ

Trang 38

Nguyễn Duy cũng không phải ngoại lệ, thơ ông ngập tràn nguồn cảm hứng vô tận từ chính thiên nhiên gắn bó thân thương đó nào là cây tre, con sông, hương cau, hương bưởi, gốc sim, gốc mua, cánh cò, cỏ dại, trăng Những hình ảnh bình dị ấy đã góp phần nuôi dưỡng, vun đầy tuổi thơ và đi vào tiềm thức nhà thơ trở thành nguồn sống, nguồn cảm hứng sáng tạo dạt dào để rồi nhà thơ nâng bước chúng trở thành những biểu tượng nghệ thuật ẩn chứa tính

đa nghĩa

Biểu tượng thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy rất sống động và cảm xúc, thể hiện lòng lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ Thiên nhiên luôn ùa vào trong thơ ông với sự non tươi, với sự ấm áp đầy dào dạt của cảm hứng, với tâm hồn và cốt cách toát lên vẻ đẹp văn hóa của người Việt

2.1.1 Biểu tượng thiên nhiên gắn với không gian rộng lớn

2.1.1.1 Biểu tượng sông

Như chúng ta đã biết, Việt Nam xuất phát điểm từ nền văn minh lúa nước hàng ngàn năm nay, đến tận bây giờ nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế nói chung Chính vì thế đối với mỗi người Việt con sông hay dòng sông và sông hết sức quen thuộc trong tâm thức Nó không chỉ chứa đựng nguồn tài nguyên phong phú phục vụ nhu cầu con người

mà còn là nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của mỗi cộng đồng, dân tộc Sông nước trong tâm thức người Việt phản ánh môi trường sống, tiến trình lịch sử của dân tộc mà còn hình thành nên phong tục tập quán, tâm tính, kiểu tư duy, cách ứng xử của từng con người cụ thể

Sông (fleuve- tiếng Pháp, river- tiếng Anh) hay dòng nước chảy đồng

thời “là biểu tượng của khả năng của vạn vật, của tính lưu chuyển của mọi dạng thể (F.Schoun) của sự phong phiêu, của cái chết và sự đổi mới Dòng chảy là dòng của sự sống và cái chết Ta có thể xem xét kỹ hoặc là sự chảy

Trang 39

xuôi dòng ra đại dương, sự ngược dòng hay là sự vượt qua dòng từ bờ này sang bờ khác” [6, tr.829]

Sông với các đặc tính địa lý dài, rộng, sâu…tạo sự ngăn cách tự nhiên giữa đôi bờ, giữa hai vùng địa lí,…Và do đó, sông mang ý nghĩa biểu trưng cho ranh giới, sự cách trở Đó là sự cách trở khiến các chàng trai cô gái xưa phải đau đáu nỗi niềm nhớ nhung trong kho tàng ca dao:

Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

Hay là sự chờ đợi:

Qua sông em đứng em chờ

Qua cầu em đứng ngẩn ngơ vì cầu

Và cũng tình tứ, dịu dàng:

Đôi ta thương mãi nhớ lâu

Như sông nhớ nước, như nhành dâu nhớ tằm

Biểu tượng sông trong thơ Nguyễn Bính thường gắn với con thuyền, sang ngang, bến đò…Đó là ranh giới, trở cản của phận gái theo chồng:

Một lần này bước ra đi

Là không hẹn một lần về nữa đâu

Cách mấy mươi con sông sâu

Và trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênh

Là sự ngang trái trong tình yêu lứa đôi:

Trang 40

Mình đi, tôi trở lại chia tay;

Trong văn hóa Việt Nam nói chung và theo đó là trong văn học Việt Nam nói riêng từ lâu, sông mang ý nghĩa biểu tượng cho vẻ đẹp thiên tính nữ,

có thể là vẻ đẹp của một người mẹ và có thể là vẻ đẹp của một người con gái nào đó Nguyễn Tuân, khi miêu tả vẻ đẹp của con sông Đà trong thiên tùy bút

Người lái đò sông Đà nhìn từ trên cao tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu

tóc chân tóc ân hiện trong mây trời Tây Bắc Hay với Hoàng Phủ Ngọc

Tường, tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông lại có cái nhìn khá lí thú về

dòng sông Hương mang vẻ đẹp của một cô gái Digan phóng khoáng và man dại hay người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại

Nguyễn Thị Thu Trang có viết trong “Sông nước trong tâm thức người Việt”: “Sông nước vừa là hình ảnh chung của đất nước vừa rất cá biệt, vừa là

tự nhiên khách quan vừa thể hiện tính bản địa, sự khác biệt của văn hóa mỗi vùng miền” Biểu tượng sông trong thơ Nguyễn Duy mang tầm vóc thiên nhiên rộng lớn, đó là dòng sông thực của làng quê xứ Thanh “Giòng sông Mạ” Đó còn là dòng sông của ý nghĩa nghệ thuật, dòng sông của tiềm thức, của dòng tâm trạng, khi mạnh mẽ, kiêu hùng đôi khi lắm lúc lại dịu êm đầy tính trữ tình… dòng sông gắn với bao nỗi niềm của thi nhân trước những biến thiên của đất trời và cuộc đời

Nguyễn Duy sinh ra và lớn lên ở nông thôn, chiến tranh ông đi lính, hòa bình lặp lại ông sống ở thành phố nhưng cái tôi trữ tình luôn gắn bó với nguồn cội Nghĩ về nguồn cội là nghĩ về nơi chôn rau cắt rốn, những gì bình yên nhất nơi quê mẹ luôn dạt dào tình thương khi chôn đường đời với những

Ngày đăng: 13/03/2021, 08:58

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w