Những công trình nghiên cứu về Then nói chung Then là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian mang tính tổng hợp gồm lời ca, múa, nhạc và hội hoạ..., ngoài ra Then còn gắn với văn hoá
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NGỌC
THEN KỲ YÊN CỦA NGƯỜI TÀY
Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG - TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ
VĂN HỌC DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NÔNG THỊ NGỌC
THEN KỲ YÊN CỦA NGƯỜI TÀY
Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG - TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ
VĂN HỌC DÂN GIAN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Nguyễn Hằng Phương
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý thầy, cô giáo khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng
dẫn: PGS.TS Nguyễn Hằng Phương, cô đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới ông Hoàng Định, người đã cung cấp tư liệu và nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả để hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nông Thị Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nông Thị Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 10
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI TÀY, THEN TÀY VÀ THEN KỲ YÊN Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG 10
1.1 Tổng quan về tộc người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang 10
1.1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang 10
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, diện mạo văn hoá của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang 11
1.2 Khái quát về Then Tày 17
1.2.1 Khái niệm Then 17
1.2.2 Nguồn gốc của Then 20
1.3 Then kỳ yên ở Bắc Quang, Hà Giang 23
1.3.1 Then trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang 23
1.3.2 Khảo sát và phân loại 25
1.3.3 Hình thức diễn xướng trong Then kỳ yên 29
1.3.4 Các bước của một nghi lễ Then kỳ yên ở Bắc Quang, Hà Giang 33
Chương 2 NỘI DUNG THEN KỲ YÊN CỦA NGƯỜI TÀY Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG 40
2.1 Then kỳ yên phán ánh đời sống tâm linh của người Tày 40
2.1.1 Then là sự sinh động hoá quan niệm về thế giới ba tầng của người Tày 40
2.1.2 Quan niệm con người có hồn vía, số mệnh 43
2.1.3 Phản ánh tục thờ cúng tổ tiên của người Tày 45
Trang 62.2 Then kỳ yên phản ánh xã hội của người Tày trong quá khứ 48
2.2.1 Phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi 48
2.2.2 Phán ánh ước mơ về cuộc sống no đủ, yên vui của nhân dân lao động 53 2.2.3 Phê phán những thói tật của con người trong xã hội, đề cao phẩm chất tốt đẹp của người lao động 57
2.2.4 Phê phán những thế lực cường hào ác bá, bóc lột sức lao động của những người dân nghèo 61
2.3 Then kỳ yên phản ánh những truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Tày 64
2.3.1 Coi trọng đạo lí nhân cách, sống chan hoà tình nghĩa 65
2.3.2 Khuyên con người chăm chỉ trong lao động, sản xuất 68
2.3.3 Khuyên con người biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau 70
Chương 3 NGHỆ THUẬT THEN KỲ YÊN CỦA NGƯỜI TÀY Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG 73
3.1 Thể thơ trong Then kỳ yên 73
3.1.1 Thể thơ thất ngôn 73
3.1.2 Thể thơ ngũ ngôn 77
3.2 Một số biện pháp tu từ nghệ thuật trong Then kỳ yên 80
3.2.1 Liệt kê 80
3.2.2 Điệp ngữ 84
3.2.3 Thủ pháp hư cấu kì ảo 89
3.3 Thời gian và không gian nghệ thuật trong Then kỳ yên 93
3.3.1 Thời gian nghệ thuật 93
3.3.2 Không gian nghệ thuật 96
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 115
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc ở từng vùng, miền lại có những nét độc đáo riêng về văn hoá tinh thần và văn hoá vật chất Chính những nét riêng độc đáo của mỗi dân tộc đó
đã tạo nên một nền văn hoá Việt Nam đa dang, phong phú nhưng thống nhất Cùng nằm trong vùng văn hoá Việt Bắc, nhắc đến Hà Giang người ta nghĩ
ngay đến những làn điệu, câu hát trữ tình mượt mà như: Sli, Lượn, Coi, Iếu,
Then, Quan làng , đã làm xao xuyến, đắp say biết bao tâm hồn bao chàng
trai, cô gái dù chỉ một lần được nghe Trong những làn điệu, câu hát mượt mà
đó phải kể đến hát Then, không chỉ là loại hình sinh hoạt văn hoá - văn nghệ quần chúng mà Then còn là loại hình sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng Do vậy, tìm hiểu văn học dân gian của dân tộc Tày nói chung và loại hình hát Then của người Tày là công việc hữu ích, góp phần phát huy và gìn giữ bản sắc văn hoá của dân tộc
Thực tế cho thấy, Then của người Tày ở Hà Giang chủ yếu là do những người làm nghề cúng bái sử dụng trong quá trình "hành nghề" của mình Còn các nhà nghiên cứu dân gian và các nghệ nhân sưu tầm, dịch và biên soạn thành những công trình khoa học với số lượng còn hạn chế Tuy nhiên, cho tới nay chúng tôi thấy chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách chuyên biệt, hệ thống về nội dung và nghệ thuật của loại hình dân ca nghi lễ phong tục này ở Bắc Quang Vì thế, để bảo tồn, phát huy và giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc Tày, chúng ta cần quan tâm, khai thác, nghiên cứu Then một cách khoa học, có hệ thống nhằm phát huy những thế mạnh, hạn chế những mặt bảo thủ lạc hậu của Then trong đời sống hiện đại
Là người con của dân tộc Tày hiện nay đang sinh sống và giảng dạy Ngữ văn ở một huyện miền núi của tỉnh Hà Giang, nơi có nhiều người Tày
Trang 8sinh sống Việc tìm hiểu về Then ngay chính mảnh đất quê hương mình, là việc làm có ý nghĩa không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu mà còn góp phần khẳng định, gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống của dân tộc Tày nơi đây và các dân tộc thiểu số nói chung trên con đường tìm về với bản sắc dân tộc Điều này phù hợp quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta khi chủ trương xây dựng một nền văn hoá Việt Nam "tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc"
Hiện nay do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan đội ngũ những người làm Then ngày càng thưa vắng và đang có nguy cơ mất dần ở một số địa phương, những nghi lễ Then diễn ra cũng đã bị cắt bớt đi một số chặng, đoạn, các bước và cắt bớt đi một số thủ tục , nên không còn giữ được nguyên vẹn như trước nữa
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn “Then kỳ yên của người Tày ở
Bắc Quang, Hà Giang - Tiếp cận từ góc độ văn học dân gian” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình Với mong muốn khám phá những khía
cạnh độc đáo của Then và cùng đồng bào Tày lưu giữ vốn văn hoá quý báu của dân tộc mình trước những biến thiên của lịch sử
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những công trình nghiên cứu về Then nói chung
Then là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian mang tính tổng hợp gồm lời ca, múa, nhạc và hội hoạ , ngoài ra Then còn gắn với văn hoá tín ngưỡng lâu đời của người Tày ở miền núi phía bắc Việt Nam Vì lẽ đó mà Then đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu dân gian Theo dòng thời gian một số công trình sưu tầm, khảo cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu xuất hiện:
Công tác sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu văn hoá dân gian Việt Bắc đã được nhen nhóm từ sau khi cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt từ sau
Trang 9Hội nghị bàn về công tác sưu tầm văn hoá văn hoá dân gian ở miền Bắc được
tổ chức vào tháng 2 năm 1964 Hưởng ứng phong trào này, các nhà sưu tầm, nghiên cứu đã đi điều tra, điền dã ở khu vực Việt Bắc, kết quả nhận được là những cuốn sách Then viết bằng chữ Nôm Tày - Nùng lưu truyền ở một số địa phương của các tỉnh Cũng trong thời gian này có một số bài viết về Then được công bố trên sách, báo, tạp chí, nhưng ở khía cạnh nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu, qua làn sóng phát thanh truyền hình Như vậy, Then đã được chú ý nhưng mới chỉ ở góc độ nghệ thuật biểu diễn
Sang thập niên 70 của thế kỉ XX việc nghiên cứu Then mới thực sự khởi sắc ở các địa phương Việt Bắc Công trình đầu tiên sưu tầm và nghiên
cứu về Then là cuốn Lời hát Then của Dương Kim Bội do Sở văn hoá thông
tin Việt Bắc xuất bản năm 1975 [3] đã giới thiệu đôi nét về nguồn gốc của Then, mối quan hệ của Then với Mo, Tào, chức năng lề lối hát Then, nội dung một số lời Then ở Việt Bắc bằng nguyên văn tiếng Tày Song vì mục đích chính của công trình là sưu tầm nên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu lời của Then
Tiếp đến là cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc (Nxb Văn hoá dân tộc,
1978) [34], là kết quả của "Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm, nghiên cứu về Then" được tổ chức tại Sở văn hoá thông tin khu tự trị Việt Bắc Cuốn sách tập hợp những báo cáo, tham luận, nghiên cứu về Then của các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Là công trình nghiên cứu, khảo sát về Then trên phạm
vi rộng và xem xét Then dưới góc độ là một hình thức diễn xướng dân gian mang tính tổng hợp Nhiều vấn đề khác của Then đã được đề cập trong cuốn sách như: nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật, giá trị văn hoá, vai trò của Then trong đời sống tinh thần của các dân tộc Việt Bắc
Tác giả Vi Hồng trong công trình nghiên cứu: Sli lượn dân ca trữ tình
Tày Nùng xuất bản năm 1979 [9] cũng đã gián tiếp giới thiệu về Then, so sánh
Trang 10Then với các hình thức tín ngưỡng dân gian khác và xem xét mối quan hệ giữa Then với Sli lượn Tuy chủ yếu nghiên cứu về hình thức dân ca trữ tình song tác giả cũng có đôi điều gợi ý cho công trình nghiên cứu về Then
Từ năm 1980 đến năm 1990, tuy số lượng sách xuất bản và các bài viết,
đề tài nghiên cứu về Then ở giai đoạn này không nhiều, nhưng các vấn đề về Then đã được đề cập tương đối có hệ thống, tập chung và mang tính gợi mở, bước đầu đã giúp cho người đọc hình dung được diện mạo của Then và hình thức diễn xướng Then Từ sau năm 1990 trở lại đây nhiều công trình nghiên cứu về Then được giới thiệu ở dạng in ấn xuất bản và dạng bản thảo gửi dự xét thưởng Hội văn nghệ dân gian Việt Nam Các công trình sưu tầm văn bản
Then đã được xuất bản như: Khảm Hải - Vượt biển của Vi Hồng [10], Bộ
Then tứ bách của Lục Văn Pảo [37], Then và những khúc hát [2] và Lễ hội Dàng Then [1] của tác giả Triều Ân , đây là các công trình tập hợp những
khúc hát Then hành lễ có kèm theo những lời giới thiệu về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa và đặc điểm nghi lễ gắn với khúc hát Then, những công trình này rất hữu ích cho việc tìm hiểu các dòng Then
Cố tác giả Hoàng Đức Chung với Lẩu Then Bjoóc mạ của người Tày
huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (1999) [5] đã nghiên cứu công phu với cái
nhìn toàn diện về lễ cấp sắc trong Then ở Hà Giang, đây là công trình góp phần vào gìn giữ những đặc sắc trong Then ở Hà Giang nói chung Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu ở lĩnh vực mang tính văn hoá, chưa đi sâu vào tìm hiểu phần nội dung văn học
Các luận văn Nghệ thuật hát Then của người Tày ở Lạng Sơn của Dương Thị Lâm [24] và Khảo sát nghi lễ Then "Hắt khoăn" (giải hạn) của
người Tày huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn của Nguyễn Thị Hoa bảo vệ năm
2002 [15], và Khảo sát phần lời ca trong Then cầu tự của người Tày Cao
Bằng của Nguyễn Thanh Hiền bảo vệ năm 2007 [12] đã góp phần làm rõ sự
Trang 11đa dạng, phong phú của Then tại các địa phương khác nhau ở Việt Bắc, đặc
biệt là luận văn nghiên cứu về Văn hoá tâm linh của người Tày qua lời hát
Then của Hà Anh Tuấn bảo bệ năm 2008 [54] cho thấy tâm linh có một vị trí
quan trọng trong đời sống tinh thần của người Tày, giúp người Tày có niềm tin trong cuộc sống Các luận văn nghiên cứu về Then ở những khía cạnh khác nhau, nhưng cũng đã cung cấp một cái nhìn đầy đủ về những giá trị vốn
có trong Then
Cuốn Nét chung và nét riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày
Nùng của tác giả Nông Thị Nhình xuất bản năm 2004 [30] là công trình khảo
cứu công phu về âm nhạc của Then, góp phần khẳng định xu hướng nghiên cứu Then từ nhiều góc độ hiện nay Tuy nhiên công trình này vẫn chưa có được sự so sánh một cách cụ thể âm nhạc Then với các loại hình âm nhạc cúng bái có liên quan khác của người Tày, Nùng như Tào, Mo, đặc biệt là Pụt
Năm 2010 với Then Tày của T.S Nguyễn Thị Yên [58], cuốn sách được
xem xét khá toàn diện những vấn đề liên quan đến nghiên cứu Then, diễn xướng nghi lễ Then cấp sắc, bản chất tín ngưỡng và sự hình thành biến đổi trong Then, giá trị của Then và yếu tố Shaman giáo trong Then Công trình nghiên cứu này đã giúp người đọc có cái nhìn khá sâu sắc về Then và Then cấp sắc - một loại Then tiểu biểu của người Tày Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu có tính chất tổng hợp chủ yếu nghiên cứu về Then cấp sắc, nên tác giả chưa có điều kiện tìm hiểu sâu về nội dung cũng như nghệ thuật của Then dưới góc độ văn học
Như vậy, ở từng thời điểm khác nhau đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, ngoài những công trình nghiên cứu về Then kể trên còn có nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm và các bài viết về Then đăng trên các sách, báo, tạp chí từ nhiều góc nhìn khác nhau (văn hoá dân gian, văn học dân gian, dân tộc học, âm nhạc dân gian ) Tuy nhiên, nghiên cứu về một dòng Then cụ thể ở
Trang 12từng vùng, miền của Hà Giang từ trước đến nay chưa có công trình nào chuyên sâu tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của Then Tày nơi đây Đây cũng chính là lí do để chúng tôi chọn làm để tài nghiên cứu của mình, những công trình nghiên cứu trên là cơ sở gợi dẫn quý báu, bổ ích cho chúng tôi tiếp cận và triển khai đề tài
2.2 Những công trình sưu tầm, nghiên cứu Then ở Bắc Quang, Hà Giang
Đối với dân tộc Tày ở Bắc Quang hát Then vừa là một loại hình sinh hoạt văn hoá, văn nghệ quần chúng vừa là loại hình sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng lâu đời của người Tày nơi đây Những bài hát Then cổ và những bài Then dùng trong nghi lễ được người dân lưu truyền qua nhiều thế hệ ở khắp các địa phương có người Tày sinh sống Trải qua năm tháng Then vẫn luôn sống mãi trong lòng những người yêu thích loại hình sinh hoạt văn hoá này
Dù đã được biết đến, nhưng Then của dân tộc Tày vẫn còn là mảnh đất nguyên sơ chưa được nhiều người quan tâm, nghiên cứu
Hiện nay, tư liệu về Then chủ yếu là do những người là nghề cúng bái cao tuổi lưu giữ (nhưng rất ít), chữ viết chủ yếu lại bằng chữ Nôm Tày nên nhiều người không đọc được Những người có "căn số" làm Then khi ngồi trước mâm hương nghi ngút khói là họ tự nhớ, tự thuộc nếu có đến nhà thầy Then để học chủ yếu bằng con đường truyền khẩu Điều đó cho thấy, nguy cơ mai một của hình thức sinh hoạt văn hoá độc đáo này
Người có công sưu tầm, nghiên cứu về Then kỳ yên ở Bắc Quang là ông
Hoàng Định (80 tuổi) là người Tày ở Bắc Quang, cán bộ công tác trong ngành văn hoá nay đã nghỉ hưu Công trình sưu tầm, nghiên cứu này chuẩn bị in thành sách, dài 2.078 nghìn câu Then, qua những chuyến đi điền dã chúng tôi chưa thấy có thêm công trình nghiên cứu nào về Then ở Bắc Quang Do nhiều
lí do khác nhau mà cho đến nay việc sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu về Then
ở Bắc Quang nói riêng ở Hà Giang nói chung chưa được chú ý Do vậy, việc
Trang 13tìm hiểu Then của người Tày ở địa phương Bắc Quang (từ góc độ văn học dân gian) là một việc làm thiết thực trong đời sống hiện nay, góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy nền văn học nghệ thuật vô cùng quý giá của cả dân tộc
3 Mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu bao trùm luận văn là tìm hiểu đặc điểm Then kỳ yên của
người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang trên bình diện là tiếp cận từ góc độ văn học dân gian Qua đó phân tích, nhận diện được những nét độc đáo, mang đậm bản sắc của văn hoá Tày ở một địa phương cụ thể
- Bước đầu tìm hiểu, lí giải cội nguồn của Then trên cơ sở tổng quan văn hóa của dân tộc Tày ở Bắc Quang - Hà Giang
- Gợi ra hướng nhằm bảo tồn, phát huy những nét đẹp vốn có của Then
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật văn bản
Then kỳ yên với tư cách là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
- Trong điều kiện có thể, chúng tôi sưu tầm, tìm hiểu thêm về Then và một số loại hình văn hoá tín ngưỡng có liên quan đến đề tài từ các góc độ nhìn nhận, đánh giá
- Bước đầu nêu một số suy nghĩ về bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của Then trong đời sống đương đại và những hạn chế nhất định về Then
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là những bài hát Then đã được sưu tầm chưa xuất bản của những nghệ nhân ở một số vùng khác nhau,
đặc biệt là văn bản Then kỳ yên của tác giả Hoàng Định trực tiếp sưu tầm và
biên dịch, ngoài ra còn có một số bài hát Then do chính tác giả luận văn thu thập qua những chuyến đi điền dã
- Phạm vi nghiên cứu: Trong điều kiện và khuôn khổ của luận văn, chúng tôi đi sâu tìm hiểu những giá trị tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật
trong Then kỳ yên của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
- Trên bình diện phương pháp luận là tiếp cận theo quan điểm Ngữ văn
học, tức là dựa vào các thành tố ngôn từ, cụ thể là những lời ca trong Then kỳ
yên để phân tích Tuy nhiên, Then là loại hình diễn xướng tổng hợp và tồn tại
không tách rời khỏi đời sống văn hoá của người Tày Do vậy, tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo quan điểm văn hoá học là rất cần thiết, song cần phải nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận liên ngành, xem xét đối tượng từ nhiều góc độ,
ngành khoa học khác nhau
- Để hoàn thành đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
+ Phương pháp điền dã văn học
+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành
+ Phương pháp khảo sát, thống kê
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp đối chiếu so sánh
7 Những đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về những giá
trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong Then kỳ yên của người Tày ở Bắc
Quang, Hà Giang Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc giữ gìn và phát huy nét đẹp văn hoá của dân tộc Tày
- Trong quá trình điền dã, khảo sát, nghiên cứu tác giả đề tài cũng thu thập được một số lượng nhất định về những lời hát Then cổ, bài cúng sử dụng lời Then trong các nghi lễ còn đang lưu truyền trong đời sống dân gian ở Bắc Quang và một số địa phương lân cận của tỉnh Hà Giang
Trang 15- Từ kết quả khảo sát thực tế trên cơ sở khoa học, tác giả luận văn bước đầu đề xuất hướng bảo tồn và phát huy, gìn giữ những nét đẹp, giàu bản sắc văn hoá dân tộc Tày nói chung trong đó có dân tộc Tày ở Bắc Quang, Hà Giang
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Tổng quan về tộc người Tày, Then Tày và Then kỳ yên ở
Bắc Quang, Hà Giang
Chương 2: Nội dung Then kỳ yên của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật Then kỳ yên của người Tày ở Bắc
Quang, Hà Giang
Trang 16NỘI DUNG Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI TÀY, THEN TÀY VÀ THEN KỲ YÊN
Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG 1.1 Tổng quan về tộc người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang
1.1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang
Dân tộc Tày là một cộng đồng người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái
Ở Việt Nam, người Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số, cư trú chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía đông bắc Việt Nam, là cư dân bản địa sống lâu đời trên đất nước Việt Nam Họ cùng các cư dân Tày - Thái khác là một trong những chủ nhân đầu tiên lập lên nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, nhà nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương Như vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử, dân tộc Tày đã là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Ở Hà Giang theo các nguồn tài liệu lịch sử, khảo cổ học từ trước năm
1945 cho đến nay đã phát hiện những hiện vật từ thời đồ đá cũ cho đến thời đại đồ đồng, đồ sắt, báo hiệu quá khứ xa xưa con người đã cư trú trên mảnh đất nơi địa đầu của tổ quốc Điều đó chứng tỏ phần nào Hà Giang là vùng đất
cổ có các cư dân sinh sống, trong đó có dân tộc Tày Cụ thể là tấm bia ở chùa Sùng Khánh (huyện Vị Xuyên) dựng năm 1367 khắc ghi công lao của quan phủ đạo người Tày họ Nguyễn là Nguyễn Thiếp đã có công bảo vệ giới phía Bắc, xây dựng làng xã ổn định phát triển, là nơi tin cậy của triều đình ở vùng biên viễn xa xôi
Trong số 22 dân tộc anh em cùng sinh sống ở Hà Giang, thì người Tày
cư trú lâu đời, sống chủ yếu tập trung ở những vùng thấp, thung lũng nơi gần nguồn nước Theo tổng điều tra dân số năm 2009 thì dân tộc Tày có 168.719 nghìn người chiếm 27% dân số trong toàn tỉnh, là dân tộc đông thứ hai sau
Trang 17dân tộc Mông (31%) [7] Người Tày sống rải rác ở 10 huyện thị trong tỉnh, nhưng tập trung đông nhất là ở huyện Vị Xuyên, Bắc Quang Quan hệ xã hội giữa các cư dân Tày mang tính chất cộng đồng thuần nhất, họ luôn giữ được truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, chung tay, góp sức làm những việc lớn của thôn xóm, làng xã
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cùng với người Tày trên cả nước, người Tày ở Hà Giang chẳng những góp phần quan trọng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà còn sớm hình thành một nền văn hoá đặc sắc, làm phong phú thêm cho nền văn hoá truyền thống của các dân tộc Việt Nam
1.1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, diện mạo văn hoá của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Bắc Quang là một huyện vùng thấp, huyện cửa ngõ của tỉnh Hà Giang, nằm trên quốc lộ số 2, cách thành phố Hà Giang 60km về phía Bắc Toàn huyện có 23 đơn vị hành chính gồm 21 xã và 2 thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên là 108.366 ha, số dân là 102.293 người, với 19 dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó, người Tày chiếm 50% dân số của cả huyện [7] Là một huyện nằm ở vùng núi thấp nên Bắc Quang được thiên nhiên ưu đãi, tạo cho vùng đất này những bãi bồi phù sa mầu mỡ dọc theo hệ thống sông Lô, sông Ngòi Sảo, sông Bạc thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp lúa nước
và các loại cây hoa màu khác Tuy nhiên, nơi đây được coi là nơi mưa nhiều nhất so với cả nước, nên ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống con người Ngoài ra Bắc Quang còn được thiên nhiên ban tặng những thắng cảnh đẹp như Thác Thuý, Hồ Quang Minh
Điều kiện tự nhiên nói trên, về cơ bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bắc Quang phát triển kinh tế, xã hội cũng như tạo nên những nét đặc trưng riêng về văn hoá vật chất lẫn tinh thần của đồng bào nơi đây
Trang 181.1.2.2 Đặc điểm kinh tế và đời sống xã hội:
- Hoạt động kinh tế truyền thống:
Là cư dân nông nghiệp lúa nước, từ xa xưa người Tày ở Bắc Quang đã
có tập quán định canh, định cư với nguồn sống chính trồng trọt và chăn nuôi,
là huyện nằm ở vùng núi thấp, được thiên nhiên ban tặng cho những cách đồng lúa phù sa mầu mỡ, rất thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ Trải qua hàng ngàn năm gắn bó với mảnh đất này, đồng bào đã khai khẩn các thung lũng ven các con sông Lô, sông Bạc, Ngòi Sảo, ven các con suối thành những cánh đồng bậc thang bằng phẳng, mỗi năm cho từ 1 đến 2 vụ lúa, nơi đây được coi là vựa thóc của toàn tỉnh Bên cạnh cây lúa nước được trồng từ rất sớm và đạt trình độ canh tác cao, đồng bào còn trồng thêm lúa nương và các loại cây ăn quả và cây hoa màu khác
Cư dân Tày ở Bắc Quang cũng rất chú trọng phát triển chăn nuôi, từ lâu đồng bào đã chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm như: trâu, bò, lợn, gà, ngan , để lấy sức kéo, làm nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống, mỗi nhà thường có một đến hai cái ao thả các loại cá để làm thức ăn quanh năm Do cuộc sống mang tính tự cung, tự cấp nên các ngành nghề thủ công cũng được phát triển, đồng bào tự làm lấy những thứ cần thiết cho cuộc sống như: đan lát, làm đồ gỗ, nuôi tằm dệt vải, làm nghề rèn , các chợ phiên ở nông thôn được mở ra để mua bán, trao đổi những mặt hàng thiết yếu
Nhờ vào môi trường tự nhiên thuận lợi, đã tạo cho đồng bào nơi đây nhiều khả năng phát triển kinh tế toàn diện, một nền kinh tế đa dạng, kết hợp giữa nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển lâu dài và bền vững
Nhìn chung, hoạt động kinh tế của người Tày Bắc Quang đã dần thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp, ngày càng phát triển toàn diện hơn, góp phần cùng với các dân tộc anh em xây dựng một Bắc Quang văn minh, giàu đẹp
Trang 19- Đời sống xã hội:
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, đời sống xã hội của người Tày ở Bắc Quang còn gặp nhiều khó khăn bởi sự thống trị của chế độ thực dân
phong kiến, gọi là chế độ "quăng" (thổ ty), bị thực dân phong kiến lợi dụng,
khiến đồng bào nơi đây bị bóc lột nặng nề về kinh tế, áp bức về chính trị Nhưng từ sau Cách mạng tháng Tám, cùng với sự đổi thay chung của cả dân tộc, cuộc sống của đồng bào Tày Bắc Quang có nhiều biến đổi lớn lao Chế
độ phu phen, tạp dịch được xoá bỏ, nhân dân các dân tộc trong toàn huyện đã
ra sức khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá, cải thiện đời sống để phục vụ đắc lực cho hai cuộc kháng chiến Đời sống của đồng bào những ngày đầu tuy còn khó khăn nhất định nhưng dần từng bước đã được nâng lên, những hủ tục, tập quán lạc hậu, mang nặng yếu tố mê tín, dị đoan đang dần được xoá bỏ Hiện nay đời sống xã hội của người Tày Bắc Quang đang có những chuyển biến rất mạnh, con em đồng bào ngày càng được nâng cao về trình độ, nhiều cán bộ người Tày được cử đi đào tạo, nâng cao về chuyên môn và giữ những trọng trách quan trọng trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền của huyện, góp phần xây dựng Bắc Quang ngày càng phát triển giàu mạnh, nhân dân được ấm
no, hạnh phúc
1.1.2.3 Diện mạo văn hoá
- Văn hoá tổ chức đời sống vật chất:
Cũng như người Tày ở những địa phương khác, người Tày ở Bắc Quang có một đời sống văn hoá văn chất lẫn tinh thần hết sức đa dạng và giàu bản sắc
Về Nhà ở, nhà của người Tày nơi đây thường xây dựng theo thế đất:
phía sau dựa vào núi, phía trước nhìn ra cách đồng, sông suối, bên cạnh có máng nước và ao cá Hướng nhà căn cứ vào tuổi gia chủ, có vận dụng thuyết phong thuỷ trong tìm đất, tìm hướng để làm nhà Nhà người Tày thường có ba
Trang 20loại chính: nhà sàn, nhà đất và nhà phòng thủ Nhà sàn là loại nhà phổ biến nhất của người Tày, thường làm bằng cột gỗ kê đá, mái lập lá cọ hoặc ngói
âm dương, phên vách và dát nhà thường làm bằng nứa đan, ván xẻ hoặc bằng cây tre, cây mai được băm và phơi rất kĩ để tránh mối, mọt Nhà sàn của người Tày là loại hình nhà tổng hợp, gian giữa thường để bài thờ tổ tiên, bếp lửa; gian đầu nơi cầu thang lên là nơi tiếp khách nam, các gian phía trong là chỗ ngủ của các thành viên trong gia đình, bếp nấu ăn và cũng là nơi tiếp khách của nữ giới, trong nhà còn có gác để thóc, ngô và các đồ dùng gia đình khác , nhà sàn của người Tày thường làm số gian lẻ là 3, 5, 7 gian hoặc 3 gian 2 trái Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện môi trường, xã hội, nhiều ngôi nhà sàn hiện nay đang dần được thay thế bằng những ngôi nhà đất hoặc xây, nhất là những nơi gần trung tâm xã, thị trấn, ven đường quốc lộ
Bản của người Tày ở Bắc Quang thường có khoảng từ 25 đến 30 nhà,
bản lớn có tới 60 đến 70 nhà, thậm chí tới 100 nhà Có bản chỉ có người Tày, nhưng cũng có bản sống xen kẽ nhiều dân tộc anh em, chủ yếu là Nùng, Giáy, Mông, Dao Nhìn chung cư dân sống xen kẽ trong một bản là hiện tượng phổ biến của người Tày ở Bắc Quang, ở các khu như trung tâm xã, thị trấn cư dân đông đúc, nhà san sát nhau, trông không khác gì những vùng trù mật ở miền xuôi Bà con trong thôn bản sớm tối có nhau, giống như câu tục ngữ Tày đã
ví: " Pí noọng tam tó bố táy pi noọng xó rườn" (anh em ở xa không bằng anh
em làng xóm ở gần) Tính cộng đồng của làng bản xưa kia đóng vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Tày, nay vẫn được giữ gìn và phát huy
Trang phục nam, nữ Tày ở đây thường nhuộm vải màu chàm để may
quần áo Trang phục cổ truyền của nam giới Tày gồm áo năm thân buông chùm qua cạp quần xuống đến đầu gối; quần cạp rộng, ống rộng, buông trùng đến mắt cá chân, khăn đội đầu nhỏ, dài, quấn hay chít khăn kiểu chữ Nhân trên trán Trang phục của nữ nhiều loại và kiểu cách phức tạp hơn, vào những
Trang 21dịp lễ tết, hội hè , chị em mặc áo dài năm thân, trùng đến mắt cá chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài năm khuy, được thắt eo bằng một dải dây lưng bằng vải lanh hay đũi màu xanh, đỏ dài khoảng hai sải tay để tăng thêm vẻ duyên dáng, nhất là đối với thanh nữ Thường ngày thì mặc áo ngắn bốn thân, cổ tròn, xẻ ngực cài cúc, có túi nhỏ ở hai vạt áo, may bó tạo eo; ống quần nhỏ hoặc váy dài đến mắt cá chân Khăn đội đầu là một vuông vải chàm, không thêu, buộc theo vấn tóc, chân đi giày vải hoặc dép, đầu đội nón tự làm Ngoài quần áo, khăn, thắt lưng, chị em còn đeo thêm vòng cổ, vòng tay và mang xà tích bằng bạc, vàng để làm đồ trang sức Trang phục cổ truyền của đồng bào Tày nơi đây đang có xu hướng hiện đại hoá, nam giới, trẻ em hầu như không mặc y phục truyền thống nữa, thay vào đó là những trang phục như người Kinh do đồng bào tự may hoặc mua ở chợ, chỉ còn trang phục nữ còn giữ được khá nguyên vẹn
Ẩm thực của người Tày rất phong phú, trước kia ở một số vùng đồng
bào ăn cơm nếp là chính, lúc giáp hạt cũng có thể ăn ngô, khoai, sắn, nay cơm
tẻ là thứ dùng hàng ngày Thức ăn của đồng bào thường là rau các loại, mùa nào thức ấy, còn thực phẩm như cá, gà, thịt lợn Ngày xưa, vào dịp tết Nguyên đán, tết rằm tháng 7, các gia đình thường mổ lợn to từ 70 - 100kg, thịt để gói bánh trưng, làm cỗ, còn toàn bộ mỡ được rán sau đó cho vào hũ buộc kín để ăn quanh năm, phần thịt còn lại đồng bào ủ làm mắm để ăn dần Hiện nay do thịt, mỡ, dầu ăn có nhiều nên đồng bào không phải tích trữ như trước nữa Ngoài ra phụ nữ Tày còn biết làm rất nhiều loại bánh ngon từ gạo, khoai, sắn , nơi đây có truyền thống rất mến khách, khi khách đến nhà được
cả gia đình đón tiếp chu đáo
- Văn hoá tinh thần
Tôn giáo, tín ngưỡng: Do sản sinh trên cơ sở của một nền nông nghiệp
nghèo nàn lạc hậu, mang tính chất tự cung tự cấp, cho nên những tàn dư của
Trang 22các tín ngưỡng nguyên thuỷ còn tồn tại trong đời sống tâm linh của người Tày nơi đây: tiêu biểu nhất là thờ cúng tổ tiên, bắt nguồn từ thờ cúng gia tộc, thị tộc ở thời kì trước Thờ cúng tổ tiên vừa để tỏ lòng biết ơn đối với cha ông đã sinh ra mình, vừa nhắc nhở con cháu phải giữ gìn tôn thống và cầu mong tổ tiên phù hộ cho con cháu được khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt Bàn thờ tổ tiên trong nhà người Tày được đặt ở gian giữa, có vị trí trang trong nhất và được trang hoàng đẹp nhất, bàn thờ viết bằng chữ Nho phải chọn thầy Tạo viết chữ đẹp để viết, bàn thờ thường để ở trên cao, ngang xà nhà và được quét dọn sạch sẽ, thắp hương và cúng bằng chè, rượu Mỗi khi gia đình có việc lớn như làm nhà mới, cưới xin, sinh đẻ, tang ma, hoặc làm lễ giải hạn, cầu an đều phải thắp hương, cúng mời tổ tiên về chứng giám
Ở mỗi làng, bản của người Tày còn thờ Thổ công (Cốc Bản), Thổ địa, thờ các vị thần thánh trong vùng mà họ gọi là "Thấn" (Thần) được cúng vào dịp tết nguyên đán và rằm tháng bảy Hệ thống điện thờ của người Tày đã phát triển khá cao, có đủ mặt các vị thần từ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu,
mẹ Hoa (mẹ Bjoóc) , đến thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét , cho tới các loại thần thánh, ma quỷ ở địa phương Người Tày còn quan niệm con người có hồn, có vía, có ma lành và ma dữ Ma lành thì được thờ phụng để phù hộ, ma dữ nếu quấy nhiễu thì phải cúng tế, tống chúng đi Công việc này được thông qua hệ thống các thầy cúng, thầy bói như thầy Tào, thầy Mo, thầy
Then, Pụt Ở Bắc Quang vẫn duy trì được lễ hội Lồng tồng (xuống đồng)
được tổ chức khoảng từ mùng 4 đến 15 tháng giêng hàng năm, để cầu mưa
thuận gió hoà, mùa màng bội thu Ngoài phần lễ long trọng là phần hội tưng bừng với các trò chơi dân gian đặc sắc và những câu hát giao duyên Lượn,
Iếu, Cọi , làm đắm say bao tâm hồn từ người già đến người trẻ Sau khi ăn
tết xong các gia đình chọn được ngày lành đến mời thầy Then về nhà làm lễ với mục đích là giải hạn hay cầu chúc cho một năm mới mọi người trong gia đình được khoẻ mạnh, làm ăn thuận buồm xuôi gió, mùa màng tốt tươi
Trang 23Bên cạnh những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng mang ý nghĩa tích cực, vẫn còn không ít những rơi rớt lạc hậu từ chế độ cũ cần được hạn chế xoá bỏ
Văn học, nghệ thuật dân gian:
Nếu gạt sang một bên những yếu tố tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo, ta
sẽ thấy những yếu tố lành mạnh, trong sáng như những hạt ngọc lấp lánh chứa đựng các thể loại văn học nghệ thuật dân gian của dân tộc Tày, là vốn quý cần được sưu tầm, khai thác, phát huy trong thời đại ngày nay Vốn quý đó, một phần nhỏ được lưu giữ qua các tài liệu mà các nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật dân gian sưu tầm, phần lớn được lưu giữ qua các "nghệ sỹ" dân gian, tiêu biểu như: truyện cổ tích, truyện thơ, truyện kể địa danh, tục ngữ , ngoài
ra còn có một số thể loại nữa cần chú ý tới đó là hát Then, hát Lượn cọi, hát Iếu, hát quan làng, đọc phong thư Đây là những thể loại văn học nghệ thuật đặc sắc của người Tày Trong xã hội hiện đại, các hình thức sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật dân gian không còn được phổ biến như xưa nữa mà được diễn xướng xen kẽ trong các đợt sinh hoạt tập thể, lễ hội, lễ cầu yên, giải hạn, mừng nhà mới, đám cưới
Nhìn chung, hệ thống văn học nghệ thuật dân gian của người Tày đã thực hiện xuất sắc chức năng phục vụ đời sống, nhu cầu sinh hoạt văn hoá, đời sống tâm tư tình cảm của đồng bào Tày Đến với Bắc Quang hôm nay vẫn thấy bản sắc văn hoá Tày còn in đậm trong lối sống, nếp sinh hoạt, phong tục tập quán của con người nơi đây Đây cũng chính là những cơ sở cần thiết để chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình
1.2 Khái quát về Then Tày
1.2.1 Khái niệm Then
Trong kho tàng văn nghệ cổ truyền của các dân tộc Việt Bắc, Then là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của hai dân tộc Tày - Nùng được quần chúng nhân dân ưa thích Then khác với các loại hình dân ca khác, nó vừa có
Trang 24tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng, nhưng mặt khác nó cũng mang khá
rõ tính chất tôn giáo, mê tín Then là gì cho đến nay những người yêu thích nghệ thuật Then, ngay cả những người làm Then cũng chưa định nghĩa được thật rõ ràng về Then Nhưng tất cả những các cách giải thích đều đi đến khái niệm chung gần thống nhất
- Dương Kim Bội trong cuốn Lời hát Then quan niệm về Then: "cho dù
chưa có cách định nghĩa, giải thích một cách thoả đáng, cứ coi nó như một
danh từ riêng để chỉ một loại hình mê tín" [3, tr.10]
- Cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc (nhiều tác giả), trong bài viết của
ông Nông Văn Hoàn lại cho rằng: "Then là tiên (có nơi gọi sliên), là người của trời Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc hoàng và Long vương" [34, tr.14]
- "Then là một loại hình nghệ thuật dân gian mang tính chất tổng hợp
và có phần tôn giáo, mê tín" [34, tr.12]
- "Then là những khúc hát thuộc về thờ cúng (chant cultued) do những
Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong nghi lễ" [2, tr.7]
- Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Then là: "1 Lực lượng siêu tự nhiên sáng tạo ra thế giới, theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số miềm Bắc Việt Nam 2 Người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc
thiểu số nói trên Bà Then, làm mo, làm Then 3 Loại hình nghệ thuật tổng
hợp gồm đàn, hát, múa gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số nói
trên Hát Then, múa Then." [38, tr.931]
Qua các công trình nghiên cứu về Then ở trên, chúng tôi thấy Then là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của dân tộc Tày, nó không chỉ chi phối đời sống tâm linh của người dân, mà còn để lại những dấu
ấn sâu đậm trong đời sống văn hoá nghệ thuật của dân tộc Vì thế Then sản
sinh và tích hợp các giá trị văn hoá nghệ thuật và trở thành thứ "sân khấu tâm
Trang 25linh" thoả mãn nhu cầu tâm linh và thưởng thưởng thức văn hoá nghệ thuật
của quần chúng
Từ góc độ nghiên cứu của mình, trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua khảo sát thực tế ở địa phương, chúng tôi bước đầu đưa
ra cách hiểu về Then như sau: Then là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín
ngưỡng lâu đời của người Tày miền núi phía Bắc Việt Nam, là tên gọi một hình thức nghi lễ có sử dụng nhạc cụ (đàn tính, chùm nhạc xóc) và những khúc hát thờ cúng Then còn là tên gọi chỉ hình thức hát dân ca của người Tày là hát Then, thường được diễn ra trong những ngày lễ trọng đại của gia đình hay làng xã như: lễ hội lồng tồng (xuống đồng), lễ hội nàng hai (nàng trăng), lễ cầu an ,giải hạn, cầu có con nối dõi, cầu công thành danh toại Nội dung Then phản ánh nhiều vấn đề liên quan đến đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ Nghệ thuật Then có sự kết hợp hài hoà giữa âm nhạc, múa, hội hoạ và lời ca trong một môi trường diễn xướng đậm mầu sắc tín ngưỡng linh thiêng của con người
Nằm trong chuỗi hệ thống Then, có một loại Then mà phần lời ca chủ
yếu là những lời cầu chúc, chúc mừng, mang tính chất vui vẻ đó Then kỳ yên
Kỳ yên theo những người làm Then chuyên nghiệp, lâu năm cho rằng:
kỳ yên là cầu an báo phúc, nghĩa là cầu mong "phước lộc" Làm Then kỳ yên
theo khảo sát của chúng tôi ở khu vực Bắc Quang thường có ba loại:
+ Kỳ yên chỉ làm vào dịp đầu năm từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch + Kỳ yên cáp hết khoăn
+ Kỳ yên cáp hết giải (giải hạn)
Then kỳ yên cáp hết khoăn là vào lúc gia đình nào có ông, bà, bố mẹ đã
lên lão mới mời Then về làm
Then kỳ yên cáp hết giải (giải hạn) được tổ chức vào bất kì ngày tháng
nào trong năm, theo tình hình cấp bách của gia chủ Loại then này làm xuất
Trang 26phát từ sự mê tín của gia chủ, có thể do giấc mộng nào đó không lành hoặc một hiện tượng tự nhiên nào đó như rắn, rết, chồn, cáo, chim , chạy qua gầm sàn hoặc vào nhà Gia chủ cho đó hiện tượng không may, điềm không lành thì lập tức phải đón thầy Then về làm ngay Mục đích là để tống khứ những gì uế tạp, những gì không may mắn, để cầu mong tai qua, nạn khỏi
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu đi tìm hiểu nội
dung và nghệ thuật của Then kỳ yên làm vào đầu năm từ tháng giêng đến
tháng ba âm lịch Loại Then này có tính chất hội họp họ hàng, xóm giềng vui xuân Nội dung chủ yếu là lời chúc mừng năm mới, cầu cho gia đình bình an, làm ăn phát tài phát lộc Gia chủ thường mời những ông Then, bà Then hát hay, đàn giỏi đến nhà để làm lễ
Qua kết quả điền dã và khảo sát thực tế lễ làm Then kỳ yên ở Bắc Quang, chúng tôi bước đầu đưa ra cách hiểu về Then kỳ yên như sau: Then kỳ
yên là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng có từ xa xưa của người Tày Nội dung chủ yếu là những khúc hát cầu chúc một năm mới bình an, phúc lộc Về nghệ thuật đều có sự kết hợp chặt chẽ giữa lời ca, âm nhạc, múa , tạo nên màn hát, múa vui nhộn trong bầu không khí ấm cúng, nhưng không kém phần linh thiêng
1.2.2 Nguồn gốc của Then
Như chúng ta biết, Then là một loại hình sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời của người Tày Cụ thể là Then có từ bao giờ câu hỏi vẫn chưa có được một đáp án chính xác Nhưng qua tìm hiểu thực tế ở địa phương và tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hoá dân gian, chúng tôi thấy có một số ý kiến khác nhau liên quan đến vấn đề nguồn gốc của Then
- Thứ nhất theo Dương Kim Bội, trong dân gian, chủ yếu là các nghệ nhân
trên dưới 80 tuổi giải thích Then bằng một số giai thoại khác nhau: [3, tr.11-13]
Trang 27+ Then có từ thời vua Lê, trung tâm và nơi xuất xứ của Then là ở Cao Bằng Vua Lê ngày xưa có một thời đem quan quân lên đóng ở Cao Bằng để dẹp loạn, quan quân hầu hết là người miền xuôi, do không hợp với thuỷ thổ, thời tiết khắc nghiệt ở vùng này, nên một số quan quân bị ốm và con số này tăng lên đến hàng ngàn người Trước tình hình ấy, phần vì nhớ nhà, xa quê hương, phần vì oán trách lệnh trên Trước tình hình bệnh tật ngày càng gia tăng, nên một số người đã bày ra cách làm Then bằng thể thơ song thất (thể thơ phổ biến trong dân ca, sli, lượn của dân tôc Tày - Nùng, với nhạc cụ đệm
là cây đàn tính) Ngày đó họ sáng tác bằng con đường truyền khẩu, có thể coi bản Then đầu tiên gồm ba phần chính: Tứ quý (tả cảnh bốn mùa), Bách điểu (nói về trăm loài chim), Tình ca (nói về tình yêu trai gái) Từ khi nghe được những lời hát Then, quan quân tự nhiên khỏi bệnh, vua Lê ra lệnh cho nhóm người này truyền bá và phổ biến một cách rộng rãi trong đám quan quân này
để chữa bệnh Tại sao những lời ca trong Then lại xen rất nhiều câu, nhiều đoạn bằng tiếng Kinh Điều này được các nghệ nhân giải thích ma Then là ma Kinh, ma Tày là ma Nồng (Trung Quốc)
+ Then có từ thời nhà Mạc (nội dung giống giai thoại kể trên)
+ Then có từ Cao Bằng, từ thời nước ta hàng năm phải cử người mang
lễ vật sang cống nạp vua "Tàu" Lời ca trong Then là do một phường hát chuyên nghiệp của cung đình theo quan đi sứ sáng tác Giai thoại này giải thích tương đối hợp lí một số chương đoạn trong nội dung lời ca như: khảm hải, bắt phu
Cả ba giai thoại trên, qua cân nhắc kĩ nội dung các bản sưu tầm được, chúng tôi khó chấp nhận một trong ba giai thoại trên Nhưng có một điều
thống nhất cả 5 tỉnh trong khu Việt Bắc là: Then có từ Cao Bằng
- Thứ hai là tác giả Nông Văn Hoàn trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc [34] cho rằng nguồn gốc của Then cần được tìm hiểu kĩ thêm Then
Trang 28có từ lâu đời, rất xa xưa Song qua các giai thoại ở Cao Bằng thì nhiều ý kiến tập trung cho rằng Then có từ thời Lê, Mạc (cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII, khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng đánh bại nhà Lê) Hiện nay
có một tài liệu chép tay bằng văn vần tiếng Tày nói về chuyện hai ông là Bế Phùng người làng Đán Vạn (Hoà An) và ông Hoàng Quỳnh người Trùng Khách, Cao Bằng cả hai ông đều làm quan cho nhà Mạc và đặt ra Then Vua thấy then múa hát làm cho vua được vui vẻ, khoẻ mạnh hơn, bèn truyền cho phổ biến trong dân Dần biến thành thứ cúng lễ cầu khấn để khỏi bệnh và đạt được ước vọng Tuy nhiên, ngoài những tài liệu trên hiện nay cũng chưa có một tài liệu cụ thể khác
- Thứ ba ý kiến của tác giả Triều Ân và nhà văn Vi Hồng lại nhìn nhận
về nguồn gốc của Then theo một cách hiểu khác Trong cuốn Then Tày những
khúc hát Triều Ân đưa ra kết luận " Cây đàn và lời hát Then của dân tộc Tày
đã có từ rất lâu, từ khi tổ tiên ta có nhu cầu sinh hoạt văn hoá.", "Hát Then là loại hát thuộc về thờ cúng (chant cultuel) mà thờ cúng, với bất cứ dân tộc nào cũng có rất sớm, theo vũ trụ quan vạn vật hữu linh của họ." [2, tr 9] Nhà văn
Vi Hồng cho rằng : Then có nguồn gốc rất xa xưa từ khi người Tày cổ vẫn còn sử dụng "những khúc hát đưa linh" để đưa tiễn linh hồn người đã khuất về
nơi an nghỉ Các tác giả Dương Sách, Hoa Cương trong cuốn Văn hoá dân
gian Cao Bằng đều cho rằng: Then và cây đàn tính của dân tộc Tày có từ rất
lâu đời
Trong quá trình điền dã, khi được hỏi về nguồn gốc của Then những người làm Then lâu năm ở Bắc Quang cho rằng: Then có nguồn gốc từ xa xưa, do trời phật ban phát cho con người, giúp con người cứu khổ cứu nạn Những người được nhận trọng trách đó họ tự nhớ tự thuộc các lời hát Then, cũng có thể họ phải theo thầy để học
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng những tài liệu trên cũng chỉ có giá trị tham khảo, cần tìm hiểu thêm về nguồn gốc của Then Nhưng theo thời gian
Trang 29Then được hoàn thiện dần và mang tính thẩm mĩ của nhiều thế hệ người Tày Hình ảnh trong Then rất gần gũi với đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của đồng bào Tày, vì thế Then luôn sống mãi trong tâm hồn, tình cảm của họ
và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong những ngày quan trọng của gia đình, làng bản Ngày nay, chúng ta được tiếp cận, thưởng thức những văn bản Then đã hoàn chỉnh và mang giá trị thẩm mĩ cao, nhưng vấn
đề có liên quan đến nguồn gốc của Then vấn cần tiếp tục được nghiên cứu
1.3 Then kỳ yên ở Bắc Quang, Hà Giang
1.3.1 Then trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang
Quan niệm của người Tày cũng giống như một số dân tộc khác ở Bắc Quang thì con người sinh ra đều có hồn, vía Vía là trung tâm của đời sống tinh thần gắn chặt gắn chặt với cơ thể con người Họ cho rằng ốm đau, bệnh tật là do một hay nhiều vía bị mất hoặc tách rời khỏi cơ thể con người đi lang thang đâu đó trong thế giới vô hình Vì thế, người làm Then phải trình diễn các điệu hát, múa qua các cửa Then để xin, tìm vía về và làm các thủ tục lễ nghi để đuổi ma tà, mở đường cho vía về đoàn tụ với cơ thể con người, phục hồi lại sức khoẻ cho người bệnh và mang lại cuộc sống bình yên, may mắn cho gia đình Người Tày quan niệm rằng đầu năm phải mời Then về làm lễ thứ nhất là để tẩy uế, xua đuổi những tà ma còn sót lại của năm cũ, thứ hai là
để cầu mong, cầu chúc một năm mới được bình an, mạnh khoẻ, còn lễ Lẩu
Then là lúc ông Then, bà Then được tăng thêm thứ bậc, các lễ làm Then này ở
các làng bản của Bắc Quang thường được tổ chức hàng năm
Mỗi khi trong bản, làng có một gia đình nào đó làm Then, cho dù bận đến mấy người ta cũng thu xếp công việc để tối đến xem (thường một nghi lễ Then trong phạm vi gia đình thường diễn ra từ khoảng 20h tối hôm trước kéo dài cho đến 8 - 9h sáng hôm sau, riêng lễ Lẩu Then thời gian kéo dài hơn từ 1
Trang 30đến 2 ngày tuỳ vào gia chủ) Chủ nhà hôm ấy phải trải chiếu trong nhà, ngoài sàn để đón tiếp những vị khách hàng xóm, láng giềng Nếu là lễ cấp sắc (Lẩu Then) thì đó lại là ngày hội lớn của cả bản, cả làng
Ngày nay, sống trong xã hội văn minh hiện đại, các hình thức sinh hoạt văn hoá nghệ thuật phong phú hơn với nhiều loại hình khác nhau, nhưng Then vẫn tồn tại trong niềm say mê của quần chúng nhân dân và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Tày ở Bắc Quang Không chỉ ở làng quê, mà ngay cả những người sống ở trung tâm thị trấn, thị xã vào những dịp lễ tết, xuân về nhiều gia đình vẫn mời Then về nhà làm Có khi để cầu an, giải hạn, nhưng có khi chỉ là sinh hoạt đầu năm để thoả mãn một nhu cầu, một sở thích, một thói quen đã ăn sâu vào tâm linh họ Nhiều người nói, đầu năm mà chưa tổ chức được nghi lễ Then họ cứ thấy thiếu một thứ
gì đó, không yên tâm, làm được lễ Then rồi họ mới thấy tinh thần thoải mái, phấn chấn
Tuỳ theo từng vùng, từng địa phương khác nhau Then lại được phân hoá thành nhiều bộ phận khác nhau Ở Bắc Quang Then được phân hoá thành hai bộ phận khá rõ rệt: Thứ nhất là loại hát Then phục vụ sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nhiều bài hát Then cổ mang nội dung ca ngợi lao động, sản xuất, hoặc phê phán những thói hư tật xấu của con người đã được các nghệ nhân khôi phục lại và được biểu diễn trên sân khấu, kết hợp với cây đàn tính tạo nên những bản nhạc Then mang tính giáo dục, có giá trị thẩm mĩ cao, dễ đi vào lòng người, làm cho mọi người dễ nhớ dễ thuộc Thứ hai là loại hát Then phục vụ các nghi lễ cúng bái, thường do dòng dõi đã có người làm Then hay nhưng người có "lục mệnh" tin ở con "ma then" (phi ham) bắt làm, hoặc do những người yêu thích Then đến học thầy để làm
Ở khu vực Bắc Quang loại Then được làm phổ biến nhất là Then kỳ
yên, Then giải hạn (hết khoăn) và Lẩu Then (Then cấp sắc), vẫn còn được tổ
Trang 31chức khá nhiều Qua khảo sát thực tế ở một số xã thì Then kỳ yên được các gia
đình đón đi làm nhiều hơn cả Họ quan niệm rằng muốn một năm mới làm ăn phát đạt, mọi người được bình an, họ phải mời thầy Then về làm trước hết là
để tẩy uế những gì còn vương lại của một năm cũ và cầu chúc cho một năm
mới an khang thịnh vượng Hình thức làm Then kỳ yên này cho đến nay vẫn
luôn tồn tại trong đời sống tinh thần và tâm linh của người Tày nơi đây
Trải qua năm tháng, Then vẫn tồn tại trong cuộc sống sinh hoạt của người Tày ở Bắc Quang như một minh chứng cho sức sống trường tồn của tinh thần dân tộc và bản sắc dân tộc Người ta mê Then vì nhiều lí do, nhưng trước hết là ở sức lôi cuốn đầy linh thiêng của lễ nghi, hơn nữa nó phù hợp với phong tục tập quán và cuộc sống của người dân miền núi Hình ảnh mọi người quây quần nghe hát trong đêm khuya thanh vắng là hình ảnh đẹp về cuộc sống bình dị mà ấm áp tình cảm gia đình Thông qua đó Then là cầu nối, gắn kết mối quan hệ cộng đồng làng bản, dòng họ Nhiều thuần phong mĩ tục của dân tộc được phát huy như lòng hiếu khách, tinh thần tương thân tương ái trong quan hệ anh em, bè bạn, hàng xóm láng giềng
1.3.2 Khảo sát và phân loại
Then là một hệ thống những sinh hoạt văn hoá tinh thần phong phú của người Tày - Nùng Sự phong phú ấy còn tuỳ theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng vùng mà có mức độ khác nhau Qua thực tế nghiên cứu, sưu tầm Then ở Bắc Quang nói riêng ở Hà Giang nói chung, chúng tôi nhận thấy
hệ thống Then của người Tày ở Hà Giang không khác biệt mấy với hệ thống Then của cộng đồng người Tày ở các tỉnh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn Dựa vào sự phân chia của ông Nông Văn Hoàn trong
Mấy vấn đề về Then Việt Bắc [34, tr 21-24] và ông Hoàng Đức Chung trong
Lẩu Then Bjoóc mạ của người Tày huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang [5, tr
46-52] Chúng tôi thấy hệ thống Then bao gồm một chuỗi bảy hình thức làm Then sau đây:
Trang 321 Then cầu mong: Loại Then này là cầu bình an, hạnh phúc, trường
thọ thường được tổ chức vào đầu xuân hàng năm Các cuộc Then trong loại Then này lại được chia ra như sau:
+ Then kỳ yên, giải hạn, cầu bình an
+ Then cầu thọ: Cầu mong sức khoẻ dồi dào, sống lâu (thường làm vào
các tuổi 49, 61, 73, 85)
+ Then nối số (tân số): Những người đi bói được báo là "đoạn số" thì
phải làm Then để nối thêm số, nếu không sẽ bị chết sớm
+ Then cầu hoa (cầu bjoóc): Đôi vợ chồng nào đó hiếm muộn con cái
thì phải mời Then đến làm lễ cầu cho có con
+ Then cáp khoăn hay cáp tơ hồng trong hôn lễ hợp hôn: Hai vợ chồng
mới cưới nhau thuộc hai họ, hai ma khác nhau phải mời Then đến làm lễ cáp khoăn (nhập vía) mong cho con dâu từ nay trở thành người nhà chồng, hồn vía sẽ được thần linh nhà chồng quản và phù hộ, đồng thời cầu cho đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc tới đầu bạc răng long
2 Then chữa bệnh (chỏi khẩy): Nhà có người ốm đau, người Tày ở Hà
Giang thường mời thầy Then về cúng lễ, nếu người bị ốm bị mất vía thì thầy Then gọi vía (loọng khoăn) về Tuỳ theo thầy bói bảo cho biết vía bị mất ở bến sông, nơi miếu thờ, nơi rừng núi hay bị giam cầm trong ngục tối thì thầy Then phải đến nơi đó đem cả lễ vật đến để chuộc vía, gọi hồn về Nếu chẳng may hồn vía bị giam nơi ngục tối thì thầy phải làm lễ phá ngục để cứu hồn vía về cho người ốm Đây là loại Then mang nặng tính chất mê tín
3 Then bói toán: Loại Then này có hai hình thức bói toán khác nhau
+ Bói tìm lí do người ốm; ốm do ma gì quấy quả hay do hồn vía bị thất lạc ở nơi đâu để cúng cho đúng Cuộc Then này diễn ra đơn giản: nhà có người ốm chỉ cần mang một chiếc áo của người ốm và một bát gạo đến nhà thầy Then nhờ thầy bói giúp Thầy Then sẽ bói ngay trước bàn thờ Then của nhà mình
Trang 33+ Bói về đường tình duyên hoặc về đường làm ăn sinh sống (hỉn ẻn) Loại Then này khi làm có đặt mâm hương đàng hoàng, nhiều thanh nhiên nam, nữ (kể cả tầng lớp trung niên) đều tham gia vào các cuộc vui bói toán trong then hỉn ẻn Số phận của từng người đưcợ gửi gắm vào một con chim én (tượng trưng) và tuỳ thuộc con chim én này sẽ bay đến đậu ở cây gì thì số phận tốt, xấu sẽ theo đó mà đoán định (số phận hay hoặc dở cũng là do thầy Then hát theo bài bản đã thuộc sẵn)
4 Then tống tiễn: Loại Then này tiếng Tày gọi là Slống vjác hay Slống
bjoóc héo (tiễn hoa héo) được tổ chức sau khi nhà có trẻ nhỏ chết Khi chôn cất xong, chọn được ngày lành thì gia chủ đón thầy Then về làm lễ để tiễn đưa hồn đứa trẻ bất hạnh đi khỏi nhà để không quấy quả những người đang sống
5 Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng: Loại Then này có hai hình thức làm:
+ Cuộc Then được tiến hành nhằm cầu mong mùa màng được tốt tươi
vì thế nó mang tính chất cộng đồng, vì lợi ích cộng đồng và do cộng đồng làng bản đứng ra tổ chức Hình thức làm này diễn ra ở nơi cộng đồng như miếu thổ công, miếu thành hoàng, miếu thần
+ Một hình thức nữa của Then là cầu đảo, cầu mùa là mời Nàng Trăng (mởi Nàng Hai) Cuộc Then này thường được tổ chức vào đầu năm hoặc những đêm trăng sáng của mùa thu Thanh niên nam, nữ của một bản nào đó mời thầy Then đến quây quần ở ngoài sân (nhà đất) hoặc ngoài sàn (nhà sàn) Trước một mâm hương nghi ngút khói, thầy Then hát dẫn đường, thanh niên nam nữ hát theo sau Họ cùng nhau hát mời Nàng Hai xuống trần gian cùng hát cầu mùa Sau đó bên nam trở thành người trần gian, còn bên nữ trở thành người Nàng Hai Họ cùng nhau hát cầu mùa khá vui nhộn, những bài hát là những bài dân ca truyền miệng mang đậm nội dung cầu mong cho năm lành, tháng thuận, mùa màng tốt tươi
Trang 346 Then chúc tụng, vui mừng, ngợi ca: Đây là những loại Then vui
được tổ chức vào những dịp gia đình người Tày có niềm vui như làm nhà mới, sinh con đầu lòng, được thăng quan tiến chức, có đám cưới khi đó họ mời thầy Then đến hát vui, thầy Then hát không theo trình tự như các đám Then cúng lễ Những bài hát của thầy Then phần lớn là ứng tác cho phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh của gia chủ Đối tượng giao lưu của cuộc Then này
là giữa người với người, chứ không phải là giữa người với thần thánh, ma quỷ Loại then này thường được các gia đình khá giả về kinh tế tổ chức
7 Then trung lễ, đại lễ cấp sắc ( lẩu Then, có người gọi là loại then lễ
của nhà pháp) Theo lệ người làm Then cứ 3 năm hoặc 5 năm phải làm lễ cấp sắc một lần Nhưng vì lí do nào đó không làm được Then đại lễ thì phải làm Then trung lễ (lễ khao binh mã) để xin khất hoãn vào những năm sau Then trung lễ (hết lẩu khao mạ) được tổ chức tại nhà Then chủ Khi làm Then này, Then chủ chỉ mời một then bạn đến giúp
Đại lễ cấp sắc (lẩu Then) là một cuộc Then có quy mô lớn, là đỉnh cao
và tập trung đầy đủ các nghệ thuật của Then Trong cuộc Then này số nghệ nhân then thường từ 7 đến 10 người cùng các con sớ, con hương tập trung múa hát trong mấy ngày đêm liền Có lúc cuộc Then này được làm trong nhà, nhưng có lúc lại được đem ra đồng ruộng dựng lều, dựng lán để hát múa Về
âm nhạc ngoài đàn tính và chùm nhạc xóc, còn có thêm tiếng chuông nhỏ Những cuộc Then như thế này thường được tổ chức với những lí do khác nhau như lễ thụ phong (cấp sắc), lễ thăng cấp (sau lễ thụ phong các thầy Then đội mũ 5 dải, về sau mỗi lần làm lễ thăng cấp, họ được tăng thêm hai dải, cho đến tuột bậc là 15 dải) và lễ cáo lão
Với một hệ thống những hình thức sinh hoạt như trên, Then đã thấm sâu vào đời sống tinh thần và tâm linh của người Tày ở Bắc Quang nói riêng
Trang 35ở Hà Giang nói chung Vì thế, Then luôn được quần chúng nhân dân ưa thích, ngưỡng mộ, trân trọng, được lưu truyền và sống mãi trong trái tim con người
từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.3.3 Hình thức diễn xướng trong Then kỳ yên
Then là một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp, có nội dung chương, đoạn nhất định Do vậy, cách hát, cách múa, cách đánh đàn ở đây cần phải có sự trình bày, diễn xướng mang tính sáng tạo nhất định thì mới biểu hiện được đầy đủ nội dung của một văn bản Then Nghệ nhân Then phải có giọng hát tốt, đàn giỏi, ứng khẩu kịp thời trong khuôn khổ của một nghi lễ Then, lại phải biết cách diễn xướng sao cho phù hợp với khuôn khổ ấy Có thể nói nghệ nhân Then phải kiêm nhiệm nhiều chức năng của người diễn viên như: ca, hát, kể truyện, đánh đàn, xóc nhạc, múa
Trong hát Then còn có một đặc điểm là cùng một giai điệu nhạc "tàng
nặm" (đường thuỷ) và "tàng bốc"(đường bộ) nhưng qua các chặng, đoạn lại
có nội dung rất khác nhau Vì vậy mà nghệ nhân phải có sự diễn cảm và sáng tạo, linh hoạt thì mới chuyển hoá được các làn điệu đã cố định kia cho phù hợp được với nội dung mới Một yêu cầu lớn nữa của hát Then là để mọi người, kể cả người ốm nghe được phần lời ca, cảm thụ được làn điệu Then qua từng chương, đoạn Do đó cách hát của nghệ nhân phải rõ lời và mạch lạc không bị tiếng đàn hay chùm nhạc xóc lấn át lời ca
Như chúng ta đã biết, Then là một loại hình nghệ thuật biểu diễn tổng hợp, trong đó có nhiều hình thức diễn xướng Cho nên, tìm hiểu Then phải đặt
nó trong môi trường diễn xướng để tìm hiểu tất cả các hình thức biểu diễn thì mới thấy được sự sinh động, phong phú của Then Chúng tôi xin giới thiệu
một số hình thức diễn xướng tiêu biểu trong một đêm Then kỳ yên như sau:
Về âm nhạc Then: Trong các loại hình âm nhạc tín ngưỡng của đồng
bào Tày, hát Then có nội dung chương, đoạn khác nhau, nên phần âm nhạc
Trang 36cũng phong phú nhất và đạt giá trị nghệ thuật cao nhất Âm nhạc trong Then
có tính chất êm dịu, nhẹ nhàng ấm cúng và tâm tình, nó như một thứ ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt trong đời sống thường nhật của người Tày Dự một đêm Then mới thấy giọng hát và âm nhạc góp phần rất quan trọng vào viêc nâng cao giá trị của Then
Nhạc cụ quan trọng trong trình diễn Then là cây đàn tính (tiếng Tày gọi
là ăn tính, ăn nghĩa là cái, tính nghĩa là đàn) Cây đàn tính gồm ba phần: Cần
đàn, bầu đàn và đầu đàn Đàn được làm bằng nguyên liệu địa phương có sẵn, cần đàn làm bằng gỗ nhẹ, mịn thớ, ít cong vênh, bầu đàn làm bằng quả bầu già, phơi khô, dây đàn được xe nhỏ bằng sợi tơ tằm hoặc sợi ni lông (cước), lấy sáp ong vuốt nhẵn, trơn Then ở Hà Giang phổ biến là dùng đàn 2 dây và 3 dây Cây đàn tính và người hát Then luôn gắn bó với nhau.Với nghệ nhân tài hoa, kĩ thuật biểu diễn của cây đàn tính được vận dụng, khai thác một cách khá sinh động và phong phú Khi đàn tính kết hợp với hát, nó được Then sử dụng biến hoá khôn lường để thể hiện nhiều giai điệu của bài hát Có lẽ xuất phát từ khả năng đặc biệt của cây đàn mà người nghệ sĩ dân gian đã trình diễn khiến cho cây đàn tính trở nên có "tính linh thiêng"
Trong Then Tày, người hành lễ không thể thiếu được chùm nhạc xóc Cấu tạo của chùm xóc đơn giản, thường gồm nhiều vòng tròn đúc bằng đồng hoặc bạc, lồng vào nhau thành từng chuỗi, xen vào đó ghép thêm những qủa nhạc nhỏ rồi ghép nhiều chuỗi này vào với nhau bằng một vòng tròn to hơn để cầm hoặc ngoắc vào ngón chân khi sử dụng Ở nhiều chương, đoạn Then, ông Then, bà Then vừa đàn vừa xóc nhạc phụ hoạ cho nội dung lời ca Khi hát, Then dập quả nhạc đều đều để thể hiện trạng thái thong dong của đoàn quân Then, còn lúc chùm nhạc xóc được lắc mạnh, dồn dập là tiếng ngựa phi nước đại
Tiếng hát Then hoà cùng âm thanh của chùm nhạc xóc và cây đàn tính cất lên trong đêm khuya thanh vắng đã xua tan đi cái lạnh lẽo của núi rừng âm
Trang 37u, hoang vắng Đánh thức được tiềm năng con người, giúp con người lớn lên, mạnh mẽ giữa đất trời và lòng tràn đầy niềm tin, hi vọng ở ngày mai Đó
chính là hiệu quả của nghệ thuật biểu diễn âm nhạc trong nghi lễ Then kỳ yên
Về múa trong Then: Múa trong Then là một tiết mục "hấp dẫn", nó luôn
cuốn hút được nhiều người chú ý, nhưng múa trong Then với tư cách là một thứ nghi lễ tôn giáo, cho nên nó phải tuân theo trình tự nhất định của buổi lễ Hầu hết cuộc Then nào cũng có múa, có múa một người, múa nhiều người, múa với tên gọi khác nhau như: múa chầu, múa quạt, múa gậy các động tác
múa thường phù hợp với nội dung của từng đoạn Then Trong Lẩu Then múa
được sử dụng nhiều với những màn múa khá độc đáo của các Then mô tả từng nội dung của từng đoạn Then như: chèo thuyền, hái hoa, đánh nhau với mụ Gia Dinh các điệu múa đều đẹp và uyển chuyển, phong cách biểu diễn vẫn mang đậm màu sắc của cách diễn xướng trong dân gian
Trong Then kỳ yên, Then giải hạn , động tác múa đơn giản hơn Then
tay phải cầm quạt, tay trái cầm chùm nhạc xóc, khi hành lễ quạt được xem là một thứ đạo cụ được xèo ra gấp vào rất linh hoạt, một thứ kí hiệu để chuyển làn điệu, một công cụ để thể hiện quyền uy Khi Then thoát xác và nhập hồn, Then rung và xóc nhạc thật nhanh và lắc người rất mạnh rồi lấy quạt che mặt
Có lúc Then lại biểu diễn động tác gấp quạt, xoè quạt nhẹ nhàng uyển chuyển,
có khi lại rất nhanh và mạnh là để phù hợp với nội dung của từng đoạn Then Riêng múa trong Then ở vùng Hà Giang tương đối phong phú, ngoài những điệu múa phục vụ cho nghi lễ như múa chầu, múa sluông, múa tán hoa còn có thêm nhiều điệu múa mang nội dung sinh hoạt nhẹ nhàng, linh hoạt với hình thức trình diễn đẹp mắt như múa "nộc sởi" múa "chiêng chát", "múa đòn"
Về trang trí mĩ thuật: Then không chỉ phong phú về lời ca, âm nhạc,
múa mà còn rất đa dạng về mĩ thuật Đó là sự phong phú về trang phục, những hoa văn trang trí trên nhạc cụ và đặc biệt là trang trí trên bàn thờ Then
Trang 38Áo lễ của Then (cả Then nam và Then nữ) là loại áo dài của phụ nữ Tày được cắt từ vải bông tự dệt, màu đỏ hoặc vàng Cổ áo tròn thấp, cài khuy sang mép phải, áo dài quá đầu gối, áo có pha màu ở cổ tay, ở đường xẻ (áo rộng hay hẹp tuỳ thuộc vào kích thước của người làm Then), thân áo thêu bằng những hoa tiết sặc sỡ chủ yếu là màu đen, vàng, đỏ, tím (ngày này áo Then đơn giản không trang trí cầu kì như trước) Áo lễ được coi là vật linh thiêng được các Then giữ gìn cẩn thận
Đối với Then nữ có thêm chiếc khăn đội đầu Khăn được làm bằng vải
gai thô đen hoặc vải nhung hoa hoặc màu, trang trí đường viền với nhiều màu sắc, xung quanh đường viền gắn thêm những quả chuông nhỏ Khi Then nhảy, múa, lắc những quả chuông nhỏ này cũng góp phần vào bản nhạc của chùm nhạc xóc Khăn được làm bằng hai lượt vải bằng hai màu khác nhau, lượt ở dưới dài vắt ra sau lưng, lượt ngắn ở trên, có lúc Then hất lượt khăn ngắn che mặt khi hát ở từng đoạn Then có nội dung khác nhau
Mũ Then làm bằng hai mảnh bìa cứng bọc bằng vải màu vàng hoăc đỏ
được trang trí và thêu những hoạ tiết cầu kì Phía trên của mũ là bốn điểm nhọn, trong đó phần nhọn ở giữa cao hơn một chút, phía trước mũ gắn một chiếc gương nhỏ Hai bên mũ được gắn thêm hai tua dài chấm ngang vai bằng vải đỏ viền vải tối màu, còn phía sau mũ gắn tua dài đến ngang lưng bằng vải màu hoặc thổ cẩm, số tua trên mũ thể hiện số lần cấp sắc của Then Qua tìm hiểu một số nghi lễ Then ở Bắc Quang, chúng tôi thấy Then mới "vào nghề" thì mặc áo đỏ, đội mũ đỏ, còn Then đã được cấp sắc mặc áo vàng, đội mũ trang trí chủ yếu là màu vàng (gọi là mũ thất phật)
Người diễn xướng ngoài hát những lời ca, phải sử dụng linh hoạt nhạc
cụ là cây đàn tính, chùm xóc nhạc làm sao cho phù hợp với từng chương,
đoạn của Then Trong nghi lễ làm Then kỳ yên, người diễn xướng trở thành
Trang 39độc diễn, nhưng đối với Then cấp sắc ngoài thầy chính ra còn có các Then
khác cùng con hương, con sớ trợ giúp Do đặc thù riêng của từng loại Then nhân vật diễn xướng diễn làm sao cho đúng và phù hợp từng chương đoạn của Then Vì thế, Then là môn nghệ thuật tổng hợp mang đặc trưng riêng và tích hợp được những giá trị văn hoá nghệ thuật của dân tộc Tày
1.3.4 Các bước của một nghi lễ Then kỳ yên ở Bắc Quang, Hà Giang
Tuỳ vào yêu cầu của từng gia đình mà mỗi một nghi lễ Then có một
"đường Then" riêng biệt Qua kết quả điền dã, chúng tôi xin nêu các bước làm
của một nghi lễ Then kỳ yên như sau:
Một là đi đón slây (thầy Then): Khi chọn được ngày làm lễ, gia chủ
thường đem đến nhà Then một chai rượu cổ quấn giấy đỏ, một con gà, một bơ gạo, một thẻ hương và một ít tiền gói trong giấy đỏ (trước kia phải có 3 đến 5 đồng bạc già) nhưng đa phần là đơn giản phù hợp với kinh tế của từng nhà Gia chủ đặt những thứ đó lên bàn thờ của Then, mang tính chất là trình báo với tổ tiên, xin tổ tiên phù hộ cho Then đi làm lễ được thuận lợi
Hai là chuẩn bị đồ lễ: Đồ lễ và lễ vật có ý nghĩa quan trọng trong một
nghi lễ Then Nó thể hiện lòng thành kính của gia chủ thờ cúng tổ tiên và thánh thần Lễ vật trong mỗi buổi Then thường rất đa dạng, có sự khác nhau
giữa các vùng của người Tày và do yêu cầu của từng loại Then Khi làm Then
kỳ yên thường có ba mâm lễ: mâm slay (mâm Then), mâm khoăn (vun đắp
cho cây cầu số mệnh) mâm cúng tổ tiên
Mâm slay (mâm Then ngồi) dùng mâm gỗ hoặc mâm nhôm được lót
bằng một vuông vải đỏ Trên mâm có ba bát gạo đong đầy, bát ở giữa to và cao hơn hai bát còn lại, được cắm ba nén hương, hai bát bên cạnh cắm một nén, một bát cắm hình nộm cắt bằng giấy và một quả trứng gà để về phía tay
trái của Then Ở giữa mâm để một cái ấn bằng đồng mà Then gọi là "tam
bảo" và một bộ "thẻn" (bộ gieo quẻ âm dương làn bằng hai miếng gỗ hoặc tre
Trang 40nhỏ), cạnh mâm để mấy khúc mía quấn bằng vải đỏ, mâm còn được bày thêm một chai rượu và 5 chén nhỏ, một đèn dầu, một bao thuốc lá, trầu cau và hoa quả bánh trái , mâm này đặt cạnh bàn thờ tổ tiên
Mâm khoăn (vun đắp cho câu cầy số mệnh) mâm này thường làm cho
những người lớn tuổi trong nhà với ý nghĩa vun đắp cho cây cầu số mệnh, sống lâu trăm tuổi, mâm được giải bên dưới bằng một tờ giấy vàng xung quanh đổ một ít gạo, giữa mâm có một cái bồ đựng gạo ở giữa cắm một ngọn chuối non có quấn miếng giấy đỏ, khi Then làm lễ xong con cháu trong nhà một người đổ một ít thóc vào bồ, khi nào đầy thì giải xung quanh để bánh dầy
to, nhỏ với nhiều màu sắc khác nhau, trên bồ gạo đầy được cắm thêm những cành tre có gắn những lá sớ, đặt bên cạnh cây gỗ vót bằng phẳng viết chữ Nho (tương trưng cho cây cầu), một ấm nước chè, rượu được rót ra chén Trước khi vào làm lễ chính thức những người trong gia đình chuẩn bị thêm đặt ở cạnh mâm này một túi đựng áo của những người trong gia đình gọi là thông khoăn (túi nải đựng hồn vía), 2 cây chuối, 1 cây tre để cả rễ, 5 cái chòi (lầu) làm bằng bốn cọng lá chuối chia làm hai ngăn (ngăn trên để ít hoa hoặc ít đồ, ngăn dưới để bánh, thịt), 2 cái lừa (thuyền), 1cái phai (đập chắn nước), ngoài
ra còn có con gà, rượu, vàng bạc, hương , mỗi thứ kể trên đều mang ý nghĩa, tính tương trưng riêng Tất cả đều thể hiện tấm lòng thành của gia chủ và mong muốn duy nhất là mọi người được bình an, mạnh khoẻ
Mâm cúng tổ tiên, mâm này đặt giữa bài thờ tổ tiên, yêu cầu phải có
một thủ lợn, một chân giò, một miếng thịt lợn, một con gà, một khay để bốn chén rượu, một chai rượu, hai bát cơm, một cây nếm, hương, bánh giầy, một nồi nước thơm Mâm này không phải do thầy Then cúng mà phải nhờ một người lớn tuổi trong dòng họ biết cúng để trình bày lí do với tổ tiên và tổ tiên giúp đỡ, chứng giám Khi cúng xong đốt vàng bạc, tiếp đến mới bắc nồi nước được đun từ các loại lá thơm đặt trước bàn thờ tổ tiên lúc này mới đến lượt