1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dân ca xường của người Mường ở Thanh Hoá - tiếp cận từ góc độ văn học dân gian

209 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 209
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả không chỉ chú ý tới những kiến thức về văn học dân gian như: Ghi chép tỷ mỷ các chi tiết mang tính dị bản của từng lời ca, chú ý khảo tả một vài tình huống trong diễn xướng sinh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MAI THỊ HỒNG HẢI

DÂN CA XƯỜNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở THANH

HÓA - TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2003

Trang 2

MAI THỊ HỒNG HẢI

DÂN CA XƯỜNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở THANH

HÓA - TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN

Chuyên ngành: Văn học dân gian

Mã số: 5.04.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Chí Quế

HÀ NỘI - 2003

Trang 3

Trang

Chương 1: XƯỜNG VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA

NGƯỜI MƯỜNG Ở THANH HÓA

11

1.1 Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường 11 1.2 Khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường Thanh Hóa 15 1.3 Xường với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong xường 50

Trang 4

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trải qua một chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân

các tộc người Việt Nam đã sáng tạo nên một tài sản văn hóa - văn nghệ dân gian phong phú Mỗi tộc người đều có một tài sản văn hóa - văn nghệ mang

vẻ đẹp độc đáo riêng, đồng thời lại có những nét chung phản ánh quá trình lịch sử chung của cộng đồng các tộc người Việt Nam Do vậy, nền văn hóa - văn nghệ dân gian Việt Nam phong phú và đa dạng trong thống nhất

1.2 Trong tổng thể các giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian của các tộc

người trên đất nước ta, vốn văn học dân gian cổ truyền có một vị trí quan trọng Chính vì vậy, đã từ nhiều năm qua, các nhà khoa học mà trực tiếp là các nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian đã tập trung sưu tầm nghiên cứu nhằm bảo tồn và phát huy vốn văn học dân gian truyền thống của các tộc người để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa của cả nước Nhiệm vụ ấy ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách bởi thực tiễn đời sống hiện nay đã tác động một cách toàn diện và sâu sắc vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên những biến đổi hết sức đa dạng với nhiều hình thức đan xen khá phức tạp, làm cho nhiều giá trị, nhiều sắc thái văn hóa cổ truyền đang có nguy cơ bị mai một

1.3 Tộc người Mường có một lịch sử hình thành sớm, lại là tộc người

có cùng cội nguồn với tộc người Việt (Kinh) Trong quá trình phát triển, người Mường đã sáng tạo nên một tài sản văn học dân gian riêng biệt và khá đồ sộ

về mặt số lượng, phong phú về thể loại, và đa dạng về phong cách thể hiện Những sáng tạo ấy không chỉ khẳng định vị thế văn hóa của người Mường trong cộng đồng các tộc người Việt Nam, mà còn có ý nghĩa không nhỏ trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa đa tộc người nước ta

Trang 5

Trong số những thể loại của văn học dân gian Mường, nổi bật lên ba thể loại: Sử thi, truyện thơ và xường, bởi tính độc đáo, sức hấp dẫn và khối lượng khá đồ sộ của nó Về thể loại sử thi, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu Về thể loại xường, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu Việc làm rõ những đặc điểm về phương thức sinh hoạt, đặc biệt là phương thức thể hiện của xường, nhằm xác định giá trị của xường

ở Thanh Hóa nói riêng, của tộc người Mường ở Việt Nam nói chung là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

1.4 Việc nghiên cứu đề tài này được tiến hành khi mà sự tồn tại sinh

động của diễn xướng xường không còn diễn ra phổ biến nữa trên các vùng Mường xứ Thanh, cũng như các vùng Mường khác Xường chỉ còn được lưu giữ một phần trong các văn bản sưu tầm, trong trí nhớ của những người Mường cao tuổi Hầu hết những nghệ nhân xường mà chúng tôi tiếp xúc thì đều ở độ tuổi ngoài bẩy mươi Những điều trên càng cho ta thấy rõ ý nghĩa thiết thực của đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, tuy xường của người Mường ở Thanh Hóa chưa được dành cho một công trình nghiên cứu có tính chất chuyên luận, nhưng đã có những nhà sưu tầm, nghiên cứu đề cập đến nó ở những phương diện khác nhau Trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tạm chia những

vấn đề có liên quan đến tình hình nghiên cứu của đề tài làm hai loại

2.1 Về tư liệu

Có thể nói rằng, việc sưu tầm, biên soạn tư liệu về xường của người Mường ở Thanh Hóa được tiến hành tương đối muộn Nếu lấy mốc là Cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng ta có thể thấy rõ chặng đường sưu tầm, biên soạn về xường như sau:

Đầu thế kỷ XX, cụ Vương Duy Trinh đã biên soạn sách "Thanh Hóa quan phong" [122] Trong sách này có ghi chép ca dao, dân ca của các tộc

Trang 6

người thiểu số của tỉnh Thanh Hóa, nhưng không có bài nào cụ thể về xường của người Mường Như vậy, toàn bộ giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, việc sưu tầm, biên soạn giới thiệu về xường của người Mường ở Thanh Hóa hầu như chưa được đề cập đến Tình hình này còn kéo dài khá xa sau Cách mạng Tháng Tám

Năm 1964, thực hiện chủ trương sưu tầm, giới thiệu văn hóa Mường

do Ty Văn hóa Thanh Hóa chủ trì, đoàn khảo sát văn hóa Mường đã được thành lập - Trưởng đoàn là ông Phạm Bá Ngọc (Phó Trưởng Ty Văn hóa Thanh Hóa), vùng Mường ống (nay là xã Thiết ống, huyện Bá Thước) được chọn làm trọng điểm khảo sát, với quan niệm trong tâm thức dân gian: Nơi

đây được coi là một vùng "Mường gốc" Cũng từ năm 1964 trở đi, việc sưu tầm

giới thiệu xường của người Mường Thanh Hóa mới được quan tâm, chú ý

Bằng niềm say mê và nỗ lực bản thân, nhà nghiên cứu Minh Hiệu đã

sưu tầm, biên soạn cuốn "Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa" và xuất bản

thành 2 tập: Tập 1 xuất bản năm 1970 [40], tập 2 xuất bản năm 1981 [41] Theo lời tự thuật của Minh Hiệu, công việc sưu tầm ghi chép xường của người Mường thực sự được ông tiến hành từ năm 1954; đến năm 1964, khi được làm Phó đoàn khảo sát văn hóa Mường, ông đã có thêm điều kiện thuận lợi để tiếp tục sưu tầm, ghi chép và thẩm định những tư liệu mà ông đã dày công ghi chép từ năm 1954 Sau khi xuất bản lần đầu, Minh Hiệu vẫn tiếp tục tìm hiểu, bổ sung thêm các phần chú thích cho thật chuẩn xác về tên các địa danh, cảnh vật, sự việc, những từ Mường cổ được nhắc đến trong các lời xường để cuốn sách lại được biên soạn, chỉnh lý tái bản vào năm 1999 Khi

thực hiện luận án, chúng tôi đã sử dụng cuốn sách Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999 [42] làm nguồn tư

liệu để nghiên cứu Đây là cuốn sách biên soạn công phu, có độ tin cậy cao, trong cuốn sách này có tập hợp tư liệu về một cuộc xường giao duyên (người Mường ở Thanh Hóa gọi là xường Thiết ống) - đó chính là đối tượng nghiên cứu của luận án

Trang 7

Khi sưu tầm, ghi chép lại các lời xường, Minh Hiệu khảo tả trên văn bản hết sức khách quan và bám sát những điều kiện lịch sử - xã hội cũng như các yếu tố thuộc phong tục tập quán sinh hoạt văn hóa của người Mường Tác giả không chỉ chú ý tới những kiến thức về văn học dân gian như: Ghi chép

tỷ mỷ các chi tiết mang tính dị bản của từng lời ca, chú ý khảo tả một vài tình huống trong diễn xướng sinh hoạt xường giao duyên mà còn chú ý tới các kiến thức về lịch sử, về ngôn ngữ, về phong tục có liên quan tới sinh hoạt xường

Toàn bộ văn bản xường giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa

trong sách "Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa" [42] gồm 91 lời ca được sắp

xếp theo trình tự diễn xướng một cuộc xường Do đặc điểm phần lớn các lời

ca đều rất dài, lời đối đáp của đôi bên thường được lặp lại, nên chủ yếu Minh Hiệu chỉ ghi chép lại phần lời của một bên Tác giả cũng bỏ qua một số đoạn

mà tác giả cho là trùng lặp và đã ghi chú rõ sau mỗi lời ca Ví dụ: "Bỏ qua một điệp khúc 5 câu" [42, tr 61], "bỏ qua một điệp khúc 5 câu" [42, tr 163],

"bỏ qua 6 câu nói về chặt cây sào phơi chỉ" [42, tr 166], "bỏ qua một đoạn dài nói về đón hạt giống và phát rẫy để gieo hạt kè" [42, tr 175], "bỏ qua một đoạn xem chân gà để bói về tình duyên giữa hai người" [42, tr 181]

Tuy tác giả đã ghi chú khá rõ những đoạn "bỏ qua", những đoạn

"trùng lặp" giúp chúng ta có thể hình dung được tính hệ thống của lời ca; song theo chúng tôi, những đoạn "trùng lặp" không nên bỏ, bởi tính hệ thống

ấy được biểu hiện đặc biệt rõ ở hiện tượng lặp lại

Do đó, xuất phát từ mục đích nghiên cứu, trong quá trình đi điền dã,

chúng tôi đã tiếp tục sưu tầm với mục đích "bổ sung" và "đối chiếu" Sưu tầm

"bổ sung" thêm về văn bản, bởi trong thực tế, xường giao duyên không phải

chỉ tồn tại qua một văn bản mặc dù văn bản xường do Minh Hiệu cung cấp có tính chất mẫu mực, khá thống nhất trong các vùng Mường ở xứ Thanh Điều

này được biểu hiện đặc biệt rõ ở những yếu tố "cố định" trên văn bản ngôn từ

Trang 8

Như vậy, về mặt tư liệu thì cuốn sách: Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa của Minh Hiệu [42] đã cung cấp cho chúng tôi nguồn tư liệu quí để xây

dựng luận án Cũng từ đó, tác giả luận án thấy được rõ hơn công việc tiếp tục của mình trong quá trình thực hiện luận án

2.2 Những ý kiến, nhận xét về xường

Những ý kiến, nhận xét về xường của người Mường Thanh Hóa được

chủ yếu tập trung trong lời giới thiệu của cuốn sách Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa [42] và lẻ tẻ ở một số công trình của các nhà nghiên cứu đề cập

đến nó ở những hướng khác nhau

Trong lời giới thiệu cuốn sách Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa,

Minh Hiệu có nêu mấy khía cạnh chính như sau:

Về vai trò, vị trí của xường

Người Mường ở Thanh Hóa tự hào một cách xứng đáng về nguồn vốn xường của mình, đặc biệt là xường giao duyên (còn gọi là xường Thiết ống) Mỗi người con trai con gái Mường trước đây, khi đến tuổi lớn khôn, nếu không biết xường thì bị coi như là một điều đáng xấu hổ

Về hình thức sinh hoạt của xường

Xường giao duyên được tổ chức như một sinh hoạt văn hóa có tính chất phong tục Cuộc xường thường diễn ra khi có khách là con trai hoặc con gái từ làng khác đến chơi Xường giao duyên chỉ hát vào ban đêm, nơi hát là trong nhà sàn, nữ ngồi gian trong, nam ngồi gian ngoài Một cuộc xường trọn vẹn thường diễn ra trong nhiều đêm liên tiếp, hát đêm nay chưa hết, họ hẹn nhau hát tiếp đêm sau Khi hát xường giao duyên, đôi bên phải tuân theo những qui định khá chặt chẽ Hát xong bài này rồi mới đến bài khác, hát hết chặng này rồi mới cùng nhau hát tiếp chặng sau

Về giá trị của xường

Trang 9

Xường giao duyên của người Mường Thanh Hóa chưa từng được nghiên cứu dưới góc độ thể loại với những giá trị nổi bật của nó, xét trên những bình diện khác nhau

Trong lời giới thiệu về xường, Minh Hiệu có quan tâm đến chức năng trao gửi tình cảm lứa đôi của xường nhưng chưa nhiều và chưa đầy đủ

ở một cuốn sách khác, Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước Cách mạng Tháng Tám 1945) của GS.TSKH Phan Đăng Nhật [82]

cũng có những ý kiến đề cập đến phương thức tiến hành một cuộc xường giao duyên của người Mường:

Cách tiến hành một cuộc hát giao duyên rất sinh động và đa dạng Có thể hát trong lúc đi nương, đi ruộng, trong tiệc rượu, lúc lấy củi có thể tổ chức thành phe nhóm, bản làng này sang bản làng khác Có thể tổ chức thành các cuộc chơi có những kiểu hát

tự do tiện đâu hát đấy, tùy theo trí nhớ và cảm xúc Cũng có kiểu hát có qui cách chặt chẽ như xường Thiết ống (Thanh Hóa) Xường Thiết ống có hàng trăm bài, mỗi bài có một vị trí nhất định, không thể lệch chỗ, có bài dài đến ba trăm câu Cuộc hát chia làm

12 bậc người hát phải tuân theo đúng trật tự của các bậc đó Có khi luật lệ hát bị những điều mê tín ràng buộc [82, tr 125]

Nhìn lại tình hình nghiên cứu xường của người Mường ở Thanh Hóa

có thể thấy rõ những điểm sau:

- Về cơ bản, việc nghiên cứu xường của người Mường ở Thanh Hóa đang dừng lại ở mức độ sưu tầm, giới thiệu

- Đã có một số ý kiến bàn về xường Những ý kiến đó tập trung vào hai vấn đề chủ yếu là lề lối tổ chức và vai trò của xường trong đời sống của Mường

Trang 10

- Một số phương pháp nghiên cứu văn học dân gian có tính chất đặc thù còn ít được sử dụng để nghiên cứu xường như một thể loại với những đặc điểm loại hình tiêu biểu của dân ca Mường

Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu đi trước là những nấc thang đầu tiên vô cùng quan trọng tạo tiền đề cho luận án có thể thực hiện được và tiếp tục đi tiếp những bước sau, góp phần vào việc nghiên cứu về xường có tính

hệ thống và toàn diện hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Dựng lại diễn xướng sinh động của xường giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa; làm sáng rõ vai trò, vị trí của xường trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mường

- Làm rõ những giá trị nổi bật của xường chủ yếu ở góc độ nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ của sáng tác dân gian, từ đó nêu bật được những nét riêng, độc đáo của dân ca xường

- Góp phần bảo tồn, phát huy nguồn di sản xường của người Mường Thanh Hóa nói riêng, của tộc người Mường ở Việt Nam nói chung

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Điền dã, sưu tầm, khảo sát tư liệu, xác định văn bản xường để nghiên cứu cùng các hình thức diễn xướng của nó

- Cắt nghĩa và làm sáng rõ những đặc điểm thuộc hình thức sinh hoạt

và phương thức thể hiện của xường trên cơ sở tiếp cận đặc điểm loại hình và khám phá thế giới nghệ thuật của xường

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy vốn xường trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mường hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án chỉ đi sâu nghiên cứu loại xường giao duyên vì đây là bộ phận chủ yếu, tiêu biểu của dân ca Mường

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Sau khi xác định một số thuật ngữ như "xường", "xường rang" Phạm

vi nghiên cứu của luận án được triển khai theo những ý chính sau:

- Khảo sát đánh giá vai trò, vị trí của xường giao duyên

- Phân tích và mô hình hóa cấu trúc một cuộc xường giao duyên

- Phân tích, phác ra điểm nhìn nghệ thuật mà trong đó tư duy của người Mường vận động và qui định một số phương thức thể hiện của xường giao duyên

Hướng đi chủ yếu của đề tài là nghiên cứu xường giao duyên ở góc

độ nghệ thuật ngôn từ

Văn bản được chọn làm văn bản chính để nghiên cứu là văn bản xường giao duyên (người Mường ở Thanh Hóa thường gọi là xường Thiết ống) của

Minh Hiệu, trong sách Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa [42] gồm có 91 lời ca

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện, đề tài còn sử dụng văn bản sưu tầm của tác giả luận án (phần phụ lục) để xem xét, đối chiếu Văn bản này chủ yếu do những người Mường cao tuổi được gọi là nghệ nhân xường của vùng Mường Trám xưa kia (nay thuộc xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy) cung cấp

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Để đạt được mục đích của đề tài, chúng tôi đã lựa chọn một số phương pháp sau: Phương pháp điền dã thực địa; phương pháp hệ thống; phương pháp phân tích lôgíc lịch sử; phương pháp so sánh loại hình, Các phương pháp trên được sử dụng tổng hợp và có sự ưu tiên khác nhau cho mỗi phương pháp trong quá trình thực hiện luận án

Phương pháp điền dã thực địa là điều kiện tiên quyết để thực hiện luận án Chúng tôi đã thực hiện nhiều đợt điền dã thực tế tại địa bàn miền núi Thanh Hóa, nơi có người Mường tập trung cư trú đông từ lâu đời như: Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành Chúng tôi đã học tiếng Mường, sưu tầm ghi chép thêm văn bản xường, gặp gỡ, trao đổi với nhiều người Mường cao tuổi như: Cụ ông Ngọc Rạng, cụ bà Trương Thị Chiên, cụ bà Trương Thị Mán, cụ ông Bùi Kim Thanh ở làng Muốt, xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân làng Muốt, chúng tôi đã có dịp tham dự một cuộc xường giao duyên được tạo dựng lại, đã tiến hành ghi âm lời ca, ghi lại một vài hình ảnh về các nghệ nhân xường, cảm nhận và quan sát không gian văn hóa tinh thần của cuộc xường

6 Những đóng góp mới của luận án

- Luận án đi sâu nghiên cứu văn bản xường giao duyên, qua đó tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản theo phương pháp folklore và các phương pháp liên ngành nên đã góp phần làm sáng tỏ cả bản chất xã hội và bản chất

Trang 13

nghệ thuật của xường giao duyên Nhờ đó luận án đã góp thêm tiếng nói vào phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian vốn vẫn đang là một trong những vấn đề còn nhiều việc cần tiếp tục giải quyết

đã góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn và phát huy xường trong đời sống văn hóa tinh thần của người Mường Thanh Hóa hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương, 8 mục

Trang 14

Chương 1

Xường với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường ở Thanh Hóa

1.1 Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường

1.1.1 Vài nét khái quát về Thanh Hóa

Thanh Hóa có tọa độ địa lý 19o

30' - 20o30' vĩ độ Bắc, 104o

- 106030' kinh độ Đông, phía Bắc giáp Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình dài 175km; phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An dài hơn 160km Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 192km Đông mở rộng ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ với đường biển dài hơn 102km [28, tr 7]

Trên bản đồ Việt Nam, Thanh Hóa là vùng đất nối hai đầu Bắc Bộ và Trung Bộ " bảo xứ Thanh ở địa đầu phía Bắc miền Trung cũng được mà cũng có giáo sư bảo xứ Thanh là sự nối dài của Bắc Bộ chắc cũng đúng, khí hậu giống Bắc Bộ nhiều hơn Từ núi đến biển, Thanh Hóa không phải là một xứ biệt lập, hay cô lập mà là "mở" theo nhiều hướng" [137, tr 271]

Với diện tích tự nhiên là 11.168,1 km2, địa bàn Thanh Hóa có thể phân làm hai miền khá rõ rệt: miền núi và miền xuôi Con sông Mã bắt nguồn từ Điện Biên Phủ, chảy qua Sơn La, Sầm Nưa (Lào) vào Thanh Hóa tại địa phận Mường Lát, dòng sông Mã xuyên suốt hai miền, từ Quan Hóa,

Bá Thước, Cẩm Thủy, đổ xuống Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Hà Trung rồi ra biển Đông ở hai cửa sông: Lạch Hới và cửa sông Lèn Các con sông khác như sông Chu, sông Yên, sông Âm, sông Bưởi cùng nhiều nhánh sông nhỏ khác đã làm phong phú địa mạo đất Thanh "Có núi rừng, có miền thung lũng trung du, có đồng bằng và có biển " [137, tr 170]

Cư trú trên đất Thanh Hóa là các tộc người: Kinh, Thái, Khơ Mú, Mường, H'Mông, Dao, Thổ Theo suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, lịch sử

Trang 15

Thanh Hóa luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc, bởi "Xứ Thanh là vị trí địa

- chiến lược, địa - chính trị, địa - văn hóa quan trọng của Việt Nam" [137, tr 274] Một lịch sử dài lâu với nhiều cơ tầng văn hóa chồng lên nhau, thì chắc chắn

sẽ là cơ sở để nảy sinh và hình thành một lịch sử văn hóa, văn học dân gian giàu sắc thái xứ Thanh

1.1.2 Miền núi Thanh Hóa và địa bàn cư trú của người Mường

Trên bản đồ hành chính hiện nay, miền núi Thanh Hóa là phần địa dư gồm mười một huyện: Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Thường Xuân

Miền núi Thanh Hóa là khu vực rộng lớn, chiếm 2/3 diện tích tự nhiên toàn tỉnh Độ dốc của địa bàn miền núi Thanh Hóa trên 25o, có nơi trên 35o

như Mường Lát Độ cao bình quân 1.000m so với mặt nước biển Vùng này

có nhiều dãy núi cao, cao nhất là đỉnh Bù Chó (huyện Thường Xuân) 1.563m, còn lại phần lớn các đỉnh núi cao từ 1.000 - 1.400m

Với độ dốc kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam - đặc điểm địa hình vùng này là có nhiều ghềnh thác, dòng xiết của con sông Mã và các nhánh sông Chu, sông Lò, sông Luồng, sông Âm, sông Đạt, sông Đằng v.v

Nếu xét dưới góc độ sinh thái thì đây là khu vực của vùng rừng nhiệt đới và hệ sinh thái phức tạp Vì vậy, thảm thực vật, quần thể động vật ở khu vực này rất phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống định cư với sự xuất hiện sớm của nghề nông Người

ta gặp ở đây các thung lũng màu mỡ của vùng Mường Khoòng, Mường ống (Bá Thước), Mường Đanh (Lang Chánh) Các cánh đồng, các thung lũng trồng lúa cũng là nơi cư dân đông đúc, nơi hình thành nên các mường lớn với các dòng họ nối đời làm Lang đạo Các nguồn tài liệu khảo cổ học đều chứng tỏ rằng khu vực này

Trang 16

có con người cư trú từ rất lâu đời Công cuộc khai quật các di chỉ khảo cổ đồ đá cũ ở hang làng Tráng huyện Bá Thước cho thấy con

người có mặt ở vùng đất này đã hàng vạn năm [14, tr 37]

Tộc người Mường có số dân đông nhất trên địa bàn miền núi Thanh Hóa Dân số người Mường ở Thanh Hóa qua các thời kỳ như sau:

Theo tài liệu thống kê trong cuốn "Người Mường" của Cuisiner.J [15]:

Người Mường ở Thanh Hóa trước năm 1945 là 50.000 người

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê thì người Mường ở Thanh Hóa năm 1960 là 113.000 người, năm 1996 là: 30 vạn người

Tính đến 1/4/1999, tổng số người Mường ở Thanh Hóa là: 322.869 người Theo thống kê của Ban Dân tộc và Miền núi Thanh Hóa (năm 1999), dân số người Mường phân bố ở các huyện miền núi như sau:

Huyện Mường Lát: 231 khẩu = 0,83% (của cư dân toàn huyện) Huyện Quan Hóa: 9.242 khẩu = 22,3%

Huyện Quan Sơn: 625 khẩu = 1,97%

Huyện Bá Thước: 46.638 khẩu = 47%

Huyện Lang Chánh: 12.820 = 37,43%

Huyện Ngọc Lặc: 55.581 khẩu = 44%

Huyện Thường Xuân: 1.390 khẩu = 1,6%

Huyện Cẩm Thủy: 52.550 khẩu = 56,8%

Huyện Thạch Thành: 68.387 khẩu = 50,4%

Huyện Như Thanh: 17.402 khẩu = 21,9%

Huyện Như Xuân: 3.189 khẩu = 5,75%

Trang 17

Ngoài ra người Mường còn cư trú xen kẽ tại 26 xã thuộc các vùng thấp (Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định và Thị

xã Bỉm Sơn) với tổng số là: 14.817 người

Từ số liệu thống kê trên ta thấy rằng, người Mường ở Thanh Hóa cư trú tập trung đông nhất tại địa bàn thuộc các huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành

Theo Robequain:

ở Thanh Hóa vùng người Mường thường là các cư dân có mặt đã lâu đời Các chòm lúng ở đây, tuy có người Mường trong nội tỉnh, hoặc ở Ninh Bình, Hòa Bình di cư vào mà ở xen kẽ với nhau hoặc có nơi là người Kinh từ đồng bằng Thanh Hóa chuyển lên lâu đời rồi hóa thành người Mường Nhưng xét kỹ thì các vùng thung lũng rộng và màu mỡ như Sa Lung, Thiết ống, Hồ Điền, Cổ Lũng, vùng có núi thấp (Ngọc Lặc, Cẩm Thủy) thì người Mường

đã ở đây từ rất xưa [95, tr 66]

Một loạt các di chỉ, địa điểm khảo cổ, nơi phát hiện có người Việt thời tối cổ cư trú phần nhiều là các hang động dọc theo triền sông Mã thuộc địa phận của các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Thạch Thành

Các địa điểm khảo cổ trên địa bàn huyện Bá Thước: Mái Đá Điều, Mái Đá Nước, hang Anh Rồ thuộc xã Hạ Trung; hang làng Tráng I, II, III, IV thuộc xã Lâm Xa, hang làng Cốc thuộc xã Thiết ống ; trên địa bàn huyện Cẩm Thủy: hang Núi Một (xã Cẩm Giang); hang Trống, Mái Đá làng Bon (xã Cẩm Tú) [28, tr 35]

Những dữ liệu trên cho ta thấy rõ, vùng trung lưu sông Mã ngày nay thuộc địa phận các huyện Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, trước đây là những vùng đất mà người Mường có mặt rất sớm Cho đến ngày

Trang 18

nay, dân số người Mường ở các huyện trên vẫn là đông nhất Vì vậy, việc chúng tôi chọn địa bàn điền dã thực tế để sưu tầm tìm hiểu xường ở bốn huyện trên là có cơ sở thực tế

1.2 Khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa

Người Mường cư trú trên một địa bàn khá rộng, tuy vậy Hòa Bình và miền núi Thanh Hóa vẫn là mảnh đất trên đó người Mường ở tập trung đông nhất so với các vùng Mường khác trên cả nước Nhìn chung, nếp sống của người Mường là thống nhất, trong quá trình phát triển, văn hóa của họ luôn bảo lưu khá rõ và thành hệ thống các sắc thái đặc trưng tộc người

Việc nhìn nhận văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa sẽ được đặt trong tổng thể văn nghệ dân gian Mường trên cơ sở những nét tương đồng thống nhất là chủ yếu Có nét nào riêng ở đây thì một phần là do sự chi phối của các yếu tố thuộc điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, phong tục tập quán Bởi chúng ta đang nói về một xã hội Mường cổ truyền, mà một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn hóa cổ truyền của các dân tộc Việt Nam là: "Nền văn hóa của xóm, làng, bản, buôn pơlây Đó là nền văn hóa của những người nông dân trong cộng đồng làng xã, sống chủ yếu trong khuôn khổ của một làng, một bản, một buôn - pơlây Nền văn hóa đó tự cấp tự túc và khá khép kín Do đó nền văn hóa mang đậm các sắc thái địa phương" [104, tr 52]

Trên tinh thần ấy, khi nêu lên những nét khái quát về văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa, chúng tôi không có ý so sánh với các vùng mường khác, bởi văn nghệ dân gian cũng là một lĩnh vực thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của con người, để chỉ ra những sắc thái riêng biệt, độc đáo trong lĩnh vực văn nghệ dân gian của người Mường Thanh Hóa phải cần đến một công trình lớn Hơn nữa khi tiếp cận với văn nghệ dân gian của tộc người Mường, chúng ta nhận thấy nét tương đồng, thống nhất là chủ yếu Và giá trị

Trang 19

của nó lại chính là nằm ở trong những nét tương đồng ấy Cho nên một vài điểm nêu ra ở đây chỉ là những nét chấm phá vào một toàn cảnh rộng lớn của văn nghệ dân gian Mường ở xứ Thanh

Người Mường Thanh Hóa có một tài sản văn nghệ dân gian phong phú với sự hiện diện đa dạng của các thể loại như: Sử thi, xường rang, bộ mẹng, sắc bùa, mo, hát ru, đồng dao, đúm, truyện thơ, cổ tích

Sử thi là một giá trị lớn của nền văn hóa thế giới, bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước được sưu tầm tại Thanh Hóa [3] là niềm tự hào của người Mường nơi đây

Mo, xường rang là nguồn văn nghệ dân gian khá tiêu biểu của người Mường cũng đặc biệt phát triển mạnh trên các vùng Mường xứ Thanh Quan niệm dân gian cho rằng, sau khi sáng tạo ra đất Mường, bà Dạ Dần đã sáng tạo mo, xường rang rồi gánh đi gieo giống các nơi trên đất Mường Trên đường

đi, chẳng may bị đứt gánh nên xường rơi xuống không đều, nơi được nhiều, nơi được ít Người Mường ở Thanh Hóa nói là gánh xường của bà Dạ Dần bị

"đứt gánh ở Mường Ai, đứt quai ở Mường ống" nên bao nhiêu xường gốc đều trút xuống cả nơi đây rồi từ đó mới lan truyền đi các vùng Mường khác Quan niệm dân gian ấy nhằm chủ yếu lý giải về nguồn vốn xường dồi dào phong phú của người Mường Thanh Hóa

Truyện thơ Mường nổi bật bởi tính độc đáo, sức hấp dẫn và khối lượng

đồ sộ của nó Những truyện thơ tiêu biểu của người Mường như: Nàng ờm - Chàng Bồng Hương, Nàng Nga - Hai Mối, út Lót - Hồ Liêu được lưu truyền phổ biến trên các vùng Mường ở xứ Thanh Những truyện thơ này không chỉ tồn tại trong sinh hoạt văn nghệ của họ mà còn để lại dấu vết vật chất mà nhân dân lưu giữ như những "kỷ niệm" nhằm chứng minh cho đời sau về tính

có thực của các hình tượng này Đặc biệt, nó còn hóa thân thành phong tục, tập quán ứng xử, tập quán sinh hoạt văn hóa của nhân dân

Trang 20

Đến với vùng Mường xứ Thanh, ai cũng phải nhớ đến huyền thoại về hoa bông trăng - một loại hoa có nguồn gốc từ truyện thơ "Nàng ờm - Chàng Bồng Hương" Cứ vào độ tháng ba âm lịch, hoa bông trăng lại nở khắp các sườn đồi, núi, ven suối trên các vùng có người Mường cư trú Hoa nở thành chùm, mỗi hoa năm cánh, khi mới nở là một màu trắng ngần, dần dần cánh hoa chuyển sang màu đỏ, tỏa mùi hương thơm dịu ngọt, nhưng đặc biệt các loài ong, bướm không bay lượn đến hoa bông trăng để hút nhụy Người Mường ở đây nói rằng hai màu đỏ, trắng của hoa là tượng trưng cho tình yêu nồng nàn, trong trắng và thủy chung của nàng ờm và chàng Bồng Hương Màu hoa ấy đã trở thành biểu tượng về tình yêu chung thủy của người Mường Núi Làn Ai, nay thuộc xã ái Thượng, huyện Bá Thước - tương truyền là nơi chàng Bồng Hương và nàng ờm đưa nhau lên đó, cùng ăn lá ngón, biến về bên Mường Ma để được ở bên nhau

Về đến đất Mường Đủ (thuộc xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành ngày nay) chúng ta lại gặp ở đây nhiều chứng tích của truyện thơ "Nàng Nga - Hai

Mối" Theo tư liệu của hai tác giả Trần Thị Liên và Nguyễn Hữu Kiên [64]

thì ở Mường Đủ trước kia có đền thờ Nàng Nga (còn gọi là đền Mẫu) Cách đền Mẫu chừng 1km có một khu đất rộng, tương truyền một thời là vườn dâu của Nàng Nga Địa điểm mà Nàng Nga và Hai Mối trao vật kỷ niệm, nay vẫn còn đó ở xã Thành Trực, tại đây vẫn còn ba cây đa đứng gần nhau, được nhân dân địa phương cho rằng đấy chính là hồn của Nàng Nga, Hai Mối và Vua

Ao Ước biến thành Đặc biệt tục kết chạ giữa hai làng Cẩm Hoàng (Cẩm Thủy) và Mường Đủ tồn tại khá lâu đời trong sinh hoạt văn hóa của nhân dân hai mường là một minh chứng sinh động cho truyện thơ này Xưa kia trai gái Mường Đủ cũng thường tổ chức "phụ hồn Hai Mối" (như kiểu bói Kiều) để đoán xem tình duyên sau này có gì trắc trở

Hai tác giả cũng cho biết: tục lệ xưa, con trai, con gái Mường Đủ, Mường Già (cách Mường Đủ một cánh đồng, nay cũng thuộc xã Thành Trực)

Trang 21

không bao giờ lấy nhau - điều này được giải thích là nảy sinh từ ngày út Lót buông lời thề độc

Bằng cách duy trì một số tập quán ứng xử, tập quán sinh hoạt văn hóa như vậy người Mường ở đây muốn mọi người tin rằng những truyện thơ này đều có thật và xuất phát từ nơi đây

Các sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa cũng có nét riêng gắn với phong tục tập quán Hàng năm cứ vào độ tháng ba âm lịch là hoa bông trăng lại nở, những chùm hoa bông trăng gợi nhớ về chuyện tình "Nàng ờm - Chàng Bồng Hương", đồng thời cũng là tín hiệu của tự nhiên thông báo mùa của lễ hội Pồn Pôông Trong lễ hội này, sau phần lễ thức là phần hội mà thực chất đó là một cuộc đối đáp xường rang giữa một bên là những ông (bà) ậu, Máy với một bên là những người chơi bông ở đây, chúng ta bắt gặp một nhu cầu thường thấy của các lễ hội dân gian: sự tồn tại trong diễn xướng dân gian của lễ hội là xuất phát từ những nhu cầu về sự bình yên, sự hạnh phúc, sự cầu may của từng cá nhân, của từng gia đình trong cộng đồng Bên cạnh đó còn xuất phát từ nhu cầu giải trí, giải tỏa tâm lý con người sau một chu kỳ lao động sản xuất Xã hội Mường cổ truyền là một xã hội nông nghiệp "tự cung tự cấp", chậm phát triển Bản, làng

là những đơn vị hành chính hầu như khép kín, không gian sinh tồn là thung lũng chân núi, nên mỗi dịp có lễ hội Pồn Pôông là người Mường mong chờ Công việc được chuẩn bị từ mấy tháng trước, người ta đẽo gọt những bông hoa được làm từ cây chàng bạng thành những chùm hoa bông trăng để giắt vào cây bông Trong đêm lễ hội Pồn Pôông, tiếng xường, tiếng rang đan xen, nương tựa vào nhau, người già, nam nữ thanh niên, trẻ con kéo về nơi tổ chức ngồi chật cả sàn nhà Trong những dịp lễ hội như vậy đều có sinh hoạt trao đổi tình cảm trai gái bằng lời xường tiếng rang Tuy bản thân sinh hoạt giao duyên đã có những hình thức độc lập, nhưng lễ hội nào cũng vẫn là cơ hội để các chàng trai, cô gái Mường tìm đến với nhau Lễ hội Pồn Pôông cũng là nơi

Trang 22

tập hợp, nơi sản sinh những lời xường rang, những bài ca nghi lễ và cả những bài ca trữ tình của người Mường

Những ngày đầu xuân trên các vùng Mường ở xứ Thanh trước đây còn diễn ra một số hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian hấp dẫn như: Hội chùa, tục kết chạ Hàng năm, ở một số mường lớn thường có hội chùa như hội chùa Mèo ở Mường Khô, (nay thuộc xã Điền Trung, huyện Bá Thước), hội chùa Rồng ở Mường Phấm (nay thuộc xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thủy) gọi là hội chùa nhưng thực chất chủ yếu đó là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa văn nghệ Hội chùa Mèo ở Mường Khô thường tổ chức vào dịp ngày rằm tháng giêng Đây là hội chùa thu hút không chỉ dân trong mường mà còn cuốn hút dân ở nhiều mường khác Trong ngày hội, nhiều trò chơi diễn ra cùng một lúc như ném còn, kéo dây nhưng hấp dẫn nhất vẫn là các tốp trai gái đối đáp xường với nhau

Những nét khái quát trên đây, bước đầu cho chúng ta thấy, người Mường ở Thanh Hóa có một tài sản văn nghệ dân gian phong phú với sự hiện diện của nhiều thể loại Điều hấp dẫn và lý thú là hầu như tất cả mọi cảnh vật thiên nhiên, những tên người, tên các địa danh, sông, núi, đồi gò, bến bãi,

những "chứng tích vật chất" trong các tác phẩm đều dường như "cố sức"

muốn mọi người cùng tin rằng tất cả những sáng tạo ấy là của người Mường

ở xứ Thanh Điều này phản ánh rõ diện mạo văn nghệ dân gian của người Mường ở xứ Thanh là khá hoàn chỉnh và độc đáo bởi tính hấp dẫn và qui mô

đồ sộ của một số thể loại nổi bật như sử thi, truyện thơ và xường giao duyên

Từ trước đến nay, chúng ta vẫn cho rằng, văn học dân gian của các tộc người thiểu số có hai thể loại tiêu biểu và đặc sắc là sử thi và truyện thơ

Do đó công tác sưu tầm, nghiên cứu cũng tập trung giành nhiều cho hai thể loại này Song đối với từng tộc người cụ thể như người Mường thì bên cạnh hai thể loại sử thi và truyện thơ, xường cũng là một thể loại tiêu biểu, độc đáo bởi trong đời sống của người Mường nói riêng, của các tộc người thiểu số

Trang 23

trên đất nước ta nói chung, "thiếu tiếng đàn tiếng hát như thiếu muối thiếu cơm", mà xường lại là giai điệu chủ yếu của dân ca Mường, là thể loại có vị trí khá quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của họ

Nhìn tổng thể, có thể nói văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hóa như một mảng màu đậm trong tổng thể bức tranh văn nghệ dân gian của tộc người Mường Điều này không làm giảm đi tính thống nhất của văn nghệ dân gian Mường mà ngược lại, nó làm cho nền văn nghệ dân gian Mường thêm phong phú, đa dạng

1.3 Xường với đời sống văn hóa tinh thần của người Mường ở Thanh Hóa 1.3.1 Về tên gọi và việc phân loại xường

1.3.1.1 Về tên gọi xường

Xường (tùy theo thổ âm, có vùng gọi là Thường - như ở Hòa Bình) Xường hay Thường đều có nghĩa là thương - và trong việc nghiên cứu xường

từ trước đến nay, nội hàm của thuật ngữ xường cũng chỉ được giải nghĩa như vậy [42, tr 74], [108, tr 5]

Thực tiễn sinh hoạt dân ca của các tộc người trên đất nước ta đã nói lên nguồn mạch dân ca của các tộc người rất phong phú, đa dạng Mỗi tộc

người có một tên gọi riêng: Đồng bào Thái gọi là khắp, người H'Mông gọi là gàu hay là lù chạ, người Mường gọi là xường (hay thường), và dựa vào nội

dung, hay hình thức sinh hoạt, đồng bào các tộc người còn phân ra các loại khá cụ thể như: Trong khắp có khắp báo sao (hát trai gái); khắp xư (hát thơ) v.v Trong xường có xường chúc, xường kể, xường sắc bùa, xường trai gái v.v

Sự định danh hay cách gọi tên như vậy cũng có thể cho chúng ta thấy, dân ca của các tộc người phát triển phong phú và nhìn chung đã có sự phân hóa tương đối có hệ thống Lần theo các tên gọi dân gian ấy, chúng ta có thể tìm ra được những đặc điểm về nội dung, phương thức diễn xướng, môi trường

Trang 24

và cả khung cảnh ca hát Nhưng nhìn vào sự gọi tên các hình thức sinh hoạt dân ca của các tộc người, chúng ta có thể thấy được tính chất đơn điệu về làn điệu (hay giai điệu) Nên tên gọi của thể loại cũng thường là tên gọi của làn điệu Chẳng hạn, khi nói xường là chỉ vào thể loại xường nói chung, trong xường còn nhiều loại nữa mà khi hát đều theo làn điệu xường (như: xường chúc, xường kể, xường sắc bùa, xường trai gái v.v ), tuy nhiên nội dung lời

ca và phương thức diễn xướng lại khác nhau

Xường chúc: Thường dùng để chúc mừng trong các dịp mừng nhà mới,

trong đám cưới, chúc mừng đầu xuân

Xường kể: Là những bài ca dài thiên về tính tự sự, thường nói đến

từng loại sự kiện trong lịch sử như việc đi phu, đi lính, có bài nói đến hàng loạt sự kiện trong một giai đoạn lịch sử như bài "Tây cướp đất chiếm quyền" của người Mường ở Thanh Hóa [42, tr 262-267]

Xường sắc bùa: Phường bùa đi hát chúc mừng các gia đình trong dịp

đầu xuân thường sử dụng hai làn điệu gọi là làn phát rác và làn xường

Xường trai gái (tức xường giao duyên): Là những bài xường dùng

trong sinh hoạt đối đáp trai gái để bày tỏ, trao gửi nguyện ước gắn bó lứa đôi

Chúng tôi đã hỏi nhiều người Mường ở độ tuổi từ 65 đến 95, các cụ đều cho biết: Tiếng Mường ngày trước không có từ "hát", trong khẩu ngữ thông thường người Mường nói là "ti xướng" (có nghĩa là đi xường) Như vậy, từ "xường" còn để dùng chỉ những âm thanh ngôn từ có tính nhạc điệu Cho nên từ "hát" có thể là sau này được dùng như một từ ghép: "hát xường" Người Kinh gọi là "hát xường", còn người Mường chỉ gọi là "xường" Do đó,

"xường" có nghĩa là hát lời thương

Qua sự phân tích trên, chúng tôi thấy, từ trước đến nay, khi đề cập đến thuật ngữ "xường", người ta thường chỉ nói: xường (tiếng Mường có nghĩa là thương), thì chưa khái quát được các hình thức sinh hoạt phong phú của thể loại này cũng như đặc trưng loại hình của nó Hơn nữa, khi được

Trang 25

dùng như một thuật ngữ chỉ một thể loại của nền dân ca Mường thì nội hàm của nó cần được giới thuyết cụ thể hơn Từ "xường" mang một nghĩa kép: nghĩa là "thương" (nghĩa trong đời sống) và nghĩa là "hát" (nghĩa trong sinh hoạt văn hóa) Từ những điều nhận thức bước đầu như trên, chúng tôi xin nêu một cách hiểu về "xường" như sau:

Xường là một thể loại dân ca trữ tình của người Mường, được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp là:

Nghĩa rộng: Xường là làn điệu tiêu biểu, chủ yếu của dân ca Mường, bao gồm cả xường chúc, xường kể, xường sắc bùa, xường giao duyên v.v thường được hát trong những dịp vui như mừng nhà mới, chúc mừng đầu xuân, trong các cuộc hát đối đáp giao duyên

Nghĩa hẹp: Xường là lối hát giao duyên của người Mường

Cả hai cách hiểu đều có lý, song phổ biến hơn cả là cách gọi tên

"xường" theo nghĩa hẹp tức là những bài hát giao duyên Theo nghĩa này thì

khi nói xường là thể loại dân ca trữ tình của người Mường là chủ yếu nói đến

bộ phận xường giao duyên Trong thực tế đây cũng là bộ phận chủ yếu có giá trị nội dung và nghệ thuật cao của dân ca Mường

Xường thường được người Mường gọi cặp đôi với rang: xường rang Việc phân biệt xường và rang cho đến nay vẫn chưa được bàn đến cụ thể Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi xin nêu một số suy nghĩa như sau:

Về phong tục, người Mường ở Thanh Hóa có qui định rõ là người ta kiêng không hát xường khi trong nhà có chuyện buồn như: ốm đau hoặc tang

ma Như vậy, làn điệu xường chủ yếu được dùng vào những dịp vui như mừng nhà mới, chúc mừng đầu xuân, đặc biệt là đối đáp giao duyên

Làn điệu rang được dùng trong việc hát - kể chuyện thơ như: Nàng

ờm - chàng Bồng Hương, Nàng Nga - Hai Mối và trong các việc có sự ứng

Trang 26

đồng giữa hồn ma với người trần thế Trong một số các sinh hoạt văn nghệ dân gian như: Pồn pôông, sắc bùa người Mường thường hay sử dụng cả hai làn điệu xường và rang Các ông, bà (ậu, máy) thường hát làn điệu rang, những người chơi bông thường hát làn điệu xường Chính vì vậy, xường rang thường được gọi cặp đôi Cách gọi cặp đôi này cũng là một đặc điểm trong lối tư duy của người Mường

Về mặt âm nhạc, phần lớn người Mường đều nói là rất khó phân biệt giữa xường và rang Điều này cũng nói lên rằng về mặt âm nhạc, làn điệu của dân ca Mường nhìn chung còn đơn điệu, xường được xem như là làn điệu chủ yếu của dân ca Mường

1.3.1.2 Phân loại Xường

Theo cuốn Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa [42], xường giao duyên được phân làm hai loại: Xường Mường Trong và xường Mường Ngoài

Xường Mường Trong, còn được gọi là xường Thiết ố ng (tên gọi chung cho xường gốc giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa) Xường Mường Ngoài phát triển nhiều ở các vùng có đồng bào Mường từ Hòa Bình chuyển

cư vào Thanh Hóa (như vùng Thạch Thành) Điều để phân biệt xường Mường Trong với xường Mường Ngoài chủ yếu là ở qui cách hát Hát xường Mường Trong phải tuân theo các bước, các bậc chặt chẽ Hát xường Mường Ngoài

không gò bó theo các bước, các bậc và cũng không có một số lời ca có sẵn

được dân gian qui định như xường Mường Trong (ví dụ các lời: "Gieo trồng",

"Phát đường" hay mười hai bậc gài hoa, mười hai lời bắt tiếng chim) [42, tr 272]

Dụng ý chính của cách phân loại này là muốn khẳng định tính bản địa

của bộ phận xường Mường Trong Nhìn chung, cách phân loại này mới chỉ

đáp ứng được những mục đích nhất định Nếu đứng ở góc độ văn hóa, chúng

Trang 27

tôi thiết nghĩ, không nên coi một vùng nào đó là "gốc" của xường trong khi

người Mường ở các nơi trên đất nước ta đều có xường Chỉ có điều trong xã hội Mường cổ truyền, tính chất tự cấp, tự túc và khá khép kín trong sinh hoạt văn hóa - xã hội là tình trạng phổ biến ở tất cả các vùng Mường, nên những yếu tố thuộc về điều kiện xã hội - lịch sử, những nét riêng thuộc về phong tục, tập quán sẽ chi phối đến sự phát triển và hình thức sinh hoạt của một thể loại nào đó Ta có thể thấy, nhìn ở chức năng trao đổi tình cảm lứa đôi thì xường giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa là một thể thống nhất, nhưng nhìn ở cách thức tổ chức và lề lối hát thì được diễn xướng dưới hai hình thức chính: Xường tự do và xường bậc

Xường bậc được hình thành và phát triển gắn liền với phong tục sinh hoạt văn hóa của người Mường Thanh Hóa từ lâu đời nên dần dần được định hình có tính chất khuôn mẫu truyền thống Xường bậc chính là xường giao duyên được tổ chức có lề lối và qui trình chặt chẽ - đây là hình thức sinh hoạt điển hình, rất tiêu biểu trong sinh hoạt hát giao duyên của người Mường ở Thanh Hóa

1.3.2 Hình thức sinh hoạt của xường

1.3.2.1 Tục lệ, thời gian, địa điểm, cách thức tổ chức và lề lối hát

* Tục lệ

Xường giao duyên chỉ diễn ra khi có khách là con trai hoặc con gái từ làng khác đến chơi Khách là con trai thì các cô gái trong làng sẽ đến chào, thăm hỏi rồi mời hát xường, nếu khách là các cô gái thì công việc chủ động chào, mời hát xường là của các chàng trai Việc này nhiều khi không phải chỉ

là chuyện riêng của những người đang ở lứa tuổi tìm chọn bạn tình mà còn vì danh dự của cả làng Khách đến, không có người đến chào và mời khách xường một vài đêm là đều đáng thẹn chung cho cả làng, người già sẽ không

Trang 28

vui khi có người chê rằng: "Đất Mường này không có con trai, con gái hay sao mà chẳng nghe một lời xường tiếng rang" [42, tr 78] Chuyện đó lâu dần trở thành một tập tục, vì thế các chàng trai, cô gái Mường xứ Thanh khi đi sang làng khác chơi, không quên đem theo tiếng xường đến làng bạn

Trong cuộc sống của người Mường trước đây, biết bao cuộc xường đã diễn ra vừa là để giao lưu tình cảm lứa đôi, vừa là tiếp khách, giao đãi với khách sao cho lịch sự để giữ danh dự cho cả làng Cho nên có thể những đêm xường có nghi thức, lề lối, những lời ca có tính chất "công thức" theo từng chặng được nảy sinh từ đây Trình tự của một cuộc xường dần dần được hình thành, một "mô hình" chung cho mọi cuộc xường được thừa nhận, bởi qua trải nghiệm thời gian, nó phù hợp với qui luật tình cảm của con người Những cuộc xường như vậy người Mường rất yêu thích bởi bằng lối hát giao duyên nhưng lại diễn ra như là một cuộc thi tài, một cuộc sinh hoạt văn hóa, văn nghệ hấp dẫn

Khách đến bản làng, được đón tiếp bằng lời ca, giọng xường là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của người Mường xứ Thanh Đó chính là môi trường để nảy sinh, phát triển của xường Rõ ràng, mọi hình thái của văn học dân gian đều được hình thành và gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt của nhân dân

Và khi nó đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của một hoạt động giao tiếp thì chính nó sẽ là một nhu cầu được mọi người học hỏi và say mê sáng tạo, bởi đó là một hình thức để tự khẳng định mình trong cộng đồng Như một quy ước dân gian, đã là người Mường thì ai cũng phải biết xường, học xường Các chàng trai nghèo thì lại càng phải trau dồi, rèn luyện xường, để

có thêm nhiều cơ hội tìm chọn bạn tình, xây dựng hạnh phúc lứa đôi

Ngày xưa, ở dân tộc Tày, Nùng cũng có tục đón khách bằng thơ ca Khách vào bản là đánh động cả bản Cả bản đến hỏi thăm chuyện trò thân mật tuy họ chưa từng gặp mặt khách bao giờ đó là đối với khách người

Trang 29

già Còn khách trẻ "trai nụ gái hoa" thì "trai non gái trẻ" trong bản sẽ thăm hỏi, chào mừng bằng sli - lượn Nếu bản nào có khách mà không có người đến chào hỏi thì bản đó sẽ bị chê là kém cỏi, không "văn minh lịch sự", nhất

là khách "trai nụ gái hoa" vào bản mà "trai tơ gái trẻ" trong bản không cất tiếng lượn thì cả bản sẽ bị chê trách Khách vào bản, chủ chào khách chủ mời, khách đáp lại hoặc khách mời chủ lên tiếng thì hai bên sẽ vào cuộc lượn thâu đêm [43, tr 21]

Khách vào bản làng, người Tày, Nùng đón tiếp bằng điệu lượn, tiếng sli, người Mường đón tiếp bằng điệu xường Lời ca, giọng điệu có khác nhau, nhưng ở đây chúng ta bắt gặp cái đẹp của tình cảm con người, tình người được đề cao, quan hệ con người với con người được coi trọng Cũng từ đó, cho chúng ta thấy rõ hơn lời ca tiếng hát gắn bó với đời sống tinh thần của các tộc người như thế nào Chứng tỏ sự ra đời của mọi hình thái văn học dân gian đều nảy sinh từ môi trường sinh hoạt, do đó bản thân chúng đều có những chức năng xã hội nhất định

* Thời gian

Xường giao duyên chỉ hát vào ban đêm Cuộc sống tự cấp, tự túc của người Mường cũng như của hầu hết đồng bào miền núi trước đây đều khó khăn thiếu thốn Ban ngày, mọi người đều cặm cụi trên nương rẫy hoặc dưới suối để làm ăn, sản xuất, chỉ có ban đêm người ta mới có thì giờ để ngồi với nhau mà xường Những đêm xường giao duyên thường bắt đầu vào lúc mọi người đã xong bữa ăn tối, kéo dài thâu đêm cho đến rạng sáng thì chia tay, nếu còn tiếp diễn thì đôi bên lại hẹn nhau ở những đêm sau Một cuộc xường dài là bốn, năm đêm, cuộc ngắn nhất là một đêm Nhìn chung, thời gian dài hay ngắn của mỗi cuộc xường hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng và sự diễn biến tình cảm của đôi bên nam nữ trong cuộc hát

Trang 30

Những ngày tháng năm, tháng sáu là những ngày bận rộn công việc làm ăn, sản xuất, rất hiếm khi có những cuộc xường diễn ra vào thời gian này Người Mường Thanh Hóa nói rằng:

+ Tháng năm, tháng sáu máu bốc lên trốc

+ Tháng năm, tháng sáu, tháng máu con rồng không ai chơi bông, chơi hoa vào những ngày tháng đó

Tháng năm, tháng sáu là thời vụ làm ăn, không phù hợp với những hình thức sinh hoạt văn hóa văn nghệ cộng đồng, bản thân mỗi con người cũng bận rộn bởi nhịp độ thời vụ thúc giục

Vào những ngày xuân, thu ở miền núi thường se lạnh, nhưng là quãng thời gian rảnh rỗi của người lao động nông nghiệp, con người có thì giờ để thư giãn sau một chu kỳ làm việc, đó cũng là thời gian vật chất cần có để nghỉ ngơi Mọi nỗi niềm riêng tư có dịp được thực hiện, được giãi bày Con người có nhiều thời khắc để sống với chính mình, với những hoài niệm của quá khứ hay ước mơ ở tương lai Dường như nhịp điệu của vũ trụ đã bắt gặp nhịp điệu tâm lý của con người, nên hàng năm hai mùa xuân, thu cũng là mùa của lễ hội, mùa của nhiều hình thức sinh hoạt ca hát dân gian

Người Mường thường cư trú ở vùng thung lũng chân núi, đất rộng người thưa, núi rừng rậm rạp, đường sá đi lại khó khăn Do phải bảo vệ thành quả lao động của mình mà nhà ở phải gắn với ruộng rẫy, nên nhà nọ cách nhà kia khá xa, sự đi lại giao tiếp không mấy thuận lợi, con người lại bị ràng buộc vào nhiều thứ luật lệ của chế độ Lang đạo, do vậy mà nhu cầu giao lưu tình cảm, hiểu biết lẫn nhau càng đặt ra cấp thiết Xường giao duyên ra đời và phát triển đã phần nào đáp ứng được nhu cầu này, tạo điều kiện cho người Mường trước đây có thể gặp gỡ nhau, giúp đỡ, chia sẻ và yêu thương nhau Cuộc hát đối đáp được phân biệt bởi hai bên: chủ - khách Kết cấu cặp đôi chủ - khách đã chi phối đến sự nảy sinh, hình thành những bài ca có tính qui

Trang 31

ước khá rõ của cả đôi bên Cái "cốt lõi" giao duyên được bao bọc bởi phong

tục tiếp khách tạo nên tính dân chủ, hòa đồng rộng rãi lấn át mọi thiết chế đương thời, tạo cơ hội cho xường giao duyên phát triển mạnh

* Địa điểm

Nơi diễn ra cuộc xường là trong nhà sàn Nhà sàn của người Mường được chia thành nhiều gian, phân cách nhau bởi bức phên Vào cuộc hát, nữ ngồi gian trong, nam ngồi gian ngoài, mỗi gian có một đĩa trầu, một nồi nước chè xanh, hoặc có thêm một ống điếu hút thuốc lào Những ngày thu, xuân ở miền núi thường lạnh, đêm về có thêm một chút giá lạnh, nhà sàn nào cũng đốt lên bếp lửa hồng để tỏa thêm hơi ấm và ánh sáng Bên nam, bên nữ thường không nhìn thấy mặt nhau, chỉ có ánh mắt dõi tìm nhau qua lời ca tiếng hát Những đêm xường diễn ra trong biết bao ngôi nhà sàn hồng bếp lửa

đã in sâu trong ký ức người Mường, anh Bùi Nhị Lê, người Mường, quê ở làng Cầu Mây, Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa đã viết lên thành thơ những

kỷ niệm "Hát nơi bếp lửa":

ở quê tôi, nhà sàn nào cũng hồng bếp lửa Qua ngày thâu đêm

Con gái mường lạ đến thăm Xòe bàn tay trên ngọn lửa Trai mường thập thò liếp cửa Ngồi bên ngoài rít thuốc lào thật kêu!

Đêm ấy là đêm nào ? Đám con trai rúc rích bàn nhau lời chào con gái Xường rằng:

" Quê em trên cơm dưới cá,

Trang 32

Trắng xóa nương bông, Cầu qua khe như cầu vồng, Muốn thăm mường em, ngại cầu trơn trượt ngã",

Ngọn lửa bếp thẹn thùng không cháy nữa,

Ngọn lửa bếp ngoài, Ngọn lửa nhà trong, Lung linh nóng Lâm thâm mưa

Âm âm giọng con gái hỏi thăm:

- Mường anh lúa chín chưa có ai gặt Ngút ngát giọng con trai đáp:

- Mường em lúa chín chưa có người gánh về Ngọn lửa lập lòe

Trai gái nhìn nhau qua giọng hát Đêm này rồi đêm khác

Bếp vùi vào tro những ánh mắt than hồng [13, tr 17-18] Với những cuộc xường giao duyên có tổ chức, có nghi thức như vậy ngôi nhà sàn luôn là không gian bảo lưu, dung nạp, tích hợp và trao truyền

Trang 33

các lời xường cho nhiều thế hệ người Mường Ngôi nhà sàn cùng với cấu trúc của nó, và cả những người hát, những người tham dự, thưởng thức, đã tạo

nên một không gian văn hóa vật chất của cuộc hát, tạo ra một "không khí"

riêng cho việc giao lưu tình cảm giữa những người hát, và cả những người nghe Tất cả: ngôi nhà, con người, tiếng hát tạo nên sự cộng cảm sâu sắc, làm cho tiếng xường trở lên gắn bó thân thương với mọi người, mọi nhà Như vậy, về nơi hát là đã có qui định (trong nhà sàn) nhưng địa điểm không cố định, vì có thể hát ở nhà này hoặc ở nhà khác

* Cách thức tổ chức

Để tổ chức cuộc xường giao duyên, công việc chuẩn bị của chủ nhà - nơi diễn ra cuộc xường cũng không phức tạp, cầu kỳ Khách đến, nếu chủ nhà có một ngôi nhà sàn khang trang rộng rãi, đủ để cho bà con trong làng đến chơi ngồi nghe hát xường thì cuộc xường có thể diễn ra ngay tại đó Nếu nhà có khách chật, không đủ điều kiện thì người già trong làng có thể đứng ra hỏi mượn một nhà khác rộng hơn làm nơi tổ chức cuộc xường Dần dần việc hát xường giao duyên trở thành một cuộc sinh hoạt văn hóa văn nghệ cộng đồng, một cuộc thi xường của các chàng trai, cô gái, thì dân trong làng phải chọn một ngôi nhà rộng, đẹp, chủ nhà phải là những người hiểu biết, được dân làng mến mộ, tin cậy, nếu chủ nhà giỏi xường thì lại càng tốt và đời sống gia đình không thiếu thốn, tạm đủ hoặc có chút khá giả thì càng thuận lợi Chủ nhà phải lo đủ trầu cau, chè nước để tiếp bà con đến nghe xường

Người Mường trước đây vốn yêu quí tiếng xường, rất trọng những người giỏi xường, và cũng rất muốn được dân làng quí trọng tin cậy nên việc chọn lựa một gia đình để làm nơi tổ chức các cuộc xường cũng không khó Gia đình nào có điều kiện đáp ứng được là họ sẵn sàng đứng ra nhận - nơi diễn ra cuộc xường được người Mường gọi là "àng xướng" (có nghĩa là nơi tổ chức cuộc xường )

Trang 34

Khi khách đến làng, trong làng có nhiều cô gái giỏi xường, tiếng đồn

xa mà khách là những chàng trai đã từng đi học xường "đủ chín phủ mười hai quận, chín vận mười hai nguồn" thì ở làng đó sẽ diễn ra một cuộc xường ngang sức, ngang tài thật hấp dẫn, tiếng xường đôi bên chủ - khách sẽ làm xôn xao cả làng bản suốt mấy đêm liền

Trường hợp nếu làng đó chưa có nhiều chàng trai giỏi xường mà khách lại là những cô gái xinh đẹp, khéo lời khéo miệng, thì cuộc xường vẫn diễn

ra, bởi các chàng trai không thể để cả làng phải mang tiếng là không lịch sự khi có khách Nếu không may các chàng trai bị thua, thì có thể người già trong làng đứng ra xin hộ, hoặc xin khất, hẹn đến hôm khác sẽ hát tiếp Và thế là ngay sau đó một cuộc tập luyện, truyền dạy cho nhau sẽ diễn ra khẩn trương, vì các chàng trai sẽ quyết chí lấy lại danh dự cho cả làng và cũng muốn chứng tỏ là người lịch lãm, nhất quyết không bỏ lỡ cơ hội làm quen, làm thân, bày tỏ tình cảm với những người bạn gái xinh đẹp kia

Việc tổ chức các cuộc xường nhìn chung không đòi hỏi chi phí nhiều

về mặt kinh tế Không gian một cuộc xường thường diễn ra dưới mái nhà sàn,

người đến nghe tham dự chủ yếu là bà con trong làng bản Về mặt cách thức

tổ chức, các cuộc xường diễn ra nhẹ nhàng, bình dị, không cồng kềnh bởi nhiều khâu tổ chức hay chuẩn bị về lễ thức, về đạo cụ, nội dung chủ yếu là sự giao lưu tình cảm lứa đôi bằng lời ca tiếng hát Đặc điểm này tạo cho mọi cuộc xường diễn ra một cách tự nhiên, đảm bảo tính dân chủ trong sinh hoạt

ca hát dân gian, nhưng đồng thời lại thôi thúc, khích lệ cảm hứng và niềm say

mê được tham dự và nếm trải các cuộc xường của mọi người để thử sức, và khẳng định giá trị cá nhân trong cộng đồng Chính vì thế mà các cuộc xường

đã trở thành buổi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ được người Mường yêu thích Việc học xường, trau dồi rèn luyện vốn xường được trở thành như một chuẩn mực mà mọi người Mường đều phải hướng tới

* Lề lối hát

Trang 35

Xường hát theo một làn điệu Hát xường giao duyên không phải đối giọng, đôi bên nam nữ chỉ đối đáp nhau sát ý, sát lời Nội dung các lời ca được sắp xếp theo một quy định chặt chẽ Hát hết lời này mới được hát lời khác, hát xong chặng này mới được hát chặng sau, hát trọn bậc này mới được hát bậc tiếp theo Nếu hát không đúng quy định, hoặc phá ngang, sẽ bị những điều luật lệ hát hay những điều kiêng kỵ ràng buộc

Thông qua việc tìm hiểu tục lệ, thời gian, địa điểm, cách thức tổ chức

và lề lối hát xường, chúng tôi nhận thấy sự tồn tại và phát triển của xường giao duyên một phần chịu sự qui định của phong tục - một phong tục giao tiếp, sinh hoạt văn hóa văn nghệ có tính thẩm mỹ cao, và phần quan trọng hơn là xuất phát từ nhu cầu văn hóa tinh thần của người Mường Tiếng xường giao duyên làm phấn khích lòng người ở mọi lứa tuổi nam nữ, đáp ứng thỏa đáng ước nguyện bày tỏ, trao gửi tình cảm lứa đôi Tiếng xường lan tỏa cùng với quan niệm dân gian cho rằng đó là thứ "vốn" tinh thần được thần linh ban cho, đã tạo nên một bầu không gian cộng cảm sâu sắc, tạo nên mối liên kết tình nghĩa giữa người với người Có lẽ vì thế mà nhiều người Mường đều nói rằng, khi nghe hát xường con người cảm thấy gần nhau hơn, lòng người trẻ lại và vui vẻ thanh thản, giải tỏa hết mệt nhọc đời thường Điều đó góp phần không nhỏ cho việc nuôi dưỡng và tái tạo những cảm xúc thẩm mỹ và tăng cường sự tái hồi sức sản xuất, nhịp độ lao động trong xã hội nông nghiệp cổ truyền của người Mường

Xường là lối hát giao duyên, nên người hát phải là một bên nam, một bên nữ - con trai chưa vợ, con gái chưa chồng Con trai, con gái Mường trước đây, khi lớn lên đều phải học xường Thực ra, làn điệu xường giao duyên, những lời xường tâm tình không cần đợi đến khi đã lớn, đã đến tuổi yêu, người Mường mới được biết đến mà từ thuở còn nằm nôi, các ông, các bà, các anh, các chị đã rót vào giấc ngủ trẻ thơ Cụ Cao Ngọc Rạng, nghệ nhân xường ở làng Muốt - xã Cẩm Thành - Cẩm Thủy kể lại rằng, từ lúc nhỏ ông

Trang 36

đã được nghe chị gái và các bạn của chị đến nhà ông xường, lúc đó ông còn nhỏ, nằm nghe, nhẩm theo và thuộc được khá nhiều Tiếng xường cứ thấm vào ông dần theo năm tháng, để rồi khi đã là một chàng trai, ông say mê với tiếng xường và đã cùng hội xường đi hát ở nhiều mường bạn Còn các cô gái Mường thì cũng tận dụng mọi cơ hội để học xường, có những tốp năm, bảy

cô khênh khung cửi đến tập trung ở một nhà để cùng nhau vừa dệt vừa giúp nhau học, luyện xường Cuộc sống của người Mường trước đây là tự cung, tự cấp, các cô gái Mường lớn lên đều phải ngồi vào khung cửi để dệt vải Việc dệt cạp váy của các cô gái Mường khá kỳ công và phải có thời gian Vừa giúp nhau mắc go, dệt thổ cẩm, vừa cùng nhau học xường, luyện giọng, người này dạy người kia, rồi có khi lại tự đặt ra những tình huống và bàn nhau nên chọn bài nào hát cho phù hợp, cho hay

Các chàng trai cũng thế, những người cùng trang lứa rủ nhau đến

"ngủ bọn" tại một nhà nào đó để ôn luyện, học xường Do vậy mà hình thành nên những hội xường ở làng Muốt, xã Cẩm Thành (thuộc Mường Trám xưa),

có hội xường họ Cao khá nổi tiếng, bao gồm các cụ: Cao Ngọc Rạng, Cao Văn Vuông, Cao Bình Qui, Cao Ngọc Kim, Cao Văn Tương Thời trai trẻ họ thường đi ra các làng thuộc Mường Khô ngày trước để xường Tuy là hội xường tài ba nhưng có lần gặp phải đối thủ là hội xường nữ làng Bến Sông (nay thuộc xã Lương Ngoại, huyện Bá Thước) họ đã bị thua Nghệ nhân Cao Ngọc Rạng (ảnh in ở phần phụ lục) kể lại rằng: Vào một năm sau hội chùa Mèo ở Mường Khô, ông rủ hội xường quá chân ra chơi với người chị họ, và cũng rủ nhau đi hát xường tại làng Bến Sông Hội xường nữ của làng Bến Sông cùng với hội trai xường làng Muốt đã vào cuộc xường được ba đêm Hai bên ngang sức ngang tài, chưa bên nào chịu thua cuộc, họ đề nghị chơi thêm một đêm nữa để phân giải cao thấp Đêm thứ tư, hội xường nữ làng Bến Sông chủ động đưa ra lối chơi xường đố (xường giải đố)

Xường đố dịch nghĩa là:

Trang 37

Em không đố thì anh là khách

Em không đố thì anh trách em quê

Em đố anh trên trời lấy hoa gì là hoa thứ nhất?

Dưới đất lấy hoa gì làm hoa thứ nhì?

Em đố anh hoa gì nó nở liên kỳ, quanh năm hết tháng

Nó nở ra cả cùng trâu bò?

(Tư liệu sưu tầm của tác giả luận án) Lời xường đố hát xong, các chàng trai cắn môi suy nghĩ không ra, biết các chàng bí, hội xường nữ làng Bến Sông lại ra tiếp lời đố thứ hai:

Dịch nghĩa:

Em phải đố vì anh là khách

Để các anh khỏi trách em quê,

Em đố anh cây song mấy hèo?

Em đố anh cây tre, pheo mấy mắt?

Em đố anh chim chích mấy lông?

Em đố anh chim công mấy đuôi?

Em đố anh đan sọt để gánh phải dùng mấy lạt?

Em đố anh đan cót phải đan mấy hoa?

Em đố anh nhà cun Khô có bao nhiêu bó lúa?

(Tư liệu sưu tầm của tác giả luận án) Với lời đố thứ hai các chàng càng bí, không giải được, họ bàn nhau giả vờ ngủ say Hội xường nữ làng Bến Sông biết rõ điều đó đã phạt bằng cách dùng nước lạnh dội vào người các chàng trai Bí thế, chị chủ nhà hồi đó chính là cố bà Cao Thị Cậu (ảnh chân dung in ở phần phụ lục) - là một người xường giỏi đã đứng ra xin tha hộ, còn các chàng trai thua cuộc đành phải xin

Trang 38

khất đêm mai sẽ giải đố và họ phải nhờ chị chủ nhà ấy giảng giải lời đố để đêm sau các chàng trai lại hăm hở, tự tin đến cuộc xường Và như vậy, một

nghịch lý thường xẩy ra trong các cuộc xường là tuy "thua" mà lại "được" -

bên thua sẽ học thêm được nhiều lời xường hay, học được cả cách đối đáp, ứng xử nghĩa là có thêm được sự nhận thức để mỗi người tự lớn lên, tự hoàn thiện mình

Hát xường giao duyên là một trong những cách bình chọn chắc chắn, công bằng và dân chủ để tìm ra những nam thanh nữ tú, những người hiểu rộng biết nhiều, không những khéo làm mà còn khéo miệng, khéo lời, hát hay

Từ trong những cuộc xường như vậy tài năng của người hát đã được thể hiện rõ, họ được cộng đồng đánh giá và công nhận Tiếng lành đồn xa, những người nổi tiếng về xường thường được người Mường nể trọng, ngưỡng mộ Xường giỏi và hay được xem như là một tiêu chuẩn để kén chọn con rể Cho nên, nếu có cô gái nào đó vì "mê giọng, say lời" mà tự nguyện "chạy theo" một chàng trai xường giỏi, thì cũng được bố mẹ và dư luận chấp nhận Tục lệ cưới xin của người Mường xưa kia rất nặng về lễ thức, họ nói rằng: "Lo được con dâu, sâu mắt mẹ già" (ý nói là lo được người con dâu rất vất vả, tốn kém) Bởi vậy, những chàng trai nghèo không chỉ lo tu chí làm ăn, mà còn tích cực học xường để có cơ hội lấy được vợ, lấy được người mình yêu Đã

có nhiều đôi bạn xường nên vợ, nên chồng, sống với nhau trọn đời hạnh phúc

Nói là xường giao duyên, nhưng trong thực tế khi đã dần dần trở thành một cuộc sinh hoạt văn nghệ, một cuộc thi tài giữa trai làng này với gái làng kia, hay của hội xường làng này với hội xường làng khác thì người hát không chỉ là nam thanh nữ tú mà nhiều khi là có cả người đã có vợ, có chồng, người già cả cũng tham gia Nghe tin có hội trai xường nổi tiếng đến làng, các cô gái trong làng cảm thấy chưa tự tin lắm khi mời họ hát xường, vả lại cũng để

Trang 39

giữ danh dự cho cả làng, các cô phải nói khéo với một bà có giọng xường hay

"nhập bọn" để đối đáp với hội trai xường kia Từ đó mà nảy sinh những câu chuyện vui thật lý thú ở một cuộc xường tại vùng Mường Trám xưa, khi nam

nữ đôi bên đã vào cuộc xường được hai đêm, cuộc hát say sưa, ý tình cứ theo từng bước mà trở nên gắn bó Nữ ngồi gian trong, nam ngồi gian ngoài Từ phía gian trong luôn vọng ra một giọng xường trong trẻo làm rung cảm các chàng trai Trong lòng những mong cùng ước, các chàng vừa cố gắng vận lời lấy giọng cho thật hay, vừa nóng lòng trông trời mau sáng để tìm cách nhìn cho tỏ mặt người con gái có giọng xường hay Trong lòng các chàng trai luôn nghĩ, tưởng tượng người có giọng xường hay ấy chắc sẽ là một cô gái trẻ, đẹp, duyên dáng Nhưng khi trời rạng sáng, các chàng vỡ lẽ đó là một bà già, tuổi đã cao

Xường giao duyên với chức năng xã hội ban đầu là phương tiện để trai gái giao lưu, trao gửi tình cảm, dần dần phát triển nâng cao như một cuộc sinh hoạt văn hóa văn nghệ - một cuộc thi tài năng văn học, nhưng cốt lõi vẫn

là mục đích giao duyên

Các cụ già người Mường nói rằng, hát xường ngày trước không có nhạc cụ Về sau người ta mới tự sáng tạo ra một loại nhạc cụ rất đơn giản gọi

là cái chò rò Nhưng qua quan sát và cảm nhận, chúng tôi thấy rằng, nhạc cụ

ấy không có vị trí nhiều trong cuộc hát, âm thanh của nó dường như bị chìm,

bị khuất, bởi cả người hát và người nghe chỉ chăm chú theo dõi lời ca Trong hát xường, người ta không lo đối giọng, chỉ quan tâm đến việc ứng tác, vận lời để đối đáp cho sát ý, sát lời

Việc hát xường lưu truyền cho nhau theo lối truyền khẩu nên người ta cũng không thể lưu truyền cho nhau về khuôn nhịp, về độ cao thấp của âm giọng, tất cả dường như phụ thuộc vào âm giọng của người hát Xường thuộc loại dân ca có một làn điệu, nhưng bù lại sự đơn điệu về mặt làn điệu là sự phong phú về mặt lời ca Lời hát thường bắt đầu bằng cụm từ "Thương thiết " Câu mở đầu này kéo dài bằng một chuỗi ngân lắng chứa đựng tình

Trang 40

cảm thiết tha, nội dung lời xường thường được hát chậm và trầm từng tiếng như muốn đọng vào tâm trí để nghĩa của nó được người nghe và người hát cảm nhận được Có lẽ vì thế mà nhạc cụ hầu như không có vai trò gì nhiều

1.3.2.2 Mô hình hóa trình tự diễn xướng một cuộc xường

Cuốn sách Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa [42] đã đưa ra một cách

sắp xếp về trình tự diễn xướng một cuộc xường Song, theo chúng tôi cách sắp xếp ấy còn có phần chưa hợp lý, chưa khái quát được cấu trúc nội dung một cuộc xường Nhưng chúng ta không thể tưởng tượng ra một trình tự lôgíc hợp lý, mọi việc phải bắt đầu từ khâu đầu tiên là sưu tầm, thực địa, khảo sát văn bản Trên cơ sở đã có một văn bản do Minh Hiệu cung cấp, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm một văn bản khác để từ đó khảo sát, phân tích và đưa ra một trình tự hợp lý hơn Vì vậy, trước tiên chúng tôi xin giới thiệu cách sắp xếp trình tự một cuộc xường của văn bản xường Thiết ống trong cuốn Tục ngữ dân ca Mường Thanh Hóa

* Cuộc xường giao duyên bao gồm mười hai bậc:

1 Xường chào: Nghe tin có người bạn trẻ ở làng khác đến làng mình,

những người con trai (hoặc con gái) ở địa phương chủ động đến chào, mời bạn cùng hát xường

2 Xường nài: Bên khách bao giờ cũng kín đáo giữ gìn, hoặc để

khiêm tốn, hoặc để thăm dò tài năng của bên chủ Vì thế những người bạn trẻ

ở địa phương phải hát nài cho bằng được

3 Chơi kính nhởi vì: Bên khách đã chính thức bắt đầu hát, nhưng lời

đầu tiên của khách xường lại là những lời cảm tạ chủ nhà

4 Xường "chân đi" và "qua cầu": Gồm nhiều bài, bậc này được coi

chính thức cho cuộc so tài thấp cao của hai bên Người ta vừa thăm dò nhau

về tài năng, vừa thăm dò về tình cảm, thân thế, tình duyên

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1990), "Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu", Tạp chí Văn học, (6), tr. 54-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một phương diện nghệ thuật của ca dao tình yêu
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1990
2. Vương Anh (1995), "Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa", Văn hóa dân tộc Mường, Sở Văn hóa Thông tin, Hội Văn hóa các dân tộc Hòa Bình xuất bản, tr. 208-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa
Tác giả: Vương Anh
Nhà XB: Văn hóa dân tộc Mường
Năm: 1995
3. Vương Anh, Hoàng Anh Nhân (1975), Đẻ đất đẻ nước, Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẻ đất đẻ nước
Tác giả: Vương Anh, Hoàng Anh Nhân
Năm: 1975
4. Vương Anh, Hoàng Anh Nhân (1987), Truyện cổ Mường Thanh Hóa, Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Mường Thanh Hóa
Tác giả: Vương Anh, Hoàng Anh Nhân
Năm: 1987
5. Nguyễn Dương Bình (1974), "Tìm hiểu thành phần người Mọi Bi ở miền Tây tỉnh Thanh Hóa", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 33-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thành phần người Mọi Bi ở miền Tây tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1974
6. Nguyễn Dương Bình (1976), "Một vài đặc điểm của xã hội Mường qua việc tìm hiểu gia phả một dòng họ Lang", Tạp chí Dân tộc học, (3), tr. 39-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm của xã hội Mường qua việc tìm hiểu gia phả một dòng họ Lang
Tác giả: Nguyễn Dương Bình
Năm: 1976
7. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1990
8. Ca dao Việt Nam trước Cách mạng (1963), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam trước Cách mạng
Tác giả: Ca dao Việt Nam trước Cách mạng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1963
9. Chevalier. J và Gheerbrant.A. (1977), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, (Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao... dịch), Nxb Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản, Đà Nẵng - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Chevalier, J, Gheerbrant, A
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1977
10. Nguyễn Từ Chi (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, Nxb Văn hóa thông tin, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
11. Nguyễn Từ Chi (1998), "Người Mường ở Hòa Bình cũ", Người Mường và văn hóa cổ truyền Mường Bi, ủy ban nhân dân huyện Tân Lạc, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Sơn Bình xuất bản, tr. 349-377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường ở Hòa Bình cũ
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 1998
12. Chủ nghĩa nhân văn và văn hóa dân tộc (1996), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân văn và văn hóa dân tộc
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
13. Chùm quả ngọt đầu mùa (2000), Thơ các dân tộc thiểu số Thanh Hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùm quả ngọt đầu mùa
Tác giả: Chùm quả ngọt đầu mùa
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
14. Công tác dân tộc học (1999), Ban Dân tộc miền núi Thanh Hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác dân tộc học
Tác giả: Công tác dân tộc học
Năm: 1999
15. Cuisinier.J (1995), Người Mường, (Hồng Vân dịch), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Mường
Tác giả: Cuisinier.J
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1995
16. Dân ca Thanh Hóa (Nhóm Lam Sơn sưu tầm và giới thiệu) (1965), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Thanh Hóa
Tác giả: Nhóm Lam Sơn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1965
19. Dân ca Thái (Mạc Phi sưu tầm, dịch, giới thiệu) (1979), Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Thái
Tác giả: Dân ca Thái (Mạc Phi sưu tầm, dịch, giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1979
20. Chu Xuân Diên (1981), "Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian", Tạp chí Văn học, (5), tr. 19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1981
21. Chu Xuân Diên (1997), "Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học dân gian", Tạp chí Văn học (9), tr. 22-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn học dân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1997
23. Trần Trí Dõi (1998), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm