1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)

127 435 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tiếp cận từ góc độ văn học dân gian (LV thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THÙY LINH

THEN TÀY Ở LAM VỸ, ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN

- TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN GIAN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hằng Phương

THÁI NGUYÊN - NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên -Tiếp

cận từ góc độ văn học dân gian” là do bản thân tôi thực hiện Các số liệu, kết quả

trong đề tài là trung thực Nếu sai sự thật tôi xin chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hằng Phương người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường Đại học KHXH và NV, Viện văn học đã giúp

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY, THEN TÀY Ở LAM VỸ, ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 6

1.1 Khái quát về dân tộc Tày 6

1.1.1 Vài nét về người Tày ở Việt Nam 6

1.1.2 Người Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên 7

1.2 Một số vấn đề lí luận về Then Tày 15

1.2.1 Khái niệm Then 15

1.2.2 Nguồn gốc Then 16

1.2.3.Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của Then 19

1.3 Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên 21

1.3.1 Vài nét sơ lược về lịch sử phát triển 21

1.3.2 Diện mạo và thực trạng 22

Chương 2 CÁC DẠNG THỨC THEN TÀY Ở LAM VỸ, ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN 26

2.1 Then trong nghi lễ vòng đời người 26

2.1.1 Then bắc cầu xin hoa 26

2.1.2 Then mừng thọ 33

Trang 5

2.1.3 Then tang ma 36

2.2 Các dạng then khác 41

2.2.1 Then kỳ yên 41

2.2.2 Then cấp sắc 50

Chương 3 NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT THEN TÀY Ở LAM VỸ, ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN 58

3.1 Một số nội dung cơ bản 58

3.1.1 Phản ánh hiện thực cuộc sống đa dạng, sinh động 58

3.1.2 Thể hiện ước mơ về cuộc sống no đủ, bình đẳng, hạnh phúc 63

3.1.3 Miêu tả, ca ngợi tình yêu thiên nhiên 74

3.2 Một số đặc điểm nghệ thuật 80

3.2.1 Thể thơ 80

3.2.2 Các biện pháp tu từ 85

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hóa với 54 dân tộc anh em chung sống Mỗi dân tộc ở một vùng miền lại mang trong mình một bản sắc văn hóa độc đáo riêng Chính sự đa dạng về văn hóa này đã tạo nên sự phong phú về bản sắc dân tộc, một bức tranh muôn màu trong nền văn hóa Việt

Nằm trong vùng văn hóa Việt Bắc, nhắc đến Thái Nguyên là chúng ta nghĩ ngay đến những đồi chè xanh ngát với những câu hát trữ tình mượt mà như Sli, Lượn hay Phong slư… đã làm say đắm lòng người bao thế hệ Trong các làn điệu dân ca trữ tình đó không thể không nhắc tới hát Then, một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng độc đáo của dân tộc Tày

Từ lâu nhắc tới hát Then người ta thường nhắc đến những địa danh như Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn… mà Thái Nguyên, một nơi văn hóa Then đã tồn tại từ lâu đời đang và vẫn được sử dụng, lưu truyền thì lại ít được nhắc đến

Định Hóa - Thái Nguyên là thủ đô kháng chiến, ATK - an toàn khu cách mạng năm xưa, là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng Đến với Định Hóa là đến với xứ sở của những làn điệu Then và cây đàn tính âm vang

Đó là nét đẹp đi sâu vào tâm hồn, huyết mạch của người dân nơi đây Then trở thành một món ăn tinh thần quý báu không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của người Tày nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung

Thực tế cho thấy, Then của người Tày ở Định Hóa đã có các nhà nghiên cứu dân gian và các nghệ nhân sưu tầm… nhưng biên soạn thành các công trình nghiên cứu thì hiện nay chưa có một công trình nào đề cập một cách chuyên biệt, hệ thống

Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên là một nơi lưu giữ khá nhiều nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Tày trong đó có hát Then Là người con của mảnh đất Thái Nguyên, chúng tôi mong muốn Then Tày được đông đảo mọi người biết đến

để văn hóa Then sẽ mãi tồn tại như một di sản văn hóa của Việt Nam nói riêng và của

thế giới nói chung Với những lý do đó, chúng tôi lựa chọn “Then Tày ở Lam Vỹ,

Định Hóa, Thái Nguyên - Tiếp cận từ góc độ văn học dân gian” Làm đề tài nghiên

cứu của luận văn

Trang 7

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đặc biệt là từ Hội nghị bàn

về công tác sưu tầm văn hóa dân gian ở miền Bắc (2/1964), văn hóa dân gian của

các dân tộc thiểu số miền Bắc nói chung và ở vùng Việt Bắc nói riêng được các nhà sưu tầm, nghiên cứu đã quan tâm các cuộc đi điền dã, điều tra ở khu vực Việt Bắc và kết quả thu được là những cuốn sách Then viết bằng chữ Nôm, Tày, Nùng lưu truyền ở một số địa phương

Sang những năm 1970 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu Then thực sự được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư cho việc sưu tầm nghiên cứu và viết sách

Cuốn đầu tiên phải kể đến đó là cuốn Lời hát Then của Dương Kim Bội do sở

Văn hóa thông tin Việt Bắc xuất bản 1975 Cuốn sách đã giới thiệu nguồn gốc hát Then, mối quan hệ giữa Then, Mo, Tào, cách diễn xướng Song vì mục đích chính là sưu tầm nên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu về lời của Then, chưa đi sâu vào tìm hiểu nội dung, nghệ thuật

Cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc do nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành

năm 1978 Tập hợp trên cơ sở những bản báo cáo, tham luận của một số nhà nghiên cứu trong Viện văn học sau kết quả của hội nghị Sơ kết công tác sưu tầm nghiên cứu Then Việt Bắc năm 1975 Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện

về các mặt của Then như nguồn gốc loại hình, nghệ thuật diễn xướng, yếu tố tâm linh trong Then…

Sli, lượn, dân ca trữ tình Tày Nùng xuất bản năm 1979 Của tác giả Vi Hồng

là công trình nghiên cứu đáng chú ý về dân ca Trong công trình này, tác giả đã so sánh Then với các hình thức tín ngưỡng dân gian khác và xem xét mối quan hệ giữa Then với Sli, Lượn, từ đó gián tiếp giới thiệu về Then Tuy chủ yếu nghiên cứu về hình thức dân ca trữ tình song tác phẩm cũng có nhiều đóng góp cho công trình nghiên cứu về Then

Trang 8

Bộ Then Tứ Bách của Lục Văn Pảo năm 1996 là cuốn sách thuần túy sưu tầm

những cũng giới thiệu sơ qua về Then, trong đó có quan niệm của người Tày về các loài thú, các loài chim, ngũ cốc và hoa

Công trình “Tìm hiểu yếu tố tín ngưỡng trong lễ hội của người Tày Nùng 1998” và công trình “Then cấp sắc của người Tày” (qua khảo sát ở huyện Quảng

Hòa – Cao Bằng) xuất bản năm 2000 của tác giả Nguyễn Thị Yên đã đề cập đến vấn

đề tâm linh, tín ngưỡng trong Then qua khảo sát thực tế Song, trong cuốn sách này mới chỉ về khảo sát lễ cấp sắc ở một địa phương thuộc tỉnh Cao Bằng

Cuốn “Nét chung và nét riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày

Nùng” của tác giả Nông Thị Nhình xuất bản năm 2004 là một công trình khảo

cứu công phu về âm nhạc Then, tuy nhiên tác giả chưa quan tâm đến tác động của nhạc Then

Cuốn “Then Tày” của tác giả Nguyễn Thị Yên nhà xuất bản văn hóa thông tin

ấn hành là công trình xem xét khá toàn diện về Then Tày như tổng quan về Then, các vấn đề nghiên cứu Then nhưng tác giả đi tìm hiểu chuyên sâu về Then cấp sắc

Bên cạnh đó, có rất nhiều đề tài, luận văn, nghiên cứu khoa học về vấn đề này như:

Đoàn Thị Tuyến với khóa luận tốt nghiệp “Đạo Then trong đời sống tâm

linh của người Tày, Nùng Lạng Sơn” năm 1999, đã quan niệm Then là một thứ

đạo và vai trò của Then trong đời sống tinh thần của người Tày ở Lạng Sơn Tuy nhiên, tác giả mới chủ yếu nghiên cứu Then dưới góc độ xã hội học, phạm vi nghiên cứu còn nhỏ lẻ

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Huệ ở Đại học quốc gia Hà Nội (nghiên cứu Then Tày ở Văn Quan – Lạng Sơn qua trường hợp nghệ nhân Then Hoàng Thị Bình) luận bàn về những yêu cầu cơ bản của một người làm nghề Then

Luận văn thạc sĩ của Hà Anh Tuấn ở Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên

nghiên cứu “Văn hóa tâm linh của người Tày qua lời hát Then” luận văn cho ta

thấy đời sống tâm linh của người Tày trong Then có một vị trí vô cùng quan trong trong đời sống của người Tày

Luận văn của Nông Thị Ngọc ở trường Đại học sư phạm Thái Nguyên với với

đề tài “Then Kỳ Yên của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang – Tiếp cận từ góc độ

Trang 9

văn học dân gian” đã giới thiệu về một vùng Then ở Hà Giang với những nét đặc sắc

của Then Tày ở một địa phương miền núi tiêu biểu

Như vậy, ở từng thời điểm khác nhau, từng giai đoạn khác nhau đã có những công trình nghiên cứu về Then khá công phu và khoa học Tuy nhiên, nghiên cứu về một dòng Then cụ thể từng vùng miền thuộc tỉnh Thái Nguyên từ trước đến nay chưa

có công trình nào chuyên sâu Đây cũng chính là lý do, là tiền đề để chúng tôi tiến

hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên -

Tiếp cận từ góc độ văn học dân gian”

3 Mục đích nghiên cứu

- Mục tiêu chính bao trùm luận văn là tìm hiểu đặc điểm, nội dung nghệ thuật của Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên trên bình diện là tiếp cận từ góc độ văn học dân gian Qua đó phân tích, nhận diện được những nét độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa Tày ở một địa phương cụ thể

- Bước đầu tìm hiểu, lý giải, cội nguồn sức sống của Then trên cơ sở tổng quan văn hóa của dân tộc Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

- Gợi ra hướng bảo tồn, phát huy những nét đẹp vốn có của Then Tày nói chung, trong đó có Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát, thống kê, phân tích giá trị nội dung nghệ thuật Then với tư cách là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

- Trong điều kiện có thể chúng tôi sưu tầm và tìm hiểu về Then và một số loại hình văn hóa tín ngưỡng có liên quan đến đề tài từ các góc độ nhìn nhận, đánh giá

- Bước đầu nêu một số suy nghĩ về bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của Then trong đời sống đương đại trước sự vận động của thời gian, lịch sử, văn hóa, xã hội

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu là những bài hát Then trong quá trình đi điền dã sưu tầm và dịch, chưa được xuất bản

Phạm vi nghiên cứu: Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điền dã văn học: Ngoài những tư liệu về Then ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên đã được các nghệ nhân sưu tầm, chúng tôi còn sử dụng phương pháp điền dã văn học để gặp gỡ với các nghệ nhân, những người yêu quý Then Tày ở

Trang 10

Định Hóa, Thái Nguyên, sưu tầm thêm những bài Then còn lưu truyền trong dân gian

và mở rộng phạm vi tư liệu nghiên cứu

Phương pháp khảo sát thống kê: Dựa trên hệ thống tư liệu đã được sưu tầm, biên soạn, luận văn thống kê những bài Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

để tiện lợi cho việc phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của nó

Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận văn sử dụng phương pháp này để phân tích cụ thể các bài Then Trên cơ sở đó, luận văn tổng hợp vấn đề, rút ra những đánh giá, nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

Phương pháp đối chiếu so sánh: Để phân tích, đánh giá sát thực, thỏa đáng

về giá trị nội dung và nghệ thuật của Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái

Nguyên, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử để soi sáng bằng bối cảnh xã hội,

văn hóa của địa phương lưu truyền

7 Những đóng góp của luận văn

- Là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về những giá trị cơ bản nội dung và nghệ thuật của Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hoá của dân tộc Tày

- Trong quá trình điền dã, khảo sát, nghiên cứu tác giả đề tài đã thu thập được một số lượng nhất định về những lời hát Then sử dụng trong Then bắc cầu xin hoa, Then mừng thọ,Then tang ma ,Then kỳ yên , Then cấp sắc ở Lam Vỹ , Định Hoá , Thái Nguyên

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về dân tộc Tày, Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên và một số vấn đề lý luận

Chương 2: Các dạng thức Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

Chương 3: Nội dung, nghệ thuật Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY, THEN TÀY Ở LAM VỸ, ĐỊNH HÓA,

THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Khái quát về dân tộc Tày

1.1.1 Vài nét về người Tày ở Việt Nam

1.1.1.1 Nguồn gốc lịch sử

Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía đông bắc Việt Nam Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái Cùng với các cư dân Tày Thái khác ,dân tộc Tày là một trong những chủ nhân đầu tiên của nước Việt cổ, lập nên nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng Và cũng là một trong những cư dân lâu đời nhất ở nước ta Trong cuốn

Văn hóa truyền thống Tày Nùng, các tác giả viết: “ Về phương diện cội nguồn lịch

sử, người Tày, người Nùng vốn thuộc chung một nhóm Âu Việt, trong khối Bách Việt mà địa bàn cư trú là miền Bắc Việt Nam và miền Hoa Nam, Trung Quốc [37, tr.22] Người Tày là cư dân thuộc khối Bách Việt đó, như vậy ngay từ buổi đầu dựng nước dân tộc Tày đã là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc anh em

1.1.1.2 Dân số và địa bàn cư trú

Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hóa, với 54 dân tộc anh em sinh sống Trong đó người Tày là một dân tộc thiểu số, có số dân 1.626.392 người, đông thứ 2 ở Việt Nam sau dân tộc Kinh Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lào Cai, tập trung nhiều nhất ở khu vực Việt Bắc (từ miền Nghĩa Lộ qua Yên Bái đến Quảng Ninh) Người Tày làm ruộng, tụ cư trong các thung lũng, cánh đồng ở các thượng lưu sông Kỳ Cùng, Bằng Giang, sông Cầu, sông Lô… Đất phù sa phân bố dọc các thung lũng sông, các bồn địa giữa các núi… tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp nhiều ngành, nhiều nghề Đồng bào Tày vốn cần cù trong lao động, sản xuất Họ có truyền thống làm

Trang 12

ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng lấy nước tưới ruộng

Với các đặc điểm địa lý tự nhiên thuận lợi, dân tộc Tày tại các vùng cư trú ở Việt Nam có điều kiện để phát triển kinh tế to lớn và toàn diện với nền kinh tế nhiều thành phần như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp

Trong xu thế phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc Tày cùng các dân tộc anh em khác như giữ lại được trang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễ hội… không phải là điều dễ dàng Việc bảo tồn và phát huy những nét sinh hoạt độc đáo của người dân tộc đòi hỏi một chính sách nhất quán để họ hiểu nhận thức được vốn quý giá của dân tộc, có ý thức gìn giữ

và lưu truyền qua nhiều thế hệ

1.1.2 Người Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Lam Vỹ là một xã phía Đông của huyện Định Hóa, cách thành phố Thái Nguyên 60km về phía Bắc Lam Vỹ là một xã miền núi thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Định Hóa với vùng núi cao, điều kiện giao thông còn khó khăn Đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp Thiên nhiên bốn mùa ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội cũng như tạo nên những nét đặc trưng riêng về văn hóa vật chất lẫn tinh thần của đồng bào nơi đây

1.1.2.2 Đời sống kinh tế, xã hội

* Dân số

Thái Nguyên là một trong những tỉnh đồng bào Tày có mặt lâu đời Năm 1999 dân tộc Tày có 106.238 người đứng thứ hai trong các dân tộc của tỉnh (chiếm 10,15%) hiện có mặt ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất là ở huyện Định Hóa 41,1% Riêng ở Định Hóa, số xã có 90% người Tày cư trú trở lên đó là: Linh Thông, Bộc Nhiêu, Điềm Mặc, Bình Yên, Tân Hà, Lam Vỹ, huyện Định Hóa

Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên được biết đếm với di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa Diện tích tự nhiên: 52057,4

Trang 13

ha (tính đến năm 2005), dân số toàn huyện có 89 510 người, mật độ dân số 171,24 người /km2

Sinh sống trên địa bàn Định Hóa hiện nay có tám dân tộc trong đó dân tộc Tày chiếm 49,23%, dân tộc Nùng chiếm 3,26%, dân tộc Kinh 34,82%, dân tộc Hoa 1,4% Dân tộc Tày có mặt sớm nhất ở vùng đất này, các dân tộc khác di chuyển đến muộn hơn

Dù có nhiều thành phần dân tộc với những phong tục tập quán, trình độ sản xuất khác nhau nhưng nhân dân các dân tộc Định Hóa luôn đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hi sinh cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương

Trong xã Lam Vỹ có 20 xóm ,với 4.231 nhân khẩu với 1080 hộ Dân tộc Tày chiếm 85 % dân số Dân tộc Tày nơi đây đã gìn giữ được rất nhiều những bản sắc văn hóa độc đáo trong đó có hoạt động Then mà đề tài luận văn quan tâm nên việc tìm hiểu người Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên là một việc làm cần thiết

* Kinh tế

Cũng như người Tày ở vùng Việt Bắc nói chung, người Tày ở Thái Nguyên lấy nông nghiệp trồng trọt với phương thức canh tác ruộng nước kết hợp với gieo trồng trên đất dốc và vườn đồi làm nguồn sống chính Các hoạt động mưu sinh khác như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán, săn bắt hái lượm chỉ là những hoạt động phụ mang tính hỗ trợ hoạt động trồng trọt

Trong nông nghiệp trồng trọt, canh tác ruộng nước là hình thức chủ đạo trong

đó lúa là cây lương thực chính Ngoài ra, các lại hoa màu như ngô, khoai, sắn…là cây lương thực phụ

Về chăn nuôi, cũng như các hoạt động khác, chỉ được xem như những nghề phụ Nhưng trong những năm trở lại đây chăn nuôi mới có cơ hội phát triển và chiếm

tỷ trọng đáng kể trong thu nhập của họ Nhiều mô hình chăn nuôi mới được áp dụng khoa học kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế cao

So với một số dân tộc khác trong tỉnh, thủ công gia đình của người Tày phát triển hơn Tuy họ không có nghề thủ công nào nổi tiếng nhưng sản phẩm thủ công

Trang 14

của họ đẹp và có mặt trong hầu hết các hoạt động mưu sinh và sinh hoạt gia đình của họ

Trong đời sống kinh tế của người Tày ở Thái Nguyên xưa kia săn bắt, hái lượm chiếm đoạt các sản vật sẵn có trong tự nhiên để sinh sống là hoạt động không thể thiếu Các loại muông thú, rau, củ, quả sẵn có trong rừng là nguồn cung cấp thực phẩm cho các bữa ăn, dược liệu để chữa bệnh

Việt Bắc là khu vực buôn bán khá phát triển Các chợ phiên trong khu vực này hình thành khá sớm và có vai trò nhất định trong đời sống kinh tế của các tộc người Các chợ trong vùng thường có phiên họp theo một quy ước thống nhất, ít trùng lặp, được cư dân trong vùng chấp nhận Chợ là nơi mua bán và cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng Ngày nay, việc mua bán nhất là buôn bán nhỏ trong các làng bản người Tày ở Thái Nguyên tương đối phát triển

Về quan hệ xã hội, đơn vị xã hội cơ sở của người Tày vẫn luôn là bản Đó là một đơn vị tụ cư của nhiều dòng họ, lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, có thiết chế tự quản và những chế định riêng

Người Tày ở Thái Nguyên thường tụ cư ở những vụng giáp ranh giữa rừng và ruộng Các bản của người Tày ở đây thường tựa lưng vào núi rừng, hướng xuống thung lũng Mỗi bản thường có địa vực cư trú riêng, bao gồm đất ở, đất canh tác, rừng

rú, sông suối…

Quy mô của các bản Tày vừa và nhỏ, mỗi bản thường chỉ có 20 đến trên dưới

60 hộ gia đình Cá biệt có những bản có quy mô hơn 100 nóc nhà Trong bản đều có nhiều dòng họ cùng chung sống và quan hệ láng giềng được coi là quan hệ chủ đạo

Trong mỗi bản thường có những chòm xóm nhỏ, phân bố tương đối biệt lập, nhưng đều hướng ra cánh đồng hoặc con đường cái chạy qua Trong mỗi bản có những họ là gốc Tày cổ, nhưng cũng có những họ là gốc Kinh bị Tày hóa Mỗi xóm bản đều có một trưởng xóm bản

Chế độ sở hữu của người Tày ở đây gồm hai hình thức: Sở hữu công cộng của xóm bản và sở hữu tư nhân Về sở hữu công cộng bao gồm toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối và tài nguyên trong phạm vi thôn bản Ngoài ra còn có các

Trang 15

công trình công cộng như đường sá, cầu cống, đền miếu….Sở hữu tư nhân gồm tất cả các tư liệu sản xuất:đất đai, nương rẫy đã và đang sử dụng khai thác của mỗi gia đình Ngoài ra còn có các tài sản khác như nhà cửa, các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp, các loại đồ gia dụng…do các gia đình tạo nên

Quan hệ cộng đồng là đặc trưng nổi bật trong các xóm bản của người Tày Người dân Tày trong các xóm bản có những mối liên quan chặt chẽ trong tất cả các khía cạnh của đời sống, từ lao động sản xuất, các quá trình vật chất đến đời sống tinh thần và tôn giáo tín ngưỡng Không chỉ duy trì quan hệ dòng họ, thân tộc, thích tộc, người Tày còn đặc biệt coi trọng tình làng nghĩa xóm Bất kể các công việc quan trong của mỗi đời người (làm nhà mới, cưới xin, tang ma…) đều được coi

là công việc chung của cả cộng đồng Các dịp sinh hoạt cộng đồng đều được coi

là một cơ hội thắt chặt tình đoàn kết gắn bó xóm giềng, thôn bản Thông qua đó,

ý thức về một tộc người càng được củng cố và nâng cao

* Văn hóa, xã hội

Nhà sàn là loại hình nhà có từ lâu đời của đồng bào Tày Người Tày không tính quy mô ngôi nhà bằng chiều rộng mà tính bằng số cột chính, chẳng hạn loại nhà 8 cột, 12 cột, 10 cột, 16 cột…Mặt bằng nhà có dáng hình chữ nhật hay dáng gần hình vuông

Nhà sàn cổ thường có cấu trúc dạng vì kèo ba cột như trước đây thì mỗi vì kèo được bố trí ba cột, hai chéo xà ngang và một bộ vì kèo Với loại nhà này xung quanh thường được bưng bằng ván hoặc bằng phên hay liếp tre, còn mái thì lợp bằng lá cọ Loại nhà sàn này hiện nay không còn phổ biến mà hiện nay loại nhà sàn 6 cột được kê bằng đá tảng, còn các cột khác thì được bố trí theo dạng dấu cột Phần lớn cột nhà sàn được chôn thẳng xuống đất, ngày nay nhiều nhà đã dùng đá để kê chân cột nhưng vẫn để một cột không kê mà chôn thẳng xuống đất, đồng bào quan niệm sự hòa hợp nối tiếp giữa âm và dương để cho mọi người trong nhà luôn được thuận hoà, mạnh khỏe

Y phục của người Tày xa xưa được may từ vải sợi bông hoặc tơ tằm do đồng bào tự dệt Đồng bào Tày thường nhuộm vải màu chàm để may quần áo

Trang 16

Quần áo nam nữ, trẻ em và người già đều mặc màu chàm và hầu như không thêu hoa văn trang trí

Y phục của nam giới có áo dài năm thân buông vạt trùm qua cạp quần, đến đầu gối, thân trước bên trong ngắn hơn bên ngoài, có 5 cúc cài sang nách phía phải, có túi

ở hai vạt trước Quần ống rộng, cạp rộng nhưng không có dải rút, ống chùng đến mắt

cá chân, đúng kiểu chân què, giống quần của nam giới người Kinh

Y phục nữ áo dài năm thân giống nam giới nhưng chùng đến mắt cá chân, được thắt eo, tay áo nhỏ hơn, cổ tròn ôm khít Khi mặc áo dài chị em thường đeo vòng cổ, vòng tay, vấn tóc, thắt lưng, phụ nữ mặc áo dài như được tôn cao hơn Họ thường mặc áo dài trong các dịp lễ, tết hội, đình đám… Quần phụ nữ ống nhỏ hơn quần nam giới, phụ nữ Tày đi giày vải, thân giày làm bằng vải, đế làm bằng mo cau hoặc mo tre khâu lại nhiều lớp làm đế

Với bản sắc là cư dân nông nghiệp, người Tày có tập quán ăn cơm Lương thực gồm gạo nếp, gạo tẻ, ngô, khoai, sắn…Trước hết từ gạo, đồng bào chế biến thành cơm, cháo, bánh…Trước đây, người Tày ăn xôi nếp là chính Các loại bánh làm từ gạo nếp

là những lễ vật đòi hỏi phải có trong một số nghi lễ như cúng tổ tiên, cưới xin Ngày nay người Tày ăn cơm tẻ là chính , cơm tẻ đôi khi được nấu độn với ngô ,khoai ,sắn

Về nguồn thực phẩm: chủ yếu là các sản phẩm chăn nuôi như gà, lợn, vịt… các loại rau trồng quanh nhà hoặc trên nương như: rau cải, rau bò khai ,rau rớn …

Phụ nữ Tày biết làm nhiều loại bánh chế biến từ gạo, sắn, khoai Các loại bánh thường được làm vào dịp tết như bánh chưng Tày, bánh dầy, bánh lẳng, banh gio, bánh ngải…

Bánh chưng Tày gói bằng lá dong, tròn hoặc dài luộc kĩ, khi ăn bóc vỏ lá rồi thắt từng lát, có thể rán Bánh trứng kiến làm câu kì hơn, khoảng tháng 3 âm lịch tìm bắt các tổ kiến để lấy trứng làm bánh, bánh được gói bằng lá vả non, ăn bùi và ngậy

Đồng bào Tày ở Định Hóa còn biết lấy các cây thảo mộc để làm hương liệu và màu sắc chế biến các món ăn như cây cơm nếp, dùng lá cây sau sau năm màu để tạo thành xôi ngũ sắc (xanh, đỏ, tím, vàng, đen)

Trang 17

Đồ uống của người Tày ở Định Hóa có thể chia làm hai loại: nước uống thông thường và nước uống có chứa các chất kích thích Nước uống thông thường có nước chè và nước đun sôi với lá cây rừng Nước uống có chứa các chất kích thích gồm rượu ngâm với các cây thuốc nam

Quan hệ giữa những người dân ở đây mang tính cộng đồng cư dân miền núi, họ cùng nhau hợp sức làm những công việc lớn như đắp đập, làm mương, làm đường sá, săn bắn bẫy thú, bảo vệ mùa màng Khi gia đình có việc lớn họ giúp đỡ lẫn nhau (như làm nhà, khi có việc tang, đến giúp công việc mang theo

cả rượu gạo…Khi tổ chức lễ hội cả bản cùng chung vui) Những phong tục tập quán trên mang ý thức cộng đồng sâu sắc, tính đoàn kết, truyền thống cộng đồng

đã làm cho họ có sức mạnh chống chọi với thiên nhiên, tồn tại và phát triển

Người Tày sống tình cảm, chân thành và trọng nghĩa, thành ngữ người Tày có câu “Lạc may tẩn, lạc cần rì” có nghĩa là “Rễ cây ngắn, rễ người dài” Người Tày rất quý khách, hiếu khách, khách đến nhà bao giờ cũng được đón tiếp lịch thiệp, chu đáo, như khách quý đến nhà, được mời uống rượu, mời ăn cơm Cơm khách thường được

lo rất chu đáo có rượu thịt, nếu khách ở lại có chỗ nghỉ ngơi chu đáo

Người Tày có quan hệ quảng giao Họ có tục kết bạn (kết tồng) đây là nét đẹp trong văn hoá của người Tày Hai người không phân anh em, họ hàng, mến nhau kết bạn làm tồng Bạn tồng có thể cùng tuổi, hợp nhau về cảnh ngộ, chí hướng Để kết tồng phải có một bữa tiệc đính ước và công bố với người thân của nhau Ngày xưa, người ta thường dùng tiết gà pha vào rượu rồi cùng uống thề sẽ thề kể từ lúc nhận nhau làm bạn tồng các bạn tồng coi bố mẹ bạn như bố mẹ mình, khi chết phải để tang, bạn tồng giúp đỡ nhau khi khó khăn, chung vui những điều mừng, san sẻ cho nhau tiền của vật chất như anh em

Tín ngưỡng của người Tày từ xa xưa thờ đa thần xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, muôn vật muôn loài đều do Pụt Luông – Ngọc Hoàng tạo ra và đều có linh hồn

Người Tày thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ trong nhà, người Tày cũng thờ Táo quân Họ gọi Táo quân là “phi vằn phầy”, quan niệm phi cằn phầy là vị thần bảo

Trang 18

vệ người và gia súc, coi việc quản lý hộ khẩu trong gia đình Vị thần này được thờ cạnh bếp, ban thờ đơn giản có khi chỉ là một ống bương được dán giấy xanh đỏ để thắp một nén hương Các gia đình có việc thường cầu khấn cho thần bếp biết việc sinh nở, bệnh tật, ốm đau, hay mọi chuyện buồn vui trong gia đình… Hàng năm, ngày 23 tháng chạp cũng làm lễ tiễn ông Táo về trời Sáng ngày mồng một đầu năm thì lại đón ông Táo về, họ cũng có tục cúng cá chép, sau đó thả chúng ra sông, suối giống như người Kinh

Bếp trong đời sống của người Tày gắn bó và thiêng liêng Đồng bào thường giữ lửa cháy suốt ngày đêm, mùa đông cho tới mùa hè Bếp không chỉ là nơi phục vụ sinh hoạt vật chất mà còn là nơi gia đình bàn bạc, quyết định nhiều vấn đề quan trọng

… Vì vậy bếp “Táo quân” trong ý thức tâm linh của người Tày được quan niệm là linh thiêng trong đời sống của họ

Trong gia đình người Tày có rất nhiều bàn thờ Ngoài thờ cúng tổ tiên, họ còn thờ trời đất, thổ công, bà mụ, thần nông, thần chăn nuôi…phổ biến nhất là thờ Ngọc Hoàng Hàng năm trước tết nguyên đán, các bàn thờ được quét dọn và các dụm

cụ lao động trong gia đình được dán lên một mảnh giấy đỏ Ngày mồng 10 tháng giêng hàng năm, người Tày cùng với các dân tộc anh em sinh sống ở Định Hóa lại tổ chức lễ hội Lồng Tồng tại xã Phú Đình (Định Hóa, Thái Nguyên ) Lồng Tồng theo tiếng tày nghĩa là “xuống đồng” Đây là một lễ hội truyền thống đặc sắc của bà con vùng cao được tổ chức sau một năm vất vả với công việc đồng áng, để mừng thành quả lao động đã đạt được của mình, đồng thời tạ ơn trời đất, thần linh, tổ tiên và cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhà nhà no ấm, hạnh phúc

Sau lễ cầu mùa có phần hát múa, hát Then, hát Phong slư, Lượn, Ví…và các trò chơi như tung còn, kéo co, bắn nỏ…

Việc cưới xin là một sự kiện hết sức quan trọng trong đời sống của người Tày Hôn nhân một vợ một chồng, việc cưới xin là một trọng những việc hệ trọng

Điều đặc biệt trong đám cưới của người Tày có hát quan lang Hát quan lang trong đám cưới người Tày mang bản sắc rất độc đáo bởi vì người ta đều dùng lời ca,

Trang 19

hình tượng ví von rất giàu chất trữ tình để thực hiện các nghi lễ đối đáp giữa nhà trai

và nhà gái Nó mang tính sinh hoạt văn hóa cộng đồng bởi các nội dung của hát có chất thi pháp, có vần điệu đồng thời chứa đựng những giá trị về đạo đức lối sống, không chỉ răn dạy cô dâu, chú rể mà nó còn có ảnh hưởng đến người có mặt tại lễ cưới Chính lẽ đó mà các bài hát quan lang có sức sống truyền từ đời này sang đời khác, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc ví dụ như hát chào hỏi

Tôi ở bản nhỏ đi đến đây Nghe nói bản lớn có giống tốt Tôi đến nhà xin được mang về

Để nhà tôi sinh sôi giống nòi

Hát cảm ơn, xin trải chiếu, mời trầu… Nghi lễ trong đám cưới của người Tày khá cầu kì nhưng quan niệm của họ là thiếu nó cô dâu, chú rể sẽ khó có được một cuộc sống hạnh phúc và các vị thần phật lòng, không chỉ những người trong nhà gặp phải những điều xui xẻo mà việc sinh nở hay cuộc sống gia đình của cô dâu sẽ không tránh khỏi những điều bất trắc

Đám cưới của người Tày với những nghi lễ chặt chẽ, thông qua làn điệu hát quan lang để đối đáp, giao tiếp, là một truyền thống tốt đẹp giàu tính nhân văn Ẩn sâu trong những lời lẽ bình dị, khiêm nhường là những ý tứ sâu sa, sắc sảo, chứa đựng tính giáo dục sâu sắc Thông qua làn điệu quan lang, thanh niên nam nữ dân tộc Tày một lần nữa được thấm nhuần hơn nữa về ý thức cộng đồng, hiểu được trách nhiệm đối với gia đình và khát vọng vươn lên sống tốt đẹp hơn trong cuộc sống Đám cưới chính là sự thừa nhận của hai cộng đồng, bản làng xóm giềng đối với cuộc hôn nhân của đôi nam nữ

* Văn học nghệ thuật

Dân tộc Tày có một kho tàng văn học dân gian khá phong phú và đa dạng với các thể loại dân ca như Lượn, Phong Slư, Then… Cho đến các loại hình truyện như truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện kể địa danh ,ca dao, tục ngữ, câu đố Vốn quý báu trong kho tàng văn học đó đang được các nhà nghiên cứu sưu tầm, lưu giữ như một niềm tự hào của người Tày

Trang 20

Trong xã hội hiện đại ngày nay nghệ thuật dân gian được thể hiện qua các lễ hội truyền thống hay trong sinh hoạt văn hoá tâm linh như hát Then Có thể nói người Tày có một đời sống văn hoá tinh thần phong phú giàu bản sắc Chính điều đó là những cơ sở cần thiết , là tiền đề cho chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Một số vấn đề lí luận về Then Tày

1.2.1 Khái niệm Then

Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm ca nhạc, múa và diễn trò Theo người Tày, Then được hiểu là Thiên, chỉ trời Về nguồn gốc có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần cùng nhận định: hát Then có xuất xứ từ Cao Bằng khi nhà Mạc thất sủng Hầu hết trong các lễ cúng của người Tày đều có hát Then hát Then không chỉ đơn thuần là một loại hình âm nhạc hay diễn xướng dân gian mà có sự gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng Then là gì cho đến nay những người yêu thích nghệ thuật Then, ngay cả những người làm Then cũng chưa định nghĩa được thật rõ ràng về Then Nhưng tất cả những cách giải thích đều đi đến khái niệm chung thống nhất

- Cuốn “Mấy vấn đề về Then Việt Bắc” (Nhiều tác giả) trong bài viết của ông

Nông Văn Hoàn lại cho rằng “Then là tiên (có nơi gọi là sliên) là người của trời Họ

là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương” [33, tr.147]

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Then là một lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra

thế giới theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt NamNgười làm nghề cúng bái (thường là nữ )ở vùng các dân tộc thiểu số nói trên, bà Then làm mo, làm then Loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm đàn hát, múa gắn liền với tín ngưỡng các dân tộc thiểu số nói trên, hát Then múa Then [41, tr.931]

Dương Kim Bội trong cuốn “Lời hát Then” quan niệm về then : Cho dù chưa

có cách định nghĩa, giải thích một cách thỏa đáng, cứ coi nó như một danh từ dùng để chỉ một loại hình mê tín [6, tr.10]

Ông Nông Đình Tuấn cho rằng “Then là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của hai dân tộc Tày – Nùng, được quần chúng giải thích” [33, tr.12]

Trang 21

“Về bản chất, Then và Pụt như nhau, đều là hình thức Shaman bản địa, nghi lễ tương tự, cùng thờ phật và Quan âm và chịu ảnh hưởng của Đạo giáo dân gian” [33, tr.511]

Qua các công trình nghiên cứu về Then ở trên, chúng tôi thấy Then là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian, tiêu biểu của dân tộc Tày, nó không chỉ chi phối đời sống tâm linh của người dân, mà còn để lại những dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa nghệ thuật của dân tộc Tuy nhiên, trong giới hạn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu khái niệm Then với tư cách là một loại hình sinh hoạt văn hóa của người Tày Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu và qua khảo sát thực tế, chúng tôi có thể hoàn chỉnh cách hiểu về Then như sau:

Then là một hình thức văn hóa tìn ngưỡng có từ xa xưa trong đời sống của người Tày Người Tày sáng tạo ra Then nhằm mục đích giải tỏa những băn khoăn lo lắng khi nhận thức của họ còn hạn chế và gửi gắm vào đó những ước mơ khát vọng sống Then thường được trình bày trong các sinh hoạt mang tính lễ nghi, tín ngưỡng như: cầu có con nối dõi, cầu thành đạt giỏi giang… Nội dung Then phản ánh hiện thực xã hội của người Tày xưa Nghệ thuật Then là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, múa, hội họa và lời ca trong một môi trường diễn xướng đậm màu sắc tín ngưỡng linh thiêng của con người

1.2.2 Nguồn gốc Then

Hát Then là một thể loại ca nhạc tín ngưỡng của người Tày, Nùng mang trường ca, mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc Hoàng giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ

Như chúng ta biết, Then là một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian có từ lâu đời của người Tày Then có từ bao giờ ? câu hỏi vẫn chưa có một đáp

án chính xác Nhưng qua tìm hiểu thực tế ở địa phương và tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian chúng tôi có một số ý kiến khác nhau liên quan đến vấn đề nguồn gốc của Then

Thứ nhất, theo Dương Kim Bội, trong dân gian chủ yếu là các nghệ nhân trên dưới

80 tuổi giải thích Then bằng một số giải giai thoại khác nhau [6, tr.11- 13]

Trang 22

Then có từ thời vua Lê, trung tâm và nơi xuất xứ của Then là ở Cao Bằng Vua

Lê ngày xưa có một thời đem quan quân lên đóng ở Cao Bằng để dẹp loạn, quan quân hầu hết là người miền xuôi, do không hợp với thủy thổ, thời tiết khắc nghiệt ở vùng này, nên một số quan quân bị ốm và con số này tăng lên đến hàng ngàn người Trước tình hình ấy, phần vì nhớ nhà xa quê hương, phần vì trách lệnh trên Trước tình hình bệnh tật ngày càng gia tăng, nên một số người đã bày ra cách làm then bằng thể song thất (thể thơ phổ biến trong dân ca, Sli, Lượn của dân tộc Tày – Nùng; với nhạc cụ đệm là cây đàn tính ) Ngày đó họ sáng tác bằng con đường truyền khẩu, có thể coi bản Then đầu tiên gồm ba phần chính: Tứ quý (tả cảnh bốn mùa) Bách điểu (nói về trăm loài chim), tình ca (nói về tình yêu trai gái) Từ khi nghe được những lời hát Then, quan quân tự nhiên khỏi bệnh, vua Lê ra lệnh cho nhóm người này truyền bá và phổ biến một cách rộng rãi trong đám quan quân này để chữa bệnh Then có từ thời nhà Mạc (nội dung giống giai thoại kể trên)

Then có từ Cao Bằng, từ thời nước ta hàng năm phải cử người mang lễ vật sang cống nạp vua Tàu Lời ca trong Then là do một phường hát chuyên nghiệp của cung đình theo quan đi sứ sang Trung Quốc Giai thoại này giải thích tương đối hợp lí một số chương đoạn trong nội dung lời ca như Khảm hải, Bắt phu…

Cả ba giai thoại trên, qua cân nhắc kĩ nội dung các bản sưu tầm được chúng tôi khó chấp nhận một trong ba giai thoại trên Nhưng có một điều thống nhất cả 5 tỉnh trong khu Việt Bắc là Then có từ Cao Bằng, về âm nhạc rõ ràng then ở Cao Bằng giàu nhạc điệu hơn cả Qua nội dung một số chương đoạn trong Then, một số chi tiết nhất quán như Then Plây slử (đi sứ), Khảm hải (vượt biển), Pắt phu phen (bắt phu phen) chúng tôi thấy có nhiều yếu tố lịch sử khá lâu đời Như vậy phải chăng từ thời bắc thuộc, Then đã có mầm mống sơ khai?

Tác giả Nông Văn Hoàn trong cuốn “Mấy vấn đề về Then Việt Bắc” cho rằng

cần tìm hiểu thêm về nguồn gốc Then Then có từ lâu đời, từ thời xa xưa Song qua các giai thoại lưu truyền ở Cao Bằng thì nhiều ý kiến cho rằng Then có từ thời Lê, Mạc (tức cuối TK XVI đầu TK XVII) khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng, đánh lại nhà Lê Hiện nay ở Cao Bằng còn lưu giữ tài liệu chép tay nói về hai ông Bế Phùng người làng Đán Vạn (Hòa An) và ông Hoàng Quỳnh người Trùng

Trang 23

Khánh, Cao Bằng, cả hai ông đều làm quan cho nhà Mạc và đặt ra Then Vua thấy Then múa hát làm cho vua được vui vẻ, khỏe mạnh hơn, bèn truyền cho phổ biến trong dân, dần biến thành thứ cúng lễ, cầu khấn để khỏi bệnh và đạt ước vọng Tuy nhiên ngoài những tài liệu trên hiện nay cũng chưa có một tài liệu cụ thể nào khác

Thứ ba, ý kiến của tác giả Triều Ân và nhà văn Vi Hồng lại nhìn nhận về

nguồn gốc của Then theo một cách hiểu khác Trong cuốn “Then Tày những

khúc hát” Triều Ân đưa ra kết luận “Cây đàn và lời hát Then của dân tộc Tày đã

có từ rất lâu, từ khi tổ tiên ta có nhu cầu sinh hoạt văn hóa” “Hát Then là loại hát thuộc về thờ cúng (Chant Culteel) mà thờ cúng với bất cứ dân tộc nào cũng

có từ rất sớm, theo vũ trụ quan, vạn vật hữu linh của họ” [2, tr.9]

Nhà văn Vi Hồng cho rằng, Then có nguồn gốc rất xa xưa từ khi người Tày cổ vẫn còn sử dụng “những khúc hát đưa linh” để được tiễn linh hồn người

đã khuất về nơi an nghỉ Các tác giả Dương Sách, Hoa Cương trong cuốn “Văn

hóa dân gian Cao Bằng” đều cho rằng: Then và cây đàn tính của dân tộc Tày có

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng những tài liệu trên cũng chỉ có giá trị tham khảo, cần phải tìm hiểu thêm về nguồn gốc Then Nhưng theo thời gian Then được hoàn thiện dần và mang tính thẩm mĩ của nhiều thế hệ người Tày Hình ảnh trong Then rất gần gũi với đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của đồng bào Tày, vì thế, Then luôn sống mãi trong tâm hồn, tình cảm của họ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong những ngày quan trọng của gia đình, làng bản Ngày nay, chúng ta được thưởng thức tiếp cận văn bản Then đã hoàn chỉnh và mang tính thẩm

mĩ cao nhưng vấn đề có liên quan đến nguồn gốc của Then vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu

Trang 24

1.2.3.Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của Then

Trong đời sống xã hội của người Tày, Then có nhiều giá trị văn hoá: Then phản ánh hiện thực xã hội Tày ở các giai đoạn lịch sử, phản ánh thế giới tâm linh của người Tày, Then thể hiện ước mơ và một cuộc sống về một xã hội công bằng Trong Then cũng phản ánh các giá trị gia đình truyền thống của người Tày, sự đa dạng của văn hoá Tày, đồng thời Then cũng tích hợp những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng của người Tày tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi trường diễn xướng mang đậm màu sắc tâm linh, thông qua các thể loại độc tấu, song tấu, hòa tấu, hỗn tấu cùng cây đàn tính

Dưới đây, chúng tôi đề cập một phần giá trị văn hóa đặc sắc của Then Tày

Ra đời trong dân gian, gắn với đời sống của dân gian nên lời hát Then là sự phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi mà trước hết là môi trường tự nhiên- xã hội của người Tày Chúng ta có thể nhận thấy làng bản và cuộc sống sinh hoạt lao động sản xuất của người Tày hiện lên rất quen thuộc trong các câu Then:

“Những cánh đồng xanh mát đầu bản có giếng nước nguồn, trên cánh đồng có nơi

thả vịt, dưới sối có đàn cá nhởn nhơ bơi lội”

Then cũng gắn liền và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của

người Tày Một số thầy Then đã sơ đồ hoá con đường lên mường Trời của họ mà qua đó mường Trời hiện lên chẳng khác gì mường Đất Trong Then ta bắt gặp hình

ảnh của trần gian qua con đường của quân Then lên mường trời Cảnh vật, rừng núi, chim muông, sông suối, chợ búa buôn bán làm ăn chẳng khác gì dưới trần gian Nhiều chương, đoạn trong lời hát Then đã miêu tả khá sinh động về một không gian miền núi đầy chất hoang dã như thuở khai thiên lập địa Núi rừng âm u hiểm trở nhiều thú hoang, ve kêu, vượn hú, đường đi lại khó khăn, lên thác, xuống

ghềnh Lễ vật mà họ đang cúng tiến mường Trời là những sản vật do họ tự nuôi

trồng, săn bắt, hái lượm được

Trong lễ cấp sắc của người Tày, lễ kỳ yên đầu năm, lễ chúc thọ cha mẹ , Then đã để phản ánh tâm tư, nguyện vọng, những mong muốn rất bình dị của người nông dân: Có thóc gạo, trâu bò, gà vịt đầy nhà; cha mẹ già trường thọ; gia đình hoà

Trang 25

thuận yên vui, con cái hiếu thảo trưởng thành; người làm nghề cúng bài thì được linh nghiệm, được dân làng tín nhiệm mang lại vẻ vang cho gia tộc

Bên cạnh đó, trong Then còn có nhiều nội dung phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người Bên cạnh đó Then còn có những bài học về đạo đức giáo dục con người qua những hình tượng nhân vật được xây dựng qua những bài hát Then đó là tình nghĩa vợ chồng thuỷ chung, con cái hiếu thảo với cha mẹ hay chuyện đối nhân xử thế của con người trong gia đình, trong

xã hội, chuyện mẹ chồng nàng dâu, chuyện tranh vợ cướp chồng, chuyện trai đần trai giỏi, gái lười gái chăm Với ý nghĩa răn đe, nêu gương, giáo dục người đời Then cũng thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc đó là ca ngợi tình thương giữa con người với con người Then bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc với những con người sinh ra đã gặp bất hạnh , kém may mắn như người tật nguyền hay người mồ côi Then cũng đề cao khát vọng con người được tự do yêu đương , phê phán nạn ép duyên qua hình tượng con ve sầu Qua Then người ta cũng phê phán một xã hội còn nhiều bất công ngang trái, kẻ có quyền thế bắt nạt ‘‘dân đen’’

Văn học trong Then được biểu đạt bằng ngôn ngữ Tày, song trong từng câu, từng đoạn có nhiều chỗ xen kẽ tiếng Việt, tiếng Hán Thơ ca trong Then là loại thơ tự

sự, kể lể, có tích truyện Thể thơ phổ biến là 5 đến 7 chữ, cũng có câu dài hơn, tức là thể thơ không gò bó mà tùy thuộc vào nội dung bài hát để diễn đạt sao cho có vần điệu Ngôn ngữ trong Then là hình thức biểu hiện trực tiếp sắc thái tâm lý và lối tư duy của người Tày với nhiều ý nghĩa sâu sắc Trong Then đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Tày, đồng thời vận dụng linh hoạt, tài tình ngôn ngữ nhiều dân tộc như Nùng, Kinh, Hán Người Tày biết chon lọc những nét đẹp trong văn hoá của dân tộc khác và gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc mình

Có thể nói, Then hội tụ những giá trị văn học dân gian truyền thống của người Tày với các thể loại truyện kể, truyền thuyết, các câu thành ngữ, tục ngữ đã được chau chuốt, gọt giũa mà qua đó đã làm sáng tỏ được nhân sinh quan và quan niệm về đạo đức của người Tày Điều quan trọng ở đây là thông qua việc phê phán, khuyên răn, ca ngợi thực tiễn cuộc sống bằng hình thức diễn xướng hát có đệm đàn, Then đã đạt được hiệu quả tích cực trong giáo dục con người mà không phải hình thức tuyên

Trang 26

truyền nào cũng làm được Đó cũng là những giá trị ưu việt của Then mà không thể phủ nhận

1.3 Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên

1.3.1 Vài nét sơ lược về lịch sử phát triển

Then là một nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh của người Tày Khi vui người ta mời Then, khi nhà có chuyện mời Then, người có bệnh mời Then, người hiếm muộn mời Then Then không thể thiếu trong đời sống tinh thần và tâm linh của người Tày nơi đây và nó trở thành một trong số tín ngưỡng đặc thù của cộng đồng

Theo quan niệm của người Tày cũng giống như một số dân tộc khác của Định Hóa, Thái Nguyên, thì con người sinh ra đều có hồn vía…Họ cho rằng ốm đau, bệnh tật là do một hay nhiều vía bị mất hoặc tách rời khỏi cơ thể…Vì thế, người làm Then phải trình diễn các điệu hát múa qua các câu Then để xin vía về đoàn tụ với cơ thể con người, phục hồi lại sức khỏe cho người bệnh và mang lại cuộc sống bình yên may mắn cho gia đình

Theo quan niệm của người Tày có ba tầng trời, trần sao âm vậy và họ tin khi tiếng đàn tính cùng lời hát Then cất lên là lúc các ông Then bắt đầu cuộc hành trình với những đường Then dẫn quan quân đi khắp ba tầng trời Trong tầng Then Thống đắm (đưa người chết về Mường trời) hay Then cấp sắc, cầu Hoa…đều thể hiện rất

rõ quan niệm ấy Qua lời Then, người nghe có thể biết được quan quân của Then đã

đi đến đâu trên Mường trời Lời Then cũng chỉ rõ đặc điểm của từng bản khi ở Mường trời nơi quan quân Then đang qua Điệu Then khi trầm khi bổng, đôi lúc sôi động gấp gáp kết hợp với động tác mô phỏng cùng với tiếng hò reo tạo khí thế quyết tâm của quan quân Then, đồng thời xuất hiện các yếu tố thiêng

Then người Tày quan niệm rằng đầu năm mới phải mời Then về làm lễ Thứ nhất là để tẩy uế, xua đuổi những tà ma còn sót lại của năm cũ, thứ hai là để cầu mong, cầu chúc một năm mới được bình an, mạnh khỏe, còn lễ Lẩu Then là lúc ông Then, bà Then được tăng thêm thứ bậc, các lễ làm Then này ở các làng bản của Định Hóa, Thái Nguyên thường được tổ chức hàng năm

Trang 27

Mỗi khi trong bản có một gia đình nào đó làm Then, cho dù bận đến đâu người

ta cũng thu xếp công việc để tối đến xem, Một nghi lễ Then trong phạm vi gia đình thường diễn ra từ khoảng 20h tối hôm trước kéo dài cho đến 8 -9h sáng hôm sau Riêng Then cấp sắc (Lẩu Then) thường kéo dài hơn từ một đến hai ngày tùy vào gia chủ Chủ nhà hôm ấy phải trải chiếu trong nhà, ngoài sàn để đón tiếp những vị khách hàng xóm, láng giềng Nếu là lễ cấp sắc (Lẩu Then) thì đó lại là ngày hội lớn của cả bản, cả làng

1.3.2 Diện mạo và thực trạng

Trên địa bàn huyện Định Hóa có hai dòng Then Dòng Then thứ nhất là Then

cổ được một số ít nghệ nhân và những người làm nghề Then lưu giữ hành nghề và truyền dạy đang có nguy cơ bị thất truyền Trong đó có Then Kỳ Yên có nội dung chủ yếu là cầu chúc, chữa bệnh Lễ cầu Yên được tổ chức vào dịp cuối năm hoặc đầu năm tùy vào nơi để thiết đãi tổ tiên cầu mong tổ tiên phù hộ …Còn dòng Then thứ hai là Then lễ hội là khúc hát khích lệ tinh thần mọi người thêm vui vẻ, xua tan phiền muộn, cực nhọc, vất vả của cuộc sống để thỏa mãn ước vọng về cuộc sống đầy đủ Loại Then lễ hội thường được sử dụng trong các nghi lễ Lễ cầu mùa, lễ vào nhà mới,

lễ cấp sắc …

Ngày nay, sống trong xã hội văn minh hiện đại, các hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật phong phú hơn với nhiều hình thức khác nhau, nhưng Then vẫn tồn tại trong đời sống văn hóa tinh thần của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên

Không chỉ ở làng quê, mà cả ở thị trấn, không chỉ những nhà giàu mà cả những nhà nghèo…vào những dịp lễ tết đến xuân về, nhiều gia đình vẫn mời Then về nhà làm Có khi để cầu an, giải hạn,nhưng có khi chỉ là sinh hoạt đầu năm để thỏa mãn một nhu cầu, một sở thích, một thói quen đã ăn sâu vào tâm linh của họ Chỉ sau khi làm Then họ mới thấy yên tâm, tinh thần thoải mái

Trải qua năm tháng, Then vẫn tồn tại trong cuộc sống sinh hoạt của người Tày

ở Định Hóa như một minh chứng cho sức sống trường tồn của tinh thần dân tộc và bản sắc dân tộc

Trang 28

Người ta mê Then vì nhiều lí do nhưng trước hết là ở sức lôi cuốn đầy linh thiêng của lễ nghi, hơn nữa nó phù hợp với phong tục tập quán và cuốc sống của người dân miền núi Hình ảnh cộng đồng người Tày quây quần nghe hát trong đêm khuya thanh vắng là một hình ảnh đẹp ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu ở Lam vỹ ,Định Hoá Then làm mọi người xích lại gần nhau hơn

Người Tày sống gần gũi với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên nên không tránh khỏi phụ thuộc vào tự nhiên với bao thiên tai, hạn hán, sâu bọ, dịch bệnh, v.v.Chính điều đó khiến người dân miền núi nói chung trong đó có người Tày nói riêng không tránh khỏi sự sùng bái tự nhiên, tin tưởng vào các thế lực tự nhiên thần linh và ma quỷ Một trong những biểu hiện rõ nhất là hiện tượng chữa bệnh bằng biện pháp tìm hồn vía lạc Sự thiếu hiểu biết về khoa học cùng những bế tắc trong việc chữa trị bệnh tật đã khiến người dân hoàn toàn phó thác sinh mệnh cho các lực lượng siêu nhiên:

ốm đau do hồn lìa xác , bị hoạn nạn là do tổ tiên quở trách, phụ nữ chậm sinh nở hoặc trẻ em ốm yếu, hữu sinh vô dưỡng là do thờ phụng Mẹ Hoa không đến nơi đến chốn, v.v Ngày nay trình độ khoa học phát triển cao cùng với các tiến bộ về y học đến với từng thôn bản người Tày nhưng không phải đã hết người còn tin vào những phép màu của Then Điều đó nói lên rằng trong quá khứ việc cúng bái nói chung và cúng chữa bệnh trong Then nói riêng đã từng được coi là một giải pháp cứu cánh trong quan niệm của người dân

Vì những lý do trên, Then ít nhiều đã hình thành trong quan niệm của một số người dân nhất là ở lớp người cao tuổi tư tưởng thần thánh hoá vai trò của Then, cho rằng Then có thể giải quyết được mọi vấn đề liên quan đến thần linh và ma quỷ Vì vậy họ tin tưởng một cách tuyệt đối vào việc bói toán của các thầy cúng, gia đình có bất kỳ điều gì bất ổn cũng đi gặp thầy Then, có trường hợp ốm đau nhưng không chịu

đi bệnh viện mà chỉ muốn mời thầy Then đến nhà giải hạn Trong thực tế không thể phủ nhận vai trò của Then trong chữa bệnh bằng liệu pháp tâm lý nhưng phải xác định không phải bất kỳ bệnh nào Then cũng giải quyết được

Ngoài ra hạn chế còn đến từ chính bản thân thầy Then Do nhiều nguyên nhân, có thể là do nhận thức kém hoặc do trục lợi hoặc do cuồng tín mà dẫn đến có

Trang 29

sự thần bí hoá nghề nghiệp của một số cá nhân lôi kéo những người cuồng tín làm giảm đi giá trị văn hoá của Then Hạn chế khác liên quan đến thủ tục nghi lễ Nhìn chung so với các hình thức cúng bái khác kể cả so với Pụt , Tào là hình thức gần với Then thì Then là nghi lễ có nhiều thủ tục nhất, thời gian kéo dài hơn Trung bình một lễ Then đi hành nghề phải thực hiện trọn một đêm kéo dài từ khoảng 9 giờ đêm hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau Điều này không những ảnh hưởng đến sức khoẻ của người làm Then mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ và đảo lộn giờ giấc sinh hoạt của các thành viên trong gia đình gia chủ Vì vậy việc xem xét có cần thiết phải kéo dài một nghi lễ như vậy hay không cũng là một vấn đề cần thảo luận trong việc bảo tồn và phát triển Then

Tiểu kết

Trong xu thế phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, để gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc Tày cùng các dân tộc anh em khác như giữ lại được trang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễ hội… không phải là điều dễ dàng Việc bảo tồn và phát huy những nét sinh hoạt độc đáo của người dân tộc đòi hỏi một chính sách nhất quán để người dân tộc hiểu và nhận thức được vốn quý giá của dân tộc, có

ý thức gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ

Dân tộc Tày sinh sống ở Việt Nam nói chung và cư dân Tày ở LamVỹ, Định Hóa, Thái Nguyên nói riêng có truyền thống lịch sử và có một đời sống văn hóa dân gian phong phú, đa dạng Cư dân Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên hiện nay vẫn còn lưu giữ những nét văn hóa đặc trưng riêng được thể hiện trong đời sống tinh thần, phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian

Lam Vỹ được thiên nhiên ưu đãi ban tặng một vùng nước non hùng vĩ, khí hậu trong lành, cảnh đẹp tự nhiên Đó cũng chính là yếu tố làm nảy sinh những sinh hoạt văn hóa, trong đó có hát Then

Hát Then là loại hình diễn xướng dân gian tổng hợp gồm ca nhạc, múa và diễn trò Theo người Tày, Then được hiểu là thiên, chỉ trời Về nguồn gốc có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần cùng nhận định : hát Then có xuất xứ từ Cao Bằng khi nhà Mạc thất sủng Hầu hết trong các lễ cúng của người Tày đều có hát Then hát Then

Trang 30

không chỉ đơn thuần là một loại hình âm nhạc hay diễn xướng dân gian mà có sự gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng

Khái niệm hát Then dã được rất nhiều nhà nghiên cứu và các nghệ nhân dân gian định nghĩa Trên cơ sở tổng hợp những ý kiến, chúng tôi đưa ra cách hiểu về Then như sau: Then là một hình thức văn hóa tín ngưỡng từ xa xưa, thường được trình bày trong các sinh hoạt mang tính lễ nghi, tín ngưỡng Nội dung của Then xoay quanh đời sống người Tày Nghệ thuật Then là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, múa, hội họa và lời ca trong một môi trường diễn xướng đậm màu sắc tín ngưỡng linh thiêng của con người

Then Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên có đời sống vô cùng phong phú

Đó là một nét sinh hoạt văn hóa tinh thần độc đáo, đặc sắc ăn sâu vào tâm hồn của con người nơi đây

Trang 31

Chương 2 CÁC DẠNG THỨC THEN TÀY Ở LAM VỸ,

ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN 2.1 Then trong nghi lễ vòng đời người

2.1.1 Then bắc cầu xin hoa

Người Tày quan niệm vợ chồng sống với nhau lâu ngày mà không có con, hoặc hữu sinh vô dưỡng là do mẹ Hoa trên trời cho nên người ta phải đến nhà thầy Tào, Then, Pụt để xem số Khi đi người ta đem theo một bơ gạo và mấy đồng bạc để gặp thầy (Slây) xem số mệnh Nếu số rơi vào một trong ba mươi sáu cung hạn thì phải làm lễ giải hạn hoặc phải làm lễ cầu hoa Sau khi biết về số mệnh và đường con cái của mình, người ta nhờ Slây xem ngày lành tháng tốt để tổ chức lễ tại gia đình

2.1.1.1 Thời gian và không gian diễn xướng

Khái niệm diễn xướng: “Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì đó là các hoạt động sân khấu ,nhảy múa ,âm nhạc Còn hiểu theo nghĩa rộng thì đó là các hoạt động văn hoá của con người ,là những hoạt động hết sức sống động” [65, tr 98]

*Thời gian diễn xướng

Lễ bắc cầu xin hoa được tổ chức nhiều nhất vào mùa xuân và mùa thu (người

ta quan niệm muốn xin hoa phải tổ chức vào mùa hoa nở thì mới linh thiêng) Một buổi lễ bắc cầu xin hoa diễn ra trong 10 - 12 tiếng (trong khi lễ cấp sắc, lễ Then lớn diễn ra trong ba ngày ba đêm) Nếu lễ được tổ chức vào ban ngày thì thường bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng và kết thúc vào lúc 9 – 10 giờ đêm Còn nếu tổ chức vào ban đêm thì thường bắt đầu từ lúc 16 giờ và kết thúc vào lúc 5 – 6 giờ sáng

Ở Định Hóa, Thái Nguyên loại Then được làm phổ biến nhất vẫn là Then giải hạn, cầu an và đại lễ Then Riêng Then bắc cầu xin hoa mặc dù ngay nay y học hiện đại có thể chữa được bệnh vô sinh, giúp con người sinh con theo ý muốn nhưng họ vẫn tìm đến những bà Then làm lễ cầu hoa cho nên lễ cầu hoa của người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên mới được gọi là lễ “Cái cầu cầu bjooc” tức lễ “Bắc cầu xin hoa” bởi trong tâm linh họ vẫn tin rằng, mẹ Hoa là người ban phát giống nòi cho con người nên cần phải cầu đến sự giúp đỡ của mẹ, cũng giống như người Kinh các cặp vợ

Trang 32

chồng hiếm muộn thường đi đến các chùa để cầu tự mà nhiều nhất vẫn là lễ ở chùa Hương Ở người Kinh, đi cầu con ở chùa Hương thường phải đi ba năm liền, thì ở người Tày cũng vậy, họ thường phải tổ chức lễ trong ba năm liên tiếp

*Không gian diễn xướng

Tổ chức tại gia đình chỉ có một bà Then và một vài người giúp việc cho bà Then, gia chủ, anh em thân thiết được gia chủ mời Tất cả mọi người quây quần ở giữa gian nhà, xung quanh bà Then Ngoài ra lễ bắc cầu xin hoa còn được tổ chức tại những không gian rộng lớn hơn

Đầu tiên lễ được tiến hành ở ngoài đồng ruộng – nơi ngã ba đường Trong lễ này, gia chủ chọc tiết lợn, cắt tiết gà, vịt tại đây, một mặt để ngênh đón vía đứa trẻ về trần gian, mặt khác họ lấy tiết lợn, hoặc tiết gà trộn với muối, gạo đem rắc khắp xung quanh nhà để trừ tà ma, cho vía đứa trẻ về trần gian được bình yên

Phần lễ thứ hai sau khi đón được hoa, thầy Then làm lễ rước hoa về nhà, lúc này nghi lễ mới được tổ chức trong nhà Nếu gia đình không tiện đường, không có đồng ruộng thì nghi lễ sẽ được tổ chức cả ở ngoài sân và trong nhà Ngoài ra, gia đình còn bày một mâm cúng ngoài sân và đốt hương liên tục trong suốt thời gian hành lễ Kết thúc lễ, gia chủ mang lễ đến miếu thổ công đầu làng tạ lễ Thầy Then hát liên tục trong bốn giờ đồng hồ Nghi lễ này tổ chức trong nhà, trước bàn thờ tổ tiên

2.2.1.2 Các yếu tổ bổ trợ trong diễn xướng Then

Lễ bắc cầu xin hoa là một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính nghi lễ - một loại hình tổng hợp có sự kết hợp nhiều hình thức diễn xướng, văn học, âm nhạc, múa, trang trí mỹ thuật

*Văn học

Then bắc cầu xin hoa là một bản trường ca bằng thơ miêu tả cuộc hành trình của quân binh nhà Then mang lễ vật từ hạ giới lên Thiên đình gặp Hoa vương Thánh mẫu xin ban hoa ban nụ (ban con) cho những cặp vợ chồng dưới trần gian Lời Then

tả cảnh quân binh trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, trèo đèo, vượt suối, qua biển để lên Thiên đình cầu hoa Cuộc hành trình rầm rập, hùng hậu như thực như ảo, qua bao miền đất từ miền khó khăn đến miền phú quý Trong lời Then có sử dụng nhiều hình

Trang 33

ảnh mang tính biểu tượng như hoa vàng hoa bạc, chim én Cách kể chuyện thơ của người Tày tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt với người nghe

Văn bản trong Then bắc cầu xin hoa chủ yếu thể loại văn vần, sử dụng thể thơ năm chữ, bảy chữ của người Tày Ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Tày, thỉnh thoảng có xen kẽ những câu tiếng Kinh hoặc tiếng Hán

Trong Then bắc cầu xin hoa có sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ, phóng đại, trừu tượng nhưng vẫn gần gũi với cuộc sống lao động người miền núi

*Âm nhạc

Các thầy Then đều khẳng định họ chỉ có thể đàn, hát, xóc nhạc khi đã xin được phép của thần linh (tức là được thầy dẫn đường đi) Khi mặc áo, đội mũ trước khói hương nghi hút họ có thể đàn hát thành thạo khúc hát Then rất dài, nhưng nếu rã khỏi cuộc Then ấy họ không thể nào nhớ được lời Then Tức là khi làm Then họ đã tách mình ra khỏi thế giới đời thường nhập vào thế giới huyền

bí Then đã tạo nên một tính chất đặc biệt, làm tăng không khí thiêng liêng thần

bí hấp dẫn người xem Khi diễn xướng, thầy Then hóa thân như một vị thần có sức mạnh thiêng liêng, đại diện cho người trần giao tiếp với thần linh

Lễ bắc cầu xin hoa được tổ chức trong nhà, thường là vào đêm khuya thanh vắng trong gian nhỏ hẹp, cho nên âm nhạc trong Then cầu hoa êm dịu nhẹ nhàng, ấm cúng tâm tình, tiếng đàn và nhạc xóc vừa phải, không lẫn lời ca

Âm nhạc trong lễ cầu hoa khá phong phú, tùy nội dung từng đoạn mà Then gảy đàn theo liệng hương tàng năm (lưu thủy) pây tàng (đường) pây mạ (đi ngựa) hoặc điệu pây ẻn (đi én) đều đặc biệt xen vào đó giữa lời ca là tiếng đánh lưỡi rất điệu nghệ của thầy Then, miêu tả bước chân ngựa phi nước đại, nước hậu…

* Múa

Múa là một yếu tố khá quan trọng trong lễ then bắc cầu xin hoa Trong Then bắc cầu xin hoa đạo cụ chính là chiếc quạt nhưng động tác đơn giản, không mang nội dung của một tác phẩm múa hoàn chỉnh Tay phải thầy Then cầm quạt, tay trái là chùm nhạc xóc Khi hành lễ, quạt được coi là đạo cụ múa với tính ước lệ cao Quạt được xòe ra cụp vào rất linh hoạt như một thứ kí hiệu để chuyển làn

Trang 34

điệu, một công cụ quyền uy của Then Khi thầy Then thoát xác và nhập hồn, Then rung và xóc nhạc thật nhanh, lắc người rất mạnh theo tiếng nhạc rồi lấy quạt che mặt Tùy từng nội dung của đoạn Then mà động tác gấp quạt, xòe quạt uyển chuyển nhịp nhàng khác nhau

* Trang trí mĩ thuật

Trang trí mĩ thuật: phần trang trí mĩ thuật trong Then cầu hoa được thể hiện khá đặc sắc ở trang phục của thầy Then và nghệ thuật thủ công Trang phục của thầy Then là áo và mũ hoặc khăn đội khi hành lễ Áo của thầy Then Tày chỉ có một kiểu duy nhất dành cho cả Then nam và Then nữ Áo lễ của thầy Then có màu sắc sặc sỡ, thường được may bằng vải hoa những màu nổi : vàng, đỏ, hồng…Áo

có pha màu ở cổ tay, ở đường xẻ, ở mép cài khuy,thắt lưng làm bằng thổ cẩm với màu sắc hài hòa nền nã, thêu hoa văn nhẹ nhàng tinh tế

Khăn đội đầu góp phần làm cho trang phục Then thêm đặc sắc, khăn cũng được làm bằng vải nhung hoa hoặc vải màu, trang trí đường viền rất sinh động nhiều màu sắc, xung quanh đường viền là những quả chuông nhỏ Khi thầy Then lắc nhảy, những quả chuông này cũng đung đưa theo làn điệu, hòa theo bản nhạc của chùm nhạc xóc Khăn có hai lớp bằng hai màu khác nhau, lớp ở dưới dài hơn

và vắt ra sau lưng, lớp ngắn ở trên, có lúc thầy Then hất lớp khăn ngắn lên che mặt khi hát từng đoạn Then Trong lễ Then Bắc cầu xin hoa thầy chỉ đội khăn

Chiếc quạt giấy trong tay thầy Then cũng là một vật trang trí trong hành lễ Quạt màu hồng đỏ đen được trang trí khá cầu kì

Trong buổi lễ Then người ta chuẩn bị khá nhiều giấy màu để cắt dán trang trí Bàn tay khéo léo của thầy và những người giúp việc cắt dán rất nhanh và rất đẹp ở những cỗ én, hình hoa văn để trang trí bàn thờ và các vật phẩm cúng tế như lược, vòng, xuyến, trâu bò, ngựa, cờ, quạt, hình nhân… Trong lễ cầu hoa còn có những hình nhân được cắt bằng giấy tráng kim và bạc tượng trưng cho những người con gái, con trai mà gia đình đang mong đợi

* Trình tự các bước trong lễ Then cầu hoa

Lễ bắc cầu xin hoa của người Tày ở Lam Vỹ, Định Hóa thường được tiến hành

ở các gia đình có hai vợ chống sống với nhau lâu mà chưa có con Thường thì hai vợ

Trang 35

chồng lấy nhau trên dưới 10 năm mà chưa có con họ mới làm lễ cầu hoa Bởi theo phong tục tập quán của người Tày, vợ chồng mới cưới không cùng về chung sống mà

cô dâu vẫn về sống ở nhà mẹ đẻ chỉ khi nào nhà chồng có việc mới đến đón cô dâu về nhà, do vậy việc sinh con của họ trong những năm đầu thường muộn hơn là chuyện bình thường Nhưng thường sau 4, 5 năm vợ chồng chưa có con họ sẽ làm lễ cầu hoa

Ngoài ra, làm lễ cầu hoa còn thường được thực hiện với người phụ nữ mang thai nhưng hay bị sảy hoặc hữu sinh vô dưỡng, cầu tự vun hoa đối với những đứa trẻ khó nuôi hoặc khi trẻ 3 đến 5 tuổi người ta làm lễ này để tu bổ lại cây cầu cho vững chắc Dù tổ chức dưới dạng nào nhưng mục đích và cách thức của một buổi

lễ bắc cầu xin hoa cũng được tiến hành tuần tự theo những bước sau

Bước thứ nhất: Thầy Then trình báo với tổ tiên, thần thánh gia chủ về tên tuổi,

lý do của buổi lễ, họ tên, địa điểm, nơi cư trú của gia chủ Bước đầu tiên này thầy Then sẽ trình bày nguyện vọng về việc sinh nam sản nữ

Bước thứ hai: (gọi hương) cây hương là sứ giả thay mặt người bên dương trình báo với thần thánh, tổ tiên bên âm về lý do thỉnh cầu Để lên đến cửa của Hoa Vương Thánh Mẫu trình tấu thì phải vượt qua rất nhiều cửa Đoàn binh quân Then

để lên đến thiên đình đến nơi Thánh Mẫu rồi hành trình trở về mặt đất là cả một chặng đường dài

Bước thứ 3: Mời ban và tổ tiên trên cùng các thánh thần

Các ban được thầy Then mời đến dự lễ cầu hoa gồm có tổ tiên (quan đẳm), Hoa Vương Thánh Mẫu (Mẹ Bjooc), các tướng, các quan, táo quân cùng các thần trông coi gia súc

Thầy Then khi làm lễ sẽ dùng đôi xính cảo đánh âm dương, nếu hai mặt cùng xấp hoặc cùng ngửa nghĩa là các ban đã đến đầy đủ trong buổi lễ

Bước thứ 4: Tạ tông đường

Đoạn này thầy Then chỉ đọc lời ca theo vần thất ngôn (chứ không hát), âm điệu đọc cung kính, không đàn không xóc nhạc Thầy Then sẽ thay mặt hai họ tạ tông

Trang 36

đường, cầu mong tổ tiên, tông đường phù hộ cho con cháu khỏe mạnh, sinh con đủ bề trai gái, con đàn cháu đống để nối dõi tông đường

Bước thứ 5: Tạ nguyệt lão

Theo tín ngưỡng của người Tày, ông tơ bà nguyệt đã se duyên vợ chồng, cầu mong cho ông tơ bà nguyệt sẽ se cho tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, bền lâu, sinh con đàn cháu đống

Bước thứ 6: Mừng cầu hoa kết tự

Thầy Then sẽ đọc lớn lời khẩn cầu, mừng hai họ có con trai, con gái, kết duyên, chúc đôi bên làm ăn thịnh vượng, chúc con cháu sinh con đàn cháu đống, đông đúc, sinh con có đủ trai, đủ gái

Bước thứ 8: Quát lễ (phóng lễ )

Sau khi chép lễ, gom lễ thành từng loại, quân then chuyển lễ vật lên thiên đình Trong khi chuyển lễ lên đến từng cửa, từng cung, nếu mệnh người rơi vào hạn nào thì phải làm lễ giải hạn, phá xung, phá khắc, giải hạn tại đó

Bước thứ 9: Vào cung Thánh Mẫu cầu hoa kết tự

Thánh Mẫu là mẹ phân hoa xuống trần gian đồng thời trông nom trẻ con đến lúc 12 tuổi Vào cung Thánh Mẫu Then trình với Thánh Mẫu lý do, cầu xin Thánh Mẫu ban hoa vàng, hoa bạc Để biết Thánh Mẫu có đồng ý phân hoa hay không, thầy Then dùng đôi xính cảo đánh âm dương được hai mặt ngửa nghĩa là thánh mẫu đồng

ý phân hoa, nếu một mặt úp, một mặt ngửa hoặc hai mặt đều úp nghĩa là Thánh Mẫu không đồng ý phân hoa, đôi vợ chồng đó sẽ vô sinh tuyệt tự Nếu thầy Then đánh quẻ

Trang 37

âm dương vài ba lần mà không được nghĩa là Thánh Mẫu không đồng ý Mục này mọi người xung quanh hổi hộp theo dõi để tỏ lòng thành tâm và thể hiện ước nguyện của dòng họ hai bên Mọi người hai họ cùng với người xem phải chắp tay lạy Thánh Mẫu để cầu xin ban hoa,ban phước

Bước thứ 10: Bắc cầu thiên

Cầu thiên được bắc để đưa Then lên gặp Thánh Mẫu và đón hoa về trần gian Trong mục này có hai hình nhân bằng giấy tráng kim trắng và vàng Hình nhân màu trắng tượng trưng cho con trai, màu vàng tượng trưng cho con gái Hai hình nhân này được thả vào chậu nước,trong chậu ở chỗ cái cầu có cắm lá cờ Sau khi đã trình với Thánh Mẫu và đánh thẻ âm dương, thầy Then sẽ niệm thần chú, khẩn xin và thổi rất nhẹ, người nhà cũng phải chắp tay xin và hồi hộp theo dõi Nếu tay hình nhân màu vàng chạm vào cán cờ tức là Thánh Mẫu đồng ý sinh con gái, nếu tay hình nhân màu trắng chạm vào cán cờ thì thánh mẫu đồng ý sinh con trai Sau khi chạm cờ, thầy Then mới đưa hình nhân này qua cầu để vào túi tay nải quần áo của cha mẹ (đã được thầy Then yểm bùa làm phép từ trước) Việc làm này tượng trưng cho cha mẹ đã được đón con về

Bước thứ 11: Bắc cầu địa

Cầu địa được bắc ở ngoài đường, thủ tục như sau Khi quân Then về tới nhà, thầy Then bắc cầu địa Người ta dựng một cái lều nhỏ ở ngoài cánh đồng gần lối đi lại, trong lều bày năm mâm cỗ, phía ngoài lều trên lối đi đào một hố nhỏ, cạnh đó đặt hai cây cầu mệnh Đầu cầu đặt môt mâm cỗ gồm thủ lợn, gà luộc, rượu, một con gà trống, một con vịt sống, một bát tiết tươi, một con chó đen nhỏ, hai cành hoa giấy, một vòng bạc, một khúc chuối nhỏ, một thanh gươm, một ít tiền chân hương…

Bước thứ 12: Giải khắc môn

Đây là bước thầy Then làm lễ để hóa giải khi hai vợ chồng có mệnh khắc nhau Trước cửa buồng hai vợ chồng thầy Then đặt một mâm hương gồm gạo, rượu, hương hoa, bánh kẹo, thịt luộc, xôi, vàng mã, hoa quả…Then trình báo với tổ tiên thánh thần về việc xin hoa và xin giải khắc để vợ chồng được hòa hợp, sinh nam sinh

nữ được vẹn toàn

Bước thứ 13: Lập bàn thờ mụ

Trang 38

Sau khi đưa hoa qua cầu địa về nhà, thầy Then sẽ làm thủ tục đưa mâm nhà hoa lên bàn thờ tổ tiên Bàn thờ bà mụ được thờ cũng đến khi trẻ 12 tuổi

Thầy Then sẽ bắc một chiếc cầu bằng vải trắng và vải chàm được trải bắc từ mâm nhà hoa lên bàn thờ, phía dưới đặt một chậu nước, một bên đặt một con gà trống, một bên đặt một con vịt sống Thầy Then sẽ đưa bát hương bà Mụ theo cầu âm đặt phía ngoài cùng, bên trái bàn thờ tổ tiên, hai cành hoa giấy được cắm vào bát hương Bát hương sẽ được đặt cố định và không được di chuyển

Bước thứ 14: Kết thúc lễ

Thầy Then sẽ làm bữa tiệc khao tướng quân nhà Then để tạ ơn các quan, các tướng, tổ tiên, thần thánh trên thiên đình đã giúp quân Then hoàn thành cuộc lễ, thực hiện được ước nguyện của gia chủ

Bước thứ 15: Thu hồn vía

Trong quá trình quân Then lên gặp Hoa Vương Thánh Mẫu phải trải qua rất nhiều nơi, tham gia vào nhiều cuộc lễ nên khi làm lễ xong thầy Then phải làm lễ thu hồn vía mọi người về để hồn nhập vào xác Nếu không thu nhập hồn về với xác thì con người sẽ bị ốm yếu bệnh tật, hoặc hồn lìa khỏi xác dẫn đến cái chết

Kết thúc buổi lễ, mâm lễ cúng được đưa gia ngoài cửa để cúng thần trông coi gia súc và các tà quỷ bên ngoài, sau đó đi cúng thổ công Còn lại số tiền gạo trong mâm thầy Then cùng với nửa mâm cỗ cúng và một con gà sống được gia chủ đưa đến nhà tạ lễ cho thầy Then

Lễ bắc cầu xin hoa ngày nay vẫn còn được sử dụng ở Lam Vỹ, Định Hóa, Thái Nguyên tuy không còn nhiều và việc cúng tế cũng không rườm rà, cầu kì như trước nữa nhưng những bài Then vẫn giữ nguyên bài bản và làn điệu Ưu điểm của Then bắc cầu xin hoa là giải toả tâm lý , khát vọng có con cái nhưng nếu chỉ dựa vào đó mà

có bệnh như hiếm muộn , vô sinh mà không chữa cũng không thể có con

2.1.2 Then mừng thọ

Mùa xuân là mùa của trăm hoa khoe sắc, của những lộc biếc đâm chồi, tại những thôn sơn, đó còn là mùa của tấp nập khách đường xa dập dìu đến hội trong bạt

Trang 39

ngàn gương mặt háo hức mùa vui, trong lanh lảnh tiếng nói cười của biết bao lứa đôi

hò hẹn Còn đối với người Tày ở Lam Vỹ - Định Hóa – Thái Nguyên thì ngoài mùa hội đó còn là muà của cháu con kính hiếu người già mà sum vầy bất tận trong các lễ mừng thọ với mong ước ông bà được an hưởng tuổi già để vui sống cùng con cháu

2.1.2.1 Không gian và thời gian diễn xướng

* Thời gian diễn xướng

Lễ mừng thọ cho người cao tuổi thường được tổ chức vào đầu năm là dịp con cháu thể hiện sự tôn kính các bậc cao niên trong gia đình Người Tày quan niệm con người có phần xác và phần hồn vía Đàn ông có bảy vía, đàn bà có chín vía giữ thân Trong tâm thức sở dĩ con người sống được là do khoăn hộ tụ trong người khi bịch gạo hồn vía còn đầy, cầu mệnh còn vững chắc khi con người đến 49 tuổi đã có biểu hiện của tuổi già như đau ốm, mắt mờ, bịch gạo đã vơi, cây mệnh bị úa cho nên người ta làm lễ lên Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu để cho trồng lại cây mệnh bắc lại cầu mệnh, để được sống lâu, sống vui

* Không gian diễn xướng

Theo phong tục của người Tày ở Lam Vỹ - Định Hóa – Thái Nguyên, việc tổ chức nghi lễ này là rất quan trọng được tổ chức trong nhà gia chủ có người được mở

lễ Thầy xem ngày để gia đình tổ chức, nếu người được mừng thọ có sinh nhật vào dịp đầu xuân thì lễ mừng thọ sẽ được tổ chức theo đúng ngày sinh, còn nếu không, thầy sẽ xem một ngày đẹp trong tháng Giêng để cho gia chủ tiến hành nghi thức này

Thầy Ma Văn Tào (Thôn Làng Quyền, xã Lam Vỹ, huyện Định Hóa) là một thầy Then cao tay đã có hơn 40 năm trong nghề cho biết: Lễ Tài khoăn là cách gọi của người Tày chỉ nghi lễ mừng thọ, cầu an cho người già và các thành viên trong gia đình được đồng bào nơi đây tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân như một cách bày tỏ

sự kính hiếu Đây là một mỹ tục đã được bà con lưu truyền và truyền đời có đến cả ngàn năm

2.1.2.2 Các yếu tố bổ trợ trong diễn xướng Then

* Văn học

Trang 40

Văn học trong lễ mừng thọ lời Then chủ yếu là văn vần đó là thể thơ năm chữ, bẩy chữ Tiến trình hành lễ bắt đầu từ giải hạn, thày Then đọc những lời ca, bài hát Sau mỗi khúc hát của thầy Then một người sẽ đi lên rót rượu và thắp hương Những lời ca đều mang ý nghĩa tập hợp binh mã, chép lễ và hành trình dâng lên trời Trong chuyến đi này đoàn quân phải trải qua nhiểu chặng từ khi chuyên lương xuống thuyền qua chặng nào cũng dâng vàng mã Trong quá trình cống nạp đoàn quân phải trải qua mười hai của lầu môn trình cả mẹ Sử thả vía cho người được làm thọ, đổi số được an kháng trường thọ Thể văn tự sự xen lẫn yếu tố trữ tình, nhiều điển tích, điển cố

* Âm nhạc

Âm nhạc của Then vừa êm dịu, ấm cúng, nhẹ nhàng, tâm tình, an ủi Lời hát kết hợp giữa nhạc của đàn tính và trùm xóc nhạc Giai điệu của Then diễn tả theo các bước lần với sắc thái không mạnh quá tầm cữ và âm nhạc không lên cao xuống thập quá Âm nhạc diễn tả biểu hiện nội dung có cốt truyện dài ngắn khác nhau theo chương đoạn Đặc điểm của Then mừng thọ cũng như các loại Then khác là loại hát khống tách khỏi tiếng đàn đệm

* Trang trí mỹ thuật

Một chiếc lẩu váng tượng trưng cho kho lương Đây là khối hình lăng trụ bên ngoài bọc giấy hòng ,một chiếc thang nhỏ được cắt từ miếng bìa cứng bằng giấy có bẩy bậc thang nếu là đàn ông ,chín bậc thang nếu là đàn bà

* Trình tự các bước trong lễ Then mừng thọ

Có 6 nghi lễ được diễn ra trong lễ mừng thọ của người Tày Đây là một những nét sinh hoạt văn hóa truyền thống tốt đẹp, thể hiện sự quan tâm của con cháu và cộng đồng đối với người cao tuổi

Bước 1: Dựng lương (tẳng lường): Thầy Then dựng một chiếc lầu váng cao 2m rộng chừng 80 cm được dán giấy đỏ để đựng gạo và tiền do con cháu mang đến

Bước 2: Chuyển lương: Thầy Then niệm chú vào thúng gạo rồi xúc gạo vào bát kèm theo vàng mã và ít tiền lẻ đưa cho con cháu truyền nhau đổ vào lầu váng

Bước 3: Dâng rượu đốt đèn : Người được làm lễ mừng thọ ngồi bên lầu váng, cháu con dâng rượu, thầy Then đọc lời cầu chúc Hết một chầu hát Then, các con thứ

Ngày đăng: 20/03/2017, 00:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Triều Ân (chủ biên), Hoàng Hưng, Dương Nhật Thanh, Nông Đức Chinh (2000), Then Tày những khúc hát, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày những khúc hát
Tác giả: Triều Ân (chủ biên), Hoàng Hưng, Dương Nhật Thanh, Nông Đức Chinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
3. Triều Ân (2008), Then Tày giải hạn, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày giải hạn
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
4. Nguyễn Chí Bền (2000), Tín ngưỡng và mê tín trong lễ hội cổ truyền, văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ, Nxb Văn hóa dân gian dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng và mê tín trong lễ hội cổ truyền, văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân gian dân tộc
Năm: 2000
5. Phan Kế Bính (1977), Việt Nam phong tục, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1977
6. Dương Kim Bội (1975), Lời hát Then, Sở Văn hóa thông tin Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời hát Then
Tác giả: Dương Kim Bội
Năm: 1975
6. Dương Kim Bội (1978), “Những yếu tố dân ca, ca dao trong lời Then, Tày – Nùng”, Tạp chí dân tộc học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố dân ca, ca dao trong lời Then, Tày – Nùng”, "Tạp chí dân tộc học
Tác giả: Dương Kim Bội
Năm: 1978
7. Nông Quốc Chấn (1977), Một vườn hoa nhiều hương sắc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vườn hoa nhiều hương sắc
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1977
8. Lô Việt Chang (2006), Văn hóa dân tộc Tày ở huyện Hòa An, Cao Bằng, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân tộc Tày ở huyện Hòa An
Tác giả: Lô Việt Chang
Năm: 2006
9. Vũ Cao Đàm (1999), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1999
10. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
11. Hà Ninh Đức (chủ biên) (2008), Lý luận văn học (tài bản lần thứ 9), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Ninh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
12. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, (tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
14. Lê Như Hoa (2002) Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
15. Nguyễn Thị Hoa (2002), Khảo sát nghi lễ Then “hát khoăn” (giải hạn) của người Tày huyện Đình lập tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nghi lễ Then “hát khoăn” (giải hạn) của người Tày huyện Đình lập tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2002
16. Kiều Thu Hoạch (1998), Các vấn đề nghiên cứu văn hóa dân gian trong chỉnh thể văn hóa dân gian, Tạp chí văn hóa dân gian, Hà Nội (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn hóa dân gian
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Năm: 1998
17. Vi Hồng (1979), Si lượn Dân ca trữ tình Tày - Nùng, NxbVăn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Si lượn Dân ca trữ tình Tày - Nùng
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: NxbVăn hóa
Năm: 1979
18. Vi Hồng (1993), Khảm hải - vượt biển, NxbVăn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảm hải - vượt biển
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 1993
19. Vi Hồng (1997), Sli lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sli lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
20. Vi Hồng (2001), Thì thầm dân ca nghi lễ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thì thầm dân ca nghi lễ
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm