1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lượn trống trong tang lễ của người tày ở bắc quang - hà giang

152 799 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 743,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với dân tộc Tày nói chung, bên cạnh những làn điệu trữ tình mượt mà làm đắm say, xiêu lòng bao người được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác như hát then, sli, lượn, khắp cọi…

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

MỤC LỤC

Phần I: Mở đầu……… … 3

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Lịch sử vấn đề……….4

3 Mục đích nghiên cứu……… 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 6

5 Đối tượng nghiên cứu……… 7

6 Phạm vi nghiên cứu……… … 7

7 Phương pháp nghiên cứu……… … 7

8 Đóng góp của luận văn………7

9 Bố cục luận văn……… 8

Phần II: Nội dung……… … 9

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tế của việc tìm hiểu lượn trống trong tang lễ người Tày ở Bắc Quang – Hà Giang……… 9

1.1 Tổng quan về tộc người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang……… 9

1.1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang……… 9

1.1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội và đời sống văn hóa…….10

1.2 Khái quát về dân ca tang lễ và khái niệm lượn trống trong tang lễ… 18

1.2.1 Khái quát về dân ca tang lễ……… 18

1.2.2 Khái niệm lượn trống trong tang lễ……… ….20

1.3 Hát lượn trống trong tang lễ của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang…23 1.3.1 Sơ lược về diễn xướng của hát lượn trống………23

1.3.2 Hát lượn trống trong đời sống văn hóa của người Tày ở Bắc quang - Hà Giang…… ……….……… 25

Tiểu kết……… … 26

Chương 2: Nội dung cơ bản trong những bài lượn trống của người Tày ở Bắc Quang- Hà Giang 27

2.1 Ứng xử trong tang lễ của người Tày……… … …… 27

2.1.1.Ứng xử trong mối quan hệ gia đình……… ……… …… 27

2.1.2.Ứng xử trong mối quan hệ cộng đồng…… ……….…… … 31

2.2 Đề cao đạo lý của người đời……… … 36

Trang 4

2.2.1 Kể về tấm gương hiếu nghĩa của Đống Vịnh….……… 36

2.2.2 Kể về tấm gương hiếu nghĩa của Mạnh Tông…… … …… ……40

2.3 Bày tỏ nỗi buồn thương tiếc của người thân trong gia đình đối với người đã khuất……… 46

2.3.1 Tình nghĩa vợ chồng……… ……… 46

2.3.2 Tình cảm của con cái đối với cha mẹ……… … ……….59

Tiểu kết……… ……… 66

Chương 3: Nghệ thuật tiêu biểu trong những bài lượn trống của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang……….… 67

3.1 Thể thơ thường dùng trong hát lượn trống……… 67

3.1.1 Thể thơ bốn chữ……… … 68

3.1.2.Thể thơ hỗn hợp……….……… …… 71

3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật trong hát lượn trống………77

3.2.1 Thời gian nghệ thuật……… ……77

3.2.2 Không gian nghệ thuật……… …….88

3.3 Nhân vật trữ tình trong hát lượn trống 97

3.3.1 Hình tượng nhân vật trữ tình xuất hiện trong vai trò là người thân 98

3.3.2 Hình tượng nhân vật trữ tình xuất hiện trong vai trò là con cháu, họ hàng và trong vai trò là người diễn xướng 105

Tiểu kết 112

Kết luận 113

Tài liệu tham khảo 117 Phụ lục

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Về phương diện khoa học

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc đa tộc, trong đó mỗi dân tộc đều

có một kho tàng di sản văn hóa mang đậm bản sắc riêng của mình Đối với dân tộc Tày nói chung, bên cạnh những làn điệu trữ tình mượt mà làm đắm say, xiêu lòng bao người được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác như hát then, sli, lượn, khắp cọi… không thể không nhắc đến nhóm các bài ca nghi lễ, trong đó gắn bó chặt chẽ với các hình thức nghi lễ như đám ma, đám cưới, phong tục dân gian… của người Tày có ở nhiều nơi Riêng ở huyện Bắc Quang, Tỉnh Hà Giang vốn có một loại hình lễ nghi ít được nhiều người biết đến, đó chính là lễ nghi tang ma với những bài lượn trống đặc sắc

Do vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu về nét đặc trưng văn hóa này là cấp thiết không chỉ trong địa phương Bắc Quang, Hà Giang mà còn có ý nghĩa rộng hơn trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Hơn nữa, những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày thuộc về nhóm các bài ca nghi lễ thường thiên về đời sống tâm linh của người dân nên chỉ thu hút được một số nhà nghiên cứu và mới chỉ dừng lại ở phạm vi rộng Việc đi sâu vào tìm hiểu loại hình này đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về nó ở địa phương Bắc Quang, Hà Giang

1.2 Về phương diện thực tiễn

Lượn trống trong tang lễ là một loại hình dân ca từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của dân tộc Tày ở địa phương Bắc Quang, Hà Giang Việc nghiên cứu, tìm hiểu giá trị loại hình dân ca này sẽ góp phần khẳng định, gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần độc đáo của dân tộc

Xuất phát từ phương diện khoa học, thực tiễn nêu trên chúng tôi mạnh dạn chọn “Lượn trống trong tang lễ của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang”

Trang 6

làm đề tài nghiên cứu của mình Hy vọng công trình nhỏ bé này sẽ góp phần vào việc gìn giữ và bảo vệ bản sắc văn hóa tinh thần của dân tộc Tày Đồng thời mong muốn những nét văn hóa ấy sẽ luôn được phát huy trong đời sống cộng đồng, trên cơ sở đó góp phần vào sự phát triển về kinh tế và văn hóa, xã hội ở địa phương mình

2 Lịch sử vấn đề

Kế thừa những tín ngưỡng từ xa xưa, dân gian cho rằng chết là do sự chuyển đổi sang một dạng thức tồn tại khác ở cõi vĩnh hằng Đặc biệt với ảnh hưởng của Nho giáo, chữ hiếu được đề cao hết mức và biểu hiện cụ thể thành những nghi lễ tiết với quan niệm “ sự tử như sự sinh” Do đó đối với người chết, người ta cũng làm đầy đủ những thủ tục như đón một con người sinh ra trên cõi đời này

Việc tang lễ là một nét sinh hoạt tâm linh văn hóa trong tập tục truyền thống của cộng đồng, do đó nghiên cứu vấn đề về tang lễ của dân tộc Tày đã thực sự thu hút được nhiều một số nhà nghiên cứu, có thể kể đến các tác giả như:

- Năm 2002 trong cuốn “Văn hóa dân gian Tày” của các tác giả Hoàng

Ngọc La, Hoàn Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn đã khái quát, giới thiệu chung về những bài ca tang lễ Trong đó các tác giả có đề cập tới loại hình “văn tế, văn than dùng để ngâm kể trước vong linh người đã khuất Thể văn dùng thất ngôn, vần lưng Nội dung có thể dựa vào những khúc ngâm có sẵn trong sách

vở đã ghi chép lại hoặc tang chủ nhờ người có học soạn lại, có ý nghĩa nhiều mặt: lẽ tử sinh, đạo hiếu nghĩa, niềm thương tiếc, sự nguyện cầu phù trợ cho người mai hậu….mà ở mặt nào cũng xúc động, bi thương.” [10, tr.213]

- Cuốn “Văn học dân gian” do Đinh Gia Khánh chủ biên, phần dân ca

có giới thiệu khái quát về nhóm các bài ca tang lễ Theo tác giả thì bên cạnh việc bày tỏ tình cảm thương tiếc người đã khuất, các bài ca tang lễ còn thể

Trang 7

hiện quan niệm về sự hình thành thế giới, hay về sự ra đời của con người… những bài hát đó không làm chức năng cầu khẩn như những bài nghi lễ nông nghiệp mà thực sự thuộc về tôn giáo và tín ngưỡng dân gian có chức năng tiễn đưa linh hồn người chết về thế giới bên kia.[8, tr.312]

- Năm 1999, trong cuốn “Việc tang lễ cổ truyền của người Tày” tác giả

Hoàng Tuấn Nam có bài nghiên cứu khá chi tiết về việc tang lễ cổ truyền của người Tày nhưng mới chỉ dừng lại ở phạm vi huyện Hòa An Cao Bằng

Trong cuốn “Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng” của Nguyễn Thị Yên xuất bản năm 2009 có giới thiệu khá chi tiết về tang lễ cũng như trình tự các thủ tục tiến hành tang lễ, thành phần tham gia vào tang lễ cổ truyền của người Tày ở Cao Bằng Đặc biệt, tác giả còn nhắc đến lối hát thợ và giới thiệu sơ lược về hình thức diễn xướng của nhóm thợ trong đám tang của người Tày Thông thường thì nhóm thợ sẽ sử dụng 3 quyển sách chính vào nội dung hát trong tang lễ xoay quanh vấn đề đạo hiếu Tuy vậy tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát chung chứ chưa đi sâu vào phân tích, lý giải nội dung của hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh này [26, tr.567]

Ngoài ra còn có một số công trình sưu tầm, giới thiệu và dịch của một

số tác giả cũng đề cập tới bài ca tang lễ của người Tày như bài báo “Lễ báo

hiếu của người Tày ở Cao Bằng” của tác giả Vũ Diệu Trung in trong tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 11- 2005 Nhưng tác giả mới chỉ dừng lại ở việc giới

thiệu thủ tục tiến hành nghi thức tang lễ ở Cao Bằng chưa đề cập gì đến các

bài ca trong tang lễ của dân tộc Tày nói chung

Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu về tang lễ cổ truyền của người Tày và những bài ca tang lễ của người Tày nói chung Đặc biệt là những bài lượn trống trong tang lễ ở địa phương Bắc Quang Hà Giang lại càng ít được biết đến

Trang 8

Đối với dân tộc Tày ở Bắc Quang, Lượn trống trong tang lễ là một hình thức lễ nghi dùng để than, để kể về công lao, công đức trước vong linh người

đã khuất nhằm tỏ rõ tình cảm thương tiếc, xót thương và trách nhiệm báo hiếu của con cháu đối với hương hồn của người qua đời Vì vậy mà nó được ngâm,

kể, hát khi trong nhà có tang lễ Đây chính là một nét văn hóa mang đậm màu sắc dân tộc, chứa đựng bên trong là yếu tố tín ngưỡng đã chi phối đời sống tinh thần của người Tày Dù đã được nói đến, nhưng loại hình trữ tình dân gian này vẫn chưa thực sự được khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu có hệ thống

Hiện nay mới chỉ có bản sưu tầm và dịch của bà Hoàng Thị Cấp, một người Tày Ở Hà Giang chưa được in thành sách Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn xem thành quả của của những người nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi

mở quý báu giúp chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở huyện Bắc Quang, Hà Giang nhằm hiểu được bản sắc văn hóa của tộc người Tày về tâm

tư tình cảm, đạo lý, đạo hiếu mà người sống dành cho người đã mất

- Hiểu thêm quan niệm của người Tày về cõi sống và cõi chết, cách ứng xử của người Tày trong tang lễ

- Góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của hát lượn trống trong đời sống đương đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài

- Sưu tầm một số bài lượn trống trong tang lễ của người Tày trong toàn huyện Phân tích khái quát, nghiên cứu tổng hợp những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang

- Nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở Bắc Quang – Hà Giang

Trang 9

5 Đối tượng nghiên cứu:

- Những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang

- Trong điều kiện có thể, chúng tôi tìm hiểu thêm những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở huyện Quang Bình, Hà Giang để đối chiếu so sánh

- Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ, người viết tìm hiểu một số nội dung

cơ bản và nghệ thuật tiêu biểu trong những bài lượn trống của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang

7 Phương pháp nghiên cứu:

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau: + Phươg pháp điền dã

+ Phương pháp khảo sát, thống kê

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp

+ Phương pháp tiếp cận hệ thống

8 Đóng góp của luận văn:

Dựa trên nguồn tư liệu đã khảo sát từ thực tế tồn tại, phát triển của những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở huyện Bắc Quang - Hà Giang, luận văn nhằm giới thiệu đời sống văn hóa cũng như văn học dân gian, trong đó đi sâu vào tìm hiểu tập tục tang ma và nội dung của sinh hoạt hát nghi lễ tâm linh của người Tày Từ đó hi vọng sẽ góp phần vào việc bảo tồn,

Trang 10

phát huy gìn giữ nét đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc của các bài ca có nguy cơ bị mai một trong thời kỳ hiện đại

9 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu, phần nội dung chính, phần kết

luận, tài liệu tham khảo phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tế trong việc tìm hiểu lượn trống của người

Tày ở Bắc Quang - Hà Giang

Chương 2 Nội dung cơ bản của những bài lượn trống trong tang lễ của người

Tày ở Bắc Quang - Hà Giang

Chương 3 Nghệ thuật tiêu biểu của những bài lượn trống trong tang lễ của

người Tày ở Bắc Quang – Hà Giang

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU

LƯỢN TRỐNG TRONG TANG LỄ NGƯỜI TÀY Ở BẮC

QUANG – HÀ GIANG

1.1 Tổng quan về tộc người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang

1.1.1 Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang

Trong đại gia đình Việt Nam, dân tộc Tày là cư dân bản địa và lâu đời

ở nước ta Họ có mặt ở hầu hết các tỉnh từ Bắc đến Nam nhưng tập trung nhất vẫn là ở các tỉnh miền núi phía Bắc Riêng ở Hà Giang, dân tộc Tày có khoảng 157.757 người, chiếm 25% dân số trong tỉnh, đứng sau dân tộc Mông 30,75% (năm 2001) Người Tày thường tập trung ở các huyện Bắc Quang ( 51% dân số toàn huyện ), Vị Xuyên, Bắc Mê và ở hầu khắp các huyện, thị xã trong tỉnh

Ở Hà Giang theo các tài liệu lịch sử, khảo cổ học từ trước năm 1945 đến nay đã phát hiện những hiện vật từ thời đồ đá cũ cho tới thời đại đồ đồng, đồ sắt, báo hiệu quá khứ xa xưa của con người đã cư trú trên đất Hà Giang Điều đó chứng tỏ phần nào Hà Giang là vùng đất cổ có các cư dân sinh sống, trong đó có dân tộc Tày Theo các nhà nghiên cứu và các cụ già người Tày ở Vị Xuyên, Bắc Quang kể lại thì ở Hà Giang tồn tại những cư dân Tày cổ ở vùng ba phương: Phương Tiến, Phương Thiện, Phương Độ thuộc huyện Vị Xuyên ngày nay Ngoài ra họ còn cư trú ở vùng Bằng Hành, Vô Điếm, Đồng Yên, Xuân Giang…của huyện Bắc Quang Các cụ già ở xã Phương thiện nói: Họ biết họ Nguyễn của dân tộc Tày đã sống ở đây cách đây 700 đến 800 năm

Trong lịch sử nước ta, thời Lý -Trần là thời kỳ thịnh hành của phật giáo

cả nước, chùa chiền được tạo dựng khắp nơi, nhất là sau ba lần đại thắng quân Nguyên Mông của triều Trần, hào khí Đông A vang vọng từ Thăng Long đến các miền biên viễn xa xôi Ở Hà Giang còn di tích 2 ngôi chùa cổ đó là chùa

Trang 12

Sùng Khánh ở bản Bang xã Đạo Đức huyện Vị Xuyên, chùa Bình Lâm ở xã Phú Linh, thị xã Hà Giang cũng được xây dựng vào thời kỳ đó Đặc biệt trên tấm bia ở chùa Sùng Khánh dựng năm 1367 có ghi công lao của quan Phủ đạo người Tày họ Nguyễn là Nguyễn Thiếp có công lao bảo vệ biên giới phía Bắc, xây dựng làng xã ổn định phát triển, là nơi tin cậy của triều đình ở vùng biên viễn xa xôi [4, Tr.120]

Dân tộc Tày ở Hà Giang lâu nay vẫn được xem là một cộng đồng dân tộc thống nhất Tuy nhiên ở các vùng khác nhau, thậm chí ở cùng một huyện,

họ cũng có nét địa phương rõ rệt trong sinh hoạt và tiếng nói, nhất là cách phát âm, từ vựng cũng rất khác nhau Chẳng hạn như người Tày ở huyện Bắc Quang, về tiếng nói có thể chia làm 3 vùng khác nhau: vùng Trọng Con, vùng Xuân Giang - Yên Bình, vùng Gia Tự - Nguyễn Thái Học Ngoài ra tiếng Tày

ở vùng Bắc Quang cũng có sự khác biệt với tiếng Tày ở huyện Vị Xuyên, Tày Đăm ở huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần…

1.1.2 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội và đời sống văn hóa

1.1.2.1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên

Nằm ở vị trí cửa ngõ phía Đông Nam của tỉnh Hà Giang, Bắc Quang là huyện có địa hình thấp hơn so với các huyện bạn trong toàn tỉnh Nằm trong tọa độ địa lý từ 22o

10’ đến 22o36’ độ vĩ Bắc và 104o43’ đến 105o07’ độ kinh Đông, phía Bắc của huyện Bắc Quang giáp với Vị Xuyên, phía Đông, Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây, Tây Bắc giáp huyện Hoàng Su Phì, trung tâm huyện là thị trấn Việt Quang cách thị xã

Hà Giang khoảng 60 km

Địa vực cư trú của người Tày ở Bắc Quang rất thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp toàn diện và là vùng cung cấp nguyên, vật liệu cho sự phát triển công nghiệp chế biến khai thác khoáng sản của tỉnh nhà Thiên nhiên đã rất ưu ái tạo cho vùng này những bãi bồi phù sa màu mỡ dọc theo hệ

Trang 13

thống sông Lô, sông Bạc, sông Sảo… thuận lợi cho việc phát triển cây lúa nước với những vựa lúa màu mỡ ở các xã trong huyện như Vĩnh Phúc, Đồng Yên, Quang Minh, Hữu Sản, Liên Hiệp… địa hình nơi đây cũng rất thích hợp cho các loại hoa màu và cây công nghiệp phát triển Các cánh đồng giữa núi

có đất đai phì nhiêu, địa hình đồi tương đối thấp, thoải hay lượn đều cho khả năng trồng trọt hoặc chăn nuôi

Với điều kiện địa lý tự nhiên như trên, cư dân Tày ở Bắc Quang có điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế to lớn và toàn diện bền vững lâu dài Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi cơ bản, môi trường tự nhiên cũng gây ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của cư dân Tày Do địa hình tương đối phức tạp như đồi núi cao, thung lũng sâu, mưa nhiều…đã tác động không nhỏ trong giao thông đi lại, hay hiện tượng lũ quét, ngập úng nhiều trong mùa mưa là đều không tránh khỏi và gặp nhiều khó khăn, hạn chế

1.1.2.2 Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa

Với địa bàn cư trú chủ yếu là ở các thung lũng nhiều đồng ruộng nên rất thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện Bởi từ xa xưa, tộc người Tày đã biết sống dựa vào trồng trọt và cày cấy, biết khai khẩn các thung lũng ven sông, ven suối lớn tạo thành những cánh đồng, ruộng bậc thang trồng trọt phì nhiêu màu mỡ Đặc biệt còn biết tạo ra hệ thống “dẫn nhập thủy điền” với mương, máng, phai, cọn… khá hoàn thiện phục vụ cho việc sinh hoạt, tưới tiêu Bên cạnh đó việc chăn nuôi gia súc, gia cầm đa dạng phong phú, các ngành thủ công như đan lát, dệt, rèn đúc… cũng khá phát triển

Huyện Bắc Quang từ lâu đã là vùng đất có nhiều dân tộc sinh sống Cùng với người Việt, người Nùng, người Dao, người Mông…, người Tày có quá trình gắn bó lâu dài hòa hợp cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần từ đời này sang đời khác cùng chung vun đắp quê hương giàu đẹp

Trang 14

Dân tộc Tày sống từng thôn, bản có từ ba đến năm gia đình lớn, có làng đông tới hàng chục nóc nhà quy tụ với nhau thành làng lớn Nhiều gia đình rất đông, có tới bốn đến năm thế hệ song sống phổ biến vẫn là hai đến ba thế hệ trong cùng một mái nhà

Hầu hết các gia đình người Tày đều được xây dựng theo thể chế và tục

lệ hôn nhân một vợ một chồng, mang tính chất phụ hệ Nếu đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ gia đình của người Tày ta có thể thấy, ở đó bao trùm một tinh thần tương thân tương ái, bình đẳng dân chủ nội bộ khá sâu sắc giữa chồng và vợ, giữa nam và nữ Vì người Tày trân trọng, yêu quý người đàn bà, người mẹ, người vợ, và con gá

Từ những đặc điểm trên phải chăng những hình thức sinh hoạt văn hoá, văn

nghệ, văn hóa tín ngưỡng trong đó có hát Lượn trống… ra đời nhằm đáp ứng

nhu cầu giải toả những khát vọng tâm linh và tinh thần của họ

+ Về đời sống văn hóa:

Cư dân người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang từ lâu vốn đã có một nền văn hóa đa dạng và phát triển khá sớm cả về văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần mang những nét rất độc đáo, phong phú riêng Mặc dù người Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ hệ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ rất gần với Tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và âm thanh Tuy nhiên chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tượng trong sinh hoạt giao tiếp mới là của người Tày, còn đa số là vay mượn của Tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt

Ngoài ra, về chữ viết của người Tày trong thời kỳ cổ đại do không có nên lịch

sử thành văn của dân tộc rất ít ỏi và gần như không có Bước sang giai đoạn trung đại mới xuất hiện chữ Nôm Tày, chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theo chữ Hán của người Trung Quốc mà đặt ra Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn

từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm Việt Học giả Nguyễn Văn Huyên là người đầu tiên có công nghiên cứu về kiểu

Trang 15

chữ Nôm Tày và sau này được học giả Đào Duy Anh tiếp tục nghiên cứu và khẳng định ý kiến của Nguyễn Văn Huyên: “Chữ Nôm Tày do ảnh hưởng chữ Nôm Việt mà ra và có cấu tạo như chữ Nôm Việt” [15, tr 210-220]

Chữ Nôm Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII đến XV sang đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII khi Mạc Kính Cung chuyển vương triều lên Cao Bằng đã để lại dấu tích về chữ Nôm Tày Do đó có thể khẳng định chữ Nôm của người Tày ra đời không muộn hơn so với chữ Nôm Việt thế kỷ XVI

Bước sang giai đoạn hiện đại, việc sử dụng chữ Nôm gặp nhiều khó khăn do vốn từ tiếng Tày còn nghèo nàn trong các ngành hoạt động hành chính cũng như khoa học Năm 1954, một lớp trí thức Tày đã tự sáng tạo ra chữ La tinh Tày nhưng cũng không được phổ biến nhiều Đến năm 1960, Đảng và Nhà nước ta mới có chủ chương quan tâm xây dựng hệ thống chữ viết cho dân tộc Tày theo lối chữ Quốc Ngữ bằng chữ cái La tinh

Ở những vùng dân cư Tày tập trung cư trú và sinh sống, thì việc sử dụng song ngữ và chữ viết Tày - Việt đã trở thành nét đặc thù phổ biến trong đời sống ngôn ngữ Vì vậy cần có một kế hoạch sưu tầm các văn bản văn học dân gian được ghi lại bằng chữ Nôm Tày và đào tạo lớp trí thức mới từng bước khai thác di sản văn hóa này Đặc biệt chữ Tày hiện đại cũng cần được chỉnh

lý, sửa chữa để có thể sủ dụng góp phần xây dựng nền văn hóa mang bản sắc Tày trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam nói chung Từ đó có thể nói, chữ viết ra đời là một trong những thành tựu hết sức to lớn, là điều kiện vô cùng quan trọng không thể thiếu trong việc lưu giữ bảo tồn và phát triển nền văn hóa văn học đa dạng của các dân tộc nói chung, cư dân Tày Bắc Quang nói riêng

+ Văn hóa vật chất:

Bản là đơn vị cư trú của người Tày, thường ở chân núi, cạnh cánh đồng hay ven sông, suối lớn Tên bản thường đặt theo tên đồng ruộng, khúc sông đồi núi như: Nà Ngần, Nà Đon, Nà Tông, Nà Cải… Mỗi bản trung bình có từ

Trang 16

25 đến 30 nhà, bản lớn có tới 60, 70 nhà, thậm chí có tới 100 nhà, có bản chỉ

có người Tày, có bản sống xen kẽ với các dân tộc khác Nhà cửa của người Tày ở đây thường dựng theo thế đất, đằng sau dựa vào đồi núi, phía trước thường nhìn ra cánh đồng, sông suối, bên cạnh nhà có máng nước, ao cá, hướng nhà thường căn cứ vào tuổi gia chủ…Nhà ở của họ phổ biến nhất là nhà sàn, lợp lá cọ, nhà có điều kiện thì làm nhà gỗ tất cả xà, cửa…đều làm bằng gỗ tứ thiết được bào nhẵn, ghép mộng cầu kỳ, kiến trúc trạm trổ đẹp mắt, nhiều hoa văn Nhà nghèo thì làm gỗ kê đá, lợp lá cọ, phên vách bằng nứa đan… nhà thường chia làm 3 - 5 - 7 gian, có khi còn làm bếp riêng liền với nhà chính từ 2 đến 3 gian Xung quanh nhà được lắp cửa sổ bằng ván hoặc tre nứa, mở thông thoáng nhìn ra phía trước, đằng sau nhà… Nhà sàn của người Tày là loại nhà tổng hợp, gian giữa thường để bàn thờ tổ tiên, bếp lửa, gian đầu nhà chỗ cầu thang lên thường là nơi tiếp khách, các gian phía trong là chỗ ngủ của các thành viên trong gia đình, có bếp nấu ăn và cũng là nơi tiếp khách của nữ giới, có gác để thóc ngô cùng các đồ dùng khác Bên cạnh nhà có chuồng chăn nuôi, ngày xưa nhiều nhà còn sử dụng ngay gầm sàn

để chuồng gia súc, công cụ sản xuất rất mất vệ sinh… nhưng ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội đời sống văn minh hơn, chuồng lợn, chuồng trâu, bò… đã được xây dựng riêng cách xa nhà để đảm vệ sinh phòng bệnh

Trang phục của người Tày cũng rất độc đáo và khác biệt so với các dân tộc khác Y phục truyền thống của nam, nữ Tày ở đây chủ yếu mặc quần áo vải chàm, cùng một kiểu: áo dài 5 thân, quần lá toạ Đàn ông quấn khăn hay chít khăn kiểu chữ nhân áo nữ dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài

5 khuy, thắt lưng bằng vải lanh hay đũi màu xanh, đỏ dài khoảng hai sải tay, đặc biệt họ thường tự tay mình dệt thêm những dải dây nhỏ, dài có nhiều hoạ tiết đẹp để trang trí cho áo thêm đẹp Chị em phụ nữ thường đeo vòng cổ, vòng tay và mang xà tích bằng bạc hoặc vàng, đầu đội nón cọ tự làm…Họ

Trang 17

thường chọn những bộ trang phục đẹp nhất để diện trong các dịp có lễ hội, đi chợ, các cuộc hát giao duyên

Đặc biệt khác với trang phục truyền thống là y phục mặc trong tang ma,

y phục của thầy Tào, bà then… y phục trong tang ma của người Tày hoàn toàn bằng vải trắng Quần áo tự cắt và khâu lộn ngược lại với trang phục hằng ngày

Sau hai từ “cộng đồng” người Tày là cả một màn sân khấu, trên sân khấu là cả một xã hội thu nhỏ mang màu sắc riêng Điều này ắt hẳn có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến bộ phận dân ca tang lễ - phong tục nói chung của cả nước trong đó có những bài lượn trống trong tang lễ cổ truyền của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang

+ Văn hoá ứng xử:

Trong mối quan hệ xã hội nhìn chung đồng bào Tày ở đây khá phát triển nhưng không đồng đều Ở vùng thấp, dọc các đường giao thông, gần các thị trấn thị xã trình độ phát triển về các mặt gần bằng các vùng đồng bằng Tuy nhiên ở những vùng giữa, vùng cao xa xôi hẻo lánh, tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày thể hiện rất rõ trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như vợ phải nghe lời chồng, giữa con dâu và các bậc trên có sự cách biệt nghiêm ngặt như không được ngồi ngang hàng, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu với bố, anh chồng… Đó là biểu hiện của những lễ giáo phong kiến

có ảnh hưởng và chi phối nặng nề đời sống của người Tày

Trước cách Mạng tháng Tám, cư dân Tày ở đây có một số tầng lớp theo học chữ Nho, chữ Nôm Tày, họ trở thành tầng lớp trí thức của dân tộc và đội ngũ các thầy Mo, Then, Tạo, Pụt…Đây chính là tầng lớp có sự đóng góp

to lớn cho nền văn hoá nghệ thuật của bản địa

Về quan hệ giữa các gia đình trong thôn bản, làng xóm tuy chịu ảnh hưởng bởi nền kinh tế tư hữu phong kiến song chế độ công xã nông thôn vẫn còn tồn tại dưới dạng tàn tích Bà con xóm giềng sớm tối có nhau, thường

Trang 18

xuyên cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau rất đoàn kết hòa thuận Cư dân ở đây

thường có tục “Tối vằn lèng” (Đổi công) để giúp nhau làm những việc cần đông người như cấy, gặt hái, đám cưới…hay tục “Kết tồng” ( kết bạn) cùng

tuổi, cùng năm sinh tháng đẻ, không phân biệt dân tộc miễn là hợp nhau, khi

đã kết bạn tồng thì mọi công việc lớn nhỏ trong hai gia đình đều có nhau Tình bạn này rất được coi trọng dù đó là “Tồng” của con cái, vợ chồng hay ông bà… Ngày nay những tục lệ này vẫn được giữ gìn và phát huy trong cộng đồng cư dân ở đây Sau những ngày làm việc vất vả, nặng nhọc thì những ngày ôn lại truyền thống ông cha mình gắn liền với phong tục là các lễ nghi như trong đám cưới, tang lễ… Trong tang lễ thì gồm nhiều bước, nhiều nghi thức và nhiều bài

ca được hát lên khi hành lễ, bởi người Tày ở đây có quan niệm riêng về cái chết, về đạo hiếu của người thân dành cho người đã khuất

Gia đình của người Tày ở Bắc Quang cũng giống như cư dân Tày ở một số nơi khác rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ (cụ kị, ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt) nhiều đời cùng chung sống trong một mái nhà, song sống phổ biến nhất vẫn là 2-3 thế hệ sống cùng nhau Trong gia đình người Tày ở đây đều được xây dựng theo thể chế và tục lệ hôn nhân một vợ, một chồng, còn mang tính tách biệt nghiêm ngặt Một biểu hiện nữa của tính chất phụ hệ trong các gia đình của người Tày là cách đặt tên và lấy họ cho con Cũng giống như người Kinh ở chỗ, sinh con ra đều lấy theo dòng họ và dân tộc của người cha Việc con cái lấy theo dòng họ ông - cha cũng chính là cách xác lập huyết thống, tông tộc, giống nòi Đi liền với thể chế này là những quy định về quyền

và nghĩa vụ của người con trai (kế thừa tài sản và chịu trách nhiệm cúng giỗ cha mẹ khi mất) Còn đối với con gái không được hưởng gia sản, trừ khi bố

mẹ cho làm của hồi môn và phụ thuộc vào người chồng của mình Tuy vậy, người Tày không chuyên quyền độc đoán, gia trưởng mà những việc lớn chồng đều tham khảo ý kiến của vợ, người vợ có vai trò quan trọng hỗ trợ

Trang 19

chồng trong sản xuất, quản lý gia đình, tài sản, nuôi dạy con cái trưởng thành Người Tày rất coi trọng việc giáo dục, dạy dỗ con cái về đạo đức, nề nếp gia phong, đi đứng ở trong nhà và ngoài xã hội Trong vùng của người Tày ở Bắc Quang và một số huyện khác trong tỉnh thường có lời răn dạy con cháu bằng

thơ gọi là “ bách giáo” ( 100 câu răn dạy) khuyên bảo con cháu về lối sống

đạo đức và các quan hệ xã hội

+ Văn hoá tinh thần:

Tín ngưỡng văn hoá của người Tày mang tính chất phức tạp, do cuộc sống tồn tại trên cơ sở nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, mang tính chất tự cung tự cấp… cho nên tàn dư của các tín ngưỡng nguyên thuỷ còn tồn tại trong đời sống tâm linh của họ như: Vật linh giáo, ma thuật, bái vật giáo( thờ cây đa to, thờ hòn đá kì dị…) và các lễ nghi liên quan đến sản xuất nông nghiệp, săn bắn, đánh bắt… tiêu biểu nhất trong tín ngưỡng, tôn giáo người Tày là thờ cúng tổ tiên, bắt nguồn từ thờ cúng gia tộc, thị tộc ở thời kỳ trước

là tín ngưỡng tôn giáo gần như duy nhất thể hiện đạo lý “uống nước ngớ nguồn” của mỗi người, mỗi gia đình, dòng họ Linh hồn luôn giữ vai trò là nhân vật chính trong các bài ca cầu cúng này Ở mỗi thôn bản họ còn thờ thủ công (cốc bản), thổ đại, thờ các vị thánh trong vùng mà họ gọi là thần, được cúng vào dịp tết và rằm tháng 7 hàng năm Thổ công có miếu thờ đặt ở gốc cây to đầu làng, mỗi làng, bản còn có các vị thần thánh ở các khu rừng hay

núi cao gọi là Đông thấn, Pù thấn Hệ thống điện thần của cư dân Tày ở đây

phát triển khá cao, có đủ mặt các vị từ Ngọc Hoàng, Nam tào, Bắc đẩu, thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét…cho tới các loại thần thánh, ma quỷ ở địa phương Hàng năm vào mùa xuân, người ta tổ chức cúng trên một đám ruộng nhất định ở trước bản, mỗi gia đình đều có mâm lễ rượu, thịt, xôi, bánh đem

đến để cúng Lễ hội này được gọi là hội Lồng tồng( xuống đồng), thầy cúng

sính tất cả các thần thánh, ma quỷ ở địa phương, cầu khấn trời đất mưa thuận

Trang 20

gió hoà, cuộc sống ấm no, mùa màng bội thu, hạnh phúc Ngày nay lễ hội

Lồng tồng vẫn được lưu giữ, phát huy và bảo tồn

Văn học nghệ thuật và tri thức dân gian của người Tày rất phong phú như kho tàng truyện thần thoại, cổ tích: Quả bầu, Pú luông – Gia cải, Nàng Kháy,…còn lại các truyện phần lớn xuất hiện trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn, xung đột, đấu tranh xã hội gay gắt như các truyện Thạch Sanh, Tống Lăn, Hán xuân - Lưu Đài, Phạm Tứ - Ngọc Hoa, Quảng Chân - Ngọc Nương… Ngoài ra còn có nhiều truyện cười, ca dao, tục ngữ, thành ngữ… Đặc biệt người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang cũng như ở một số nơi khác có một số loại hình dân ca đáng coi trọng đó là Hát Lượn cọi, Hát Iếu, Hát quan Làng, Hát lượn trống trong tang lễ,…

Tất cả những điều kiện trên tạo cho cư dân Tày ở Bắc Quang phát triển một nền kinh tế toàn diện với nền văn hoá nông nghiệp lúa nước đa dạng, phong phú; sản sinh ra nhiều hình thức sinh hoạt văn học, nghệ thuật giàu bản sắc được lưu chuyển trong đời sống dân gian

1.2 Khái quát về dân ca tang lễ và khái niệm lượn trống trong tang lễ

1.2.1 Khái quát về dân ca tang lễ

Trong quan niệm của người dân Việt Nam đặc biệt là dân tộc Tày, khi nói đến sinh hoạt lễ nghi là nói tới một biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với các thế lực siêu nhiên do chính con người tạo ra, mà ở đó thì mỗi loại hình sinh hoạt nghi lễ thì lại luôn song hành với các hoạt động là các bài

ca nghi lễ

Nhắc tới các bài ca nghi lễ hay dân ca nghi lễ đã có nhiều định nghĩa và nhiều cách hiểu khác nhau Song đầy đủ và dễ hiểu nhất có lẽ là định nghĩa

của giáo sư Đinh Gia Khánh trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam,

theo giáo sư : “Dân ca là những bài hát, câu hát dân gian trong đó có cả phần

Trang 21

lời và phần giai điệu đều có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hình tượng hoàn chỉnh của tác phẩm”, [8, tr 657] Nói như vậy thì khi nói tới dân

ca Việt Nam ta không chỉ nói đến những bài hát, câu hát nhất định mà còn nói đến hình thức sinh hoạt dân ca nhất định nữa

Dân ca tang lễ từ lâu đã được coi là một phần nằm trong bộ phận dân

ca nghi lễ phong tục của dân tộc Đây là bộ phận cổ xưa trong kho tàng dân ca Việt Nam, dưới sự chi phối của vạn vật hữu linh và thông qua các biện pháp tín ngưỡng ma thuật con người tin rằng thần linh có thể giúp đỡ người ta vượt qua nhiều khó khăn và đạt được nhiều ước mơ cao đẹp trong cuộc sống Vì vậy để đáp ứng nhu cầu này đã có nhiều bài ca xuất hiện, trong đó bao gồm các nhóm sau:

- Nhóm bài ca nông lễ: phục vụ các tiết lễ trong sản xuất nông nghiệp

- Nhóm bài ca hôn lễ: hát quan làng trong đám cưới, trong những ngày hội, ngày lễ, tết…

- Nhóm các bài ca tang lễ: là những bài hát do các thầy mo, thầy lễ hát khi hành lễ trong tang ma

Trong nhóm bài hát trong tang lễ, thì các bài ca nghi lễ được hát lên trong đám tang khi hành lễ bao gồm có cả phần lời và phần nhạc khi diễn xướng do một nhóm thợ đảm nhiệm Các bài ca được hát trong tang lễ thường

có nguồn gốc từ thời công xã nguyên thủy được hát trong lúc đưa linh cữu người chết từ nhà tới đến huyệt hay trong khi tế linh hồn người chết Những bài

ca này chủ yếu mang âm hưởng thê lương, buồn bã, tiếc thương người đã mất

Trong dòng họ hay trong gia đình của người Tày, việc tang lễ là một biểu hiện của mối quan hệ giữa những người đang sống với người đã khuất Xét về hình thức thì tang lễ hay tang ma, ma chay là một hoạt động nghi lễ, tín ngưỡng được tồn tại lâu đời trong tiềm thức, quan niệm của họ; Song xét

về nội dung thì đó lại là công việc đề cao đạo lý làm người ở đời: ăn quả nhớ

Trang 22

kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn hay nói cách khác thì đó là việc đề cao chữ hiếu, đề cao tình cảm gia đình, tình vợ chồng, cha mẹ con cái và anh chị

em - đề cao tình và nghĩa giữa người sống với người đã khuất

Ngoài ra ta còn thấy rằng, khi đề cập đến việc tang lễ thì các nhà nghiên cứu đều gắn nó với các tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến người chết Nói đến tôn giáo có nghĩa là chúng ta đã có sự tư duy về hai thế giới: thế giới hiện thực và thế giới phi hiện thực - một thế giới chứa đựng nhiều điều bí ẩn nhưng lại tồn tại trong tâm thức của đồng bào Tày và cả đồng bào Nùng Vì vậy mà mới có nhận định sau: “Ở nhiều dân tộc chúng ta còn nhận thấy rằng dân ca tang lễ còn gắn chặt trong khuôn khổ các nghi lễ ma chay theo tập tục truyền thống của cộng đồng trong đó ít nhiều có tính chất huyền bí của tư duy vạn vật hữu linh của các tín ngưỡng dân gian nhiều khi che lấp hoặc lấn át các yếu tố hiện thực, những cảm xúc thẩm mỹ tư duy sáng tạo nghệ thuật Còn ở một số dân tộc khác thì dân ca nghi lễ đã có ít nhiều thoát khỏi sự ràng buộc của tín ngưỡng tôn giáo sơ khai để vươn tới những tình cảm chân thực của con người Ở đây dân ca nghi lễ mang phong cách trữ tình đậm đà, nhiều khi đạt đến mức gây những cảm xúc thẩm mỹ khá sâu sắc của những sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, được thể hiện qua những cách diễn xướng sinh động khác nhau” [8, tr.687]

Từ những khái quát, nhận định trên, chúng tôi nhận thấy dân ca tang lễ là hệ thống những lời ca nhằm bày tỏ tình cảm, thái độ, sự trân trọng của người sống khóc thương người đã chết và qua đó thể hiện được quan niệm, tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Việt Nam

1.2.2 Khái niệm lượn trống trong tang lễ

1.2.2.1 Khái niệm “Lượn”

Khái niệm “Lượn” từ lâu đã trở thành một loại hình dân ca độc đáo của dân tộc Tày và được biết đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa

Trang 23

học Thế nhưng cho đến nay thì nhiều người vẫn chưa định nghĩa được rõ ràng về loại hình nghệ thuật dân ca này Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu, khảo sát và tham khảo ý kiến của một số người đi trước, chúng tôi xin được đưa ra những ý kiến cũng như định nghĩa về Lượn như sau:

Trước hết là các ý kiến của các cụ nho học:

+ Lượn là do từ “luân” và giải thích “luân” nguyên nghĩa là cái bánh

xe đang lăn “Làm lượn” thì phải có bên lượn đi bên lượn lại, quay đi quay lại… không khác gì cái bánh xe lăn hết vòng này lại đến vòng khác Nghĩa là đối đáp không dứt

+ Lượn là do từ chữ “luyến” mà ra Luyến có nghĩ là móc vào nhau

Cũng như người ta “ làm lượn” với nhau thì câu nị phải “móc” (ăn nhập) vào câu kia và cả hai bên cũng đều muốn gắn bó với nhau Tác giả cho rằng việc tìm nguồn gốc từ lượn từ một nguồn gốc Hán là không thoả đáng, đành rằng tiếng Tày, Nùng vay mượn tiếng Hán khá nhiều Những loại ý kiến trên phần lớn là phỏng đoán theo cảm tính, thiếu căn cứ chắc chắn thuyết phục

Và cũng theo ý kiến cắt nghĩa từ nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng, tác giả đã đơn cử hai ý kiến sau đây:

+ Lượn chính là do từ “lặn” mà ra Lặn trong tiếng Tày, Nùng có

nghĩa là một vòng khép kín, “lặn” là một vòng tròn hoặc là hai lượt đi về giữa

hai địa điểm hoặc giữa hai đầu nút Và họ giải thích: lượn thì phải có “câu trai

câu gái”, nghĩa là từng “lặn” từng lượt

Cuối cùng tác giả nghiêng về ý kiến của cụ Nông Nguyễn Mô người

Hoà An - Cao Bằng : “Từ Lượn và từ “vjén” vốn cùng một nghĩa Ngày xưa

người ta thường nói : “Lượn lủc” hay “Vjén lủc” - nghĩa là ru con - đều được

cả Sau này người ta cũng gọi là “lượn bạn” hay “vjén bạn” cũng thế” Tác giả còn giải thích thêm từ “Vjén” trong tiếng Tày, Nùng hiện đại có nghĩa là ru

“Vjén” có nghĩa là khuyên bảo dỗ dành Nội dung những bài lượn đúng là

Trang 24

những lời khuyên bạn, là lời gọi rủ bạn tình, lời dỗ dành vỗ về bạn bè đồng

bào, đồng loại thân thương Trong rất nhiều bài lượn những từ “khuyên bạn”,

“khuyên em” rồi những nhóm từ cố định : Rủ bạn, rủ anh, rủ em cùng đi vào con đường tình nghĩa luôn luôn lặp đi lặp lại

Theo nghĩa rộng lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca người Tày, bao gồm

cả Then (lượn then), hát đám cưới (lượn quan làng), phuốc pác (lượn Phuối pác) và phong slư (lượn phong slư), cọi (lượn cọi)…Theo nghĩa hẹp lượn chỉ

là những điệu hát giao duyên của người Tày Cả hai cách hiểu trên đều có lí, song có lẽ phổ biến hơn cả là cách gọi tên lượn theo nghĩa hẹp, tức là bộ phận hát giao duyên đối đáp của người Tày.[Wikipedia Bách khoa toàn thư mở]

Về bản chất lượn ở các vùng về hình thức đều giống nhau, có khác là khác ở giai điệu, tiết tấu

1.2.2.2 Lượn trống trong tang lễ của người Tày

Từ những khái niệm như đã trình bày ở trên về Lượn, hiểu theo nghĩa rộng cũng như nghĩa hẹp thì Lượn là một loại hình sinh hoạt phong phú nằm trong kho tàng dân ca người Tày từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức người dân và trở thành nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của dân tộc Tày nói chung

Nếu như khái niệm lượn được xem là bộ phận hát giao duyên đối đáp của người Tày thì khái niệm lượn trống trong tang lễ được hiểu như thế nào? Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào về khái niệm này và tên gọi của

nó chỉ xuất phát trong địa phương của người Tày ở Bắc Quang Hà Giang từ lâu nay vẫn truyền nhau, tiếng Tày gọi lượn trống có nghĩa là “lượn tổng” Tuy nhiên qua tham khảo nhiều ý kiến của các nghệ nhân ở địa phương cũng như những người đi trước chúng tôi xin được đưa ra cách hiểu về khái niệm lượn trống trong tang lễ của người Tày như sau:

Trang 25

Lượn trống là lối hát cổ truyền trong tang lễ của người Tày được ca lên khi hành lễ do nghệ nhân hát kèm theo tiếng trống Lời hát chủ yếu bằng tiếng địa phương nên dễ hiểu, và dễ đi vào lòng người dân

Người Tày có quan niệm về sự tồn tại cuộc sống của linh hồn sau cái chết Chính vì vậy các nghi lễ xoay quanh đám tang của người Tày nói chung đều liên quan đến các thủ tục tiễn đưa linh hồn người chết về trời Đây cũng

là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong diễn xướng hát lượn trống của người Tày Đó thường là một loạt các bài ca kể về các tấm gương hiếu nghĩa khá cảm động của người xưa, hay là tình cảm anh em máu chảy ruột mền cũng được ca ngợi qua các bài tế ca về sự hòa thuận, đoàn kết nhất trí giữa các anh chị em trong gia đình

“Nghĩa tử là nghĩa tận” nên cũng như các dân tộc khác, tang lễ của người Tày thường thu hút được sự quan tâm giúp đỡ của người dân trong ngoài làng bản Sự giúp đỡ vô điều kiện này được thể hiện qua nội dung các bài lượn trống nói về lời tạ của vong đối với bà con làng bản Qua đó phần nào góp phần ca ngợi tình cảm xóm làng lúc tắt lửa tối đèn có nhau của người Tày

1.3 Hát lượn trống trong tang lễ ở Bắc Quang - Hà Giang

1.3.1 Sơ lược về diễn xướng của hát lượn trống

Trong một đám tang thông thường của người Tày khi hành lễ sẽ bao gồm một thầy cả và các đệ tử Trước đây đội hát thợ gồm 8 người nay rút xuống còn 4 người được phân công cụ thể như sau:

+ Một thầy cả chỉ huy chung

+ Hai thợ hát kiêm đánh trống

+ Một thợ hát kiêm thổi kèn

Đám tang của người Tày trước kia sẽ được nhóm thợ sử dụng ba quyển sách chính vào nội dung của tang lễ Có thể nói công việc chính của nhóm thợ là góp phần giúp con cháu trả ơn báo hiếu cho cha mẹ thông qua các công việc

cụ thể như sau:

Trang 26

+ Ngày thứ nhất sẽ hát theo nội dung quyển I là mại xe (mua xe cho vong) + Bước sang ngày thứ hai hát tiếp nội dung mại xe II (mua xe xong) hoặc cũng có thể ca thêm một số bài trong quyển tổng hợp III

+ Ngày thứ ba hát các bài trong quyển tổng hợp Thầy hát sẽ là nghệ nhân thay mặt đôi bên âm dương trò chuyện tâm tình, nhắn nhủ và tạ ơn lẫn nhau Các bài ca trong quyển tổng hợp chủ yếu chứa đựng nội dung chữ hiếu sâu sắc Đó thường là những bài ca kể về các tấm gương hiếu nghĩa của người xưa trong Tứ Hiếu và Thập nhị tứ hiếu, hoặc sẽ là những bài kể về công đức của người đã khuất, hoặc là tình cảm anh em, tình vợ chồng… Nhưng hiện nay lối trình diễn này không còn hát nội dung quyển I và II nữa mà chỉ còn tập trung trong nội dung quyển tổng hợp mà thôi

Người Tày cũng như người Nùng đều có quan niệm về sự tồn tại cuộc sống của linh hồn sau cái chết Chính vì vậy toàn bộ các nghi thức xoay quanh đám tang của họ đều liên quan đến các thủ tục tiễn đưa linh hồn người

đã khuất về nơi an nghỉ cuối cùng Đây cũng là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong diễn xướng hát lượn trống trong tang lễ của người Tày

Qua quá trình khảo sát nghiên cứu tại địa phương, chúng tôi thấy ở các địa bàn trong toàn huyện Bắc Quang hiện nay thì hình thức diễn xướng hát nghi lễ này chủ yếu nhất vẫn là sử dụng quyển tổng hợp Quyển tổng hợp có thể được sử dụng linh hoạt theo yêu cầu của tang chủ, ngoài một số bài cơ bản như: phu thê than nghĩa, thông gia viếng phúng, con gái - con rể phúng lễ… thì các thầy có thể hát thêm các nội dung khác xoay quanh vấn đề đạo hiếu

Và khi hát thường xen các tiếng đệm như: hời, hỡi, dạ… câu hát thường là ngắn chỉ có từ 4 đến 5 hoặc 7 từ theo kiểu ngâm ngợi trong thơ ca 7 chữ bằng tiếng địa phương

Trang 27

1.3.2 Hát lượn trống trong tang lễ của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang

Trong đời sống văn hóa của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang, hát lượn trống là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng độc đáo của dân tộc

Đó là lối hát cổ truyền trong đám tang của người Tày từ lâu đã in sâu trong tâm hồn, tình cảm của biết bao người vẫn được lưu truyền cho con cháu các thế hệ, các dòng họ

Nội dung của những bài lượn trống được thể hiện thông qua lời ca và nhịp trống đã thực sự làm xúc động lòng người Có thể nói toàn bộ nội dung của những bài lượn trống đã nói lên được khá rõ mối quan hệ và các cung bậc tình cảm của vong đối với gia đình và xã hội, đối với quan hệ làng bản Trước tiên đó thường là tình cảm gia đình máu mủ ruột già Trong một tang lễ, các bài ca do các thầy phường thực hiện chủ yếu là bộc lộ được tình cảm tiếc thương của những người đang sống với người đã khuất như tình vợ với chồng, con với cha, cháu với ông bà, anh chị em, tình làng nghĩa xóm…Trong khi hành lễ con cháu người thân đã có cơ hội để bộc lộ tâm tư tình cảm của mình thông qua lời ca của thầy hát để đưa tiễn người đã khuất Đây vốn là một mối quan hệ đạo đức tốt đẹp trong đời sống xã hội của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang

Tìm hiểu hát lượn trống trong tang lễ của người Tày ở địa phương Bắc Quang là một vấn đề rộng, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình ở một khía cạnh vấn đề là tìm hiểu vài nét về nội dung và nghệ thuật tiêu biểu thông qua hát lượn trống Từ đó

cố gắng khám phá tâm thức của người Tày trong loại hình văn hóa tín ngưỡng này và hi vọng sẽ góp phần vào việc bảo tồn thuần phong mĩ tục những giá trị văn hóa tín ngưỡng của dân tộc

Trang 28

Tiểu kết

Từ những thực trạng về điều kiện tự nhiên, địa lý và con người về nhận thức cũng như đời sống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc nơi đây đã sản sinh ra một phong tục cổ truyền Tâm linh không đơn giản chỉ là tâm hồn tình cảm của con người, mà có lẽ còn cao hơn thế Nó là tâm hồn, tình cảm, lý trí… và sinh hoạt lượn trống trong tang lễ chính là hình thức diễn tả tâm linh của người Tày, nó thể hiện được nét đẹp trong phong cách ứng xử của người Tày: có trước có sau, có đầu có cuối và họ tin rằng nó sẽ giúp họ nói lên được

sự biết ơn chân thành đối với tình cảm của mọi người dành cho người đã khuất Từ đó giúp họ vượt qua mọi khó khăn, trắc trở để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn Các hình thức biểu hiện cơ bản của nhữnh bài lượn trống trong tang lễ của người Tày trong chương nói trên chính là một trong những cơ sở để triển khai đề tài ở các chương sau

Trang 29

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG NHỮNG BÀI LƯỢN TRỐNG

CỦA NGƯỜI TÀY Ở BẮC QUANG – HÀ GIANG

2.1 Ứng xử trong tang lễ của người Tày

2.1.1 Ứng xử trong mối quan hệ gia đình

Xuất phát từ quan điểm đạo đức phong kiến đã là phận làm con thì

phải có hiếu với tổ tiên ông bà, cha mẹ Đặc biệt là lúc cha mẹ còn sống

mạnh khỏe thì con cái phải biết chăm sóc, phụng dưỡng và khi cha mẹ qua

đời phải lo ma chay đầy đủ chu tất theo mọi nghi lễ phong tục Người Tày coi

đó là một hình thức báo hiếu quan trọng nhất, qua đó đã nói lên được truyền

thống đạo lý, đạo hiếu tốt đẹp của con cháu với cha mẹ từ bao đời nay

Thông qua các lễ nghi tôn giáo và tín ngưỡng, nghĩa là con cháu đã bày

tỏ được sự tận thương, tận nghĩa với người đã khuất đồng thời cũng vì cuộc sống của những người ở lại Chính vì vậy, khi trong nhà có tang là sự biểu hiện của sự ứng xử có văn hóa và giàu lòng nhân ái của tộc người Tày dành cho người quá cố, bằng những chuẩn bị cần thiết được thể hiện một cách hệ thống các nghi lễ phức tạp cầu kỳ Chúng ta cũng không nên hiểu rằng họ làm

ma to là để phô trương mà họ hi vọng làm vui lòng người mất Vì đám tang của người Tày được tổ chức khá công phu tốn kém thường làm 2 ngày, 3 đêm mới xong Ngày xưa khi nhà có người mất trưởng tộc báo tin cho con cháu về khóc động, chuẩn bị áo quan xem ngày giờ tốt để chôn Nếu được ngày thì trong vòng 2, 3 ngày làm ma xong thi chôn nếu không được ngày giờ thì phải kéo dài hơn Đồng thời lúc này gia đình phải đón thầy Tào đến để lượm xác đưa vào quan tài, niệm thần chú cầm đầu ma… Ngày nay cũng vậy, khi trong nhà có người mất công việc đầu tiên họ sẽ làm là con cháu phải đến nhà thầy Tào, thầy cúng mời thầy về để lo chuyện hậu sự cho gia chủ

Đây là một trong số những bài lượn mà gia chủ có người mất đem lễ đến và thắp nén hương lên bàn thờ tổ tiên của nhà thầy Tào để xin được rước

Trang 30

đón thầy về nhà mình: “Nay kế con lạy thiên thứ nàng a, lí sư truyền đạo giáo truyền nghề vong hồn thường thọ, trung thọ, mừa lo tiếu sinh tình độ tống mưa khói là tống cuông lườn Tướng nam hiếu sự hay là tống mưa khói dú kính mạy ngoa dú kha luc nhình, luc khươi, dú hua tông tao mà dú nha tao kháo vong hồn đáy thút chua mạy đáy chua cần phương mặc mưa khói mà lườn cái giúp phúc mà lườn luông giúp phiếu Khói so trình mưa nội viên quý tức nội viên quý họ tức viên nhà cá nội gia hiếu sự cần chắc háy”

Tạm dịch: (Nay kể con lạy thiên thứ nàng a, lí sư truyền đạo giáo truyền nghề vong hồn thường thọ trung thọ, tới lo tiếu sinh tịnh độ đi đến nơi

về tới chốn cho trưởng nam (hoặc trưởng nữ) trọn hiếu sự Hay là tống tiễn đến cành cây ngõa bên chân con gái, con rể, hay tới đầu làng trở về nhà hỏi thăm cho vong hồn được giữ bên cây, bên người Phường mặc (thầy Tào) tới nơi, tới nhà giúp phúc lo việc cúng tế ma chay Tôi xin trình họ nội quý nội tộc, nhà cả nội gia hiếu sự người được biết)

Cùng lúc đó con cháu trong nhà phải chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho một đám tang, họ đi lấy các thứ lá thơm như lá bòng, lá bưởi… đợi thầy đến rửa mặt cho người mất Tiếp theo, người nhà chuẩn bị vải trắng để khâu liệm, trang phục tang lễ, gia đình mổ trâu, lợn, gà, có mâm hương nhang… để tiến hành làm ma, ở trước nhà có treo phướn dài bằng vải trắng hoặc vải đào Ngoài ra còn dựng một nhà đình nhỏ có câu đối viết trên giấy vàng, xanh, đỏ, trắng, trên nhà đình bày cúng các loại thịt, bánh chưng, bánh dày, bánh gai, mâm gạo, rượu, hương vàng…bát cơm quả trứng là cỗ cúng bắt buộc đối với đồng bào Tày cũng như Nùng khi có người mất Bởi họ quan niệm rằng đây

là những thứ đã nuôi sống con người Nay khi một người nào đó mất đi người nhà đã chu đáo chuẩn bị cho họ như những ngày thường để khi sang thế giới bên kia họ sẽ không bị đói, bị khát

Trang 31

Đặc biệt trong lễ mời hương ăn tối lúc này, các bài ca được con cháu hoặc là thầy lễ, thầy kèn trống hát lên thảm thiết và rất não lòng cả người nghe lẫn người hát Thường thì các bài ca trong phần mời cơm sẽ được hát theo một trình tự nhất định, qua khảo sát chúng tôi thấy ở phần này có 16 bài, bắt đầu từ: lận đèn (thắp đèn), lận nến (thắp nến), lận chiếu (rải chiếu), lận mâm (đặt mâm), lận bát (đặt bát), lận chén (đặt chén), lận đũa (đặt đũa), lận rượu (đặt rượu), lận cơm (đặt cơm), lận nước (đặt nước), lận tăm (đặt tăm), lận trầu (đặt trầu), lận thuốc lào (đặt thuốc lào), lận tiền (đặt tiền), lận hương (đặt hương)

Trong đó thì lận cơm sẽ được thầy hát và nói đến như một quý vật và là một tích được truyền từ ngàn xưa để lại cho con cháu hôm nay:

Kính chiềng táng lườn Khỏi lại nhang pa Hật việc lận khảu Mằn là quỷ đồ Tời tời cắt tặt Nạy việc lườn nà Thanh Đế Cửu Tùng

Sở Nghiên nhằng tích

Tạm dịch:

(Kính chiềng chính tang Tôi lại bước sang

Việc làm lận cơm

Đó là quý vật Đời đời cắt đặt

Ấy việc nhà nông Thanh Đế Cửu Trùng

Sở Nghiên còn tích)

[4, tr.64]

Trang 32

Để có được hạt thóc nên cơm, người lao động phải vất vả bươm chải làm lụng đêm ngày cày cấy:

Hật nà pù khèm Việc cuốc thay này Pắt voi thư thay

Mò vài páy mì Pác khốp au mà Chứng án tức thì Cảu thíp cảu lòng

Tạm dịch:

(Làm ruộng núi lạch Cuốc việc cày cày Bắt voi cầm cày

Trâu bò chưa có Một trăm giống lúa Còn ở bên ngoài Khiến chim bay dài

Đi chìm cả nước Tìm đòi cho được Miệng cắn đem về Truyền no bách cốc Vạn dân mới được

Trang 33

Phủ quỷ vinh hoa Phường khỏi nhang oóc Lận khảu hom phứng Hồi là khửn thờ

Tạm dịch:

(Vong về thiên cung Thanh nhà tự tại Phú quý vinh hoa Phường tôi bước ra Lận cơm thơm phức Hỡi là lên thờ.)

Sự tận tâm chu đáo và tận nghĩa ấy được con cháu thể hiện ở những chuẩn bị hết sức cụ thể bằng cả tấm lòng Vì thế mà khi nghe những lời ca được cất lên hòa vào nhịp trống khiến ai cũng phải xúc động không cầm được nước mắt Rõ ràng, người nhà đã làm tất cả những gì có thể để đám tang được diễn ra với đầy đủ thủ tục, trọn vẹn nghĩa tình và thể hiện được sâu sắc tấm lòng của những người ở lại đối với người ra đi

2.1.2 Ứng xử trong mối quan hệ cộng đồng

Chúng ta ai cũng biết rằng, đối với mỗi người cái chết là điều không thể tránh khỏi Với quan niệm “nghĩa tử là nghĩa tận”, với tinh thần đoàn kết

và tương trợ khi hay tin một người nào đó mất, mọi thành viên trong cộng đồng người Tày đều thể hiện sự tiếc thương bằng cách đến giúp gia chủ những công việc cụ thể Bởi người Tày từ lâu đã sớm thiết lập cho mình mối quan hệ với các thành viên khác trong cộng đồng Quan hệ ấy được xây dựng trên nền tảng những tình cảm tốt đẹp, mọi người sống gần gũi, hòa thuận gắn

bó với nhau và cùng dựa vào nhau để sinh tồn và phát triển Trải qua năm tháng những mối quan hệ ràng buộc giữa các cá nhân trong cộng đồng buộc

Trang 34

tất cả mọi người phải tuân theo nếu muốn tồn tại trong xã hội ấy Vì lẽ đó mà người Tày biết sống vì nhau, ăn ở có trước có sau, biết nhân lên niềm vui và chia sẻ nỗi buồn với người cùng thôn bản

Thông thường trong một đám tang sẽ có 3 tổ chức giúp gia chủ thực hiện tang lễ là: thầy Tào, thầy Lễ và hội làng (có nơi gọi là hội hiếu) Ba tổ chức này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau trong đó thì công việc của hội làng rất bận rộn Ngay từ ngày tang chủ đến báo, hội làng đã phải thông báo

và phân công nhau công việc để giúp tang chủ: tổ thì làm bếp, tổ thì đi đào huyệt, phát dọn đường, tổ thì ở nhà giúp dựng gian nhà đình… ngoài những công việc kể trên các thành viên của hội đều phải góp gạo, củi hoặc tiền…để cứu trợ tang chủ Như vậy, ngoài việc động viên về mặt tinh thần hội còn ủng

hộ về mặt vật chất để phần nào giảm bớt khó khăn cho tang chủ Trong khi đó mọi gia đình, con cháu trong họ mạc cũng đều phải có trách nhiệm giúp đỡ tang chủ như: gạo, củi, rượu, tiền, lợn, gà…cho đám tang

Họ hàng thông gia bên nội ngoại tuy không phải để tang nhưng phải có

lễ đến phúng viếng Tất cả đều thể hiện niềm xót thương thảm thiết người đã khuất và chia buồn cùng tang chủ

Người Tày có câu nói “sống dầu đèn, chết có kèn trống” Nếu người chết có nhiều con gái, con rể thì các con và họ hàng thông gia mỗi nhà phải có một mân lễ và cây hoa ( cốc bjoóc) đến phúng viếng Có nơi đồ lễ là một con trâu, con lợn, có nơi là một con dê, gạo, rượu, hương vàng… đến viếng thông gia của mình để trả nghĩa công sinh thành nuôi dưỡng

Lời hát đại diện bên họ hàng thông gia đến phúng lễ thường được bắt đầu bằng lời giáo có nội dung như sau:

Là lạ lá la Kính chiềng táng lườn

Mà nghe khỏi giảo

Trang 35

Cộ bàn au tế

Lệ vật chay bồi

Ta nài pía cần

Đo lòng đo thức Pẻnh pán pẻnh đúc Pía nghịa công thinh

Po lục tâm tình Pía ơn hẳư đo

Đo lòng tế đạ Nghịa đạo ta nài

Pi lùng noọng ao

Tạm dịch:

( Là lạ lá la Kính chào chính tang

Mà nghe tôi giáo

Cỗ bàn đem tế

Lễ vật chay bồi Thông gia trẻ người Muôn phần các thức Bánh gai bánh đúc Trả nghĩa công sinh Cha con tâm tình Trả ơn cho thỏa Muôn phân tế đạ Nghĩa đạo thông gia Bác bá anh em)

[6, tr.74-75]

Trang 36

Mân lễ bên thông gia đến phúng viếng tuy nhỏ nhưng đó là cả tấm lòng của

họ để mà trả đạo ơn tình người đã khuất:

Vong hồn tỏn au Chấp thụ đo lòng Pẻnh ít pẻnh khô Trà lam cổ khảo

Ta nài pía đạo Thíp mự ơn tình Bom pẻnh thẳm pận Lai ăn lác phia”

Tạm dịch:

(Vong hồn hưởng lấy Chấp thụ mọi thứ Bánh ít bánh khô Trà lam cỗ khảo Thông gia trả đạo Mười ngày ơn tình

Cỗ bánh sắm thành Những đồ vật lạ )

Khi mỗi đoàn vào viếng, thì con trai trưởng cùng các con cháu phải khóc lạy

tạ ơn và kèn trống nổi lên để tỏ lòng bái biệt người đã khuất:

Bàn hườn thờ cuông

Lệ xướng cức cung Lài cốc quý lạy

Cơ tai liền hảy Làu ly bưởng lăng Chứ nghịa nhằng cần

Trang 37

Lượng mọi vất vá Vái lăng mừa chàu Chàu pụt thiên an

Tạm dịch:

(Hương án thời trong

Lễ báo cúc cung Trưởng nam quỳ lạy

Và rồi liền khóc Con ở đằng sau Nhớ nghĩa còn người Mọi việc vất vả Quay lưng về trầu Trầu bụt thiên an)

Người mất thì đã mất rồi, và ở thế giới bên kia vong hồn người đã khuất cũng có mong muốn cho người thân của mình hãy tiếp tục sống, ở lại bình yên mạnh khỏe:

Chúc hẳư thông gia

Dú lạng vạn đại Phúc pân đông hải

Dú lại bình yên Thọ tàng đắc hiếu Hồi hồi (là dớ) hồi hồi

Tạm dịch:

(Chúc cho thông gia

Ở sau vạn đại Phúc như Đông hải

Trang 38

Ở lại bình yên Đức thọ đắc hiếu Hới hơi ( là dớ) hời hời )

Rõ ràng, khi có việc xảy đến gia chủ thường rất buồn nhưng nhờ có bà con chòm xóm, họ hàng mà họ cũng rất yên tâm Có thể nói chính sự tương trợ và giúp đỡ này đã tạo nên sự cố kết ngày càng bền chặt hơn trong cộng đồng cư trú của người Tày nói chung, người Tày ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói riêng

2.2 Đề cao đạo lý của người đời

2.2.1 Kể về tấm gương hiếu nghĩa của Đống Vịnh

Cùng nằm trong hệ thống các bài ca được hát trong tang lễ của đồng bào Tày thì ngoài nội dung khóc thương và bày tỏ nỗi buồn với người đã khuất hay đề cao tình cảm gia đình, tình vợ chồng, tình anh em….là việc đề cao chữ hiếu Đây là một nội dung hết sức quan trọng trong một tang lễ của người Tày, bởi nó chứa đựng nội dung triết lý sâu sắc có ý nghĩa giáo dục con cháu trong gia đình phải biết hiếu nghĩa với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người có công sinh thành và nuôi dưỡng ta nên người Thông qua lời hát than trong buổi lễ ấy, ta sẽ thấy hiện lên một loạt các tấm gương hiếu nghĩa khá cảm động của người xưa trong Tứ hiếu và Thập nhị tứ hiếu như: Ngài Mạnh Tông, Đống Vịnh, Tương Lễ…

Tấm gương hiếu nghĩa cảm động của Đống Vịnh ấy, đã động đến cả trời đất Tích xưa truyền lại rằng: Đổng Vĩnh sinh vào thời Hậu Hán, nhà nghèo, tính rất hiếu, cha chết không có tiền chôn cất cha nên phải đến một nhà giàu ở làng khác vay tiền công dệt non và hẹn sẽ trả 300 tấm lụa Khi vay được tiền về chôn cất cha xong rồi, định đi đến nhà giàu kia để dệt trả lụa, đi được nửa đường thì gặp một người con gái xin kết làm vợ chồng Nhưng giao hẹn hãy cùng đi đến nhà giàu kia dệt lụa trả nợ đã rồi mới ăn ở cùng nhau

Trang 39

Khi đã dệt đủ 300 tấm lụa, trả nợ xong rồi, hai người cùng về, đến chỗ gặp nhau khi trước thì người con gái ấy biến mất Vì Đống Vịnh có lòng hiếu thảo cảm động đến trời nên trời sai tiên nữ xuống giúp

Lời lượn của bài ca nghe thật xúc động và đi vào lòng người ngay từ những câu hát đầu tiên được cất lên, chàng là một người con hiếu thảo tuy gia cảnh nhà khó khăn Nhưng vì thương cha già đã mất, lòng đau xót và để đền

ơn hiếu hậu nên mới “mại thân táng phụ” ( bán thân táng cha):

Kính chiềng tăư nưa Quý cần dú đay Bọn khỏi thì hay

Xo mà hưa hiếu Khăn này lượn giảo Tích Đống Vịnh báo Tốt pảng đău tày Thờ mê kính pò Đảng công thinh oóc

Pò mê oóc tàng

Tạm dịch:

(Kính chào trên dưới Quý chưa bình yên Bọn tôi thì hiền

Xin về giúp hiếu

Bây giờ lượn giáo Tích Đồng Vịnh chàng Ngay thảo ai bằng

Cho cam sinh đẻ

Trang 40

Phụ mẫu sinh đường)

[2, tr.53-54]

Chàng một lòng trung hiếu với cha mẹ:

Đống Vịnh pảng thăư Thương pò thiệt mê Lườn giảo khỏ khăn Tưởng đảy dú an

Po lại vá pân Mừa Tây Trúc quốc Vịnh báo thương hảy Lườn khằm tu thì Hật lừ khăn này

Dú khỏ hăử pò

Tạm dịch:

(Đống Vịnh lòng trung Thương cha tiếc mẹ Cửa nhà khó khăn

Ngờ được bình yên Cha lại hóa nên

Ngày đăng: 17/09/2014, 14:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ văn hoá và bảo tàng Việt Bắc (1991), Một số vấn đề lịch sử văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc, Bảo tàng Việt Bắc Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lịch sử văn hoá các dân tộc ở Việt Bắc
Tác giả: Bộ văn hoá và bảo tàng Việt Bắc
Năm: 1991
2. Nông Quốc Chấn (1967), “Hãy khơi dòng dân ca các dân tộc thiểu số” Tạp chí Văn học (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy khơi dòng dân ca các dân tộc thiểu số
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Năm: 1967
3. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXB Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2003
4. Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh (2004), Các dân tộc ở Hà Giang, NXB Thế giới, Trung tâm thông tin văn hoá các dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở Hà Giang
Tác giả: Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
6. Hoàng Quốc Hải (2007), Văn hoá Phong tục, NXB Văn hoá thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn hoá Phong tục
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2007
7. Vi Hồng, “Vài suy nghĩ về hát Quan lang, Lượn, Phong Slư”, Tạp chí văn học số 4-1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về hát Quan lang, Lượn, Phong Slư
8. Đinh Gia Khánh (1997), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
9. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2002), Văn hoá dân gian Việt Nam, NXB Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
10. Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn (2002), Văn hoá dân gian Tày, Sở Văn hoá – Thông tin Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Tày
Tác giả: Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn
Năm: 2002
11. Lã Văn Lô, Hà Văn Thư (1984), Văn hóa Tày- Nùng, NXB Văn hóa, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Tày- Nùng
Tác giả: Lã Văn Lô, Hà Văn Thư
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1984
12. Đặng văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đặng văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
13. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, Lê Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình (2007), Lí luận văn học, NXB Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, Lê Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2007
14. Hoàng Tuấn Nam (1999), Việc tang lễ cổ truyền của người Tày, NXB Văn hoá dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc tang lễ cổ truyền của người Tày
Tác giả: Hoàng Tuấn Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1999
15. Nguyễn Xuân Kính (1983), Thi pháp ca dao, NXB KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1983
16. Nhiều tác giả (1996), Văn hoá và sự phát triển của các dân tộc ở Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và sự phát triển của các dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1996
17. Nhiều Tác giả (1998), Văn hoá dân gian, Sở văn hoá thông tin Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian
Tác giả: Nhiều Tác giả
Năm: 1998
18. Võ Quang Nhơn (1983), Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam
Tác giả: Võ Quang Nhơn
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
19. Lê Trường Phát (2000), Thi pháp văn học dân gian, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Lê Trường Phát
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2000
20. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, NXB GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1998
21. Hoàng Tiến Tựu (1999), Văn hoá dân gian Việt Nam, NXB Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w